ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TẠ KIM SEN
XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA TỈNH THANH HÓA:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : KTTG&QHKTQT
Mã số :60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Mai Thị Thanh Xuân
Hà Nội - 2013
MC LC
Trang
DANH MC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MC CÁC BẢNG BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu
thủy sản 7
1.1. Một số vấn đề chung về xuất khẩu thủy sản 7
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.2. Đặc điểm của xuất khẩu thủy sản 8
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu thủy sản 10
1.2. Vai trò của xuất khẩu thủy sản 12
1.2.1. Đóng góp vào GDP và tích lũy vốn ngoại tệ 12
1.2.2. Góp phần đổi mới công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế14
1.2.3. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động 15
1.3. Những lợi thế của Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu thủy sản 17
1.3.1. Vị trí địa lý 17
1.3.2. Nguồn lợi thủy sản 17
1.3.3. Nguồn nhân lực 19
1.3.4. Khoa học công nghệ 20
1.3.5. Chính sách nhà nước 22
1.4. Thực tiễn xuất khẩu thủy sản ở một số địa phương và khả năng áp dụng
vào tỉnh Thanh Hóa 24
1.4.1. Thực tiễn xuất khẩu thủy sản của tỉnh Quảng Ninh 24
1.4.2. Thực tiễn xuất khẩu thủy sản của tỉnh Hà Tĩnh 27
1.4.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Thanh Hóa 29
Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa từ năm
2000 đến nay 32
2.1. Những tiềm năng lợi thế của tỉnh Thanh Hóa trong xuất khẩu thủy sản . 32
2.1.1. Vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương hàng hóa với các nước 32
2.1.2. Nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng 33
2.1.3. Lao động dồi dào và tương đối có kinh nghiệm 35
2.2. Hoạt động xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa 2000 – 2012 37
2.2.1. Chính sách xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa 37
2.2.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh Thanh Hoá 2000 – 2012 40
2.3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa từ
2000 - 2012 56
2.3.1. Những thành tựu đạt được 56
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 61
Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của
tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 67
3.1. Quy hoạch phát triển sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh Thanh Hoá
đến năm 2020 67
3.1.1. Xu hướng biến động của thị trường hàng thuỷ sản và triển vọng
xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh Thanh Hoá 67
3.1.2. Quy hoạch phát triển sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2015
& 2020 73
3.2. Định hướng, mục tiêu xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa đến năm
2020 75
3.2.1. Định hướng 75
3.2.2. Mục tiêu xuất khẩu thủy sản đến 2020 76
3.3. Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Thanh Hóa
đến năm 2020 78
3.3.1. Đảm bảo ổn định nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
thủy sản 78
3.3.2. Đổi mới công nghệ chế biến đi đôi với tăng cường kiểm soát vệ
sinh an toàn thực phẩm 83
3.3.3. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu thủy
sản 86
3.3.4. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
i
DANH MC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
Tiếng Anh
Tiếng Việt
1
ASEAN
Association of
Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
2
CV
Cheval-vapeur
Mã lực/ Công suất
3
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
4
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
5
HACCP
Hazard Analysis Critical
Control Point
Hệ thống phân tích mối nguy
và điểm kiểm soát tới hạn
6
ISO
The International
Organization for
Standardization
Tổ chức quốc tế về tiêu
chuẩn hóa
7
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
ii
DANH MC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Số hiệu
Tên bảng biểu
Trang
1
Bảng 2.1
Sản lượng thủy sản từ năm 2000 – 2012
41
2
Bảng 2.2
Giá trị sản xuất thủy sản từ năm 2000 –
2012
45
3
Bảng 2.3
Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản
47
4
Bảng 2.4
Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của
tỉnh Thanh Hóa từ năm 2000 – 2012
49
5
Bảng 2.5
Giá thủy sản trên thị trường thế giới
52
6
Bảng 2.6
Giá trị xuất khẩu tiểu ngạch và chính
ngạch của hàng thủy sản tỉnh Thanh Hóa
54
7
Bảng 3.1
Mục tiêu xuất khẩu thủy sản của tỉnh
Thanh Hóa
76
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu hướng và mục tiêu
chung của tất cả các nước trên thế giới. Trong bối cảnh đó, quốc gia nào biết
phát huy nội lực, tiếp thu những cơ hội thuận lợi và vượt qua những thách
thức thì quốc gia đó sẽ phát triển vững mạnh. Vì vậy, tại các nước đang phát
triển, để tạo vốn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, việc phát triển các ngành
kinh tế tận dụng được lợi thế so sánh là vô cùng quan trọng.
Nhận thức được điều đó, Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh sản xuất
và xuất khẩu các ngành hàng có thế mạnh như gạo, dệt may, cao su, cà phê,
thủy sản, giày dép, sản phẩm gỗ, lắp ráp linh kiện máy tính điện tử…., trong
đó, thủy sản là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực và góp phần
đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho Việt Nam, đưa nước ta lên vị trí các nước xuất
khẩu thủy hải sản hàng đầu trên thế giới.
