Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

CÁC GIẢI PHÁP VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CÁC BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT NĂM 2008

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.35 KB, 24 trang )


CÁC GIẢI PHÁP VÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CÁC
BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT NĂM 2008
1. Nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam
Trước hết ta xem xét, về mặt lý thuyết lạm phát có thể do các nhóm
nguyên nhân:
Lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp tiền tệ mở
rộng, phản ánh thâm hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm hụt
bằng tiền tệ, thường là cội rễ của lạm phát cao. Một ví dụ kinh điển đó là
những trận siêu lạm phát ở áo và Đức những năm 20 do mở rộng tiền tệ
thái quá.
Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát triển ngay
cả khi thất nghiệp và việc sử dụng nguồn lực còn thấp. Vì tiền lương
( tiền công ) thường là chi phí sản xuất quan trọng nhất, sự gia tăng tiền
lương không phù hợp với tăng trưởng năng suất có thể khơi mào cho quá
trình lạm phát. Nhưng lạm phát do chi phí đẩy có thể không dai dẳng
nếu chính sách tiền tệ tác động vào, trong trường hợp đó, tiền lương tăng
dẫn tới thất nghiệp cao hơn thay vì lạm phát cao hơn.
Lạm phát do cầu kéo: xảy ra do tổng cầu vượt trội đẩy mức giá chung
lên cao. Sự thúc đẩy của cầu có thể xuất phát từ những cú sốc bên trong
hay bên ngoài nhưng thường hình thành từ những chính sách thu chi
ngân sách hay tiền tệ mở rộng.
Lạm phát trơ ì (lạm phát quán tính): có xu hướng dai dẳng ở cùng tỷ lệ
cho đến khi những sự kiện kinh tế gây ra nó thay đổi. Nếu lạm phát cứ

đều đặn, tỷ lệ lạm phát thịnh hành có thể được dự đoán và do đó được
đưa vào các hợp đồng tiền lương và tài chính, điều này lại tiếp tục duy
trì nó. Tỷ lệ lạm phát quán tính đôi khi ngụ ý lạm phát cơ bản hay cốt
lõi.
Thông thường những cú sốc đối với nền kinh tế từ phía cung hay cầu
làm cho tỷ lệ lạm phát thực tế di chuyển lên trên hay xuống dưới tỷ lệ


lạm phát cơ bản. Các cú sốc chính về phía cầu bao gồm sự tăng nhanh
của tổng cầu do dự đoán thu nhập sẽ tăng.
Lạm phát do chính sách, lạm phát do cầu kéo được nhận thấy ở nhiều
nền kinh tế đang chuyển đổi, là kết quả của những chính sách thu chi
ngân sách hạn chế không đầy đủ và việc tài trợ bằng tiền cho thâm hụt
ngân sách. Thông thường, những cú sốc bên ngoài như những cú sốc
xuất phát từ tăng giá năng lượng hay thu hẹp thương mại với các bạn
hàng truyền thống có xu hướng bổ sung cho áp lực lạm phát.
Tại VN, các nguyên nhân phát sinh lạm phát trên đều xuất hiện ở VN
với những trọng số khác nhau ở những thời kỳ khác nhau. Năm 2007, là
năm mà các nguyên nhân đã tích tụ bấy lâu nay gặp cơn lốc lạm phát thế
giới nên bùng nổ lớn. Chúng tôi tạm chia làm hai nhóm nguyên nhân:
bên trong và bên ngoài để dễ xem xét khi đưa ra quyết định ngắn hạn và
dài hạn.
a. Nguyên nhân bên ngoài:
Cũng như những quốc gia châu á khác, do đồng USD suy yếu trong
những năm gần đây đã tạo ra những cú sốc về tăng giá xăng dầu, giá

vàng, giá lương thực thực phẩm… từ đó tác động xấu đến giá cả ở VN.
Giá cả thị trường thế giới liên tục tăng cao, xăng dầu tăng (giá dầu thô từ
60 USD/thùng đầu năm 2007 tăng lên trên 100 USD/thùng cuối năm
2007), sắt thép tăng 30%, phân bón tăng 20%, lúa mì tăng 60%, sợi,
bông, chất dẻo, … Đồng thời những mặt hàng nước ta xuất khẩu (gạo, cà
phê, cao su, hạt tiêu, điều…) cũng xuất với giá tăng rất cao, đặc biệt là
giá lương thực phẩm tăng trên 30%, nên giá thu mua cũng tăng, từ đó
làm ảnh hưởng lớn đến giá cả chung trong nước, vả lại khi tính chỉ số
CPI thì trọng số lương thực thực phẩm ở ta chiếm tỷ lệ cao (42,85%),
nhà ở vật liệu xây dựng chiếm 10%, giá xăng dầu trong năm 2007 tăng
nhanh, giá vàng thế giới v trong nước tăng rất cao, ảnh hưởng gián tiếp
là tác động tâm lý đến các loại giá khác, nên CPI tăng mạnh.

