TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA LỊCH SỬ
Đề tài: NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG VỀ
INCOTERMS 2010 MÀ DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM CẦN BIẾT
Bộ môn: Nghiệp vụ thư ký văn phòng và văn bản ngoại giao
GVHD: TS Nguyễn Văn Kết
Lớp Quốc Tế Học K38B – Nhóm 2
Danh sách nhóm:
1. Nguyễn Thị Cẩm Tiên K38.608.127
2. Trần Thị Phương Uyên K38.608.037
3. Nguyễn Ngọc Bảo Trân K38.608.135
4. Hoàng Kim Xuân K38.608.149
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
5. Hoàng Việt Anh K38.608.002
6. Phan Thị Yến Ly K38.608.081
TP HỒ CHÍ MINH, 4/2015
Đề tài:NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG VỀ
INCOTERMS 2010 MÀ DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM CẦN BIẾT
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 2
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 3
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
Tên đề tài: NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG VỀ INCOTERMS 2010 MÀ CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CẦN BIẾT
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi mở cửa nền kinh tế đến nay, Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu kinh
tế xã hội. Hoạt động ngoại thương phát triển vượt trội, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng cao qua
mỗi năm cùng với với sự đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất nhập khẩu, tạo sức
cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài. Chúng ta đang từng bước đa phương hóa các đối tác buôn
bán, mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia chứ không hạn chế ở một số thị trường truyền thống.
Quá trình hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải am hiểu các luật lệ, tập quán
kinh doanh quốc tế, nếu không sẽ gặp nhiều khó khăn và rủi ro. Thực tiễn cho thấy, trong quá
trình ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, có rất nhiều rủi ro, tổn thất
và tranh chấp đối với các doanh nghiệp Việt Nam do chưa nắm vững và vận dụng đúng các
nguyên tắc, tập quán trong kinh doanh quốc tế. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay sử
dụng các điều kiện thương mại quốc tế Incoterms do Phòng thương mại quốc tế ICC ban hành,
tuy nhiên, không phải là doanh nghiệp nào cũng có thể sử dụng hiệu quả và vận dụng đúng các
điều kiện thương mại quốc tế đó.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 4
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
Gần đây nhất, vào tháng 9/2010, Phòng thương mại quốc tế ICC đã cho phát hành ấn bản
Incoterms 2010. Đây là một bộ các quy tắc cập nhật những tập quán mới nhất trong thương mại
quốc tế. Incoterms 2010 chứa đựng nhiều thay đổi so với Incoterms 2000 và các bản trước đây
nhằm đảm bảo tính cấp thiết và tính thực tiễn. Kể từ nay, các doanh nghiệp và doanh nhân trên
thế giới sẽ sử dụng Incoterms 2010 như một bộ cẩm nang trong quá trình tham gia vào thương
mại quốc tế. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam muốn đẩy mạnh xuất nhập khẩu, mở rộng thị
trường đòi hỏi phải tiếp thu và vận dụng tốt Incoterms 2010 một cách nhanh chóng.
Những vấn đề nêu trên cho thấy tính khách quan của vấn đề: “Những vấn đề quan trọng
trong INCOTERMS 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết” mà nhóm đã chọn đề tài làm
bài thuyết trình và tiểu luận hy vọng giúp mọi người có thể dễ dàng hiểu và sử dụng tốt
Incoterms 2010, qua đó hy vọng có thể giúp cho các doanh nghiệp tránh khỏi những bỡ ngỡ và
áp dụng có hiệu quả hơn cho không chỉ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của bản thân
doanh nghiệp mà còn có thể mang lại lợi ích cho đất nước.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 5
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
I -Tổng quan về sự ra đời của INCOTERMS và vai trò của INCOTERMS đối với
hoạt động thương mại quốc tế.
1. Lịch sử ra đời và phát triển của INCOTERMS
Incoterms ( viết tắt của International Commercial Terms – Các điều kiện thương mại quốc
tế ) là một bộ các quy tắc thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế
giới. Incoterms quy định những quy tắc liên quan đến giá cả của hàng hóa cũng như trách nhiệm
của các bên tham gia ( người mua và người bán ) trong hoạt động thương mại quốc tế. Năm
1936, phòng Thương mại quốc tế ICC - International Champer of Commerce tại Paris đã phát
hành Incoterms nhằm thống nhất tập quán thương mại quốc tế, tránh được những vụ tranh chấp
và kiện tụng làm lãng phí thời gian và của cải của con người và xã hội.
Để phù hợp với thực tế thương mại, INCOTERMS đã được sửa đổi bổ sung vào các năm
1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 và lần gần đây nhất cho ra đời bộ INCOTERMS 2010.
Bản Incoterms đầu tiên được pháp hành vào năm 1936. Trong đó nội dung bao gồm 7
điều kiện thương mại được sử dụng cho phương thức vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
Vào thời điểm này, thương mại đường bằng đường hàng không chưa phát triển.
Incoterms 1953 bao gồm 9 điều kiện thương mại được trình bày chuyên sâu hơn so với bản
đầu tiên, nhưng vẫn trung thành với cách sắp xếp các điều kiện thương mại theo thứ tự tăng dần
nghĩa vụ của người bán.
Incoterms 1967 bao gồm 11 điều kiện thương mại. So với Incoterms 1953, Incoterms 1967
đã có thêm 2 điều kiện thương mại nhóm D là điều kiện DAF ( giao hàng tại biên giới) dùng cho
vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ và đường sắt và điều kiện DDP ( giao hàng tại nơi đến, đã
nộp thuế ) dùng cho vận tải đa phương thức.
Incoterms 1976 bao gồm 12 điều kiện thương mại do được bổ sung thêm điều kiện FOB
airport dùng trong vận chuyển bằng đường hàng không.
Incoterms năm 1980 được bổ sung thêm 2 điều kiện thương mại, bao gồm 14 điều kiện. Đó
là : Ex Works; Free carrier; Free on Rail/ Free on Truck; Fob Airport; Free alongside Ship; Free
on Board; Cost and Freight; Cost, Insurance and Freight; Freight Carriage paid to; Freight
Insurance paid to; Ex Ship; Ex Quay; Delivered at frontier; Delivered Duty paid. So với
Incoterms 1976, ấn bản mới này có thêm 2 điều kiện là Freight Carriage paid to (CPT) và Freight
Insurance paid to (CIP).
Incoterms 1990 gồm 13 điều kiện:EXW, FCA, FAS, FOB, CFR, CIF, CPT, CIP, DAF,
DES, DEQ, DDU, DDP. 13 điều kiện trên được phân chia thành 4 nhóm theo đặc trưng cơ bản
về trách nhiệm nghĩa vụ và phân chia rủi ro của bên bán và bên mua.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 6
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
Incoterms 2000 vẫn giữ nguyên 13 điều kiện thương mại như trong Incoterms 1990, nhưng
trong bản mới này, ICC đã cố gắng sử dụng những thuật ngữ và cách diễn đạt thống nhất trong
cả 13 điều kiện.
Ấn bản Incoterms mới nhất là bản Incoterms 2010. Incoterms 2010 đã giảm số điều kiện
thương mại từ 13 xuống còn 11 bằng việc thay thế bốn điều kiện cũ là DAF, DES, DEQ, DDU
bằng hai điều kiện mới có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải là DAT ( giao hàng tại bến)
và DAP ( giao tại nơi đến). Ngoài ra, Incoterms 2010 cũng đề cập đến sự xuất hiện ngày càng
nhiều của các khu vực miễn thủ tục hải quan; việc sử dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh
ngày càng phát triển và cả những thay đổi trong các tập quán vận tải. Đặc biệt, lần đầu tiên trong
lịch sử phát triển của mình, Incoterms 2010 đã đề cập đến nghĩa vụ của người mua và người bán
một cách bình đẳng.
