BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ TRÀ GIANG
ơ
NGHIÊN CỨU BỆNH THÁN THƯ HẠI QUẢ ỚT
(COLLETOTRICHUM SPP.) VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
TẠI QUỲNH PHỤ - THÁI BÌNH.
Chuyên ngành : BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số : 60.62.01.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.TRẦN NGUYỄN HÀ
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Trần Thị Trà Giang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài tôi đã gặp rất nhiều khó khăn,
vướng mắc nhưng được sự động viên về tinh thần, sự giúp đỡ về kiến thức của
các Thầy cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các em sinh viên K55… đến
nay tôi đã hoàn thành đề tài. Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân
thành đến:
TS.Trần Nguyễn Hà, Thầy đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi
trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.
Các Thầy, Cô trong Bộ môn Bệnh cây - Nông dược, Khoa Nông học,
trường Học viện nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi.
Các anh chị Chi cục BVTV Thái Bình và Trung tâm khuyến nông Thái
Bình đã tạo điều kiện về thời gian và giúp đỡ kỹ thuật trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Em Bùi Huy Hiển sinh viên K55, trường Học viện nông nghiệp Việt
Nam đã cùng tham gia, động viên và cùng tôi thực hiện đề tài.
Chú Hãn chủ nhiệm HTX Quỳnh Hải và cô Đặng Thị Xuyên xã viên
HTX Quỳnh Hải đã hết sức giúp đỡ tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Tháng 10/2014
Tác giả luận án
Trần Thị Trà Giang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 3
2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Những nghiên cứu ngoài nước 4
2.1.1 Nghiên cứu về thành phần bệnh nấm hại ớt 4
2.1.2 Nghiên cứu về các loài nấm Colletotrichum sp gây bệnh thán thư ớt 6
2.1.3 Nghiên cứu về nấm C. gloeosporioides 7
2.1.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh thán thư do nấm
Colletotrichum sp 11
2.2 Những nghiên cứu trong nước 13
3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 17
3.3 Vật liệu nghiên cứu 17
3.4 Nội dung nghiên cứu 17
3.5 Phương pháp nghiên cứu 18
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng 18
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 20
3.5.3 Phương pháp nghiên cứu trong nhà lưới 22
3.5.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích kháng tới sự phát sinh phát
triển của bệnh thán thư hại ớt ngoài đồng ruộng 23
3.6 Phương pháp điều tra phỏng vấn ngoài thực địa 24
3.7 Phương pháp tính và xử lý số liệu 24
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Điều tra thành phần bệnh nấm hại một số giống ớt cay tại Quỳnh
phụ -Thái Bình năm 2013 – 2014 27
4.2 Kết quả điều tra tình hình phát sinh và gây hại của bệnh thán thư
Colletotrichum sp hại trên một số giống ớt tại Quỳnh Phụ - Thái Bình. 29
4.2.1 Triệu chứng bệnh thán thư hại ớt 29
4.2.2 Kết quả điều tra diễn biến bệnh thán thư hại một số giống ớt vụ
thu đông 2013 tại xã Quỳnh Minh – Quỳnh Phụ - Thái Bình 32
4.2.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng gây hại của bệnh thán thư
trên cây ớt 34
4.2.4 Ảnh hưởng của chế độ luân canh đến khả năng gây hại của bệnh
thán thư trên cây ớt 36
4.2.5 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến khả năng gây hại của bệnh
thán thư trên cây ớt 38
4.3 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và thời kỳ tiềm dục
của nấm Colletotrichum gloeosporioides gây bệnh thán thư ớt 40
4.3.1 Đặc điểm hình thái của nấm Colletotrichum gloeosporioides gây
bệnh thán thư ớt 40