Tổng kim ngạch nhập khẩu của nước ta hiện nay trên 88% so với GDP
(Nhập khẩu khoảng 62.7 tỷ USD/ 71.2 tỷ USD) vì nền kinh tế nước ta
phụ thuộc rất lớn vào nguyên nhiên vật liệu thế giới. Các nước lớn tỷ lệ
này rất thấp như châu Âu khoảng 25-30%, Mỹ 14,54%, Trung Quốc
26,69%…Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2007 là 111,3 tỷ USD
chiếm 156% GDP. Vì vậy khi đồng USD mạnh (năm 1991, năm 1997-
1998) ta gặp khó khăn (vì nhập siêu), USD yếu như hiện nay ta cũng
khó khăn! Tại sao những nước khác ít bị ảnh hưởng? Các nước đã quen
với sự tăng giảm của USD, họ hội nhập trước chúng ta nên đã có nhiều
kinh nghiệm và cũng đã khủng hoảng nhiều trận đòn rồi (1997-1888).
Trong năm 2007, để tự về các nước chủ động điều chỉnh tỷ giá linh hoạt

theo hướng giảm giá USD (kể từ tháng 9/2007) và nâng giá bản tệ nhằm
tránh ảnh hưởng lạm phát thế giới, như Thái Lan giảm giá USD 4%,
Singapore giảm giá USD 10.45%, Trung Quốc giảm giá USD 8.57%,
Thụy sĩ giảm giá USD 16%, Philippine giảm giá USD 14%, Malaysia
giảm giá USD 7.25%…(xem biểu đồ 5-11). Trong khi năm 2007, VN
chủ động ổn định tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu (tổ chức xuất khẩu
lãi cao) hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng…! (năm 2007, USD tăng giá 0.1%
so với VND, trong 3 tháng đầu năm 2008, USD có điều chỉnh giảm
khoảng 0.6%so với VND). Vì vậy, việc điều chỉnh tỷ giá theo hướng
giảm giá USD là sự điều chỉnh theo tín hiệu thị trường quốc tế, chứ
không phải là ta muốn tăng giá VND, vì không có chính phủ nào muốn
tăng giá đồng bản tệ. Đơn vị xuất khẩu phải hiểu rằng đó là sự điều
chỉnh và phải chia sẻ với khó khăn của nhiều người về căn bệnh lạm
phát, điều quan trọng mà đơn vị xuất khẩu kêu to là ngân hàng không
mua USD, nên không có VND để thu mua, mua chậm giá càng cao.
Hiện nay NHNN đã mua hết nhưng đơn vị không bán nữa vì USD có
dấu hiệu tăng giá trong tương lai. Theo tôi, nếu NHNN VN chủ động
điều chỉnh tỷ giá linh hoạt theo hướng giảm giá USD từ tháng 9/2007

như nhiều nước, thì việc kiềm chế lạm phát sẽ đở tốn kém. Vì trước sự
suy giảm kinh tế và hệ thống ngân hàng- tài chính Mỹ đang gặp khó
khăn về tín dụng địa ốc, ngày 18/09/2007 FOMC (The Federal Open
Market Committee) Uy ban thị trường mở của FED chính thức quyết
định khởi đầu đợt hạ lãi suất của quỹ liên bang (federal funds rate) từ

5.25% xuống 4.75% và đến ngày 18/03/2008 là 2.25%, để tạo thanh
khoản cho thị trường tín dụng của các ngân hàng tại Mỹ, hỗ trợ thị
trường chứng khoán, ngăn chặn suy thoái, FED đã bơm vài trăm tỷ USD
thông qua nghiệp vụ thị trường mở…Ngày 29,30 tháng 4 FED sẽ có
cuộc họp quan trọng tiếp theo để xem xét việc có cắt giảm lãi suất hay
không?
b. Nguyên nhân bên trong:
- Chính sách tài khóa không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của
căn bệnh lạm phát ở nước ta. Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính
phủ đã có những kế hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước
và liên tục bội chi ngân sách trong nhiều năm trn 5% GDP (năm 2007
bội chi khoảng trên 56.000 tỷ đồng). Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là
điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, gây lãng phí
lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế nước nhà ( đọc báo
cáo kiểm toán nhà nước trong nhiều năm chúng ta thấy rất đau lòng về
những con số lãng phí và thất thoát hàng ngàn tỷ đồng), trong khi đồng
lương của nhân dân lao động, những người công chức nhà nước thì quá
thấp so với thời giá, 30-40 năm làm việc trong cơ quan hành chính, giáo
dục, y tế… nhiều người không thể mơ nổi một căn nhà. Công tác xây
dựng, thẩm định, phê duyệt dự án, tổng dự án và thiết kế kỹ thuật quá
chậm trễ, thủ tục rườm rà và phức tạp (ai cũng biết, ai cũng nói, nhưng
ai sẽ chịu trách nhiệm vấn đề này? Bộ nào cũng hứa!). Việc chi tiêu thì
không hiệu quả, tình trạng tham nhũng thì gia tăng đã hưởng đến niềm


