Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………2
Phần I: Phương pháp SCAMPER………………………………………3
1. Phép thay thế - Substitute……………………………………4
2. Phép kết hợp – Combine…………………………………… 5
3. Phép thích ứng – Adapt………………………………………5
4. Phép điều chỉnh – Modify………………………………… 6
5. Phép thêm vào – Put………………………………………….6
6. Phép loại bỏ - Eliminate…………………………………… 7
7. Phép đảo ngược – Reverse………………………………… 7
Phần II. Lịch sử phát triển của màn hình máy tính……………… 8
1. Màn hình bằng các bóng đèn nhấp nháy…………………8
2. Bìa đục lỗ vừa là đầu ra, vừa là đầu vào………………….9
3. Băng giấy thay cho các tấm bìa………………………… 9
4. Thuở sơ khai của CRT………………………………… 10
5. Máy điện báo trở thành màn hình……………………… 11
6. Glass Teletype 12
7. Video phức tạp ra đời 12
8. Màn hình video phức tạp nở rộ 13
9. Tivi được dùng làm màn hình máy tính 14
10. Màn hình plasma xuất hiện 15
11. Kỷ nguyên của LCD lộ diện 16
12. Các tiêu chuẩn màn hình của IBM 16
13. Các màn hình của Macintosh 17
14. Các màn hình RGB 18
15. Màn hình LCD cho laptop………………………………19
16. Kỷ nguyên của màn hình VGA…………………………20
17. LCD cho máy tính bàn………………………………….21
18. Các màn hình hiện nay…………………………………22
Phần III. Phân tích các phương pháp sáng tạo SCAMPER trong sự phát
triển của màn hình…………………………………………………….22
I. Phép Thay Thế…………………………………………………22
II. Phép Kết Hợp………………………………………………….23
III. Phép Thích Ứng……………………………………………….23
IV. Phép Điều Chỉnh ………………………………………………24
V. Phép thêm vào………………………………………………….24
VI. Phép Loại bỏ……………………………………………………25
VII. Phép đảo ngược…………………………………………………25
Phần IV. Kết luận………………………………………………………26
Tài liệu tham khảo…………………………………………………… 27
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi con người có ý thức thì sự tìm tòi học hỏi và khả năng tư duy
chính là đặc điểm đưa loài người ra khỏi lớp động vật. Đặc điểm nổi bật nhất
của sự tìm tòi học hỏi hay khả năng tư duy là sự sáng tạo. Hơn 2000 năm
qua hàng triệu phát minh cải tiến ra đời thay đổi gần như toàn bộ cuộc sống
của con người. Qua từng thời kỳ các phát minh, sáng kiến có thể khác nhau
tùy thuộc vào từng bối cảnh xã hội nhưng có thể nói đều dựa trên các
nguyên tắc sáng tạo cơ bản như các nguyên lý của Alshuller, phương pháp
Scamper,… Trong đó Phương pháp SCAMPER là một trong những kỹ
thuật để giúp chúng ta tư duy sáng tạo hiệu quả nhất.
Toàn cầu hoá, Công nghệ thông tin và nền kinh tế điện tử … đang làm
thay đổi mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Chúng ta đang chứng kiến
một sự thay đổi trong xã hội loài người tới mức chóng mặt trong đó kĩ năng
toàn cầu, hiểu biết quốc tế, công nghệ thông tin , tri thức mới và sự uyên
thâm mới làm nên sự khác biệt giữa các chủ thể ( quốc gia, con người ).
Không như trước đây, sự khác biệt được quyết định bởi tiền vốn và vật tư,
bởi đất đai và năng lượng. Công Nghệ Thông Tin là ngành ứng dụng công
nghệ quản lý , xử lý thông tin và tập hợp các phương pháp khoa học, các
phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại. Qua từng thời kỳ các phát minh,
sáng kiến có thể khác nhau tùy thuộc vào từng bối cảnh xã hội nhưng
phương pháp Scamper vẫn là 1 trong những phương pháp tư duy tốt nhất và
được vận dụng nhiều nhất.