2. Mục đích ra đời của INCOTERMS
Incotems ra đời nhằm cung cấp một hệ thống trọn vẹn các quy tắc quốc tế nhằm giải thích
những điều kiện thương mại thông thường được sử dụng rộng rãi trong ngoại thương. Từ đó có
thể tránh được hoặc ít nhất giảm được đáng kể sự không chắc chắn do cách giải thích khác nhau
về những điều kiện đó tại các nước khác nhau. Nhiều khi các bên ký kết hợp đồng không biết rõ
các tập quán thương mại của nước bên kia bởi mỗi nước đều có tập quán buôn bán và vận tải
khác nhau, việc đó có thể gây ra những sự hiểu lầm, những vụ tranh chấp và kiện tụng gây lãng
phí thời gian và tiền bạc. Incoterms ra đời đã khắc phục được những khó khăn đó bằng cách đưa
ra những điều kiện thương mại chung, đã được công nhận và có hiệu lực ở nhiều nước trên thế
giới
3. Vai trò của INCOTERMS đối với hoạt động thương mại quốc tế
Incoterms là một bộ các quy tắc nhằm hệ thống hóa các tập quán thương mại quốc tế được
áp dụng phổ biến bởi các doanh nghiệp trên toàn thế giới.
Incoterms là một ngôn ngữ quốc tế trong giao nhận và vận tải hàng hóa ngoại thương.
Incoterms là phương tiện quan trọng để đẩy nhanh tốc độ đàm phán, xây dựng và tổ chức
thực hiện hợp đồng ngoại thương.
Incoterms là cơ sở quan trọng để xác định giá cả mua bán hàng hóa.
Incoterms là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp (nếu có) giữa các bên
trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương.
4. Mục đích sửa đổi INCOTERMS
Lý do chính của việc liên tục sửa đổi Incoterms là nhu cầu làm cho chúng phù hợp với tập
quán thương mại hiện hành. Do vậy, trong lần sửa đổi năm 1980 điều kiện " Giao cho người
chuyên chở " ( nay là FCA) đã được đưa vào để thích ứng với trường hợp hay xảy ra là điểm tiếp
nhận trong thương mại hàng hải không còn là điểm FOB truyền thống (qua lan can tàu) nữa mà
là một điểm trên đất liền, trước khi bốc hàng lên tàu, và hàng đã được xếp trong con-te-nơ để sau
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 7
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
đó được vận chuyển bằng đường biển hoặc bằng cách kết hợp các phương tiện vận tải khác nhau
( được gọi là vận tải liên hợp hoặc đa phương thức ).
Hơn nữa, trong lần sửa đổi Incoterms năm 1990, các điều khoản quy định nghĩa vụ của
người bán cung cấp bằng chứng về việc giao hàng cho phép thay thế chứng từ trên giấy bằng
thông điệp điện tử ( EDI ) với điều kiện các bên đồng ý trao đổi thông tin bằng điện tử. Một điều
rõ ràng là luôn có những nỗ lực để cải tiến việc soạn thảo và trình bày Incoterms nhằm tạo điều
kiện cho việc thực hiện các điều kiện đó trên thực tế.
5. Phạm vi điều chỉnh của INCOTERMS
Incoterms chỉ giới hạn đối với những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng mua bán về việc giao hàng hóa được bán.
Incoterms chỉ quy định về quan hệ giữa người mua và người bán thuộc hợp đồng mua bán
hàng hóa, và hơn nữa là chỉ quy định trong một số trường hợp cụ thể mà thôi. Người nhập khẩu
và người xuất khẩu cần phải biết rõ rằng trong giao dịch thương mại quốc tế, không chỉ có một
hợp đồng mua bán hàng hóa là loại hợp đồng duy nhất mà các bên cần ký kết, bên cạnh đó còn
có rất nhiều loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm… được sử dụng
đồng thời với hợp đồng mua bán hàng hóa và chúng có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn
nhau. Khi tiến hành ký kết hợp đồng thương mại, nhà xuất nhập khẩu cần phải xem xét mối liên
quan thực tế giữa các loại hợp đồng với nhau, cần thiết để thực hiện một vụ mua bán hàng hóa
quốc tế. Tuy vậy, việc các bên thỏa thuận sử dụng một điều kiện của Incoterms thì nó thường
mang ý nghĩa ảnh hưởng đến các hợp đồng khác.
Ví dụ như khi người bán đã đồng ý ký hợp đồng với điều kiện CFR hay CIF thì đồng nghĩa
với việc không thể dùng bất kỳ phương thức vận tải nào khác ngoài phương thức vận tải bằng
đường thủy, bởi theo các điều kiện này thì người bán phải gửi vận đơn đường biển hay chứng từ
vận tải biển cho người mua để làm bằng chứng cho việc giao hàng. Hơn nữa, tính hợp lệ của bộ
chứng từ thanh toán cũng phụ thuộc vào phương thức vận tải được sử dụng.
Nhìn chung, Incoterms không điều chỉnh hậu quả của sự vi phạm hợp đồng và bất kỳ sự
miễn trừ nghĩa vụ nào do nhiều trở ngại gây ra. Các vấn đề này phải được giải quyết bằng những
quy định khác trong hợp đồng mua bán hàng hóa và các luật điều chỉnh hợp đồng đó.
6. Lưu ý khi sử dụng
− Các phiên bản cũ của Incoterms từ năm 1953 đến năm 2000 chỉ áp dụng đối với hợp đồng
ngoại thương mà không áp dụng cho hợp đồng nội thương. Riêng phiên bản Incoterms 2010
áp dụng cho cả giao dịch nội địa.
− Incoterms chỉ áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa dạng vật chất (hữu hình), không áp
dụng cho hàng hóa phi vật chất (vô hình).
− Incoterms là tập quán thương mại không mang tính bắt buộc
− Phải được dẫn chiếu trong Hợp đồng và ghi rõ là phiên bản năm nào: Ví dụ Incoterms 2000.
− Các thương nhân cần căn cứ thực tiễn thương mại để lựa chọn điều kiện phù hợp nhất
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 8
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
− Hai bên mua và bán có quyền thay đổi, bổ sung, cắt giảm các trách nhiệm và nghĩa vụ
nhưng không được làm thay đổi bản chất các điều kiện cơ sở giao hàng của Incoterms
− Trong trường hợp chuyên chở hàng hóa bằng container sử dụng vận tải đường thủy, nên lựa
chọn điều kiện FCA, CPT, CIP thay cho FOB, CFR, CIF.
− Không nên sử dụng các thuật ngữ vận tải: FI, FO, FIO khi dùng Incoterms
− Bản thân Incoterms khá chi tiết nhưng không hoàn toàn đầy đủ. INCOTERMS chỉ giải
thích những vấn đề chung nhất về trách nhiệm của người bán và người mua liên quan đến
việc giao nhận hàng hóa mà không giải quyết các vấn đề:
− Chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa
− Giải thoát nghĩa vụ và miễn trừ trách nhiệm của các bên khi gặp sự cố bất khả kháng
− Hậu quả của các hành vi vi phạm hợp đồng trừ các nghĩa vụ liên quan tới việc giao nhận
hàng hóa
“Incoterms chỉ là những nguyên tắc để giải thích điều kiện cơ sở giao hàng và không giải thích
các điều khoản khác trong Hợp đồng ”
I -Giới thiệu INCOTERMS 2010
1. Giới thiệu INCOTERMS 2010
Incoterms 2010 là phiên bản mới nhất của Incoterm, được Phòng thương mại Quốc tế
(ICC) ở Paris, Pháp và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2011.
Incoterms 2010 bao gồm 11 điều kiện, là kết quả của việc thay thế bốn điều kiện cũ trong
Incoterms 2000 (DAF, DES, DEQ, DDU) bằng hai điều kiện mới là DAT và DAP.
2. Giải thích các thuật ngữ của INCOTERMS 2010
" người gửi hàng " ( " shipper " )
Trong một số trường hợp, việc sử dụng cùng một thuật ngữ để diễn đạt hai nghĩa khác
nhau là cần thiết, đơn giản là vì không có một từ thay thế phù hợp. Các thương nhân sẽ quen với
sự rắc rối này trong cả hai trường hợp của hợp đồng mua bán hàng và hợp đồng vận tải. Ví dụ, từ
" người gửi hàng " ( "shipper" ) vừa mang nghĩa là người gửi hàng vừa mang nghĩa là người ký
hợp đồng vận tải với người chuyên chở. Tuy nhiên, đây lại có thể là hai người khác nhau, như
trong hợp đồng ký theo điều kiện FOB thì người bán là người gửi hàng còn người mua là người
ký hợp đồng vận tải.