tin của công chúng vào cơ chế và bộ my điều hành của chúng ta. Đảng
và Nhà nước ta đã thấy và đang điều chỉnh, như thành lập cơ quan chống
tham nhũng, nhưng cần quyết liệt hơn. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội ở
VN trong vài năm gần đây bình quân hàng năm trên 40% GDP và hệ số
ICOR là 4,7 (có nghĩa là VN hiện cần 4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra một
đơn vị tăng trưởng), hệ số ny là rất cao so với các nước khác trong khu
vực. Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế nên giá phải tăng.
- Trong năm 2007, và đầu năm 2008 Nhà nước chủ động thực hiện lộ
trình điều chỉnh theo giá thị trường đối với một số loại hàng hóa, vật tư
cơ bản như: điện, xăng dầu, than,… làm ảnh hưởng đến việc tăng giá các
hàng hóa khác.
- Chính sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung
tiền (tổng phương tiện thanh toán) tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm
2006 là 33.6%, năm 2007 là 53.8%, tổng cộng 3 năm cung tiền M2 tăng
134.2%, trong khi 3 năm GDP chỉ tăng 25.09%. Chênh lệch giữa cung
tiền tăng trong 3 năm qua (134.5%) với tăng trưởng kinh tế GDP
(25.09%) là rất lớn, chắc chắn sẽ đè nặng lên giá cả trong nước, và cuối
năm 2007, đầu năm 2008 nó bộc phát mạnh là do có sự cộng hưởng bởi
lạm phát quốc tế (USD yếu) và thiên tai.
Nếu dựa vào học thuyết “Định lượng tiền tệ- The quantity theory of
money” của Irving Fisher, ta có thể thấy rõ hơn quan hệ của nhân tố:
cung tiền (M), tốc độ vòng quay tiền tệ (V), giá cả (P), tổng sản phẩm
quốc nội thực-GDP thực (Y), trong phương trình: MV= PY. Vì vậy, nếu

V, P không thay đổi thì P (giá cả) sẽ tăng nhanh khi cung tiền M tăng
nhanh, hoặc Y (GDP thực) có tăng nhưng tốc độ tăng chậm hơn cung
tiền, thì giá cả cũng tăng cao. Vì vậy, giải pháp kiểm soát cung tiền,
giảm tổng cầu luôn luôn là liều thuốc chống lạm phát trước tiên được
các nước sử dụng, nhưng với mức độ liều lượng khác nhau.
Tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, năm 2006 là

+29.7%, năm 2007 tăng dư nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43.7%, một
số NHTM tăng trên 70%. Các NHTM trong thời gian qua đã cung cấp
được một lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế để phát
triển sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cao, góp phần tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng nóng của thị trường chứng
khoán và thị trường bất động sản, các NHTM cũng sẵn lòng cho vay đối
với những nhà đầu cơ trong lĩnh vực này. Nguồn vốn huy động ngắn hạn
của ngân hàng được đổ vào thị trường vốn dài hạn nhiều rủi ro, nếu bong
bóng bất động sản có vấn đề thì rủi ro tín dung là rất lớn (Mỹ đang đau
đầu vì tín dụng bất động sản hiện nay). Điều cần lưu ý, một trong những
nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng cao trong năm 2007 là do các ngân
hàng thương mại tăng vốn điều lệ lên nhanh + 56% (tăng 33.737 tỷ
đồng), cuối năm 2006 tổng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là 60.419 tỷ
đồng, cuối năm 2007 là 94.156 tỷ đồng, thành lập mới nhiều ngân hàng
(cần xem xét lại điều kiện thành lập), làm tăng khả năng cho vay và áp
lực trả lãi cổ đông, áp lực tăng giá cổ phiếu trên thị trường do năm 2006
giá cổ phiếu đã tăng chóng mặt, nên bây giờ mới “té”!

- Trong những năm qua, với những thành tựu phát triển kinh tế nổi bật
cùng với chính sách thông thoáng, cởi mở, VN trở thành một điểm đến
lý tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài. Lượng vốn của các nhà đầu tư
nước ngoài vào VN liên tục ở mức cao thông qua kênh đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếp,…. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong năm 2007
dự kiến khoảng 10 tỷ USD, đến cuối năm lên trên 20 tỷ USD (đã giải
ngân 8 tỷ USD), đầu tư gián tiếp (khoảng 5 tỷ USD), ODA cũng tăng
nhanh (4.45 tỷ USD năm 2006, năm 2007 là 5.42 tỷ USD, giải ngân 2 tỷ
USD). Kiều hối tăng cao (kiều hối của trên 3 triệu người ở 94 quốc gia
gửi về nước năm 2007 đạt 6 tỷ USD); Việt kiều về nước ăn Tết đông hơn
tăng khoảng 30% , khách du lịch nước ngoài cũng tăng 17% so với cùng
kỳ năm 2007 (ngoại tệ mang vào khoảng 3 tỷ USD). Lượng tiền Ngân

hàng Nhà nước tung vào để mua ngoại tệ (tăng tổng cầu) cũng rất lớn
(khoảng 160.000 tỷ đồng) với tỷ giá khoảng 16.000 VND/USD để giữ
giá USD không làm ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu (khoảng 10 tỷ USD
đã được NHNNVN mua vào trong năm 2007). Điều rất tiếc, nếu chúng
ta chủ động nâng giá VND và giảm giá USD theo quy luật cung cầu
(cung tăng thì giá có khuynh hướng giảm, cầu tăng thì giá có khuynh
hướng tăng) thì tình hình sẽ bớt căng thẳng như hiện nay. Nhà đầu tư
trong nước hay nước ngoài họ luôn vì mục tiêu lợi nhuận, nên khi có cơ
hội thì họ sẳn sàng nhảy vào bán USD giá cao, mua trái phiếu, gởi ngân
hàng lãi suất cao và sau đó bán trái phiếu lấy VND mua USD giá hạ…
Năm 1997, khi USD mạnh, nhưng các nước Đông Nam á để tỷ giá cố