Cải tiến công nghệ phục vụ cho cuộc sống là phương châm, động lực
phát triển cho xã hội loài người trong thời gian qua. Máy vi tính đang làm
thay đổi cuộc sống của chúng ta hàng ngày. Trong đó, màn hình máy tính
cũng đã và đang được đổi mới, thay đổi công nghệ từng ngày để đáp ứng
nhu cầu của con người. Phương pháp SCAMPER là một trong những kỹ
thuật để giúp chúng ta tư duy sáng tạo hiệu quả nhất, và nhà các sản xuất
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
màn hình cũng đã vận dụng phương pháp này để phát triển sản phẩm của
mình ngày càng đa dạng, hiện đại.
Phần I. Phương pháp SCAMPER
Hiện nay, có khá nhiều phương pháp sáng tạo khác nhau nhưng không
có phương pháp nào vượt trội trong mọi tình huống, trong mọi lĩnh vực. Tuy
nhiên, phương pháp sáng tạo SCAMPER tỏ ra có nhiều ưu điểm trong việc
phát triển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Hai trọng tâm sáng
tạo trong doanh nghiệp là sáng tạo trong phát triển đổi mới sản phẩm và
sáng tạo trong tiếp thị kinh doanh sản phẩm.
Phương pháp sáng tạo SCAMPER được giáo sư
Michael Mikalko phát triển, SCAMPER là ghép các chữ
cái đầu của nhóm từ sau: Substitute ( thay thế), Combine
(kết hợp), Adapt (thích nghi), Modify (hiệu chỉnh), Put
(thêm vào), Eliminate (loại bỏ) và Reverse (đảo ngược).
Phương pháp sáng tạo SCAMPER dễ lĩnh hội, dễ vận
dụng nhưng khá hữu hiệu nên ngày càng được sử dụng phổ biến rộng rãi,
nhất là trong các doanh nghiệp.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Bản đồ tư duy của phương pháp SCAMPER. (ảnh: nguồn internet)
1. Phép thay thế - Substitute
*Nội dung: Thay thế thành tố hiện có của hệ thống bằng thành tố
khác.
-Substitute (thay thế): Với 1 sản phẩm, bạn hãy quan sát thành phần
tạo nên chúng và thử suy nghĩ xem liệu các thành phẩm này có thể được
thay thế bằng nguyên vật liệu nào khác? Trong một quá trình làm việc, liệu
vấn đề nhân lực thay thế sẽ là ai? Có nên thay địa điểm? Đối tượng?
- Các câu hỏi có thể đặt ra: Thay đổi cái gì để nâng cao chất lượng?
Chuyện gì xảy ra nếu tôi thay cái này bằng cái khác? Làm cách nào để đổi
địa điểm, thời gian, nguyên vật liệu, vấn đề nhân lực ?
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
* Ví dụ:
- Khai thác khí đá phiến ở Mỹ (quan trọng đối với quốc phòng vì
không còn phải phụ thuộc vào thị trường Trung Đông),
Philippin.
- Thay thế các nguyên liệu lẫn nhau trong ngành ẩm thực.
- Hạt nêm: thay thế các gia vị khác, thay cho bột ngọt, muối,
đường
2. Phép kết hợp – Combine
*Nội dung: Kết hợp thành tố của các hệ thống khác nhau để tạo ra hệ
thống mới.
- Combine (kết hợp): Bạn hãy quan sát xem có thể biến tấu thêm gì,
kết hợp thêm được gì để tạo ra 1 sản phẩm mới, đề cao khả năng hợp lực của
từng tính năng.
- Các câu hỏi có thể đặt ra: Nguyên vật liệu cần là gì? Các tính năng?
Quy trình? Nhân lực? Cái gì có thể kết hợp lại? Sẽ kết hợp khâu nào? Ở
đâu?