" giao hàng " (" delivery " )
Cần đặc biệt lưu ý rằng thuật ngữ " giao hàng " ( " delivery " ) được sử dụng với hai nghĩa
khác nhau trong Incoterms. Thứ nhất, nó được sử dụng để quy định thời hạn mà người bán phải
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Thứ hai, thuật ngữ " giao hàng " ( " delivery " ) cũng được sử
dụng để nói lên nghĩa vụ của người mua về chấp nhận việc giao hàng.
"Lệ phí " ( " charges " )
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 9
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
Có một điều quan trọng khi nói tới nghĩa vụ thông quan cho hàng nhập khẩu đó là các " lệ
phí " phải nộp để nhập khẩu hàng hoá phải được hiểu là gì. Những " lệ phí " phải trả chỉ là những
loại phí cần phải nộp để nhập khẩu hàng hoá theo quy định áp dụng đối với việc nhập khẩu. Bất
kỳ một khoản phụ phí nào do tổ chức tư nhân thu, tuy có liên quan đến việc nhập khẩu nhưng sẽ
không được tính vào những lệ phí này, ví dụ như các chi phí bảo quản lưu kho hàng hoá mà
không liên quan đến nghĩa vụ thông quan. Tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ này có thể làm phát
sinh thêm những khoản chi phí phải trả cho người kê khai thuê hải quan hoặc người giao nhận
nếu bên có nghĩa vụ thông quan cho hàng hoá không tự mình làm.
" tàu " và " tàu biển " ( " ship " và " vessel " )
Trong các điều kiện áp dụng cho vận tải biển, thì từ " tàu " và " tàu biển " (" ship " và "
vessel " ) được dùng như hai từ đồng nghĩa. Chúng ta biết rằng từ " tàu " ( " ship " ) sẽ được sử
dụng khi nó là một bộ phận trong tên của điều kiện thương mại như " giao dọc mạn tàu "[" free
along side ship " (FAS)] và " giao tại tàu " [( " delivery ex ship " ( DES )]. Và trong cụm từ
truyền thống " qua lan can tàu " (" passed ship’s rail ") của điều kiện FOB, thì từ " tàu " ( " ship "
) cũng đã được sử dụng.
" kiểm tra " và " giám định"("checking " and " inspection" )
Trong các điều A9 và B9 của incoterms, tiêu đề "kiểm tra - bao bì đóng gói và ký mã
hiệu"("checking - packaging and marking" ) và " giám định hàng hoá " ( " inspection of the
goods " ) lần lượt được sử dụng. Mặc dù từ " kiểm tra " ("checking " ) và " giám định " ( "
inspection " ) là hai từ đồng nghĩa, nhưng sẽ là phù hợp khi dùng từ " kiểm tra " ("checking " )
cho nghĩa vụ giao hàng của người bán trong điều A4 và dành từ " giám định " ( " inspection " )
cho trường hợp đặc biệt khi tiến hành việc "giám định " trước khi giao hàng, vì việc kiểm tra như
thế thường chỉ phải làm khi người mua hoặc cơ quan chức năng của nước xuất ( nhập) khẩu
muốn đảm bảo rằng hàng hoá phù hợp với những quy định của hợp đồng hoặc của cơ quan quản
lý trước khi được gửi đi.
3. Cách sử dụng INCOTERMS 2010
3.1. Dẫn chiếu các điều kiện của INCOTERMS vào hợp đồng mua bán hàng hóa
Nếu bạn muốn áp dụng các quy tắc Incoterms 2010 vào hợp đồng mua bán hàng hóa thì
phải làm rõ điều đó trong hợp đồng bằng cách dùng các từ ngữ, như: “[Điều kiện được chọn, tên
địa điểm, Incoterms 2010]”.
3.2. Lựa chọn điều kiện INCOTERMS phù hợp
Điều kiện Incoterms được chọn phải phù hợp với hàng hóa, phương tiện vận tải và quan
trọng hơn cả là phải xem các bên có ý định đặt ra cho người mua hoặc người bán các nghĩa vụ bổ
sung, ví dụ như nghĩa vụ tổ chức vận tải và mua bảo hiểm. Hướng dẫn sử dụng trong từng điều
kiện Incoterms cung cấp những thông tin đặc biệt hữu ích cho việc lựa chọn các điều kiện.Dù
chọn điều kiện Incoterms nào, các bên vẫn cần biết rằng việc giải thích hợp đồng còn chi phối
mạnh mẽ hơn tập quán riêng của từng cảng hoặc từng địa phương có liên quan.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 10
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
3.3 Quy định nơi giao hàng hoặc cảng càng chính xác càng tốt
Điều kiện Incoterms được lựa chọn chỉ làm việc tốt khi các bên chỉ định một nơi hoặc một
cảng, và sẽ là tối ưu nếu các bên quy định chính xác nơi hoặc cảng đó. Chẳng hạn cần quy định
như: “FCA 38 Cours Albert 1er, Paris, France Incoterms 2010”
Theo các điều kiện như: Giao tại xưởng (EXW), Giao cho người chuyên chở (FCA), Giao
tại bến (DAT), Giao tại nơi đến (DAP), Giao hàng đã nộp thuế (DDP), Giao dọc mạn tàu (FAS),
Giao lên tàu (FOB), thì nơi được chỉ định là nơi diễn ra việc giao hàng và là nơi rủi ro chuyển từ
người bán sang người mua. Theo các điều kiện: Cước phí trả tới (CPT), Cước phí và bảo hiểm
trả tới (CIP), Tiền hàng và cước phí (CFR), Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí (CIF), thì địa điểm
được chỉ định khác với nơi giao hàng. Theo bốn điều kiện này, nơi được chỉ định là nơi đến mà
cước phí được trả.Việc ghi nơi hoặc đích đến có thể được cụ thể hóa hơn bằng cách quy định
một địa điểm cụ thể tại nơi hoặc đích đến đó nhằm tránh sự nghi ngờ hoặc tranh chấp.
3.4 Các điều kiện của INCOTERMS không làm cho hợp đồng đầy đủ
Incoterms đã chỉ rõ bên nào trong hợp đồng mua bán có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải
hoặc mua bảo hiểm, khi nào người bán giao hàng cho người mua và chi phí nào mỗi bên phải
chịu. Song, Incoterms không nói gì tới mức giá phải trả hay phương thức thanh toán. Đồng thời,
Incoterms cũng không đề cập tới sự chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa và hậu quả của việc
vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này thường được quy định trong các điều khoản khác của hợp
đồng hoặc trong luật điều chỉnh hợp đồng. Các bên nên biết rằng luật địa phương được áp dụng
có thể làm mất hiệu lực bất kỳ nội dung nào của hợp đồng, kể cả điều kiện Incoterms đã được
chọn.
4. Một số đặc điểm của INCOTERMS 2010
4.1. Các điều kiện mới của INCOTERMS 2010
Hai điều kiện mới – DAT và DAP – thay thế các điều kiện DAF, DES, DEQ, DDU
Số điều kiện trong Incoterms 2010 đã giảm từ 13 xuống 11. Có được điều này là nhờ việc
thay thế bốn điều kiện cũ trong Incoterms 2000 (DAF, DES, DEQ, DDU) bằng hai điều kiện mới
có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải là DAT – Giao hàng tại bến và DAP – Giao tại nơi
đến.
Theo cả hai điều kiện mới này, việc giao hàng diễn ra tại một đích đến được chỉ định: theo
DAT, khi hàng hóa được đặt dưới sự định đoạt của người mua, đã dỡ khỏi phương tiện vận tải
(giống điều kiện DEQ trước đây); theo DAP, cũng như vậy khi hàng hóa được đặt dưới sự định
đoạt của người mua, nhưng sẵn sàng để dỡ khỏi phương tiện vận tải (giống các điều kiện DAF,
DES, DDU trước đây).
Các điều kiện mới đã làm cho hai điều kiện cũ DES và DEQ trong Incoterms 2000 trở nên thừa.
Bến được chỉ định trong điều kiện DAT có thể là một cảng biển, và do đó điều kiện này có thể
dùng để thay thế điều kiện DEQ trong Incoterms 2000. Tương tự, phương tiện vận tải trong điều
kiện DAP có thể là tàu biển và nơi đến được chỉ định có thể là một cảng biển; do đó điều kiện
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 11
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
này có thể dùng để thay thế điều kiện DES trong Incoterms 2000. Các điều kiện mới này, giống
như các điều kiện trước đây, đều là các điều kiện “giao tại nơi đến”, theo đó người bán chịu mọi
chi phí (trừ các chi phí liên quan tới thủ tục thông quan nhập khẩu, nếu có) và rủi ro trong quá
trình đưa hàng tới nơi đến được chỉ định.