Thanh Hóa là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng và cơ hội để phát
triển ngành thủy sản, đặc biệt là xuất khẩu thủy sản. Đó là, Thanh Hóa có vị
trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, với 102 km chiều dài bờ biển;
ngư trường rộng lớn; năng lực đánh bắt và nuôi trồng thủy sản lớn, cùng với
những chính sách hợp lý của tỉnh và sự năng động sáng tạo của các đơn vị sản
xuất kinh doanh thủy sản, của hàng ngàn lao động trong nghề cá là nguồn lực
cơ bản mà tỉnh có thể khai thác để phát triển thủy sản, theo hướng “bền vững”.
Trong những năm qua, ngành thủy sản của tỉnh đã thực sự có một chỗ đứng
ngày càng một vững chắc trên thị trường thế giới, góp phần vào tăng trưởng
kinh tế trong tỉnh, giải quyết công ăn việc làm và làm đổi mới đời sống nhân
dân cho các huyện ven biển. Vì thế ngành thủy sản được xác định là một
ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, trong sự nghiệp công nghiệp hoá của tỉnh.
2
Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay, xuất khẩu thủy sản của
tỉnh đã phát triển khá mạnh song vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại và
thách thức do yếu tố chủ quan và khách quan: cơ sở xuất khẩu thủy sản chưa
bắt ứng kịp với những thay đổi về nhu cầu hàng thủy sản của thị trường; mặt
hàng xuất khẩu chưa phong phú đa dạng; có nhiều thị trường nhập khẩu khó
tính như Mỹ, Nhật Bản, EU
Vấn đề đặt ra cho tỉnh Thanh Hóa hiện nay là: tiềm năng của ngành thủy
sản đã được khai thác đến đâu? Tỉnh đã có những chính sách và biện pháp gì
để khuyến khích các doanh nghiệp và hộ gia đình phát triển mạnh ngành thủy
sản? và trong thời gian tới cần phải làm gì để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu thủy sản, đưa ngành thủy sản phát triển xứng tầm với vị trí của nó
trong nền kinh tế của tỉnh. Đó là những câu hỏi nghiên cứu sẽ được giải đáp
trong luận văn thạc sỹ: “Xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa: Thực
trạng và giải pháp”.
2. Tình hình nghiên cứu
Tại Việt Nam, thủy sản được xác định là ngành có nhiều tiềm năng, và
trên thực tế kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã đạt con số trên 6,11 tỷ USD năm
2011, chiếm khoảng 6,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nền kinh tế. Với
vai trò đó, ngành thủy sản đã thu hút sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành
nghiên cứu. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố xung quanh
vấn đề này, trong đó có các công trình đáng chú ý là:
“Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ
nay đến năm 2020”, luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Minh, trường đại học
kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Trong công trình này, tác giả đánh giá toàn
diện thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn 1990 – 2006, đặc biệt
rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của hoạt động xuất
khẩu thủy sản trong bối cảnh cạnh tranh mới trên phạm vi khu vực và thế giới.
3
Từ đó tác giả đưa ra một số quan điểm mới làm cơ sở cho việc đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản: nâng cao chất lượng thủy sản xuất khẩu, đáp ứng tiêu chuẩn
quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây
dựng, quảng bá thương hiệu và nâng cao khả năng thâm nhập thị trường nước
ngoài của thủy sản xuất khẩu; đảm bảo xuất khẩu thủy sản bền vững; xây
dựng các liên kết dọc và ngang trong chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu; các
giải pháp về khoa học, công nghệ; phát triển các ngành, lĩnh vực phụ trợ.
“Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, luận văn
thạc sĩ kinh tế của Đỗ Minh Hạnh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia
Hà Nội, 2005. Tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề chung về xuất khẩu thủy
sản và hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam từ năm 1990 đến năm
2005 trong mối quan hệ với tình hình sản xuất, chế biến thủy sản cho xuất
khẩu và diễn biến của thị trường thế giới; phát hiện ra tiềm năng cũng như
những tồn tại và hạn chế của xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam; qua đó đưa ra
một số gợi ý về giải pháp nhằm đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam trong thời gian tới.
“Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong điều
kiện gia nhập WTO”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Võ Thị Hồng Lan, Trường
Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, 2009. Ở đây, tác giả nghiên cứu
một số vấn đề lý luận cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.
Khảo cứu tình hình nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản ở một số
quốc gia, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và tập trung nghiên cứu
tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào các thị trường trọng điểm trên một
số phương diện như giá cả, chất lượng sản phẩm, cơ cấu các mặt hàng xuất
khẩu, thương hiệu sản phẩm trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2009,
hướng đến năm 2020; nghiên cứu những cam kết của Việt Nam trong khuôn
khổ WTO cùng những ảnh hưởng của nó đến xuất khẩu thủy sản của nước ta;
4
đề xuất các giải pháp chủ yếu từ phía nhà nước, doanh nghiệp, hội chế biến và
xuất khẩu thủy sản để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản thời gian tới.