* Ví dụ:
- Tạo ra máy in tích hợp: in, scan, copy, fax.
- Xe giường nằm + Toilet.
- Điện thoại di động tích hợp máy ảnh, camera, máy vi tính
3. Phép thích ứng – Adapt
*Nội dung: Thích ứng hệ thống trong một bối cảnh khác.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
- Adapt: Nghĩ xem khi thay đổi, các tính năng này có phù hợp
không?
- Các câu hỏi có thể đặt ra: chúng ta có thể bắt chước cái gì? Mô
phỏng cái gì?
*Ví dụ:
Gường cho trẻ em cấu tạo như 1 chiếc xe đua.
4. Phép điều chỉnh – Modify
*Nội dung: Điều chỉnh qui mô thành tố của hệ thống.
- Modify (điều chỉnh): tăng và giảm kích cỡ, thay đổi hình dáng,
thuộc tính,
*Ví dụ:
- Màu sắc, âm thanh, hương vị, hình thức mẫu mã,…. Nó có thể
mạnh lên, cao lên, to lên hoặc ngược lại: nhẹ hơn, nhỏ hơn,…
- Xe đạp đôi, chai nước dung tích lớn,
- Chế lời bài hát.
- Chế tạo máy nông nghiệp dựa trên các máy khác.
- Chế tạo xe buýt siêu dài, máy bay vận tải siêu lớn.
5. Phép thêm vào – Put
*Nội dung: Thêm thành tố mới vào hệ thống.
- Put: Có thể áp dụng cho cách dùng khác? Mục đích khác? Lĩnh
vực khác?
- Các câu hỏi đặt ra: Tôi có thể lấn sân sang thị trường nào? Thị
trường nào có thể tiêu thụ hàng của tôi?
*Ví dụ:
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
- Lốp xe có thể dùng làm hàng rào.
- Xe bay như trực thăng, lội nước như thuyền .
- Bàn chải đánh răng vừa là lược chải đầu
6. Phép loại bỏ - Eliminate
*Nội dung: Loại bỏ thành tố khỏi hệ thống.
- Eliminate: loại bỏ và đơn giản hoá các thành phần, nghĩ xem
chuyện gì xảy ra nếu bạn loại đi hàng loạt các quy trình, sản phẩm,
vấn đề và cơ hội(probortunity ), nghĩ xem bạn sẽ làm gì với tình
huống này?
- Câu hỏi có thể đặt ra: : chuyện gì xảy ra nếu tôi loại bỏ 1 số
thành phần của sản phẩm? Hướng giải quyết không theo cách thông
thường?
*Ví dụ:
- Điện thoại không dây cố định ra đời điện thoại di động.
- Bàn phím, chuột không dây
- Sạc pin không dây
- Quạt không cánh
- Tàu vũ trụ: loại bỏ các tầng khi phóng.
7. Phép đảo ngược – Reverse
*Nội dung: Đảo ngược trật tự các thành tố của hệ thống.
- Reverse: Bạn có thể lật ngựợc vấn đề? Cách suy nghĩ này sẽ
giúp bạn nhìn rõ mọi góc cạnh của vấn đề cũng như như cơ hội thấy
điểm mới cho vấn đề.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
- Câu hỏi có thể đặt ra: Chuyện gì xảy ra nếu tôi làm theo theo
hướng khác? Nếu tôi lật ngược trât tự cách làm cũng như cách sử
dụng?
*Ví dụ:
- Cho ra loại vải không phân biệt mặt phải hay trái.
- Giao hàng tận nhà
- Đi siêu thị trên internet, điện thoại, tv.
*Kết luận: Bằng cách sử dụng phương pháp SCAMPER, bạn sẽ
có khả năng nhận biết ra các sản phẩm mới cũng như hướng đi
mới cho vấn đề. Tất nhiên, trong các ý tưởng này còn nhiều cái
không khả thi và không phù hợp với trang thiết bị bạn đang có
nhưng chắc chắn bạn sẽ chọn ra được 1 vài ý kiến. Đó là những
ý tưởng có thể trực tiếp giúp bạn giải quyết vấn đề hoặc là điểm
khởi đầu hoàn hảo cho cuộc bàn luận để cho ra 1 sản phẩm mới
tiếp theo.
