Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (573.43 KB, 73 trang )

Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 1 K33A - GDCD























LỜI CẢM ƠN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********







PHẠM THỊ HIẾU


MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị



Người hướng dẫn khoa học :
Th.S TRẦN THỊ HỒNG LOAN







HÀ NỘI - 2011

Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 2 K33A - GDCD
Tác giả khóa luận xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo trong khoa
GDCT, các thày cô trực tiếp giảng dạy bộ môn kinh tế chính trị, cùng các
thày cô trong thư viện trường ĐHSPHN 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành
tốt khóa luận của mình.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Ths Trần Thị Hồng Loan cô đã
tận tình quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này trong
suốt thời gian qua.
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế” là một đề tài hay và hấp dẫn. Song do thời gian có hạn
cũng như sự hạn chế về khả năng, khóa luận không tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót. Kính mong thày cô và các bạn đọc xem xét và đóng góp ý kiến.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả khóa luận
PHẠM THỊ HIẾU
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 3 K33A - GDCD
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn của Ths Trần Thị Hồng Loan.
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận
chưa từng được công bố ở bất kì một công trình nghiên cứu nào, đó
là kết quả đúng, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả khóa luận
PHẠM THỊ HIẾU

Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 4 K33A - GDCD
MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………… 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ……………………………………8
1.1 Doanh nghiệp Việt Nam………………………………………………… 8
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…………………………………20
1.3 Sự cần thiết phải hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam……………… 22
1.4 Vai trò cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế………………………………………………………………28
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ…………34
2.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế……………………………………………….34
2.2 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……………… 41
2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………………47
PHẦN KẾT LUẬN……………………………………………………….68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………….70


Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 5 K33A - GDCD

PHẦN MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta hơn 20 năm qua đã giành
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việc nước ta trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, là sự kiện đánh dấu
bước tiến mới trên con đường chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong thời kì đổi mới.
Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế nước ta
“vươn mình” trên trường quốc tế. Cùng với cơ hội và đồng hành với cơ hội
nền kinh tế, các doanh nghiệp nước ta cũng phải đối đầu với nhiều thách thức
lớn. Đó là sự cạnh tranh quyết liệt trên cả ba cấp độ (quốc gia, doanh nghiệp
và sản phẩm) do hàng rào bảo hộ bị dỡ bỏ, do phải thực hiện chế độ đãi ngộ
tối huệ quốc và đối xử quốc gia, nên các sản phẩm của nước ta phải cạnh
tranh bình đẳng với các sản phẩm nước khác không chỉ trên thị trường thế
giới mà ngay cả trên thị trường nội địa. Đó là một áp lực rất lớn đối với các
doanh nghiệp.
Theo đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Ngân hàng thế giới
(WB)… về năng lực cạnh tranh toàn cầu (dựa trên 9 tiêu chí đánh giá gồm:
thể chế, cơ sở hạ tầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục và y tế phổ thông, giáo dục đại
học, hiệu quả thị trường, độ sẵn sàng về công nghệ, mức độ hài lòng doanh
nghiệp, mức độ sáng tạo), năm 2010 Việt Nam được xếp hạng 59/139 quốc
gia. Mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được biểu hiện rõ nét ở năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế. Vì các doanh nghiệp đóng vai trò “chủ thể” là
“người xung trận”, là lực lượng trực tiếp đương đầu trong cạnh tranh.
Thực tế trong những năm qua các doanh nghiệp nước ta đã chi phối
được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm cần thiết của nền kinh tế.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 6 K33A - GDCD

Một số sản phẩm chiếm thị phần cao trên thị trường quốc tế, có khả năng cạnh
tranh cao như: gạo, giày da, dệt may…
Nhưng nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn
chế như quy mô nhỏ, vốn ít, trình độ công nghệ thấp, năng lực và kĩ năng
quản trị của đội ngũ cán bộ quản lí của các doanh nghiệp trong nước còn
nhiều yếu kém đã hạn chế đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Từ thực tiễn nêu trên đặt ra trước mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản lý
một đòi hỏi mang tính sống còn. Không nâng cao năng lực cạnh tranh lên tầm
cao mới đồng nghĩa với việc chúng ta tự làm cho mình “ thua ngay trên sân
nhà”. Đây là vấn đề chiến lược vừa cơ bản vừa cấp thiết trong thời kỳ hội
nhập.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tôi đã chọn
đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” để làm
khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam kể cả về
phương diện thực tiễn và lý luận đã và đang trở thành một vấn đề mang tính
cấp thiết được nhiều người quan tâm, đặc biệt là trong thời kì nền kinh tế mở,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cá nhân và tập thể xoay
quanh vấn đề này như:
Ths Nguyễn Vĩnh Thanh, “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế,
tháng 8/2005.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 7 K33A - GDCD
TS Vũ Anh Tuấn, “Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp trong xu thế hội nhập”, Tạp chí Phát triển kinh tế, tháng 12/2002.