“Kế hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Thanh Hóa 2001 – 2005”,
luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Văn Trung. Tác giả đã phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 1996 – 2001 ngành thủy sản tỉnh Thanh
Hóa, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm tiếp theo của ngành thủy sản
tỉnh Thanh Hóa 2001 – 2005 và đưa ra một số giải pháp thực hiện kế hoạch
đó là: giải pháp huy động vốn; đổi mới công nghệ; đào tạo lao động; cơ cấu
lại và phát triển các lĩnh vực sản xuất nghề cá; liên kết giữa sản xuất và chế biến.
Nhìn chung, phần lớn các công trình nghiên cứu trên đều đã phân tích
thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung, đưa ra những nhóm
giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
Còn xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa thì còn rất ít được quan
tâm. Có một vài công trình ít ỏi nghiên cứu vấn đề này thì lại được thực hiện
chủ yếu là trước năm 2005; trong khi đó, sự biến động của nền kinh tế thế
giới cũng như Việt Nam lại diễn ra hết sức nhanh chóng. Điều đó đòi hỏi phải
có những công trình nghiên cứu cập nhật hơn và đầy đủ hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở đánh giá một cách đầy
đủ và toàn diện thực trạng xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Thanh Hóa, để đề xuất
các giải pháp khắc phục những hạn chế nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
thủy sản của tỉnh trong thời gian tới hiệu quả hơn.
Nhiệm vụ của luận văn là:
- Luận giải một số vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu thủy sản
5
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu thủy sản của tỉnh
Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu những tiềm năng lợi thế của
tỉnh Thanh Hóa trong xuất khẩu thủy sản (vị trí địa lý, nguồn lợi thủy sản, lao
động); chính sách xuất khẩu thủy sản của tỉnh; nghiên cứu hoạt động xuất
khẩu thủy sản, thể hiện trên nhiều mặt: sản lượng, giá trị kim ngạch, giá cả và
thị trường.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài nghiên cứu hoạt động xuất khẩu thủy sản diễn ra
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và một số tỉnh trong nước để vận dụng kinh
nghiệm.
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu tình hình xuất khẩu thủy sản tỉnh Thanh
Hóa từ năm 2000 đến nay (vì trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay,
xuất khẩu thủy sản của tỉnh đã phát triển khá mạnh song vẫn còn gặp nhiều
khó khăn, trở ngại và thách thức do yếu tố chủ quan và khách quan: cơ sở
xuất khẩu thủy sản chưa bắt ứng kịp với những thay đổi về nhu cầu hàng thủy
sản của thị trường; mặt hàng xuất khẩu chưa phong phú đa dạng; có nhiều thị
trường nhập khẩu khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU ); các giải pháp đề xuất sẽ
được áp dụng từ nay đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các số liệu thứ cấp, luận văn sử dụng phương pháp chung là
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích vai trò của
ngành thủy sản. Luận văn còn sử dụng một số phương pháp cụ thể khác, như:
6
- Phương pháp thống kê, phân tích mô tả số liệu: tập hợp tài liệu, số liệu
của tỉnh, sau đó tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu rút ra kết luận
- Phương pháp so sánh: xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa
trên việc so sánh với chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc)
6. Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về xuất khẩu thủy sản.
- Phân tích và làm rõ thực trạng xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa
từ năm 2000 đến nay
- Đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu
thủy sản
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thanh Hóa từ
năm 2000 đến nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020
7
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN
1.1. Một số vấn đề chung về xuất khẩu thủy sản
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Xuất khẩu hàng hóa
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai bộ phận cấu thành của hoạt động ngoại
thương. Xuất khẩu (Export) là việc một nước mang hàng hóa, dịch vụ của
mình bán ra thị trường nước ngoài, còn nhập khẩu (Import) là việc một nước
mua hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài. Hai hoạt động này có quan hệ mật
thiết với nhau, nếu phía này là xuất khẩu thì đồng thời phía kia là nhập khẩu.
Toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu trong ngoại thương của một nước hay một
nhóm nước được gọi là mậu dịch quốc tế hay thương mại quốc tế [14].
Trong hoạt động ngoại thương, xuất khẩu hàng hóa bao gồm toàn bộ
hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa hữu hình và vô hình. Sản xuất ngày
càng phát triển, khả năng sản xuất đã vượt ra khỏi nhu cầu tiêu dùng của một
quốc gia, do đó hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia rất phát triển
với nhiều hình thức, diễn ra trên phạm vi toàn cầu trong tất cả các ngành và
các lĩnh vực kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu có phạm vi vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia,
là hoạt động mang tính quốc tế. Chính vì lẽ đó, hoạt động xuất khẩu phải tuân
thủ các nguyên tắc, luật pháp, quy định của quốc gia nhập khẩu, của quốc tế
và của những sân chơi chung mà chúng ta tham gia.