Phần II: Lịch sử màn hình máy tính:
1. “Màn hình” bằng các đèn nhấp nháy
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Thiết bị cuối ZUSE 23 (1941) chỉ bao gồm các đèn báo để biểu diễn đầu ra
của chương trình máy tính. Máy Univac I (1951).
Trong khi hầu hết các máy tính ra đời đầu tiên đều có một máy in kết
quả ra giấy thì thuở sơ khai của màn hình số lại bị hạn chế bởi các bóng đèn
báo nhấp nháy. Chúng là các bóng đèn chỉ thị bật hoặt tắt khi máy tính xử lý
các câu lệnh hay truy cập đến các vùng nhớ.
2. Bìa đục lỗ vừa là đầu ra, vừa là đầu vào
Bên trái: một nữ vận hành máy tính đang cho các tấm bìa đục lỗ vào máy
ENIAC (1947). Bên phải: Bộ lập bảng IBM 405 giúp người vận hành tính
kết quả của đầu ra.
3. Băng giấy thay cho các tấm bìa đục lỗ
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Máy in điện báo CREED 75 (1958) sử dụng băng giấy đục lỗ thay cho các
tấm bìa đục lỗ.
Để thay thế cho các bìa đục lỗ, nhiều máy tính sau đó đã sử dụng một
băng giấy dài cũng được đục lỗ để biểu diễn cho một chương trình máy tính.
Nguyên lí không hề thay đổi, người vận hành máy tính sẽ cho chạy băng
giấy qua một chiếc máy như trong ảnh, kết quả chương trình cũng được lưu
trên một băng giấy đục lỗ và dựa trên băng giấy này, một máy đánh chữ điện
tử sẽ đánh ra kết quả bằng ngôn ngữ mà nhà lập trình dễ dàng hiểu được.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
4. Thuở sơ khai của màn hình CRT
Các thiết bị dùng CRT làm màn hình hiển thị đơn giản: màn hình SWAC
1950), thiết bị cuối Ferranti Mark 1 Star (1951), SAGE (1957) và PDP-1
(1960).
Các ống tia ca-tốt (CRT) xuất hiện lần đầu tiên trong máy tính lại
được dùng trong bộ nhớ chứ không phải ở bộ phận hiển thị. Không lâu sau
đó, người ta đã nhận ra rằng chúng có thể được sử dụng để hiện thị nội
dung của bộ nhớ dựa trên CRT (như hai máy tính ở bên trái).
Sau đó, các máy radar và máy hiện sóng đã được lắp vào các ống CRT để
hiện thị một màn hàn hình đồ họa đơn giản (không có màu sắc và chỉ thể
hiện được các vec-tơ), điển hình là hệ thống SAGE và PDP-1.
5. Máy điện báo trở thành “màn hình”
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Một máy điện báo đánh chữ ASR-33 (1962) được sử dụng làm "màn hình"
máy tính.
Trước khi có máy tính điện tử, từ năm 1902, các máy điện báo đánh
chữ được sử dụng để trao đổi nội dung các văn bản. Đây là dạng máy đánh
chữ điện tử có thể giao tiếp (truyền tín hiệu) với các máy khác thông qua
các đường dây điện (sau này còn qua sóng radio) và sử dụng một loại mã
đặc biệt.
Cho đến những năm 1950, các kĩ sư đã nối trực tiếp máy điện báo lên máy
tính để dùng nó như một thiết bị hiển thị. Các máy điện báo sẽ in ra kết
quả liên tục của một phiên làm việc của máy tính. Đây vẫn là dạng giao
điện đầu ra rẻ nhất đối với các máy tính cho đến giữa những năm 1970.