định, nên đã bị đầu cơ tiền tệ lợi dụng và tàn phá kinh tế. Đồng USD
mạnh hay yếu (như hiện nay) đều có cơ hội cho nhà đầu cơ tiền tệ
chuyên nghiệp.
- Thiên tai, mưa bão, lũ lụt, những đợt rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía
Bắc gây thiệt hại năng nề: con người, tài sản, đất trồng, lương thực thực
phẩm và dịch bệnh (SARS, cúm gia cầm) ảnh hưởng đến giá cả thực
phẩm…ảnh hưởng đến giảm tổng cung.
- Chi phí sản xuất hàng hóa dịch vụ chưa hợp lý, sức cạnh tranh các sản
phẩm trong nước không cao, hiệu quả kinh tế thấp.
- Thu nhập của dân cư tăng (tăng tiền lương tối thiểu từ năm 2005, 2006,
2007). Việc tăng lương một phần gia tăng tổng cầu, mặt khác tạo tâm lý
làm tăng giá các hàng hóa tiêu dùng khác. Điều chỉnh tiền lương cho
người lao động là cần thiết trong giai đoạn lạm phát cao, nhưng cần điều
chỉnh tiền lương vào những thời điểm ít nhạy cảm (giữa năm).
- Một trong những nguyên nhân cũng góp phần vào mức lạm phát gia
tăng tại VN hiện nay là yếu tố tâm lý của người dân (cần kiểm soát
thông tin). Đặc biệt là yếu tố đầu cơ, găm hàng, làm giá rất “kinh
nghiệm” (vì ta đã nhiều lần bị lạm phát) của các đơn vị cung cấp hàng

hóa dịch vụ, các đại lý bán lẻ tại VN.
Biện pháp cho vấn đề lạm phát ở Việt Nam năm 2008:
I/ Chính sách tiền tệ:

Một số chính sách tiền tệ mà ngân hàng trung ương thực hiện trong năm
2008:
Đầu năm khi lạm phát tăng cao NHTW đã thực hiện chính sách tiền tệ
thắt chặt đó là:
- Phát hành 1 lượng tín phiếu bắt buộc với lượng giá trị 20.300 tỷ đồng
(tương đương 1,2 tỷ USD), với lãi suất 7,8% mỗi năm theo hình thức ghi
sổ). .Việc phát hành tín phiếu này nhằm mục tiêu rút bớt tiền từ lưu
thông, chủ động kiểm soát chặt chẽ tiền tệ ngay từ đầu năm để hạn chế
lạm phát.( Ngày đáo hạn của tín phiếu là 3/2009). Xin đề cập thêm,với
lượng tín phiếu bắt buộc ngân hàng nhà nước này từ ngày 1/7/08 tăng từ
7,8% lên 13% áp dụng đối với thời hạn thanh toán còn lại của tín phiếu
nhằm bù đắp chi phí huy động cũng như phù hợp hơn với thực tế lãi suất
lúc bấy giờ.
- Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh một loạt lãi suất chủ chốt của tiền
đồng gồm lãi suất cơ bản, tái cấp vốn và chiết khấu nhằm kiểm soát tiền
tệ chặt chẽ hơn và kiềm chế lạm phát.
- Công cụ tiếp theo là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
*Hiện nay( từ tháng 10) Ngân hàng nhà nước đang thực hiện chính sách
nới lỏng tiền tệ cụ thể như sau
- Giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống còn 11%
- Mua lại lượng tín phiếu bắt buộc chưa đến ngày đáo hạn
-Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở các ngân hàng thương mại.

Việc giảm này sẽ làm hạ giá thành sản phẩm , kích thích đầu tư mở rộng
sản xuất, kinh doanh ở nhiều ngành đang có lợi thế phát triển và như vậy
sẽ góp phần giảm lạm phát. Tất cả các công cụ trên nhằm tăng lượng

tiền lưu thông cho nền kinh tế.
- Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng linh hoạt, bảo đảm tính
thanh khoản của nền kinh tế. Kiểm soát chặt chẽ các luồn vốn vào ra để
có những phản ứng chính sách kịp thời ứng phó hợp lý với tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất
nghiệp vụ thị trường mở để kiểm soát chặt chẽ việc tăng trưởng phương
tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng cả năm 2008 khoảng 30%. Triển
khai các giải pháp thích hợp để các DN tiếp cận được nguồn vốn với lãi
suất hợp lý, góp phần giảm chi phí cho DN. Tiếp tục thực hiện các giải
pháp nhằm hướng đầu tư tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh có
hiệu quả cao; nhất là sản xuất nông nghiệp, cho vay xuất khẩu; kiểm soát
chặt (theo tiêu chí cụ thể ) việc đầu tư vào những lĩnh vực phi sản xuất,
hiệu quả thấp, nhiều rủi ro. Thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt, phản ánh
cung cầu ngoại tệ trên thị trường góp phần khuyến khích xuất khẩu, hạn
chế nhập siêu.
Tác động hai mặt của chính sách tiền tệ thắt chặt:
Chính sách thắt chặt chi tiêu chính phủ của các nước đang và sẽ có
tác động hai mặt đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội: Một
mặt, về nguyên tắc, chính sách thắt chặt chi tiêu công, thể hiện ở các nội