TS Vũ Văn Phúc, “Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp”,
Tạp chí Cộng sản số 781, tháng11/2007. Và hàng loạt các bài nghiên cứu
tham luận khác được đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế… Tuy nhiên các
bài viết đó mới dừng lại ở việc phân tích thực trạng năng lực canh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam, nguyên nhân làm hạn chế khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp. Chưa đưa ra được những giải pháp mang tính toàn diện
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong
thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài em tập
trung vào nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ
Trên cơ sở những lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, tìm hiểu thực trạng và vạch rõ nguyên nhân làm hạn chế khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế. Đề tài tập trung nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp mang tính toàn diện
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Qua đó, giúp mỗi người tự nhận thức được vai
trò và nhiệm vụ của mình trong sự phát triển kinh tế đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung là rõ một số giải pháp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu. Ngoài ra, còn sử dụng các
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 8 K33A - GDCD
phương pháp khác như: tổng hợp - phân tích, lịch sử - logic, thống kê, so
sánh… để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
6. Kết cấu của khóa luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm 2 chương và 7 tiết.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 9 K33A - GDCD
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Doanh nghiệp Việt Nam
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Thế nào là một doanh nghiệp? từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp
“entreprendre” có nghĩa là “ đảm nhận” hay “ hoạt động” và đã có rất nhiều
các quan điểm khác nhau về doanh nghiệp.
+ Quan điểm nhà tổ chức: Doanh nghiệp là một tổng thể các phương
tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.
+ Quan điểm lợi nhuận: Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông
qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố
sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị
trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
+Quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh
doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình
đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các mục đích nhằm
sinh lợi.
+ Quan điểm lý thuyết hệ thống: Doanh nghiệp là một bộ phận hợp
thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác
động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà
nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm mục đích tiêu dùng của xã hội.
Theo định nghĩa của Luật Doanh Nghiệp, ban hành ngày 29 tháng 11 năm
2005 của Việt Nam quy định: “ doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của

pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh” [11, 2].
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 10 K33A - GDCD
Như vậy, chúng ta có thể hiểu đơn giản: doanh nghiệp là một đơn vị
sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên
cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người
tiêu dùng.
Có rất nhiều các loại hình doanh nghiệp khác nhau, hoạt động ở các
lĩnh vực khác nhau và có cách tổ chức, quản lý điều hành riêng. Song nó đều
mang những đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp nói chung, bao gồm các
đặc điểm sau:
Một là, mang chức năng sản xuất kinh doanh
Hai là, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản, bên cạnh các
mục tiêu xã hội.
Ba là, phải chấp nhận cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Như vậy, để hiểu một cách đầy đủ về khái niệm doanh nghiệp, chúng ta
cần tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau và phải xem xét doanh nghiệp với tư
cách là chủ thể kinh tế.
1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Luật Doanh Nghiệp năm 2005 quy định các loại hình doanh nghiệp hoạt
động tại Việt Nam đó là: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh.
1.1.2.1 Doanh nghiệp nhà nước.
Trên thế giới, khi nghiên cứu hoặc dề xuất những phương án cải cách
doanh nghiệp nhà nước, các học giả thường có quan niệm khác nhau về bản
thân doanh nghiệp nhà nước. Mỗi quốc gia trong khái niệm doanh nghiệp nhà
nước có thể nhấn mạnh tiêu chí này hoặc tiêu chí khác. Chẳng hạn, Việt Nam
gọi là Xí nghiệp quốc doanh, sau này gọi là Doanh nghiệp nhà nước; Trung
Quốc gọi là Xí nghiệp quốc hữu…

Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 11 K33A - GDCD
Cho dù nội hàm khái niệm doanh nghiệp nhà nước ở các nước có sự
khác nhau nhưng nhìn chung doanh nghiệp nhà nước trên thế giới có 3 đặc
trưng cơ bản:
- Sở hữu nhà nước chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp được tổ chức theo chế độ công ty và là một pháp nhân
- Nguồn thu chủ yếu từ hoạt động kinh doanh thực hiện song song cả
mục tiêu sinh lợi lẫn mục tiêu xã hội.
Ở nước ta, trước đổi mới (1986), nền kinh tế phát triển dựa trên quan
niệm về mô hình kinh tế - xã hội chủ yếu bao gồm hai thành phần kinh tế
quốc doanh và tập thể. Trong đó, các Xí nghiệp quốc doanh, Nông trường
quốc doanh…là những tổ chức do nhà nước đầu tư vốn 100% và quyết định
thành lập, quyết định phương hướng hoạt động. Mỗi doanh nghiệp đều trực
thuộc một cơ quan chủ quản nhất định. Doanh nghiệp quốc doanh thường
được hiểu đồng nhất với thành phần kinh tế quốc doanh, một bộ phận kinh tế
chủ yếu giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Quá trình đổi mới những năm qua, chúng ta đã hoàn thiện dần về khái
niệm doanh nghiệp nhà nước. Điều này thể hiện rõ trong các văn bản pháp
quy, tiêu biểu như Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước ban hành năm 2003.
Điều 1 của luật quy định: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế
do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,
được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn” [20, 8].
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước ở nước ta được hiểu:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Tài sản trong
doanh nghiệp là một bộ phận tài sản của nhà nước nên nó thuộc sở hữu nhà
nước. Sau khi thành lập, doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể kinh doanh
Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Hiếu 12 K33A - GDCD
độc lập nhưng chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản
mà chỉ quản lý và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của nhà nước, trong giới hạn
mà nhà nước cho phép. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc bảo
toàn và phát triển số vốn mà nhà nước giao cho để duy trì khả năng kinh
doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà
nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50%
vốn điều lệ, nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó.
Thứ hai, Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Điều đó có nghĩa là:
Doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ
chức, quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của luật này. Công ty nhà
nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà
nước.
Công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước, hoặc tổ
chức được nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo luật
doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên do nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức và đăng ký hoạt động theo quy định
của luật doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có 2 thành viên
trở lên thì tất cả các thành viên công ty nhà nước hoặc có thành viên là công
ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được nhà nước uỷ quyền góp vốn,
được tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp.
Như vậy, từ khái niệm về doanh nghiệp nhà nước trong điều 1 Luật
doanh nghiệp nhà nước và từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng doanh
nghiệp nhà nước có đặc điểm chính sau:
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 13 K33A - GDCD

Doanh nghiệp nhà nước là thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc
quyền kiểm soát của nhà nước, có sở hữu nhà nước 100% vốn hoặc có cổ
phần chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế,
làm công cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô và
là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Pháp luật về doanh nghiệp của nhà nước Việt Nam dựa theo mục tiêu
hoạt động chia doanh nghiệp nhà nước thành 2 loại:
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu
lợi nhuận. Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có quyền,
có nghĩa vụ quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn cũng như các nguồn
lực do nhà nước giao để thực hiện mục tiêu kinh doanh, nhằm thu lợi
nhuận tối đa hoặc thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt mà nhà nước
giao.
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, hoạt động sản xuất, cung
ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp
thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Hoạt động của các doanh nghiệp này
không chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm cung cấp sản phẩm dịch
vụ công ích do nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng theo giá, khung
giá hoặc chi phí do nhà nước quy định.
Ngoài các hình thức phân loại doanh nghiệp nhà nước nêu trên, còn có
nhiều cách phân loại khác nhau về doanh nghiệp nhà nước như:
Theo hình thức tổ chức doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước độc lập
và tổng công ty nhà nước.
Theo cơ cấu tổ chức quản lý: Doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản
trị và doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 14 K33A - GDCD
Ở nước ta đang trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thì các

doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất lớn.
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước giúp khắc phục những khuyết tật của
cơ chế thị trường và khu vực kinh tế tư nhân. Thể hiện rõ nét ở 2 lĩnh vực:
 Vai trò chủ lực trong việc đảm nhận thị trường và các hàng hoá công
cộng.
 Đảm nhận vai trò quan trọng trong các ngành độc quyền tự nhiên.
Thứ hai, đảm nhận các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh có tính chiến
lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn, vượt quá
khỏi khả năng của tư nhân.
Thứ ba, tham gia vào những lĩnh vực mới, có hệ số rủi ro cao, tuy
nhiên không phải tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều phải thực hiện vai trò
này mà chỉ một số doanh nghiệp đặc biệt, có quy mô lớn, được cơ quan nhà
nước quy định rõ ràng trong chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Thứ tư, tham gia vào một số doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh.
Thứ năm, doanh nghiệp nhà nước nắm giữ những ngành đặc biệt quan
trọng liên quan đến an ninh quốc phòng của quốc gia.
Thứ sáu, tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng (tuỳ
từng thời kỳ phát triển kinh tế) để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng
trong tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất lớn trong phát triển kinh
tế - xã hội. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm
công cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm
lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 15 K33A - GDCD
1.1.2.2 Doanh nghiệp tư nhân
Theo điều 141 Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp tư nhân là doanh
nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản

của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Từ quy định trên chúng ta thấy doanh nghiệp tư nhân gồm những đặc
điểm cơ bản sau:
Một là, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư
vốn thành lập và làm chủ. Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá
nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi
nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy
định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê
người khác quản lý, điều hành các hoạt động kinh doanh (trong trường hợp
này phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách
nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh
nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm dừng hoạt động kinh doanh theo quy định của
pháp luật.
Hai là, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân bởi vì tài sản
của doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp.
Tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh
nghiệp.
Ba là, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
Như vậy, chúng ta thấy rằng doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh
nghiệp đơn giản nhất, tức là tự mình làm chủ thành ra rất dễ thành lập, hễ có
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 16 K33A - GDCD
vốn và có đầu óc kinh doanh là mở được doanh nghiệp. Lợi điểm chính của
loại hình này là dễ thành lập; không chung đụng phải có giao kèo lôi thôi tới
ai; lời thì ăn, lỗ thì chịu; và chủ nhân đóng thuế thu nhập cá nhân ngay trên
thu nhập của doanh nghiệp và chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của chủ doanh

nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh
nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như loại hình doanh nghiệp
khác.
Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân và tính chịu trách nhiệm vô
hạn về tài sản nên mức độ rủi ro của chủ doanh nghiệp tư nhân cao, giả sử
doanh nghiệp bị thua lỗ đến phá sản, chủ doanh nghiệp vẫn hoàn toàn chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và vẫn bị thưa kiện nếu không trả được món nợ
này. Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn về số vốn mà chủ
doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp
1.1.2.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp mà các thành viên trong
công ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
 Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp
trong đó thành viên chịu trách nhiệm về khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã đăng ký đóng góp vào doanh
nghiệp.
Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên
tối thiểu là 2 và tối đa không vượt quá 50.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 17 K33A - GDCD
Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp
giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn
không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội
đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách
nhiệm hữu hạn có trên 10 thành viên phải có Ban kiểm soát.

Như vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ
biến nhất ở Việt Nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như:
- Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên của công ty trách nhiệm
hữu hạn chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số
vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn.
- Số lượng thành viên công ty không nhiều và các thành viên thường là
người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá
phức tạp.
- Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư
dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi của các thành viên, hạn chế sự thâm
nhập của người lạ vào công ty.
Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn
chế nhất định như:
+ Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác,
bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp
luật hơn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh.
+ Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do
không có quyền phát hành cổ phiếu.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 18 K33A - GDCD
 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt
của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức
hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều
lệ của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần

vốn điều lệ của công ty cho một tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không
được quyền phát hành cổ phiếu và không được giảm vốn điều lệ.
Chủ sở hữu của công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn
bộ số vốn đã góp vào công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn
bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá
nhân khác. Chủ sở hữu của công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi
công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến
hạn phải trả.
Tuỳ thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý
nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng
quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có đầy đủ các
đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất 2 thành viên trở lên. Điểm
khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công
ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất 2 thành viên trở lên là công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên này có
thể là tổ chức hoặc cá nhân.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 19 K33A - GDCD
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu
công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của
công ty.
1.1.2.4 Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người

khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần
của cổ đông sáng lập.
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và
không hạn chế về số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán
ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần phải có Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám
đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên 10 cổ đông phải có Ban
kiểm soát.
Công ty cổ phần có những lợi thế như là:
- Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các
cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty
trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi ro của các cổ đông không cao.
- Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các
lĩnh vực, các ngành nghề.
- Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều
người cùng góp vốn vào công ty.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 20 K33A - GDCD
- Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc
phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ
phần.
Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có
những hạn chế nhất định.
+Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần là rất phức tạp do số lượng
cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí
có thể có sự phân hoá thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích.
+ Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại
hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật,