6. Glass Teletype
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Uniscope 300 (1964) và ADM-3 (1975) là các glass teletype sử dụng CRT
để hiển thị kết quả chương trình máy tính.
Tại một thời điểm ở những năm 1960, các kĩ sư nhận ra rằng họ có
thể sử dụng các ống CRT để tạo thành một “tờ giấy ảo” thay cho tờ giấy
thật của máy điện báo. Glass teletype là cái tên đầu tiên cho thiết bị đầu ra
dạng này.
Dạng màn hình video này hiển thị nhanh và linh động hơn so với dùng
giấy nên nó đã trở thành phương pháp vượt trội để thể hiện giao diện của
máy tính trong nửa đầu những năm 1970.
Thiết bị đầu ra được nối với máy tính qua dây cáp, thường chỉ
truyền các đoạn mã biểu diễn kí tự văn bản chứ không phải đồ họa. Cho
đến những năm 1980, một số màn hình mới được hỗ trợ màu sắc.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
7. Video phức hợp ra đời
Các thiết bị cuối hiển thị video đầu tiên: CT-1024 (1974) và sau đó là Sol-
20 và Apple I vào năm 1976.
Những chiếc máy điện báo đánh chữ (kể cả những chiếc có đầu ra là
băng giấy) cũng là cả một gia tài.
Tìm kiếm một biện pháp thay thế rẻ hơn, Don Lanscaster, Lee
Felsenstein và Steve Wozniak đã cùng lúc đưa ra một ý tưởng: xây dựng
một thiết bị cuối giá rẻ là màn hình video CCTV.
Không lâu sau đó, Wozniak và Felsenstein đã lần lượt cho ra mắt
các thiết bị hiển thị đầu ra video là Apple I và Sol-20. Những chiếc máy
tính đầu tiên có màn hình video được sản xuất vào năm 1976.
8. Màn hình video phức hợp nở rộ
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Màn hình video phức hợp TRS-80 (1977) và Commodore 1702 (1983).
Ngoài các màn hình ti-vi RF, nhiều loại máy tính cá nhân (PC) đã
được hỗ trợ các màn hình video phức hợp cho chất lượng hình ảnh cao
hơn. Cuộc cách mạng PC đem đến luồng gió mới, các nhà sản xuất máy
tính như Apple, Commodore, Radio Shack, TI đều bắt tay thiết kế và đóng
nhãn các màn hình video một màu hoặc có đa màu cho các hệ thống máy
tính của mình. Hầu hết các màn hình như vậy đều có thể thay thế hoàn
toàn được cho nhau.
9. Ti-vi được dùng làm màn hình máy tính
Bộ điều biến RF Apple II (1977) được nối với một chiếc ti-vi đang hiển thị
kết quả chương trình.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Vào cuối những năm 1970, bắt đầu nảy sinh ý tưởng sử dụng chính
màn hình ti-vi làm đầu ra video cho máy tính. Một số doanh nghiệp đã
mạnh dạn sản xuất các bộ điều biến RF cho Aplle II để chuyển video phức
hợp sang một dạng các tín hiệu mà ti-vi có thể “hiểu” được.
Hệ thống Atari 800 ra mắt năm 1979 bao gồm một bộ điều biến RF
gắn trong máy tính và một số thiết bị cần thiết khác. Tuy nhiên, băng
thông cho đầu ra bị giới hạn nên độ phân giải thấp hơn, vì vậy phần lớn
máy tính vẫn tránh làm việc với các màn hình ti-vi.
10. Màn hình plasma xuất hiện
Các thiết bị cuối sử dụng công nghệ plasma: PLATO IV (1972), GRID
Compass 1101 (1982) và IBM 3290 (1983).
Những năm 1960, công nghệ màn hình plasma bắt đầu nổi lên.
Công nghệ này sử dụng một loại khí mang điện bị giữ giữa hai tấm gương,
khi một điện tích được tạo ra tại một vị trí xác định, một vùng sáng sẽ xuất
hiện.