4.2. Phân loại các điều kiện của INCOTERMS 2010
Có hai cách để phân loại Incoterms 2010:
• Cách 1 : dựa theo các điều khoản:
Các điều khoản E: EXW
Người bán giao hàng cho người mua định đoạt ngay tại xưởng/kho của mình
• Các điều khoản F: FCA, FAS, FOB
Người bán đưa hàng đến cho người vận tải đầu tiên, người mua chịu trách nhiệm về chi phí
và rủi ro của việc vận tải chính
• Các điều khoản C: CFR, CIF, CPT, CIP
Người bán thu xếp và thanh toán tiền vận chuyển nhưng không chịu rủi ro trong quá trình
vận chuyển.
• Các điều khoản D: DAT, DAP, DDP
Người bán chịu tất cả các chi phí giao dịch và rủi ro cho đến điểm giao hàng – điểm đích.
Cách 2: Dựa trên phương thức vận tải mà các điều khoản này áp dụng:
11 điều kiện Incoterms 2010 được chia thành hai nhóm riêng biệt:
♦Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:
EXW: (Ex work) Giao tại xưởng
FCA: (Free Carrier) Giao cho người chuyên chở
CPT: (Carriage Paid To) Cước phí trả tới
CIP: (Carriage and Insurance Paid To) Cước phí và bảo hiểm trả tới
DAT: (Delivered at Terminal) Giao tại bến
DAP: (Delivered at Place) Giao tại nơi đến
DDP: (Delivered Duty Paid) Giao hàng đã nộp thuế
♦Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:
FAS:(Free Alongside Ship) Giao dọc mạn tàu
FOB: (Free On Board) Giao lên tàu
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 12
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
CFR: (Cost and Freight) Tiền hàng và cước phí trả đến
CIF: (Cost, Insurance and Freight) Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Nhóm thứ nhất gồm bảy điều kiện có thể sử dụng mà không phụ thuộc vào phương thức
vận tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều phương thức vận tải.
Nhóm này gồm các điều kiện EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP. Chúng có thể được
dùng khi hoàn toàn không có vận tải biển.Tuy vậy, nên nhớ rằng các điều kiện này cũng có thể
được sử dụng khi một phần chặng đường được tiến hành bằng tàu biển.
Trong nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng hóa được chở tới người mua đều là
cảng biển, vì thế chúng được xếp vào nhóm các điều kiện “đường biển và đường thủy nội địa”.
Nhóm này gồm các điều kiện FAS, FOB, CFR và CIF. Ở ba điều kiện sau cùng, mọi cách đề cập
tới lan can tàu như một điểm giao hàng đã bị loại bỏ. Thay vào đó, hàng hóa xem như đã được
giao khi chúng đã được “xếp lên tàu”. Điều này phản ánh sát hơn thực tiễn thương mại hiện đại
và xóa đi hình ảnh đã khá lỗi thời về việc rủi ro di chuyển qua một ranh giới tưởng tượng.
4.3. Trao đổi thông tin bằng điện tử
Các phiên bản Incoterms trước đã chỉ rõ những chứng từ có thể được thay thế bằng thông
điệp dữ liệu điện tử. Tuy vậy, giờ đây Incoterms 2010 cho phép các trao đổi thông tin bằng điện
tử có hiệu lực tương đương với việc trao đổi thông tin bằng bằng giấy, miễn là được các bên
đồng ý hoặc theo tập quán. Cách quy định này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của các giao
dịch điện tử mới trong suốt thời gian Incoterms 2010 có hiệu lực.
4.4. Bảo hiểm
Incoterms 2010 là phiên bản điều kiện thương mại đầu tiên kể từ khi Các điều kiện bảo
hiểm hàng hóa được sửa đổi và đã tính đến những sự thay đổi của các điều kiện này.Incoterms
2010 đưa ra nghĩa vụ về thông tin liên quan tới bảo hiểm trong các mục A3/B3, mục quy định về
hợp đồng vận tải và bảo hiểm. Những điều khoản này được chuyển từ các mục A10/B10 trong
Incoterms 2000 vốn được quy định chung chung hơn. Ngôn từ liên quan tới bảo hiểm trong các
mục A3/B3 cũng đã được hiệu chỉnh nhằm làm rõ nghĩa vụ của các bên về vấn đề này.
4.5. Thủ tục an ninh và các thông tin cần thiết để làm thủ tục
Hiện nay, mối quan tâm về an ninh trong quá trình vận tải hàng hóa ngày càng gia tăng, đòi
hỏi phải có bằng chứng xác nhận hàng hóa không gây nguy hiểm cho con người hoặc tài sản vì
bất cứ lý do gì trừ bản chất tự nhiên của hàng hóa. Do đó, Incoterms 2010, trong các mục A2/B2
và A10/B10 của nhiều điều kiện, đã phân chia nghĩa vụ giữa người mua và người bán về việc
tiếp nhận sự hỗ trợ để làm thủ tục an ninh, như là thông tin về quy trình trông nom, bảo quản
hàng hóa.
4.6. Phí xếp dỡ tại bến bãi
Theo các điều kiện CPT, CIP, CFR, CIF, DAT, DAP và DDP, người bán phải tổ chức việc
vận chuyển hàng hóa tới nơi đến theo thỏa thuận. Dù người bán trả cước phí nhưng thực chất
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 13
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
người mua mới là người chịu cước phí vì chi phí này thường đã bao gồm trong tổng giá bán.Chi
phí vận tải đôi khi bao gồm cả chi phí xếp dỡ và di chuyển hàng hóa trong cảng hoặc bến
container và người chuyên chở hoặc người điều hành bến bãi có thể buộc người mua trả chi phí
này khi nhận hàng. Trong những trường hợp như vậy, người mua không muốn phải trả cùng một
khoản chi phí tới hai lần: một lần trả cho người bán dưới dạng một phần tổng giá hàng và một
lần trả độc lập cho người chuyên chở hoặc người điều hành bến bãi. Incoterms 2010 đã cố gắng
khắc phục điều này bằng cách phân chia rõ ràng các chi phí này tại mục A6/B6 của các điều kiện
kể trên.
4.7. Bán hàng theo chuỗi
Hàng nguyên liệu đồng nhất, khác với hàng hóa chế biến, thường được bán nhiều lần trong
quá trình vận chuyển theo một “chuỗi”. Khi điều này diễn ra, người bán ở giữa chuỗi không phải
là người “gửi” (ship) hàng vì chúng đã được gửi bởi người bán đầu tiên trong chuỗi. Người bán ở
giữa chuỗi, do đó, thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người mua không phải bằng việc gửi
hàng mà bằng việc “mua” hàng hóa đã được gửi. Nhằm mục đích làm rõ vấn đề này, Incoterms
2010 đưa thêm nghĩa vụ “mua hàng đã gửi” như một phương án thay thế cho nghĩa vụ gửi hàng
trong các quy tắc Incoterms thích hợp.
5. Các biến thể của INCOTERMS 2010
Đôi khi các bên muốn thay đổi điều kiện Incoterms. Incoterms 2010 không cấm sự thay đổi
như vậy vì có thể gặp rủi ro khi làm việc này. Để tránh những rủi ro không mong đợi này, các
bên cần làm rõ những thay đổi trong hợp đồng. Ví dụ, nếu sự phân chia chi phí theo các điều
kiện Incoterms 2010 được sửa đổi trong hợp đồng, các bên cũng nên làm rõ liệu họ có muốn thay
đổi điểm chuyển giao rủi ro từ người bán sang người mua hay không.
Phần giới thiệu này đưa ra các thông tin chung về việc sử dụng và giải thích các điều
kiện Incoterms 2010 nhưng không phải là một phần của các điều kiện này.
I. Phương thức vận tải và các điều kiện tương ứng
1. Các điều kiện dùng cho một hoặc nhiều phương thức vận tải
1.1. EXW (GIAO TẠI XƯỞNG)
Hướng dẫn sử dụng
Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải và có thể sử dụng khi có
nhiều phương thức vận tải tham gia. Điều kiện này phù hợp với thương mại nội địa trong
khi điều kiện FCA thường thích hợp hơn trong thương mại quốc tế.