dung như: giảm hoặc trì hoãn trả lương và tiền thưởng, trợ cấp hưu trí và
các chế độ phúc lợi xã hội khác; bãi bỏ các khoản miễn, giảm thuế và
tăng mức thu thuế đối với một số loại thuế và lĩnh vực, sản phẩm; trì
hoãn hay cắt giảm các khoản đầu tư công và chi phí mua sắm công, kể
cả chi phí quốc phòng; thậm chí nới lỏng các điều kiện tuyển dụng và sa
thải lao động sẽ trực tiếp và gián tiếp giúp giảm bớt các khoản chi từ
NSNN, cải thiện thâm hụt NSNN, cũng như tình trạng nợ công khác,
tăng niềm tin và khích lệ đầu tư xã hội, từ đó giúp khôi phục và ổn định
kinh tế vĩ mô.
Thực tế cho thấy, việc điều chỉnh ngân sách dựa vào cắt giảm các

khoản chi cho phúc lợi xã hội hoặc hóa đơn tiền lương của chính phủ sẽ
tạo ra lợi ích về lâu dài, kéo giảm mức nợ công xuống thấp hơn và kích
thích tăng trưởng GDP nhanh hơn so với việc giảm chi ngân sách dựa
trên việc tăng thuế và cắt giảm đầu tư công.
Vì vậy, hầu hết các nước Châu Âu đều chọn kế hoạch giảm tiền lương
khu vực công và phúc lợi, là các hình thức cắt giảm ngân sách ít gây tổn
hại cho quá trình phục hồi nền kinh tế. Việc cắt giảm mạnh tay chi tiêu
khu vực công và phụ cấp đã được tiến hành ở Ireland, Tây Ban Nha và
Hy Lạp. Italia dự định giảm lương khu vực công trong ba năm. Đức và
Hy Lạp sẽ giảm chi lương hưu. Bồ Đào Nha giảm trợ cấp thất nghiệp.
Về triển vọng, với một eur đang sụt giá, dao động ở khoảng 1,24 USD
đổi lấy 1 eur cũng có thể là một đòn bẩy giúp xuất khẩu của khu vực sử

dụng đồng tiền chung Châu Âu tăng lên, tức cho phép eurozone phần
nào lấy lại cân bằng trước những thiệt thòi do chính sách cắt giảm chi
tiêu gây nên.
Mặt khác, làn sóng cắt giảm chi tiêu công lại làm dấy lên một mối lo
mới, vì có thể làm gia tăng tình trạng thất nghiệp và mất ổn định xã hội;
làm tiêu giảm động lực tăng trưởng kinh tế từ khu vực công, khi mà sự
hồi phục kinh tế vĩ mô trên phạm vi quốc gia hay toàn cầu, cũng như
năng lực tài chính vi mô của nhiều DN, và cả sự hồi phục sức mua thị
trường xã hội là chưa thực chắc chắn, tức sẽ đẩy các nền kinh tế rơi trở
lại vùng suy thoái.
Viễn cảnh thất nghiệp và tăng thuế suất nhằm giảm nợ công có thể sẽ
làm tổn hại tới tình hình tài chính cá nhân, khiến hạn chế chi dùng cá
nhân, tức đồng nghĩa với trì trệ sức mua và các thị trường có liên quan.
Trong bối cảnh kinh tế khu vực eur đình đốn, tỉ lệ thất nghiệp tăng hơn
10%, trong đó Tây Ban Nha dẫn đầu, với 19%, việc siết chặt các khoản
chi tiêu công nhằm giảm bớt nợ công, thu hẹp thâm hụt ngân sách nhằm
lấy lại uy tín trong mắt các nhà đầu tư, tô điểm lại hình ảnh của đồng

tiền chung Châu Âu, rất có thể đi ngược lại mục đích kích thích kinh tế
phát triển, thậm chí làm căng thẳng thêm tình trạng khủng hoảng ngân
sách cấp bách do thu thuế bị sụt giảm và tiền trả cho người thất nghiệp
tăng lên tạo ra vòng luẩn quẩn định mệnh với nguy cơ suy thoái kép,

cả do từ các nguyên nhân khó khăn bên ngoài, lẫn do các nguyên nhân
bên trong tự thân chính sách thắt chặt chi tiêu của chính phủ gây ra.
Điển hình là Ireland, việc hạn chế chi tiêu đã dẫn đến giảm sản lượng
đầu ra, tăng thất nghiệp và tăng lãi suất trái phiếu thay vì đầu tư mới.
Nếu Anh, Đức hoặc những nước khác cũng làm như vậy thì chính sách
này sẽ có ảnh hưởng hệ thống đến Châu Âu và toàn thế giới.
Ở Anh, Chương trình giảm chi tiêu trị giá 80 tỉ Bảng (là chương trình
cắt giảm thâm hụt ngân sách mạnh tay nhất trong 60 năm qua) để giảm
thâm hụt ngân sách 156 tỉ Bảng và khối nợ lớn của nước này, sẽ khiến
khoảng nửa triệu lao động trong lĩnh vực công tại Anh có thể mất việc.
Trước đó, lương của phần lớn người lao động trong cơ quan của
chính phủ đã bị “đóng băng” trong 2 năm (theo chương trình thắt chặt
ngân sách công bố tháng 6/2010). Từ năm 2013, khoảng 1,2 triệu gia
đình Anh sẽ mất trợ cấp nuôi con, ngoài ra, phúc lợi của hàng chục
nghìn người Anh khác bị cắt giảm. Nếu chính phủ Anh quyết định ngừng
trợ cấp nhiên liệu mùa đông, hàng triệu người về hưu tại Anh sẽ mất trợ
cấp này. Hiện khoảng 12 triệu người Anh nhận trợ cấp nhiên liệu mùa
đông.
Việc áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng", giảm phúc lợi xã
hội,thắt chặt chi tiêu, giảm lương và sa thải lao động khiến người lao
động bất bình và làn sóng biểu tình và bãi công lớn nhất trong hơn 40
năm qua đang lan rộng toàn Châu Âu, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Pháp,