Một trong những thiết bị sớm nhất sử dụng màn hình plasma là
PLATO IV. Đầu tiên, các công ty như IBM hay GRID đã thử nghiệm với
các màn hình tương đối nhẹ và mỏng trên các máy tính xách tay. Công
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
nghệ này chưa bao giờ được áp dụng cho PC nhưng sau này nó lại xuất
hiện trong các bộ ti-vi màn hình phẳng.
11. Kỉ nguyên của LCD hé lộ
Máy tính bỏ túi SHARP PC-1211 (1980), TRS-80 Model 100 (1983) và
Toshiba T1000 (1987) là các thiết bị sử dụng màn hình LCD đầu tiên.
Một công nghệ màn hình chưa từng có, màn hình tinh thể lỏng (LCD),
đã xuất hiện trong những năm 1960 và ra mắt lần đầu tiên trên thị trường
vào những năm 1970 ở trong máy tính bỏ túi và đồng hồ đeo tay.
Các máy tính xách tay đầu tiên của những năm 1980 đã tận dụng
LCD với việc xuất hiện rất nhiều các màn hình mỏng, nhẹ và tiết kiệm năng
lượng. Các LCD đời đầu thường chỉ có một màu và có độ tượng phản yếu.
12. Các tiêu chuẩn màn hình của IBM
Năm 1981, các máy tính cá nhân của IBM gắn trực tiếp một màn hình
video một màu theo tiêu chuẩn MDA và phải cảnh tranh với một số thiết bị
đầu ra video sắc nét khác. Với các đồ họa có màu sắc, IBM đã thiết kế bộ
điều hợp CGA nối tới một màn hình video phức hợp IBM 5153.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Màn hình IBM 5151 (1981) sử dụng thiết kế MDA và UBM 5153 (1983) sử
dụng thiết kế EGA.
13. Các màn hình của Macintosh
Máy tính Macintosh I (1984) có màn hình đen trắng và gắn liền với
CPU trong khi màn hình Macintosh II (1987) đã tách biệt và hiển thị màu
sắc RGB.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Chiếc máy tính Macintosh đầu tiên ra đời năm 1987 bao gồm một
màn hình Mac đen-trắng 9 inch hiển thị đồ họa ảnh nhị phân 512x342 pixel.
Macintosh II ra đời cùng năm đã chính thức hỗ trợ màu sắc đồng thời tách
biệt riêng màn hình với CPU. Tiêu chuẩn video của Mac II cũng tương tự
như VGA. Các màn hình Mac tiếp tục phát triển theo thời gian và luôn luôn
nổi tiếng với màu sắc đẹp và có độ nét cao.
14. Các màn hình RGB
Màn hình Commodore 1084 (1985) và màn hình Atari 5C1224 (1986).
Những năm 1980 chứng kiến sự ra mắt của những màn hình RGB
mang đồ họa màu sắc, có độ phân giải cao và sắc nét cạnh tranh với các máy
tính IBM và Macintosh. Các loạt sản phẩm Atari ST và Commondore Amiga
thuộc số này, người sử dụng đã cảm thấy khá thỏa mãn về đồ họa máy tính
của những sản phẩm này.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
15. Màn hình LCD cho laptop tiếp tục cải tiến
Các laptop Altima NSX (1990) và Extensa 570CDT (1996) có màn hình
LCD với màu sắc đẹp hơn nhiều so với trước đó.
Khi các màn hình LCD mới xuất hiện, chúng là các công nghệ đơn
sắc có độ tương phản thấp và tốc độ làm tươi chậm. Trong suốt các thập kỉ
1980 và 1990, công nghệ LCD được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của máy tính
xách tay đã liên tục được cải tiến. Chúng đã hiển thị được độ tương phản cao
hơn, các góc nhìn tốt hơn và màu sắc đẹp hơn. Công nghệ LCD sớm muộn
sẽ nhảy sang một thị trường tiềm năng hơn, máy tính để bàn.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
16. Kỉ nguyên của màn hình VGA
Bên trái là một màn hình có tỉ lệ màn ảnh đặt theo đúng một trang giấy. Bên
phải là một màn hình màu theo tỉ lệ 4:3.