1.1.1.2. Thủy sản và xuất khẩu thủy sản
Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại
cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi
trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị
8
trường. Thủy sản được phân loại thành: nhóm cá, nhóm giáp xác (tôm, cua),
nhóm động vật thân mềm (nghêu, sò, ốc, trai) [41].
Xuất khẩu thủy sản bao gồm toàn bộ hoạt động mua bán và trao đổi mặt
hàng thủy sản giữa hai vùng lãnh thổ, hai chủ thể kinh tế ở các quốc gia khác nhau.
Tại Việt Nam, thuỷ sản là một trong những ngành có nhiều khả năng và
tiềm năng huy động để phát triển, có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao vào
những năm tới và tiến kịp các nước trong khu vực nếu có các chính sách thích
hợp và được đầu tư thoả đáng. Với bờ biển dài 3260 km cùng 112 cửa sông,
lạch, vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2 và hơn 4000 hòn đảo lớn
nhỏ tạo nên nhiều eo, vịnh và đầm phá, ngư trường là tiềm năng nguồn lợi
tài nguyên sinh vật biển phong phú và có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho nhu
cầu trong nước và xuất khẩu.
Ở nước ta hiện nay, sự giàu có về tài nguyên, khí hậu thuận lợi, đa dạng
về sinh thái đã khiến cho ngành thuỷ sản có nhiều ưu thế phát triển góp phần
thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Ngành thuỷ sản
từ một lĩnh vực kinh tế nhỏ bé thuộc khối nông nghiệp, đã vươn lên trở thành
một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
1.1.2. Đặc điểm của xuất khẩu thủy sản
1.1.2.1. Đặc điểm sản phẩm thủy sản xuất khẩu
Sản phẩm thủy sản bao gồm sản phẩm thủy sản tự nhiên được đánh bắt
từ biển hoặc những vùng nước ngọt, lợ trong đất liền và các sản phẩm thủy
sản nuôi trồng. Đó là các loài cá, động vật thân mềm, loài giáp xác được
sử dụng làm thực phẩm phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh thương
mại [32].
Sản phẩm thủy sản và sản phẩm thủy sản xuất khẩu có những đặc điểm sau:
Sản phẩm thủy sản là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mang
lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nên được khắp nơi trên thế giới ưa chuộng.
9
Sản phẩm thủy hải sản dễ bị thối, hỏng nên cần được bảo quản, chế biến
trước khi đem bán trên thị trường, vì thế cần phải phát triển công nghiệp chế
biến để bảo quản tốt sản phẩm thủy sản nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu.
Sản phẩm có tính thời vụ do đặc điểm tự nhiên, khí hậu của nước ta là
khá phức tạp, thời tiết và mực nước thay đổi theo mùa do đó việc nuôi trồng
cũng như khai thác thủy sản không liên tục và ổn định trong năm theo mặt
hàng chế biến. Chính vì còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên sản lượng thủy
sản mỗi mùa mỗi khác, mỗi năm mỗi khác, do đó tình trạng giá thay đổi liên
tục là khó tránh khỏi.
Quá trình sản xuất gắn liền với khâu chế biến và tiêu thụ vì thế thủy sản
sau khi thu hoạch cần được bảo quản, sơ chế hoặc chế biến ngay nếu không sẽ
làm giảm thậm chí là mất giá trị sau một thời gian ngắn. Hơn thế nữa thời hạn
sử dụng của loại hàng hóa này cũng không dài. Điều này đòi hỏi phải làm tốt
công tác dịch vụ hậu cần đồng thời tìm kiếm thị trường, thúc đẩy tiêu thụ.
Sản phẩm thủy sản xuất khẩu phải đảm bảo chất lượng, và phải tuân theo
quy định khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm của các thị trường.
1.1.2.2. Đặc điểm xuất khẩu thủy sản
Xuất khẩu nói chung và xuất khẩu thủy sản nói riêng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, do hoạt động xuất khẩu hàng hóa diễn ra giữa hai chủ thể kinh
tế ở hai quốc gia khác nhau nên luôn tồn tại khoảng cách về địa lý. Vì thế chi
phí vận chuyển, điều kiện giao nhận hàng hóa, thanh toán, bảo quản sẽ gặp
nhiều khó khăn.
Thứ hai, xuất khẩu hàng hóa cho phép các quốc gia trên thế giới khai
thác triệt để lợi thế so sánh của mình để thu được nhiều lợi nhuận hơn, tạo
điều kiện chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động để tạo ra
nhiều sản phẩm hơn cho xã hội.
10
Thứ ba, thị trường xuất khẩu rộng lớn, nhưng lại tách biệt, phải thông
qua thông lệ quốc tế và các quy tắc chung của các Tổ chức Thương mại trên
thế giới. Chính vì vậy công tác nghiên cứu thị trường cần phải được đầu tư và
quan tâm hơn nữa. Vì hoạt động xuất khẩu diễn ra giữa hai quốc gia nên việc
khác nhau về phong tục tập quán, thói quen, nề nếp sống của hai nước luôn
tồn tại. Vì vậy, cần hiểu biết những yếu tố đó của nước nhập khẩu để hàng
hóa xuất khẩu có thể phù hợp với nhu cầu khách hàng.