“Giao tại xưởng” có nghĩa là người bán giao hàng khi đặt hàng hóa dưới quyền định
đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm chỉ định (ví dụ như
xưởng, nhà máy, kho…). Người bán không cần xếp hàng lên phương tiện tiếp nhận cũng
như không cần làm thủ tục thông quan xuất khẩu (nếu có).
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 14
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
Các bên nên quy định càng rõ càng tốt địa điểm tại nơi giao hàng chỉ định vì chi phí
và rủi ro đến điểm đó do gười bán chịu. Người mua chịu toàn bộ chi phí và rủi ro liên quan
đến việc nhận hàng từ điểm quy định, nếu có, tại nơi giao hàng chỉ định.
Điều kiện EXW là điều kiện mà nghĩa vụ người bán là ít nhất. Điều kiện này nên
được áp dụng cẩn trọng với một số lưu ý sau:
♦ Người bán không có nghĩa vụ với người mua về việc xếp hàng, mặc dù trên thực tế
người bán có điều kiện hơn để thực hiện công việc này. Nếu người bán xếp hàng thì người
bán làm việc đó với rủi ro và chi phí do người mua chịu. Trường hợp người bán có điều
kiện hơn trong việc xếp hàng thì điều kiện FCA, theo đó người bán xếp hàng và chịu tất cả
rủi ro và chi phí, sẽ thích hợp hơn.
♦ Một người mua mua từ một người bán theo điều kiện EXW để xuât khẩu cần biết
rằng người bán chỉ có nghĩa vụ hỗ trợ người mua khi người mua yêu cầu để thực hiện xuất
khẩu chứ người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục hải quan. Do đó, người mua không nên
sử dụng điều kiện EXW khi không thể trực tiếp hoặc gián tiếp làm thủ tục thông quan xuất
khẩu.
♦ Người mua có nghĩa vụ rất hạn chế trong việc cung cấp thông tin cho người bán
liên quan đến xuất khẩu hàng hóa. Tuy vậy, người bán có thể cần một số thông tin, chẳng
hạn như để tính thuế hoặc báo cáo.
Nghĩa vụ của người bán
− Giao hàng tại cơ sở của mình.
− Giúp người mua (nếu có yêu cầu) lấy giấy phép xuất khẩu hàng hóa.
− Giúp người mua (nếu có yêu cầu) lấy thông tin để mua bảo hiểm cho hàng hóa.
− Không chịu trách nhiệm về việc bốc xếp hàng lên phương tiện vận tải.
− Chứng từ giao hàng điện tử được chấp nhận.
Nghĩa vụ của người mua
− Chịu mọi rủi ro và chi phí để lấy giấy phép xuất khẩu, giấy phép nhập
khẩu.
− Hoàn thành mọi thủ tục hải quan xuất nhập khẩu hàng hóa.
− Trả tiền thuế và mọi chi phí vận tải, bốc dỡ (nếu có).
− Hoàn trả các chi phí cho người bán khi họ giúp đỡ người mua lấy thông
tin/ giấy phép.
− Cung cấp cho người bán bằng chứng nhận hàng.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 15
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
1.2. FCA (GIAO CHO NGƯỜI CHUYÊN CHỞ)
Hướng dẫn sử dụng
"Giao cho người chuyên chở" có nghĩa là người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc
một người khác do người mua chỉ định, tại cơ sở của người bán hoặc tại địa điểm chỉ định khác.
Các bên cần phải quy định rõ địa điểm tại nơi được chọn để giao hàng, vì rủi ro được chuyển cho
người mua tại địa điểm đó.
Nếu các bên định giao hàng tại cơ sở của người bán thì nên quy định địa chỉ cơ sở của
người bán là nơi giao hàng. Nếu các bên có ý định giao hàng tại một địa điểm khác thì các bên
phải chỉ ra địa điểm giao hàng khác đó.
Điều kiện FCA đòi hỏi người bán phải thông quan xuất khẩu, nếu có. Tuy vậy, người bán không
có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả thuế nhậpkhẩu hoặc trả chi phí làm thủ tục thông quan
nhập khẩu.
Nghĩa vụ của người bán
− Thông quan cho hàng xuất khẩu.
− Thỏa thuận vói người mua về điểm giao hàng càng chính xác càng tốt.
− Chứng từ điện tử được chấp nhận.
− Nếu giao hàng tại cơ sở của người bán, phải bốc lên phương tiện vận tải mà người
mua cung cấp.
− Không có trách nhiệm về hợp đồng vận tải và bảo hiểm.
Nghĩa vụ của người mua
− Trả mọi rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa kể từ khi hàng được giao cho người
chuyên chở.
− Xác định địa điểm chính xác để người bán giao hàng.
− Thông báo cho người bán tên của người chuyên chở hoặc người nào khác được chỉ
định nhận hàng.
− Thông quan và chịu chi phí hải quan xuất khẩu.
− Chịu phí tổn để ký hợp đồng vận tải từ nơi giao hàng quy định.
1.3. CPT (CƯỚC PHÍ TRẢ TỚI)
Hướng dẫn sử dụng
"Cước phí trả tới" có nghĩa là người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc một
người khác do người bán chỉ định tại một nơi thỏa thuận (nếu điểm đó đã được các bên
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 16
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
thỏa thuận) và người bán phải ký hợp đồng và trả chi phí vận tải cần thiết để đưa hàng hoá
tới địa điểm đã được chỉ định.
Khi sử dụng các điều kiện CPT, CIP, CFR, hay CIF, người bán hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng khi người bán giao hàng cho người vận tải chứ không phải khi giao hàng đến địa
điểm đích.
Điều kiện này có hai điểm tới hạn, vì rủi ro và chi phí được chuyển giao tại hai điểm
khác nhau. Các bên nên quy định càng rõ càng tốt trong hợp đồng về địa điểm giao hàng
tại đó rủi ro được chuyển cho người mua, và địa điểm đến được chỉ định mà người bán
phải thuê phương tiện vận tải để chở hàng đến. Nếu nhiều người chuyên chở tham gia vận
tải hàng hóa đến nơi quy định và các bên không có thỏa thuận về điểm giao hàng cụ thể, thì
rủi ro được chuyển khi hàng hóa đã được giao cho người chuyên chở đầu tiên tại địa điềm
hoàn toàn do người bán lựa chọn và qua địa điểm đó người mua không có quyền kiểm soát.
Nếu các bên muốn rủi ro được chuyển tại một thời điểm muộn hơn (ví dụ như lại cảng biến
hoặc tại sân bay), thì họ phải quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán.
Các bên cũng nên quy định càng rõ càng tốt địa điểm tại nơi đến được chỉ định, vì
các chi phí đến điểm đó là do người bán chịu. Người bán phải ký hợp đồng vận tải phù hợp
với địa điểm này. Nếu người bán phải trả thêm chi phí theo hợp đồng vận tải liên quan đến
việc dỡ hàng tại điểm đến quy định, thì người bán sẽ không có quyền đòi người mua bồi
hoàn những chi phí đó trừ khi có thỏa thuận khác giữa hai bên.
Điều kiện CPT yêu cầu người bán phải thông quan xuất khẩu, nếu có. Tuy vậy, người
bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả bất kỳ khoản thuế nhập khẩu hoặc thực
hiện bất kỳ thủ tục thông quan nhập khẩu nào.
Nghĩa vụ của người bán
− Ký hợp đồng vận tải và trả cước đến nơi quy định
− Giao hàng cho người vận tải đầu tiên (nếu có nhiều người vận tải – có thể
chuyển tải dọc đường.
− Cung cấp cho người mua hóa đơn và chứng từ vận tải.
− Thông quan hàng xuất khẩu.
Nghĩa vụ của người mua
− Chấp nhận việc giao hàng khi hàng hóa đã được giao cho người vận tải đầu tiên.
− Nhận hàng từ người vận tải cuối cùng tại địa điểm đích quy định.
− Chịu mọi chi phí thông quan hàng nhập khẩu.
1.4. CIP (CƯỚC PHÍ VÀ BẢO HIỂM TRẢ TỚI)
Hướng dẫn sử dụng
Tương tự như điều kiện CPT, người bán trả cước vận chuyển và chi phí cần thiết để đưa
hàng đến nơi quy định. Tuy nhiên, với điều kiện CIP, người bán phải ký hợp đồng bảo hiểm cho
những rủi ro của người mua về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa trong quá trình vận tải.