Vào giữa những năm 1990, đã có thêm nhiều cải tiến và phát triển đối
với màn hình cho PC. Đây là kỉ nguyên của màn hình VGA đa đồng bộ hóa,
có màu sắc và giá rẻ, có khả năng xử lí trên một phạm vi rộng độ phân giải.
Các nhà sản xuất bắt đầu thử nghiệm với nhiều kích thước (từ 14-21 inch và
hơn nữa) và tỉ lệ màn ảnh (tỉ lệ 4:3 hoặc theo tỉ lệ của trang giấy theo chiều
dọc). Một số màn hình CRT phẳng đã ra đời vào cuối những năm 1990.
17. LCD cho máy tính bàn
Các công ty máy tính đã có các thử nghiệm về màn hình LCD dành
cho máy tính bàn từ những năm 1980 với một số lượng nhỏ. Những màn
hình kiểu này có giá thành khá cao và hiệu suất hoạt động cũng kém hơn so
với các màn hình CRT phổ biến lúc đấy.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Các màn hình LCD dành cho máy tính bàn của các hãng điện tử ViewSonic
(bên trái), IBM (ở giữa) và Apple (bên phải)
Điều này đã bị thay đổi từ khoảng năm 1997 khi một số công ty như
ViewSonic, IBM và Apple cho giới thiệu các màn hình LCD màu có chất
lượng đã đủ để cạnh tranh với các màn hình CRT và giá thành của chúng đã
ở mức hợp lý.
Các màn hình LCD giúp tiết kiệm không gian làm việc, tiêu tốn ít
điện và sinh nhiệt cũng ít hơn nên nhanh chóng được nhiều để ý tới.
18. Màn hình máy tính ngày nay:
Từ năm 2007, các màn hình LCD dành cho máy tính bàn đã vượt
doanh thu bán ra so với các màn hình CRT và thị trường của nó tiếp tục
được mở rộng. Ngày nay, các màn hình LCD đã trở thành tiêu chuẩn phổ
biến nhất cho ngành công nghiệp máy tính.
Gần đây, màn hình LCD ngày càng rẻ hơn và thậm chí các nhà sản
xuất đã thiết kế cả các màn hình đôi như trong ảnh trên.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Màn hình LCD đã trở nên phổ biến, xuất hiện nhiều thiết kế độc đáo như
màn hình đôi, màn hình 3D.
Ngành công nghiệp đang có xu hướng nhắm tới các màn hình có khả
năng hỗ trợ 3D và có tốc độ làm tươi siêu nhanh.
Ngoài ra, ranh giới giữa màn hình máy tính và những chiếc ti-vi đang
dần vị xóa nhòa. Bây giờ bạn đã có thể dễ dàng mua được một chiếc ti-vi
màn hình phẳng, độ nét cao 42 inch với giá 999 USD trở xuống có thể nối
với máy tính của bạn.
Phần III. Phân tích các phương pháp sáng tạo SCAMPER trong sự
phát triển của màn hình máy tính:
II.Phép thay thế
- Trong từng sản phẩm mới ra đời, màn hình máy tính đa phần được thay
thế diện mạo cũng như kích cỡ cho người sử dụng, tạo sự thân thiện cũng
như tương thích nhiều hơn. Quan trọng nhất là về công nghệ hiển thị ngày
càng được đổi mới, từ những dòng sản phẩm đầu tiên chất lượng hình ảnh
rất xấu, thô sơ, dần dần đã được cải tiến và kết quả là màn hình LCD hiển thị
chất lượng hình ảnh tuyệt vời như hiện nay.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
- Các màn hình đầu tiên còn sản phẩm có bàn phím, máy đánh chữ để hiện
thông tin, dần dần đã được cải tiến, loại bỏ và sau này sẽ là màn hình cảm
ứng.