Italia, Czech, Đức đến Anh và Ireland. Khẩu hiệu đình công là đặt con
người và nhu cầu thiết yếu lên trên thị trường và lợi nhuận, không được

trút gánh nặng khủng hoảng kinh tế lên lưng người lao động một cách
II/ Chính sánh tài khóa:
Chính sách tài khóa: Cần phải thực hiện từng bước kế hoạch giảm
thâm hụt để tiến tới cân bằng ngân sách, vì đây cũng là một chỉ tiêu kinh
tế vĩ mô quan trọng. Thắt chặt chi tiêu của chính phủ; kiểm soát chặt chẽ
đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước; giảm mạnh chi
phí hành chính trong các cơ quan nhà nước nhằm giảm bớt sức ép về cầu
nhất là các loại cầu không tạo ra hiệu quả. Với các dự án, cần loại bỏ
những dự án đầu tư kém hiệu quả, thắt chặt những khoản chi chưa thực
sự cần thiết nhưng tạo mọi điều kiện cho đầu tư tư nhân và đầu tư nước
ngoài để thúc đẩy tăng trưởng.
Một là kiểm soát chặt chẽ và nâng cao hiệu quả của chi tiêu công:
a. Điều hành chính sách tài khóa theo hướng tiết kiệm chi tiêu thường
xuyên, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách; kiểm soát chặt chẽ
đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là đầu tư vào các dự án
không thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính của doanh nghiệp;
phấn đấu giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách.
b. Thực hiện việc cắt giảm, sắp xếp lại vốn đầu tư xây dựng cơ bản
trong kế hoạch năm 2008 từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính

phủ, tín dụng đầu tư nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước,
trước hết là các công trình đầu tư kém hiệu quả, các công trình chưa thực
sự cần thiết. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng Bộ Tài chính triển khai
nội dung này ngay trong việc rà soát lại và cân đối nguồn vốn thuộc
ngân sách nhà nước. Các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các tập đoàn kinh
tế, tổng công ty nhà nước, theo chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện
việc rà soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư để cắt bỏ các công trình đầu tư
kém hiệu quả, tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành,
những công trình đầu tư cho sản xuất hàng hóa thuộc mọi thành phần

kinh tế để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.
c. Các Bộ liên quan, nhất là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng,
Bộ Tài chính khẩn trương hoàn chỉnh các văn bản về đầu tư xây dựng,
kịp thời ban hành hướng dẫn xử lý các vướng mắc phát sinh để đẩy
nhanh tiến độ giải ngân các công trình sớm đưa vào khai thác phát huy
hiệu quả.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì việc nghiên cứu để chuyển một số
công trình đầu tư từ nguồn vốn ngân sách sang hình thức đầu tư BOT từ
nguồn vốn trong và ngoài nước hoặc bán, chuyển nhượng công trình có
khả năng thu hồi vốn cho doanh nghiệp, tư nhân khai thác hoặc đầu tư
tiếp để nâng cao hiệu quả đầu tư.
5. Bộ Tài chính chủ trì rà soát, đề xuất các biện pháp chấn chỉnh hoạt
động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế, các

tổng công ty lớn. Sơ kết mô hình tập đoàn kinh tế theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 3 khóa IX. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ
Tài chính chuẩn bị để thực hiện trong quý IV năm 2008.
6. Thực hiện chính sách tiết kiệm đồng bộ, chặt chẽ, nghiêm ngặt
trong tất cả các cấp, các ngành, trong toàn bộ hệ thống chính trị. Đưa nội
dung thực hành tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách, trong sản xuất và đời
sống vào chương trình cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh" trong năm 2008 và những năm tiếp theo. Năm
2008, ngoài việc tiết kiệm bình quân 10% chi phí hành chính (trừ tiền
lương, phụ cấp lương, các khoản chi cho con người theo chế độ quy
định) của các cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước, thực hiện cắt giảm
những khoản chi mua sắm chưa thật cần thiết, giảm tối đa các hội nghị
toàn quốc, giảm chi phí đi lại (nhất là đi lại bằng máy bay); cắt giảm các
khoản chi tiếp khách, các đoàn công tác nước ngoài bằng vốn ngân sách
hoặc có nguồn gốc ngân sách mà không thật thiết thực; tiết kiệm năng
lượng, phương tiện triệt để hơn nữa. Giảm các chi phí cho hoạt động lễ

hội, lễ kỷ niệm, đón nhận huân chương, danh hiệu thi đua, gây tốn
kém, lãng phí. Bộ Tài chính chủ trì giao chỉ tiêu và hướng dẫn nội dung
và tổ chức triển khai các đơn vị thực hiện.
7. Phấn đấu năm 2008 thu ngân sách thực hiện vượt dự toán đã được
giao, tăng dự phòng để chi cho khắc phục thiên tai, an sinh xã hội, giảm
thêm tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với mục tiêu mà Quốc hội đã giao cho
năm 2008.