Người mua cần lưu ý rằng, với điều kiện CIP thì người bán chỉ phải mua bảo hiểm với phạm vi
tối thiểu. Nếu người mua muốn bảo hiểm ở phạm vi lớn hơn thì người mua cần phải thỏa thuận
với người bán hoặc tự mình mua bảo hiểm bổ sung.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 17
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
Nghĩa vụ của người bán
− Mọi nghĩa vụ giống như điều kiện giao hàng CPT.
− Mua bảo hiểm với mức tối thiểu.
− Cần lưu ý rằng thời điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua là sau khi
hàng đã giao cho người vận tải ở nơi đi.
Nghĩa vụ của người mua
− Mọi nghĩa vụ giống như điều kiện giao hàng CPT.
− Có quyền độc lập với người bán trong việc truy đòi người bảo hiểm bồi thường tổn
thất.
1.5. DAT (GIAO TẠI BẾN)
Hướng dẫn sử dụng
“Giao tại bến” (Deliver at terminaỉ) có nghĩa là người bán giao hàng, khi hàng hóa
sau khi đã dỡ khỏi phương tiện vận tải, được đặt dưới sự định đoạt cùa người mua tại một
bến chỉ định, tại cảng hoặc tại nơi đến chỉ định. “Bến” (terminal) bao gồm bất kỳ nơi nào
dù có mái che hay không có mái che, như cầu cảng, kho, bãi Container hoặc ga đường bộ,
đường sắt hoặc hàng không. Người bán chịu mọi chi phí và rủi ro liên quan để đưa hàng
hóa đến và dỡ hàng tại bến ở cảng hoặc nơi đến chỉ định.
Các bên nên quy định càng rõ càng tốt về bến và, nếu có thể, một điểm cụ thể tại bến
hoặc tại cảng hoặc nơi đến thỏa thuận vì người bán chịu rủi ro đưa hàng hóa đến địa điểm
đó. Người bán được khuyên nên ký hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm đó.
Hơn nữa, nếu các bên muốn người bán chịu rủi ro, chi phí vận chuyển và dỡ hàng từ
bến đến một địa điềm khác thì nên sử dụng điều kiện DAP hoặc DDP.
Điều kiện DAT yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khầu hàng hoá, nếu
cần. Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục nhập khấu, trả bất kỳ khoản thuế
nhập khẩu nào hay tiến hành các thủ tục thông quan nhập khẩu.
Nghĩa vụ của người bán
− Cung cấp hàng hóa và hóa đơn thương mại phù hợp với hợp đồng mua bán và
cung cấp tất cả bằng chứng phù hợp khác mà hợp đồng có thể đòi hỏi.
− Thực hiện mọi nghĩa vụ, chịu mọi chi phí và rủi ro để đưa hàng hóa bằng
cách đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua tại bến chỉ định, trừ
việc mua bảo hiểm hàng hóa.
Nghĩa vụ của người mua
− Phải trả tất cả các chi phí liên quan đến hàng hóa kể từ khi người bán dỡ hàng từ
phương tiện vận tải chở tới và đặt tại điểm tập kết quy định.
− Phải trả các chi phí phát sinh mà người bán đã chi nếu người mua không hoàn
thành nghĩa vụ của mình nếu không lấy được giấy phép nhập khẩu hoặc không
thông báo cho người bán địa điểm nhận hàng chính xác, với điều kiện là hàng đã
được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 18
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
− Phải chịu tất cả các chi phí thủ tục hải quan cũng như thuế, lệ phí và các chi phí
khác phải trả khi nhập hàng hóa (nếu có).
1.6. DAP (GIAO HÀNG TẠI NƠI ĐẾN)
Hướng dẫn sử dụng
“Giao hàng tại nơi đến" có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới
quyền định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải, sẵn sàng để dỡ tại nơi đến chỉ
định. Người bán chịu mọi rủi ro liên quan để đưa hàng hóa đến nơi đến chỉ định.
Các bên nên quy đinh càng rõ càng tốt về địa điểm cụ thể tại nơi đến thỏa thuận vì
người bán chịu mọi rủi ro tới địa điểm đó. Người bán được khuyên nên ký hợp đồng vận
tải đến đúng địa điểm đó. Nếu người bán, theo hợp đồng vận tải phải trả chi phí dỡ hàng ở
nơi đến thì người bán không có quyền đòi lại khoản phí này từ người mua, trừ khi có thỏa
thuận khác giữa hai bên.
Điều kiện DAP yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu, nếu có. Tuy
vậy, người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục thông quan nhập khẩu, trả thuế nhập khẩu
hoặc làrn các thủ tục thông quan nhập khẩu. Nếu các bên muốn người bán làm thủ tục
thông quan nhập khẩu, trả thuế và chi phí liên quan đến nhập khẩu thì nên sử dụng điều
kiện DDP.
Nghĩa vụ của người bán
− Cung cấp hóa đơn thương mại và tất cả bằng chứng phù hợp với hợp đồng mua
bán.
− Trả tất cả các chi phí phát sinh về hợp đồng vận tải và bảo hiểm.
− Trả mọi chi phí liên quan tới hàng hóa cho đến khi hàng được giao trên phương
tiện vận tải tại nơi đến quy định; trả chi phí dỡ hàng tại nơi đến mà người bán
phải chịu theo hợp đồng vận tải.
− Trả chi phí về thủ tục hải quan (nếu có), cũng như tất cả các thứ thuế, lệ phí và
chi phí khác phải trả khi xuất khẩu và chi phí vận chuyển qua bất kì nước nào
trước khi giao hàng tại nơi đến quy định.
Nghĩa vụ của người mua
− Thanh toán tiền hàng như quy định trong hợp đồng mua bán.
− Phải trả tất cả các chi phí liên quan đến hàng hóa kể từ khi hàng được giao trên
phương tiện vận tải tại nơi đến quy định, chịu mọi rủi ro về mất mát hay hư hỏng
hàng hóa xảy ra khi người mua không lấy được giấy phép nhập khẩu hoặc không
thông báo cho người bán địa điểm nhận hàng chính xác.
1.7. DDP (GIAO HÀNG TẠI ĐÍCH, ĐÃ THÔNG QUAN NHẬP KHẨU)
Hướng dẫn sử dụng
"Giao hàng tại đích đã thông quan nhập khẩu" có nghĩa là người bán giao hàng khi
hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua, đã thông quan nhập khẩư, trên
phương tiện vận tải chờ đến và đã sẵn sàng để dỡ hàng tại nơi đến quy định. Người bán
chịu mọi chi phí và rủi ro liên quan để đưa hàng hóa tới nơi đến và có nghĩa vụ thông quan
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 19
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
cho hàng hóa, không chỉ thông quan xuất khẩu mà còn thông quan nhập khẩu, trả các
khoản thuế, phí và thực hiện các thủ tục cho thông quan xuất khẩu và thông quan nhập
khầu.
Điều kiện DDP thề hiện nghĩa vụ tối đa của người bán.
Các bên nên quy định càng rõ ràng càng tốt về địa điểm giao hàng cụ thể tại nơi đến
thỏa thuận vì người bán chịu mọi chi phí và rủi ro đưa hàng hóa tới địa điểm đó. Người bán
được khuyên nên ký hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm đó. Nếu người bán, theo quy định
của hợp đồng vận tải, phải trả chi phí dỡ hàng ở nơi đến thì người hán không đươc đòi lại
khoản phí này từ người mua, trừ khi có các thỏa thuận khác giữa hai bên. Các bên không
nên sử dụng điều kiện DDP nếu người bán không thể trực tiếp hay gián tiếp làm thủ tục
nhập khẩu.
Nếu các bên muốn người mua chịu mọi rủi ro và chi phí thông quan nhập khẩu thì
nên sử dụng điều kiện DAP.
Mọi khoản thuế giá trị gia tăng (VAT) hay các loại thuế khác phải nộp khi nhập
khẩu do người bán chịu, trừ khi có thỏa thuận khác một cách rõ ràng trong hợp đồng mua
bán.
Nghĩa vụ của người bán
− Giao hàng đã thông quan nhập khẩu, trên phương tiện vận tải chở tới, sẵn sàng dỡ
hàng tại nơi đến quy định.