Thứ tư, xuất khẩu là một trong những nhân tố làm tăng sản xuất trong
nước, kích thích đầu tư, nâng cao chất lượng, chủng loại sản phẩm cho xã hội.
Thứ năm, thủy sản là mặt hàng thực phẩm cần có điều kiện bảo quản để
đảm bảo chất lượng nên khi xuất khẩu mặt hàng này luôn gặp phải những rào
cản về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng thực phẩm vì vậy cần phải được
đảm bảo ngay từ khâu nuôi trồng đến chế biến…
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu thủy sản
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng,
phong phú. Nhưng nó thường được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu: xuất
khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản
xuất, công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua
bán, trao đổi hàng hóa với các đối tác nước ngoài (hoạt động bán hàng trực
tiếp của một quốc gia này cho quốc gia khác).
Hình thức này không qua một tổ chức trung gian nào, có thể trực tiếp
gặp nhau cùng bàn bạc thảo luận để đưa đến một hợp đồng hoặc không cần
gặp nhau trực tiếp mà thông qua thư chào hàng, thư điện tử, điện thoại….
cũng có thể tạo thành một hợp đồng mua bán kinh doanh thương mại quốc tế
được ký kết.
11
Xuất khẩu trực tiếp có ưu điểm là: thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng
dẫn đến thống nhất và ít xảy ra nhiều hiểu lầm đáng tiếc; giảm được chi phí
trung gian; bên bán chủ động trong việc chuẩn bị nguồn hàng, phương tiện
vận tải để thực hiện hoạt động xuất khẩu và kịp thời điều chỉnh thị trường tiêu
thụ, nhất là trong điều kiện thị trường nhiều biến động; giao dịch trực tiếp sẽ
có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng,
khắc phục thiếu sót. Tuy nhiên, xuất khẩu trực tiếp cũng gặp những hạn chế
khó khăn: đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường gặp nhiều bỡ
ngỡ, dễ gặp sai lầm, bị ép giá trong mua bán; gặp nhiều rủi ro khi thị trường
trong nước biến động (giá cả trong nước bất ngờ thay đổi…); với hoạt động
xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi cán bộ công nhân viên làm công tác kinh doanh
xuất khẩu phải có năng lực hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ,
văn hóa của thị trường nước ngoài, phải có nhiều thời gian tích lũy kiến thức.
Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác) là một hình thức dịch vụ thương mại, theo
đó doanh nghiệp ngoại thương đứng ra với vai trò trung gian thực hiện xuất
khẩu hàng hóa cho các đơn vị ủy thác. Xuất khẩu ủy thác gồm 3 bên: bên ủy
thác xuất khẩu, bên nhận ủy thác xuất khẩu và bên nhập khẩu. Bên ủy thác
không được quyền thực hiện các điều kiện về giao dịch mua bán hàng hóa, giá
cả, phương thức thanh toán… mà phải thông qua bên thứ 3 – người nhận ủy
thác (hình thức bán hàng của một quốc gia cho một quốc gia khác thông qua
trung gian)
Hình thức xuất khẩu ủy thác được áp dụng trong trường hợp doanh
nghiệp không được phép kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều
kiện xuất khẩu trực tiếp, ủy thác cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm
đơn vị xuất khẩu hàng hóa cho mình, bên nhận ủy thác được nhận một khoản
thù lao gọi là phí ủy thác.
12
Hình thức xuất khẩu gián tiếp có ưu điểm: giúp doanh nghiệp mở rộng
thị trường tìm nguồn đầu ra cho sản phẩm của mình; giúp cho hàng hóa của
doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào một thị trường mới mà mình chưa biết;
nhà xuất khẩu sẽ chia bớt rủi ro cho nhà xuất khẩu trung gian, do vậy mà lợi
nhuận thu về sẽ chắc chắn hơn; tận dụng sự hiểu biết của bên nhận ủy thác
trong nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu từ khâu đóng gói, vận chuyển, thuê tàu,
mua bảo hiểm… sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được tiền của, thời gian đầu
tư cho việc xuất khẩu. Bên cạnh những ưu điểm, xuất khẩu gián tiếp vẫn còn
những hạn chế: nhà xuất khẩu phải chia sẻ một phần lợi nhuận cho trung gian
nên lợi nhuận của họ bị giảm; mất mối liên hệ trực tiếp của doanh nghiệp với
thị trường (khách hàng); nhiều khi đầu ra phụ thuộc vào phía ủy thác trung
gian làm ảnh hưởng đến sản xuất và hơn nữa nhà xuất khẩu bị chậm thông tin
so với thị trường, điều này có thể gây thiệt hại lớn, làm cho nhà xuất khẩu
không đáp ứng được yêu cầu của thị trường tiêu dùng.