Hai là, cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử
dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà
nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách.
Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà
nước hiện chiếm khoảng 45% tổng đầu tư xã hội. Cắt giảm nguồn đầu tư
này sẽ làm giảm áp lực về cầu, giảm nhập siêu, góp phần nâng cao hiệu
quả của nền kinh tế. Chính phủ sẽ quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư và chi
phí hành chính phải cắt giảm và yêu cầu các bộ, địa phương xác định các
công trình kém hiệu quả, các công trình chưa thực sự cần thiết để có sự
điều chỉnh thích hợp. Điều này sẽ được thực hiện một cách kiên quyết
ngay trong việc phân bổ lại và cân đối nguồn vốn.
Cũng trên tinh thần đó, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Chủ tịch
UBND các tỉnh, thành phố với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước,
rà soát chặt chẽ các hạng mục đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, kiên
quyết cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả. Đồng thời, tạo điều
kiện và tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành, những công
trình đầu tư sản xuất hàng hoá thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy nhanh
tiến độ, sớm đưa vào sản xuất.Cắt giảm đầu tư công và chi phí thường
xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của
các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách. Đầu
tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước
hiện chiếm khoảng 45% tổng đầu tư xã hội. Cắt giảm nguồn đầu tư này


sẽ làm giảm áp lực về cầu, giảm nhập siêu, góp phần nâng cao hiệu quả
của nền kinh tế. - Thứ ba, Tiếp tục thực hiện chính sách tài khoá chặt
chẽ theo hướng kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, phấn đấu tăng thu cao hơn
so với dự toán quốc hội quyết định; thực hiện tiết kiệm chi, nhất là chi
thường xuyên và kiểm soát chặt chẽ đầu tư công, đầu tư của các Tập
đoàn kinh tế, Tổng Công ty, DNNN ra ngoài nhiệm vụ chính. Phấn đấu
giảm bội chi ngân sách ở mức thấp hơn 5% GDP. Thực hiện biện pháp
này: Bộ Tài chính tiếp tục kiểm soát gắt gao việc tiết kiệm 10% chi
thường xuyên trong dự toán ngân sách năm 2008 theo chỉ tiêu đã giao
cho các Bộ, ngành, địa phương. Tạm dừng mua sắm ô tô, phương tiện
vận tải, tài sản khác có giá trị lớn và sửa chữa lớn nhà làm việc. Giảm tối
đa việc tổ chức và chi phí cho lễ hội, hội nghị tổng kết, sơ kết, đi tham
quan nước ngoài sử dụng ngân sách Nhà nước.
- Tiếp tục thực hiện quyết liệt hơn chủ trương cắt giảm đầu tư công từ
nguồn ngân sách, nguồn trái phiếu Chính phủ, tập trung cho các dự án
có tiến độ triển khai nhanh, sắp hoàn thành, các dự án cần thiết, cấp
bách, có hiệu quả. Rà soát các dự án do các DN Nhà nước triển khai đầu
tư. áp dụng các b iện pháp yêu cầu các DN chủ động rà soát, cắt giảm
hoặc đình hoãn các dự án, công trình chưa thật cần thiết, chưa hiệu quả;
cắt giảm hoặc dừng việc mua, xây dựng trụ sở mới, đất đai, bất động
sản, phương tiện thiết bị phục vụ gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh
doanh… Sử dụng tối đa nguồn lực tài chính của mình để đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh chính của mình và phụ trợ có liên quan trực

tiếp đến sản xuất kinh doanh; không góp vốn hoặc mua cổ phần tại các
quỹ đầu tư mạo hiểm…
Hướng dẫn các địa phương chủ động sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ các
DN chủ lực đầu tư nắm nguồn hàng, dự trữ hàng hoá thiết yếu phục vụ
tết. Tiếp tục thực hiện cơ chế giá thị trường có sự kiểm soát của Nhà

nước, khuyến khích cạnh tranh về giá theo pháp luật đang áp dụng đối
với đại bộ phận hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế. Tiếp tục giữ ổn định
giá một số vật tư đầu vào quan trọng mà Nhà nước còn định giá đến hết
năm 2008, tiến tới thực hiện lộ trình giá thị trường đối với: điện, nước
sạch, cước vận chuyển hành khách bằng xe buýt….Kiểm soát chặt chẽ
giá của những loại hàng hoá dịch vụ chi từ nguồn ngân sách Nhà nước
mà Nhà nước đặt hàng phục vụ các chương trình, mục tiêu quốc gia,
hàng hoá dịch vụ công ích, hàng còn được trợ cước, trợ giá; các hàng
hoá thuộc danh mục đăng ký giá, kê khai giá….
Hạn chế: Khi nền kinh tế tồn tại nhiều rủi ro vĩ mô - lạm phát cao, thâm
hụt ngân sách lớn, tỷ giá thực cao, tình trạng đô la hóa ngày càng nặng,
thâm hụt thương mại lớn, hệ thống ngân hàng yếu kém, đầu tư của Nhà
nước và DNNN kém hiệu quả - thì hoạt động kích thích tiêu dùng và đầu
tư thông qua việc nới lỏng chính sách tài khóa và tiền tệ chắc chắn sẽ đi
kèm với những rủi ro tiềm tàng của bất ổn tài chính.