đặc biệt là chế độ tài chính, kế toán.
1.1.2.5 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
Một là, phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên
hợp danh, có thể có thành viên góp vốn.Thành viên hợp danh phải là các cá
nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Hai là, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư
cách pháp nhân kể từ ngày được cấp đăng ký kinh doanh và không được phát
hành bất kì loại chứng khoán nào để huy động vốn.
Ba là, thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, tiến hành các
hoạt động kinh doanh nhân danh công ty, cùng liên đới chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận
theo tỷ lệ được quy định tại điều lệ công ty; không được tham gia quản lý
công ty và hoạt kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có
quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 21 K33A - GDCD
Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều
người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp
danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối
tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số
lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.
Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô
hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Công ty hợp danh có hai loại: công ty hợp danh mà tất cả các thành
viên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp
danh và thành viên góp vốn.

Như vậy, ở Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tồn tại rất nhiều các loại
hình doanh nghiệp khác nhau và mỗi loại hình doanh nghiệp đó đều có những
ưu điểm và nhược điểm. Nhưng chúng đều có vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ mở cửa, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế thì các doanh nghiệp đóng góp một vai trò rất lớn trong
việc nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế về mặt kinh tế.
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định bằng năng lực tạo
ra, duy trì, hay ra tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường cạnh tranh với sản
phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Hiểu một cách đơn giản nó chính là khả
năng cạnh tranh tương đối của một doanh nghiệp trong tương quan với các
chủ thể kinh doanh khác, nó thể hiện đặc biệt thông qua hiệu quả kinh doanh,
năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, cũng như năng lực tài chính, năng
lực quản lý, vị thế, uy tín kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường liên
quan [15, 35].
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 22 K33A - GDCD
Không có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và
phát triển trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Đặc biệt trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một mặt tùy thuộc vào các yếu
tố do doanh nghiệp chi phối như:
 Cán bộ quản lý doanh nghiệp
 Công nghệ
 Năng suất
 Chất lượng hoạt động của doanh nghiệp…
Nhưng mặt khác nó còn tùy thuộc vào các yếu tố ngoài doanh nghiệp
bao gồm: các yếu tố về địa lý và tự nhiên, các yếu tố liên quan đến năng lực
cạnh tranh quốc gia mà doanh nghiệp không thể thay đổi được như:

+ Độ mở cửa: thuế quan và các hàng rào tiềm ẩn cản trở nhập khẩu,
khuyến khích xuất khẩu, tỷ giá hối đoái.
+ Chính phủ: mức độ can thiệp của nhà nước, năng lực và quy mô
chính phủ, chính sách thuế khóa
+ Thể chế: các chỉ số cạnh tranh, chất lượng thể chế pháp luật…
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu sự tác động tổng
hợp của rất nhiều yếu tố, nhưng trong đó các yếu tố do doanh nghiệp chi phối
(cán bộ quản lý, công nghệ, năng suất…) giữ vai trò quan trọng, quyết định
trực tiếp nhất đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trường
với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay.
Ở Việt Nam, nhiều yếu tố được đánh giá là có lợi thế trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như: nguồn nhân lực dồi dào, giá
rẻ, môi trường đầu tư tốt, nguồn tài nguyên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi
cho giao lưu buôn bán…Nhưng hiện nay, những yếu tố này không những
không còn là cơ hội nữa mà thậm chí đang trở thành những thách thức cần
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 23 K33A - GDCD
khắc phục. Vì trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu như hiện nay thì vấn đề lợi
thế cạnh tranh đã chuyển từ lợi thế cạnh tranh tĩnh (lợi thế cạnh tranh của sản
phẩm chủ yếu có được từ việc sở hữu và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
phong phú, lao động giá rẻ…), với giá trị ra tăng thấp sang lợi thế cạnh tranh
động (lợi thế cạnh tranh có được chủ yếu từ các yếu tố then chốt như công
nghệ, tri thức…) với giá trị ra tăng cao.
Liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam chúng
ta thấy còn nhiều hạn chế như:
 Công nghệ vừa thiếu vừa lạc hậu
 Trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, trình độ quản lý yếu
 Năng suất lao động thấp
 Chất lượng sản phẩm chưa cao và giá thành sản phẩm chưa hợp lý
 Thị trường đầu ra chưa ổn định, thiếu bền vững