1.2. Vai trò của xuất khẩu thủy sản
Tại Việt Nam, thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn có
giá trị kim ngạch lớn thứ tư. Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, từ tốc
độ phát triển về sản lượng và giá trị xuất khẩu mà vai trò của ngành thủy sản
và xuất khẩu thủy sản ngày càng được xác định rõ là ngành kinh tế mũi nhọn
và một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp – hiện đại hóa
đất nước hiện nay, vai trò đó được thể hiện ở các mặt sau:
1.2.1. Đóng góp vào GDP và tích lũy vốn ngoại tệ
Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: đường lối kinh tế nước ta là “đẩy
mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,
ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp với định hướng Xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển; nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân
13
dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại” [13].
Để làm được điều này, nước ta phải có đủ vốn để nhập khẩu máy móc
thiết bị công nghệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước. Nguồn vốn này có thể là từ: vay nước ngoài, đầu tư nước ngoài, viện
trợ, thu hút từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa, du lịch Dựa vào tính chất
kinh tế của các nguồn vốn ta thấy, các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay,
viện trợ tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách
khác ở thời kỳ sau này. Như vậy nguồn vốn từ hoạt động xuất khẩu là nguồn
vốn quan trọng nhất, và mang lại ít bất lợi nhất cho nền kinh tế. Xuất khẩu tạo
ra nguồn thu ngoại tệ lớn, nếu không có ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất
khẩu thì nền sản xuất trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn, điều đó thể hiện ở
chỗ nếu không có ngoại tệ thì không có khả năng nhập máy móc thiết bị,
nguyên liệu phục vụ cho sản xuất.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các nước có nguồn dự trữ ngoại tệ lớn
như Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore đều là những nước có tỷ trọng xuất
khẩu lớn trên thế giới. Như vậy việc dự trữ ngoại tệ là rất cần thiết, đặc biệt là
đối với Việt Nam hiện nay khi nguồn vốn trong nước còn hạn chế, trình độ
phát triển chưa cao, nền sản xuất vật chất còn yếu kém. Hơn nữa, việc dự trữ
ngoại tệ còn giúp cho quá trình ổn định giá cả trong nước và chống lạm phát ở
mỗi quốc gia.
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản luôn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, vào khoảng 10%, và ngành thủy sản
cũng đóng góp trên 10% vào GDP nước ta.
Trong những năm gần đây, thủy sản đã trở thành một trong những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong tổng giá trị xuất khẩu
của nước ta. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đã vượt qua con số 1 tỷ USD,
14
gấp 6 lần so với năm 1990. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt
3,763 tỷ USD, chiếm tới 13.5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2008, kim
ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,509 tỷ USD, năm 2009 là 4,3 tỷ USD, năm
2010 đạt 4,953 tỷ USD, năm 2011 đạt 6,1 tỷ USD đứng thứ 4 sau dầu thô, dệt
may và giày dép [35].
Từ giá trị kim ngạch xuất khẩu do thủy sản mang lại đã góp thêm vốn
mua máy móc thiết bị hiện đại của các nước phát triển (tàu thuyền, công nghệ
sản xuất giống, dây chuyền công nghệ chế biến ) từ đó thúc đẩy ngành thủy
sản phát triển và góp phần làm tăng trưởng kinh tế trong nước.
1.2.2. Góp phần đổi mới công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Xuất khẩu thủy sản tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần
cho sản xuất thủy sản trong nước phát triển ổn định, nâng cao năng lực sản
xuất và năng suất tăng cao. Thông qua xuất khẩu thủy sản, hàng thủy sản của
ta sẽ tham gia và cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất
lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất và hình
thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường. Muốn làm tốt điều
đó cần phải đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại.
Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy sản xuất và mở rộng thị trường.
Bên cạnh đó xuất khẩu thủy sản góp phần tạo nguồn vốn để nhập khẩu
các thiết bị kỹ thuật và công nghệ nước ngoài vào Việt Nam, góp phần hiện
đại hóa nền kinh tế, nâng cao năng suất thủy sản Việt Nam.
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng
mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với
xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là yếu tố tất yếu đối với đất nước ta.
15
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Một là: xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm “thừa” do cung
vượt quá cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu như nước ta
sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nên nếu chỉ thụ động về sự “ thừa
ra” của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé tăng trưởng chậm chạp sản xuất
và thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
Hai là: coi thị trường mà đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan
trọng để tổ chức sản xuất. Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu thị
trường thế giới để tổ chức sản xuất.
Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển, sự tác động này đến sản xuất để xuất khẩu của ngành thủy
sản thể hiện ở:
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế: khi kim ngạch xuất khẩu thủy sản
tăng, cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp chuyển theo hướng giảm tỷ trọng nông
lâm nghiệp tăng tỷ trọng thủy sản, ở Thanh Hóa năm 2008 ngành thủy sản
chiếm 7,45%/100% nông lâm nghiệp và thủy sản, nhưng sang năm 2009
ngành thủy sản chiếm 8,23%, tăng l0,78%, đây là hướng chuyển dịch tích cực,
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa [10].
Không những thế, xuất khẩu thủy sản phát triển còn tạo điều kiện cho
các ngành nghề liên quan khác phát triển theo như: khai thác, chế biến, nuôi
trồng thủy sản, đóng tàu, dịch vụ hậu cần nghề cá, giao thông vận tải, xây
dựng…
1.2.3. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Tác động của xuất khẩu thủy sản đến đời sống nhân dân bao gồm nhiều mặt:
Xuất khẩu thủy sản góp phần không nhỏ vào việc giải quyết công ăn việc
làm cho người lao động. Vì thông qua hoạt động xuất khẩu thủy sản thu hút
16
được hàng triệu lao động trong các ngành sản xuất các mặt hàng xuất khẩu.
Đồng thời với việc thu hút sử dụng lao động, hoạt động xuất khẩu thủy sản
cũng có tác động tích cực tới trình độ tay nghề cũng như nhận thức về công
việc của công nhân làm hàng xuất khẩu. Những sản phẩm mà thị trường nước
ngoài yêu cầu mà ta có khả năng sản xuất đã được đưa vào sản xuất một cách
nhanh chóng và kịp thời. Nhờ vậy đã giải quyết công ăn việc làm cho nhiều
người: số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ 3,12 triệu người (năm
1996) lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001, trên 4 triệu người năm 2007 (kể
cả lao động thời vụ), và năm 2010 số lao động đã có trên 5 triệu người làm
việc trực tiếp, và xấp xỉ khoảng 2 triệu người làm việc theo thời vụ. Tỷ lệ
tăng bình quân số lao động thường xuyên của ngành thuỷ sản là 2,4%/năm,
cao hơn mức tăng bình quân của cả nền kinh tế (2%/năm) [34].
Xuất khẩu thủy sản thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản nói riêng
và cả nền kinh tế Việt Nam nói chung. Nhờ việc phát triển xuất khẩu thủy sản
mà tạo được thêm nhiều việc làm, thu hút lao động nhàn rỗi, nâng cao thu
nhập và cải thiện đời sống người lao động. Năm 2000 thu nhập bình quân một
tháng của lao động khu vực nhà nước ngành thủy sản đạt 669,3 nghìn
đồng/tháng; năm 2005 đạt 1.291,4 nghìn đồng/tháng; năm 2009 đạt 2.793,5
nghìn đồng/tháng. Xuất khẩu thủy sản còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật
phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ cuộc sống và đáp ứng ngày một phong phú
hơn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Đồng thời xuất khẩu thủy sản cũng góp phần tích cực vào chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển. Ngoài ra, ngành thủy sản còn đóng góp
vào việc phân phối lại thu nhập ở các vùng nông thôn cũng như góp phần vào
việc thực hiện thành công mục tiêu dinh dưỡng quốc gia.
17
Như vậy, năng lực sản xuất của ngành thủy sản được nâng lên, cùng với
việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản đã góp phần tích cực giải quyết một số vấn
đề xã hội.
1.3. Những lợi thế của Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu thủy sản
1.3.1. Vị trí địa lý
Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông
Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất
liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và
Campuchia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông. Đây là vị trí địa lý rất
thuận lợi, là cầu nối giữa Đông Nam Á và hải đảo, thuận lợi cho giao lưu kinh
tế với các nước vì nằm gần tuyến đường biển quốc tế nối giữa Thái Bình
Dương và Ấn Độ Dương, từ đó cho phép chúng ta dễ dàng giao lưu với các
nước trong khu vực và trên thế giới bằng nhiều phương tiện khác nhau như
đường bộ, đường biển, đường hàng không. Đặc biệt tuyến đường bộ và đường
biển làm giảm chi phí vận chuyển trong quá trình xuất khẩu hàng hóa và làm
tăng kim ngạch xuất khẩu.
Đối với xuất khẩu thủy sản quá trình vận chuyển sang các nước sẽ
nhanh hơn, nên việc mua bán hàng hóa thủy sản với các quốc gia khác thuận
tiện, nhanh chóng đảm bảo được chất lượng sản phẩm khi đến tay người tiêu
dùng, giá thành vận chuyển rẻ hơn sẽ làm gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu
của ngành thủy sản.
1.3.2. Nguồn lợi thủy sản
Hiện nay, thủy sản của Việt Nam đã được xếp thứ 10 trong tốp những
nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới, mặt hàng thủy sản của Việt Nam
hiện đã có mặt ở 164 quốc gia với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng
cao. Để đạt được thành tựu đó là sự tổng hợp của nhiều nhân tố nhưng trong
đó phải kể đến nhân tố nguồn lợi thủy sản từ tự nhiên của Việt Nam.