bất công, trong khi họ đang mất dần các quyền lợi, các khoản thu nhập
và lương hưu; không được bắt người lao động trả giá cho khủng hoảng
và các chính sách thời hậu khủng hoảng mà họ là nạn nhân.
Thực hiện chính sách:
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, tính trong 6 tháng đầu
năm 2008, riêng khoản tiết kiệm chi thường xuyên (10%) đã tiết kiệm
được khoảng 2.700 tỷ đồng. Những công trình, dự án chưa cần thiết
hoặc đầu tư kém hiệu quả cần phải đình hoãn hoặc giãn tiến độ thi công,
đã được các ban, ngành rà soát, có phương án xử lý hợp lý. Theo đó,
1.736 công trình, dự án, với tổng số vốn là 5.625 tỷ đồng đã được
ngừng thực hiện hoặc giãn tiến độ trong năm 2008.
Việc tăng thuế nhập khẩu một số mặt hàng không thiết yếu, kiểm soát
chặt nguồn ngoại tệ cho hoạt động này đã khiến nhập khẩu có xu hướng
giảm dần. Quý I/2008 nhập siêu bằng 62,7% kim ngạch xuất khẩu, quý

II/2008 đã giảm xuống 39,2%, riêng tháng 6 bằng 23,6%. Ngoài ra việc
đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo cân đối cung cầu, điều tiết tốt về giá, đặc
biệt ở những mặt hàng trọng yếu (gạo, xi măng, sắt thép ) đã khiến thị
trường ổn định hơn.
Kết quả:
-Thu chi ngân sách năm 2008:
Mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm hơn 2007, nhưng các nguồn thu có
yếu tố nước ngoài như dầu thô, thu từ cân đối xuất, nhập khẩu tăng

mạnh nên thu ngân sách Nhà nước năm nay vẫn tăng tương đối khá so
với năm 2007 và vượt kế hoạch cả năm. Theo báo cáo của Bộ Tài chính,
tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 26,3% so với năm
2007 và bằng 123,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa bằng 110,9%;
thu từ dầu thô bằng 143,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất
nhập khẩu bằng 141,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp
Nhà nước bằng 101,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(không kể dầu thô) bằng 102,1%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch
vụ ngoài Nhà nước bằng 105,9%; thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao bằng 122,4%; thu phí xăng dầu bằng 99,3%; thu phí, lệ phí
bằng 116,5%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm
2007 và bằng 118,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng
118,3% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 114,7%); chi sự nghiệp
kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể
bằng 113,3%; chi trả nợ và viện trợ bằng 100%. Các khoản chi thường
xuyên đều đạt hoặc vượt dự toán năm, trong đó chi sự nghiệp kinh tế
bằng 145,3% dự toán năm; chi thể dục thể thao bằng 123%; chi lương
hưu và bảo đảm xã hội bằng 120,7%; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề
bằng 104,6%; chi y tế bằng 104,1%
Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi

và bằng 97,5% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua

đầu năm, trong đó 77,3% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và
22,7% được bù đắp từ nguồn vay nước ngoài.
Thán
g
1 2 3 4 5 6 7 8 9 1
0
11 12
CPI 2.4
4
6.
2
9.1
9
11.6 15.
4
17.
6
19.
2
21.
1
22.
6
2
3
22.
5
23.

2
Bảng thống kê và dự báo lạm phát năm 2008.( nguồn economy.com.vn)
-Tỉ giá thả nổi hay có sự điều tiết của nhà nước:Chính sách theo đuổi
tỷ giá danh nghĩa cố định một mặt khiến chính sách tiền tệ trở nên kém
hiệu lực, mặt khác làm trầm trọng thêm rủi ro tỷ giá. Như đã trình bày,
việc duy trì tỷ giá danh nghĩa buộc chính sách tiền tệ phải chạy theo sự
tăng giảm của dòng vốn nước ngoài, làm cho NHNN mất tự chủ trong
việc điều hành chính sách tiền tệ.
Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với
năng lực điều hành vĩ mô của Chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm
phát kỳ vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính
phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt. Như vậy,
thâm hụt ngân sách cao kéo dài sẽ đe dọa sự ổn định vĩ mô, cũng như
khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế.

Việc đầu tư công sai mục đích, thất thoát, dàn trải và kém hiệu quả
cùng với việc tín dụng được đổ vào đầu cơ bất động sản (BĐS) và chứng
khoán (CK) hay cho một số doanh nghiệp nhà nước (DNNN) kém hiệu
quả vừa làm tiêu hủy nguồn lực quý báu của đất nước, vừa làm nền kinh
tế trở nên bong bóng, hết sức rủi ro.

×