- Hệ thống màu sắc trắng đen của màn hình đã được làm mới hoàn toàn, đẹp
hơn, tiện dụng hơn, nhiều màu sắc hơn, kết quả là các sản phẩm sau hiện thị
tất cả màu sắc
III. Phép kết hợp:
- Màn hình tích hợp nhiều công nghệ với nhau.
- Tương lai 1 màn hình sẽ đảm nhiệm luôn vai trò của 1 màn hình, bàn phím,
chuột để cho ra đời 1 dòng sản phẩm màn hình cảm ứng
- Gần đây SamSung đã cho ra đời thế hệ tivi thông minh nhận diện giọng nói
- Trong màn hình LCD tích hợp công nghệ 3D giúp người xem có thể xem
thông tin sống động, ở nhiều góc độ
- Ranh giới giữa màn hình máy tính và những chiếc ti-vi đang dần vị xóa
nhòa. 1 màn hình phẳng tivi có thể vừa là 1 màn hình máy tính
III. Phép thích ứng:
- Màn hình đã từng bước thay đổi chất lượng đồ họa giúp người dùng sử
dụng, xem thông tin tốt nhất
- Bên cạnh đó độ phân giải cũng được nâng cao dần dần
- Kích thước màn hình ngày càng nhỏ dần đáp ứng yêu cầu sử dụng và
không gian nhỏ hẹp của các gia đình cũng như di chuyển dễ dàng.
- Trong xu thế hiện nay đa phần sử dụng công nghệ cảm ứng (màn hình điện
thoại), màn hình máy tính, tivi cũng được cải tiến theo hướng cảm ứng.
(smart tivi của SamSung)
- Hiện nay đa phần các màn hình đều tiết kiệm điện hơn rất nhiều.
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang
Môn: Phương pháp nghiên cứu khoa học GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
- Tách biệt màn hình với CPU (từ dòng sản phẩm Macintosh)
IV. Phép điều chỉnh:
- Với các phiên bản đầu tiên, màn hình hiển thị chưa tốt, còn thô, có nhiều
lỗi, các nhà sản xuất đã điều chỉnh, nâng cấp để được dạng màn hình LCD
như hiện nay
- Màn hình tinh thể lỏng (liquid crystal display, LCD) là loại thiết bị hiển
thị cấu tạo bởi các tế bào (các điểm ảnh) chứa tinh thể lỏng có khả năng thay
đổi tính phân cực của ánh sáng và do đó thay đổi cường độ ánh sáng truyền
qua khi kết hợp với các kính lọc phân cực. Chúng có ưu điểm là phẳng, cho
hình ảnh sáng, chân thật và tiết kiệm năng lượng. LCD đã thay đổi hoàn toàn
công nghệ hiển thị trước đây
- Việc điều chỉnh làm giảm kích thước làm giảm được không gian
- Tăng độ phân giải, màu sắc hiển thị
- Trong các phiên bản mới luôn điều chỉnh, cải tiến các chức năng để hoàn
thiện hơn.
V. Phép thêm vào:
- Màn hình máy tính qua các đời đều thêm nhiều tính năng, công nghệ mới
giúp tải thiện sản phẩm, cũng như làm hài lòng người sử dụng, chất
lượng hình ảnh, độ phân giải ngày càng cải thiện
- Thêm vào các màu sắc khác (lúc đầu màn hình chỉ có 2 màu trắng đen)
- Thêm vào màn hình 3D, màn hình đôi. (màn hình LCD)
- Từ các dòng sản phẩm sau này đều có thêm vào công nghệ tiết kiệm điện
- Thêm vào công nghệ LED giúp màn hình sáng và tiết kiệm điện cho
laptop
HVTH: Đoàn Chí Trung – CH1201143 Trang