− Cung cấp những chứng từ cho phép người mua nhận hàng tại địa điểm quy định
(Chứng từ vận tải hoặc Lệnh giao hàng, Chứng nhận lưu kho…).
− Thông quan hàng xuất nhập khẩu và nộp các loại thuế.
Nghĩa vụ người mua
− Nhận hàng tại địa điểm quy định.
−
2. Các điều kiện dùng cho phương thức vận tải biển và đường thủy nội địa
2.1. FAS (GIAO DỌC MẠN TÀU)
Hướng dẫn sử dụng
"Giao dọc mạn tàu" có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dọc mạn
con tàu do người mua chỉ định (ví dụ đặt trên cầu cảng hoặc trên xà lan) tại cảng giao hàng
chỉ định. Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng hóa đang ở dọc
mạn tàu, và người mua chịu mọi chi phí kể từ thời điểm này trở đi.
Các bên nên quy định càng rõ càng tốt về địa điểm xếp hàng tại cảng giao hàng chỉ
định, vì mọi chi phí và rủi ro về hàng hóa tới địa điểm đó do người bán chịu và các chi phí
này và chi phí này có thế thay đổi tùy tập quán của từng cảng.
Người bán, hoặc phải đặt hàng hóa dọc mạn tàu hoặc mua sẵn hàng hóa đã được giao
như vậy. Từ "mua sẵn" ở đây áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận
chuyền (bán hàng theo lô) rất phố biến trong mua bán hàng nguyên liệu.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 20
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
Khi hàng được đóng trong Container, thông thường người bán phải giao hàng cho
người chuyên chở tại bến, chứ không giao dọc mạn tàu. Trong trường hợp này. điều kiện
FAS là không phù họp, mà nên sử dụng điều kiện FCA.
Điều kiện FAS yêu cầu người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu (nếu có).
Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả các khoản thuế nhập
khẩu hoặc làm thủ tục thông quan nhập khẩu.
Nghĩa vụ của người bán
− Làm thủ tục hải quan cho hàng xuất khẩu. Chịu mọi rủi ro và phí tổn về giấy phép
xuất khẩu.
− Hoàn thành nghĩa vụ của mình khi đã đặt hàng dọc theo mạn tàu mà người mua chỉ
định.
− Nếu người mua không quy định địa điểm bốc hàng cụ thể, người bán có thể chọn
địa điểm bốc hàng phù hợp nhất.
Nghĩa vụ của người mua
− Chịu mọi chi phí về thủ tục hải quan và giấy phép cho hàng nhập khẩu.
− Chịu mọi phí tổn về mất mát, hư hại hàng hóa kể từ khi đặt hàng dọc theo mạn tàu.
− Chịu mọi phí tổn về hợp đồng vận tải.
2.2. FOB (GIAO HÀNG LÊN TÀU)
Hướng dẫn sử dụng
"Giao hàng lên làu" có nghĩa là người bán giao hàng lên con tàu do người mua chỉ
định tại cảng xếp hàng chỉ định hoặc mua được hàng hóa đã sẵn sàng để giao như vậy. Rủi
ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng hóa được xếp lên tàu, và
người mua chịu mọi chi phí kể từ thời điểm này trở đi.
Người bán phải giao hàng lên tàu hoặc mua sẵn hàng hóa đã được giao như vậy. Việc
dẫn chiếu đến từ "mua sẵn” ở đây áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận
chuyển (bán hàng theo lô) rất phổ biến trong mua bán hàng nguyên liệu.
Điều kiện FOB có thể không phù hợp khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở
trước khi được xếp lên tàu, ví dự hàng hóa trong Container, thường được giao tại các bến
bãi (terminal). Trong trường hợp này nên sử dụng điều kiện FCA.
Điều kiện FOB yêu cầu, người bán phái làm thủ tục thông quan xuất khầu (nếu có).
Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả các khoản thuế nhập
khẩu hoặc làm thủ tục thông quan nhập khẩu.
Nghĩa vụ của người bán
− Trả mọi chi phí và hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi hàng hóa được giao lên
boong tàu tại cảng bốc hàng quy định.
− Chịu chi phí thủ tục hải quan hàng xuất khẩu (trả mọi loại thuế và lệ phí xuất
khẩu – nếu có).
− Trả chi phí bốc hàng lên tàu – nếu chi phí này không tính vào cước chuyên chở.
Nghĩa vụ của người mua
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 21
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
− Chỉ định người vận tải.
− Ký hợp đồng vận tải và trả cước phí vận tải.
− Trả chi phí bốc hàng lên tàu (nếu chi phí này tính vào cước chuyên chở)
− Trả chi phí dỡ hàng tại cảng cuối cùng.
− Làm thủ tục hải quan nhập khẩu.
2.3. CFR (TIỀN HÀNG VÀ CƯỚC PHÍ TRẢ ĐẾN)
Hướng dẫn sử dụng
‘Tiền hàng và cước phí trả đến" có nghĩa là người bán phải giao hàng lên tàu hoặc mua
hàng để giao hàng như vậy. Rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng
được giao lên tàu. Người bán phải ký hợp đồng và trả các chi phí và cước phí cẩn thiết để đưa
hàng hóa đến cảng đến quy định.
Khi sử dựng các điều kiện CPT, CIP, CFR và CIF, người bán hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng khi người bán giao hàng cho người chuyên chở theo cách thức được quy định cụ thể trong
mỗi điều kiện, chứ không phải khi hàng tới nơi đến.
Điều kiện này có hai điểm tới hạn, vì rủi ro di chuyển và chi phí được phân chia ở các nơi
khác nhau. Trong khi hợp đồng luôn chỉ rõ cảng đến thì nó có thể lại không chỉ rõ cảng xếp hàng
- là nơi mà rủi ro di chuyển sang người mua. Nếu cảng gửi hàng có ý nghĩa đặc biệt đối với
người mua thì các bên nên quy định trong hợp đồng càng cụ thể càng tốt.
Các bên nên xác định càng cụ thể càng tốt địa điểm tại cảng đến đã thỏa thuận, vì chi phí
cho đến địa điểm đó do người bán chịu. Người bán nên ký các hợp đồng vận tải đến đúng địa
điềm này. Nếu theo hợp đồng vận tải, người bán phải trả các chi phí liên quan đến việc dỡ hàng
tại địa điểm chỉ định ở càng đến, thì người bán không có quyền đòi lại các chi phí đó từ người
mua trừ khi hai bên có thỏa thuận khác.
Người bán phải, hoặc giao hàng lên tàu hoặc mua hàng đã giao để gửi đến cảng đến. Ngoài
ra, người bán phải ký hợp đồng vận chuyền hàng hóa hoặc “mua” một hợp đồng như vậy. Từ
“mua” ở đây áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận chuyển (bán hàng theo lô)
rất phổ biến trong mua bán hàng nguyên liệu.
CFR không phù hợp khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở trước khi hàng được
giao lên tàu, ví dụ hàng đóng trong Container , mà thường là giao hàng tại bến, bãi. Trong trường
hợp này nên sử dụng điều kiện CPT, CFR đòi hỏi người bán thông quan xuất khẩu cho hàng hóa
(nếu có). Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, hoặc trả bất kỳ loại thuế
nhập khẩu nào hay làm bất kỳ thủ tục hải quan nhập khẩu nào.
Nghĩa vụ của người bán
− Ký hợp đồng vận tải và trả cước đến cảng đích quy định (không có nghĩa vụ mua
bảo hiểm cho hàng hóa).
− Thông quan hàng xuất khẩu.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 22
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
− Trả chi phí bốc hàng tại cảng bốc.
− Trả chi phí dỡ hàng, nếu chi phí này được tính vào cước vận tải.
Nghĩa vụ của người mua
− Tiếp nhận hàng hóa từ người vận tải ở cảng đích quy định.
− Trả mọi chi phí bổ sung phát sinh, nếu sau khi hàng đã được đặt lên boong tàu tại
cảng bốc hàng, mà có những tình huống xảy ra như tàu mắc cạn, đâm va, những
cản trở khác như băng giá hoặc các điều kiện thời tiết khác.