Trong xu thế tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế, với sự cạnh tranh
ngày càng khốc liệt thì vị thế về năng lực cạnh tranh là điều kiện đầu tiên để
doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
này đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của
mình trên thị trường, đây là công việc vừa cấp thiết vừa lâu dài.
1.3 Sự cần thiết phải hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Hai thập kỉ cuối của thế kỉ XX đã vẽ lên bức tranh khá toàn diện về con
đường và xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu trong thế kỉ XXI, với việc
thành lập các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội … ở nhiều khu vực và trên toàn
thế giới, trong đó có tổ chức kinh tế lớn nhất hiện nay là WTO (tổ chức
thương mại thế giới) cho thấy hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành
một trong những những xu hướng của quan hệ quốc tế hiện đại.
Hội nhập kinh tế quốc tế - được biểu hiện một cách đầy đủ không đơn
thuần chỉ là những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường, mà là việc một
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 24 K33A - GDCD
quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế - tài
chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, bao
gồm các lĩnh vực sau:
- Đàm phán cắt giảm thuế quan, tiến tới thực hiện thuế suất bằng
không với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
- Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ những hàng rào phi thuế quan gây cản trở
đối với thương mại.
- Giảm thiểu các hạn chế đối với thương mại, dịch vụ, tức là tự do hoá
việc cung cấp và kinh doanh các hình thức dịch vụ.
- Giảm thiểu các hạn chế đối với đầu tư để mở đường cho tự do hoá
hơn nữa thương mại.
- Điều chỉnh chính sách quản lý thương mại theo những quy tắc và
luật chơi quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giao dịch thương
mại như: thủ tục hải quan, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh

tranh…
- Triển khai những hoạt động hợp tác kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm
nâng cao năng lực của các nước trong quá trình hội nhập.
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay được mở
rộng ra tất cả các lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế, thương mại, nhằm
mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và
vô hình đối với trao đổi thương mại. Hội nhập kinh tế quốc tế về thực chất là
quá trình gắn kết nền kinh tế thế giới trên cơ sở tự do hoá nền kinh tế và mở
cửa thị trường trong nước.
Thời đại ngày nay, quan hệ kinh tế quốc tế phát triển mạnh mẽ cả chiều
rộng và chiều sâu, trở thành một xu thế tất yếu mà không một quốc gia nào có
thể phát triển nếu đứng ngoài xu thế đó. Trong thời đại ngày nay, hội nhập
kinh tế quốc tế lôi cuốn mọi quốc gia vào dòng xoáy của nó, dù là quốc gia
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hiếu 25 K33A - GDCD
tiên tiến hay lạc hậu, phát triển hay chậm phát triển, nó đang là xu hướng tất
yếu của thời đại.
Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp nhất của hội nhập kinh tế quốc tế là
sự phát triển nhanh chóng và có những đột phá của cách mạng khoa học –
công nghệ hiện đại. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự biến đổi của
xã hội diễn ra sâu sắc, mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử. Trong hai thập kỉ
qua các công nghệ cao phát triển như vũ bão và đã đạt được rất nhiều thành
tựu kì diệu. Đặc biệt là trong thập niên 90 các thành tựu về công nghệ web,
internet, thương mại điện tử… cùng với những thành tựu về công nghệ sinh
học như công nghệ gen, nhân bản vô tính…đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc,
làm đảo lộn nền kinh tế thế giới và toàn bộ xã hội loài người, đưa con người
vào thời đại kinh tế tri thức.
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại là nguyên nhân trực
tiếp của hội nhập kinh tế quốc tế vì:
Một là, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo ra sự phát

triển vượt bậc của lực lượng sản xuất làm cho nó vượt ra khỏi khuôn khổ
quốc gia, đòi hỏi mở rộng không gian kinh tế mới có khả năng sử dụng hiệu
quả.
Hai là, nó tạo ra các phương tiện giao thông, vận tải, phương tiện thông
tin liên lạc hiện đại, làm cho việc đi lại, giao lưu trở nên nhanh chóng, dễ
dàng, làm cho khoảng cách giữa nhiều quốc gia cách nhau hàng ngàn cây số
trở nên “ngắn lại” vì tốc độ rất nhanh chóng.
Ba là, nó làm xuất hiện những lợi thế mới cho nhiều quốc gia, bởi vì
mỗi quốc gia có ưu thế khác nhau về các lĩnh vực khoa học, công nghệ, tạo ra
được những sản phẩm có thế mạnh riêng. Vì vậy, mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế càng trở nên cần thiết, bởi vì mỗi quốc gia có thể mua được những sản
phẩm chưa có khả năng sản xuất hoặc sản xuất chưa tốt và còn đắt, đồng thời
bán được sản phẩm có thế mạnh của mình.

×