18
Tài nguyên thủy sản của Việt Nam được đánh giá là tương đương, thậm
chí còn trội hơn so với Thái Lan, nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới
hiện nay. Theo số liệu của Tổng cục Thủy sản, Việt Nam có chiều dài bờ biển
3.260 km và vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần diện
tích đất liền. Trong vùng biển có hơn 3.000 đảo lớn nhỏ, trong đó có nhiều
đảo có dân cư như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc… đây
vừa là ngư trường khai thác thuận lợi, vừa có nhiều điều kiện tự nhiên để xây
dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá. Với đường bờ biển dài, nhiều hòn đảo
lớn nhỏ đó là một lợi thế rất lớn của Việt Nam trong việc cung cấp nguồn
nguyên liệu tự nhiên dồi dào để phát triển ngành thủy sản. Vùng biển Việt
Nam thuộc ngư trường Trung Tây Thái Bình Dương, có nguồn lợi thủy sản
phong phú, đa dạng và được đánh giá là một trong những ngư trường có trữ
lượng cao trong các vùng biển quốc tế, với hơn 2.000 loài cá, 225 loài tôm,
663 loài tảo, rong biển và nhiều loài thủy sản quý như bào ngư, trai ngọc, sò
huyết, san hô đỏ Với lợi thế đó, Việt Nam có thể nâng cao nhanh chóng sản
lượng và đa dạng sản phẩm xuất khẩu ưu thế như: tôm, cá tra, cá ngừ, nhuyễn
thể chân đầu, nhuyễn thể hai mảnh vỏ… cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu,
trong đó tôm, cá tra được xác định là mặt hàng xuất khẩu chủ lực khi chiếm
tới 70% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Thủy sản Việt Nam đã có vị trí cao trong cộng đồng nghề cá thế giới,
đứng thứ 11 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi thủy sản. Đặc biệt, hàng thuỷ
sản Việt Nam đã xuất khẩu đến 164 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt
Nam hiện đứng thứ 4 trong 10 nước hàng đầu thế giới về giá trị xuất khẩu
thủy sản.
Việt Nam có hệ thống sông ngòi, kênh, rạch chằng chịt cùng với các hồ
thủy lợi, thủy điện tạo tiềm năng lớn về mặt nước, với khoảng 1700 nghìn ha,
trong đó có: 120 nghìn ha ao hồ nhỏ, mương vườn (đã sử dụng 69%); 340
19
nghìn ha hồ chứa nước lớn (đã sử dụng 29%); 660 nghìn ha vùng triều (đã sử
dụng 40%); 580 nghìn ha ruộng có khả năng nuôi thủy sản (đã sử dụng
26,6%); chưa kể mặt nước các sông và khoảng 300 - 400 nghìn eo, vịnh, đầm
phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thủy sản. Điều kiện khí hậu nắng
nhiều, lượng mưa cao cũng rất thích hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản.
Như vậy, có thể thấy Việt Nam là nước có tiềm năng rất lớn về thủy sản
với sự đa dạng, phong phú về giống loài và có chất lượng tốt, giá trị cao.
Tiềm năng này là một thuận lợi lớn cho ngành kinh tế xuất khẩu thủy sản của
quốc gia, chúng ta có lợi thế về sự đa dạng các mặt hàng xuất khẩu, hướng tới
nhiều đối tượng, nhiều thị trường tiêu thụ, đặc biệt là việc xuất khẩu những
mặt hàng có giá trị kinh tế cao. Từ đó giá thành xuất khẩu rẻ hơn so với các
nước cùng xuất khẩu, đây chính là lợi thế so sánh mà Việt Nam cần phát huy.
Tuy nhiên bên cạnh đó, sản xuất ngành thuỷ sản lại phụ thuộc rất nhiều
vào yếu tố tự nhiên, thời tiết thất thường, vì vậy cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt
động xuất khẩu. Ví dụ: Năm 2000, thiệt hại mà bão đem lại cho toàn ngành
thủy sản khoảng 27 tỷ đồng. Cơn bão số 7 năm 2005 được đánh giá là cơn
bão lớn nhất trong vòng 9 năm qua, hậu quả của nó là hơn 8.000 ao hồ nuôi
trồng thuỷ sản bị sụt lở, hư hỏng, 36 tàu đánh cá bị chìm, gây thiệt hại lớn cho
hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, hạn chế sản lượng và kim ngạch
xuất khẩu.
1.3.3. Nguồn nhân lực
Bên cạnh những nhân tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
như vật tư, tiền vốn, công nghệ, … nhân tố con người được coi là quan trọng
nhất, có tính chất quyết định tới sự thành bại của tổ chức. Trong hoạt động
xuất khẩu, từ khâu nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, tạo nguồn
hàng, giao dịch ký kết hợp đồng… đều cần đến chuyên môn, kỹ thuật nghiệp
vụ của người thực hiện. Ở các khâu đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, chế biến