2.4. CIF (TIỀN HÀNG, PHÍ BẢO HIỂM VÀ CƯỚC PHÍ TRẢ ĐẾN)
Hướng dẫn sử dụng
“Tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí trả đến" có nghĩa là người bán phải giao hàng lên tàu hoặc
mua hàng đã giao như vậy. Rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng
được giao lên tàu. Người bán phải ký hợp đồng và trả các chi phí và cước phí cần thiết để đưa
hàng hóa đến cảng đến quy định.
Các vấn đề khác tương tự như điều kiện CFR, tuy nhiên đối với điều kiện CIF, người bán phải ký
hợp đồng bảo hiểm để bảo hiểm những rủi ro của người mua về mất mát hoặc thiệt hại của hàng
hóa trong quá trình vận chuyển. Người mua nên lưu ý rằng theo điều kiện CIF, người bán chỉ
phải mua bảo hiểm theo điều kiện tối thiểu. Nếu người mua muốn được bảo hiểm ở mức độ cao
hơn, thì người mua phải thỏa thuận rõ ràng với người bán hoặc tự mua bảo hiểm bổ sung.
Nghĩa vụ của người bán
− Mọi nghĩa vụ giống như điều kiện giao hàng CFR.
− Phải ký hợp đồng bảo hiểm trong suốt thời gian vận chuyển và trả phí tổn bảo
hiểm.
Nghĩa vụ của người bán
− Trả chi phí dỡ hàng nếu chi phí này không tính vào cước vận tải.
− Có quyền độc lập với người bán trong việc truy đòi người bảo hiểm bồi thường tổn
thất (người bán phải cấp đơn bảo hiểm cho người mua trong đó người bảo hiểm
cam kết trực tiếp bồi thường với người mua).
3. Phương thức thanh toán và rủi ro về vận tải và bảo hiểm hàng hóa
3.1. Incoterms 2010 đối với phương thức thanh toán
Trong các hợp đồng kinh doanh, đặc biệt là trong thương mại quốc tế thì rủi ro thanh toán
là rất lớn. Với mục đích tối đa hoá lợi nhuận, mỗi bên tham gia đều hướng tới những mục đích
riêng của mình. Với người bán, họ quan tâm nhất là việc người mua có thanh toán đầy đủ và
đúng thời hạn hay không. Với người mua, thì điều này lại hướng về lô hàng của mình, xem nó có
đảm bảo chất lượng, số lượng và hàng đến đúng thời hạn trong hợp đồng để không trì hoãn kế
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 23
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
hoạch kinh doanh. Nhưng trong thực tế, người bán lại có quyền kiểm soát về hàng hoá, thông
qua các chứng từ sở hữu, hay do một người chỉ định còn người mua thì ngược lại, kiểm soát số
tiền trong hợp đồng, chủ động trong việc thực hiện thanh toán. Do lợi ích và quyền hạn khác
nhau như thế, mà mỗi bên tham gia hợp đồng đều cần phải xem xét kỹ lưỡng khi ký kết hợp
đồng, nhằm chọn lựa được những phương thức thanh toán phù hợp nhất, vừa đảm bảo lợi ích,
vừa đảm bảo việc kinh doanh diễn ra thuận lợi.
Trong thương mại quốc tế, có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Mỗi phương
thức lại có ưu điểm cũng như hạn chế riêng, cũng như có thuận lợi và khó khăn đối với cả người
mua và người bán. Dưới đây là một số phương thức thanh toán cơ bản thường được áp dụng
trong mua bán ngoại thương (sắp xếp theo mức độ rủi ro tăng dần về phía người bán):
• Trả trước, điện chuyển tiền (T/T): là hình thức mà người mua hàng, bằng một phương
thức nào đó, thanh toán trước cho người bán số tiền của hợp đồng theo một tỷ lệ nhất định mà
hai bên thoả thuận.
• Thư tín dụng (L/C): thực chất là một sự thỏa thuận, trong đó ngân hàng (Ngân hàng mở
thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (Người xin mở thư tín dụng) cam kết hay
cho phép một ngân hàng khác (Ngân hàng ở nước xuất khẩu) chi trả hoặc chấp thuận những yêu
cầu của người hưởng lợi với điều kiện người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với các điều khoản đã ghi trong thư tín dụng.
• Phương pháp nhờ thu: là một phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu uỷ thác
cho ngân hàng của mình thu hộ tiền hàng của người nhập khẩu trên cơ sở xuất trình chứng từ.
Ngân hàng người bán (người xuất khẩu) xuất trình bộ chứng từ cho người mua (người nhập
khẩu) thông qua ngân hàng của người mua để được thanh toán số tiền hàng còn lại hoặc nhận
được chấp nhận thanh toán hối phiếu trả chậm vào một thời gian xác định trong tương lai. Trách
nhiệm pháp lý của ngân hàng theo phương thức nhờ thu sẽ bị ràng buộc theo sự chỉ dẫn của
người bán trong việc phát hành và gửi các chứng từ. Trách nhiệm đó sẽ thay đổi trong hai trường
hợp “nhờ thu chấp nhận chứng từ” (documents against acceptance - viết tắt: D/A) hoặc “nhờ thu
đổi chứng từ” (Documents against Payment - viết tắt: (D/P).
• Thanh toán Ghi sổ: người xuất khẩu mở một tài khoản để ghi nợ người nhập khẩu yêu
cầu người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu vào thời điểm xác định trong tương lai.
Phương thức này chỉ thuận tiện và an toàn trong trường hợp hai bên thực sự tin cậy lẫn nhau, đã
mua bán hàng nhiều lần và người mua có uy tín thanh toán.
3.2. Incoterms 2010 đối với rủi ro về vận tải và bảo hiểm
Về trách nhiệm bảo hiểm của mỗi bên tham gia qua từng điều kiện của Incoterms 2010:
- Điều kiện EXW:
• Bảo hiểm hàng hóa do người mua lo.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 24
Những vấn đề quan trọng về Incoterms 2010 mà các doanh nghiệp Việt Nam cần biết
• Nếu hàng không được nhận vào ngày giao hàng đã thống nhất do lỗi hay sự bất cẩn của
người mua hoặc người chịu trách nhiệm nhận hàng, thì rủi ro đã chuyển sang người mua
khi hàng hóa đặt trong kho của người bán. Bảo hiểm hàng hóa của người mua sẽ bảo
hiểm cho rủi ro này.
- Điều kiện FCA:
• Người mua thanh toán tiền bảo hiểm hàng hóa.
• Người bán nên mua bảo hiểm cho phần vận chuyển từ khi hàng bắt đầu được chuyển đi
cho đến địa điểm giao hàng mà người mua chọn hoặc cho đến địa điểm mà hàng được
chuyển lên phương tiện vận tải của người mua.
• Hư hỏng đối với hàng hóa mà có thể nhìn thấy rõ khi giao hàng cho người vận tải cần
được ghhi lại trong phần chú thích hàng hóa để tránh tranh chấp về tình trạng hư hỏng và
thời điểm xảy ra hư hỏng, và làm rõ bảo hiểm của bên nào chịu trách nhiệm về hư hỏng
này.
- Điều kiện CPT:
• Người bán lo bảo hiểm cho đoạn đầu của quá trình vận chuyển cho đến người vận tải đầu
tiên.
• Người mua chịu trách nhiệm và mua bảo hiểm cho đoạn vận chuyển hàng đến điểm đích
đã định.
- Điều kiện CIP:
• Người bán có nghĩa vụ mua bảo hiểm vì quyền lợi của người mua cho đến điểm đích đã
nêu.
• Người mua nên kiểm tra xem các điều khoản bảo hiểm có phù hợp với mình hay không.
• Nếu không thống nhất được về điều khoản bảo hiểm, người bán chỉ có nghĩa vụ mua bảo
hiểm cho hàng hóa đến điểm đích theo phạm vi bảo hiểm tối thiểu (không bảo hiểm cho
tổn thất một phần) và giá trị hàng hóa nêu trong hợp đồng cộng với 10% bằng đồng tiền
sử dụng trong hợp đồng.
- Điều kiện DAT (tên ga tại cảng hay điểm đích) Incoterms 2010:
• Người bán mua bảo hiểm cho đến khi hàng hóa được dỡ tại ga ở cảng.
• Người mua mua bảo hiểm cho hàng hóa từ điểm hàng được dỡ xuống tại ga ở cảng hay ở
điểm đích.
Nhóm số 2_ Quốc tế học 3B 25