4.3.2 Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học nấm Colletotrichum
gloeosporioides gây bệnh thán thư ớt 42
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
4.3.3 Kết quả lây nhiễm nhân tạo nấm Colettotrichum gloeosporioides
gây bệnh thán thư trên ớt 49
4.4 Ảnh hưởng của chất kích kháng đến sự phát sinh phát triển của
bệnh thán thư ớt. 52
4.4.1 Kết quả thử nghiệm Acid Salicylic, CuCl2 đối với nấm
Colettotrichum gloeosporioides gây bệnh thán thư ớt trong phòng
thí nghiệm. 52
4.4.2 Kết quả thử nghiệm Acid Salicylic, CuCl2 đối với bệnh thán thư
trên cây ớt ngoài đồng ruộng. 56
4.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc hóa học đến bệnh thán thư hại
ớt tại Quỳnh Phụ - Thái Bình 58
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Đề nghị: 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 67
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Từ viết tắt
1 BVTV Bảo vệ thực vật
2 CSB % Chỉ số bệnh
3 CT Công thức
4 CTV Cộng tác viên
5 ĐC Đối chứng
6 ĐKTN Đường kính tản nấm
7 GĐST Giai đoạn sinh trưởng
8 HLPT Hiệu lực phòng trừ
9 KTVB Kích thước vết bệnh
10 NXB Nhà xuất bản
11 SA Salicylic acid
12 STT Số thứ tự
13 TLB (%) Tỷ lệ bệnh
14 TKTD Thời kỳ tiềm dục
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
4.1 Thành phần bệnh nấm hại cây ớt cay vụ thu đông năm 2013 -
2014 tại Quỳnh Phụ - Thái Bình 28
4.2 Tỷ lệ % vị trí quả ớt (Red chilli F1) bị nấm Colletotrichum sp
gây hại vụ thu đông năm 2013 tại Quỳnh Phụ - Thái Bình 31
4.3 Diễn biến của bệnh thán thư hại một số giống ớt vụ thu đông
năm 2013 tại xã Quỳnh Minh, Quỳnh Phụ, Thái Bình 32
4.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sự phát sinh phát triển của bệnh
thán thư ớt 34
4.5 Ảnh hưởng của chế độ luân canh đến khả năng gây hại của bệnh
thán thư trên cây ớt Red chilli F1 vụ thu đông 2013 tại xã Quỳnh
Hải, Quỳnh Phụ,Thái Bình 36
4.6 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến khả năng gây hại của bệnh
thán thư trên cây ớt Chỉ thiên vụ thu đông năm 2013 tại Quỳnh
Phụ, Thái Bình 39
4.7 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm
C. gloeosporioides 43
4.8 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của nấm
C. gloeosporioides trên môi trường PGA 44
4.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm
C. gloeosporioides 46
4.10 Ảnh hưởng của pH đến sự phát triểncủa nấm C. gloeosporioides
trên môi trường PGA 48
4.11 Ảnh hưởng của phương pháp lây nhiễm đến mức độ nhiễm bệnh
thán thư trên quả ớt chín 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
4.12 Ảnh hưởng của phương pháp lây nhiễm đến mức độ nhiễm bệnh
thán thư trên quả ớt xanh 51
4.13 Ảnh hưởng của SA, CuCl2 đến chiều dài vết bệnh thán thư trên
lá và quả ớt trong điều kiện có sát thương 53
4.14 Ảnh hưởng của SA, CuCl2 đến chiều dài vết bệnh thán thư trên
lá và quả ớt trong điều kiện không sát thương 55
4.15: Ảnh hưởng của chất kích kháng đến bệnh thán thư ớt trên giống
Red - chilli tại Quỳnh Phụ - Thái Bình vụ thu đông 2013 57
4.16 Ảnh hưởng của thuốc hóa học đến bệnh thán thư hại ớt tại Quỳnh
Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 59
4.17 Hiệu lực phòng trừ bệnh thán thư hại ớt ngoài đồng ruộng bằng
thuốc hóa học 60
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
4.1 Triệu chứng bệnh thán thư trên quả ớt ương (chỉ thiên) do nấm
Colletotrichum gloeosporioides 30
4.2 Diễn biến của bệnh thán thư hại một số giống ớt 33
4.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sự phát sinh phát triển của
bệnh thán thư ớt 35
4.4 Ảnh hưởng của chế độ luân canh đến khả năng gây hại của bệnh
thán thư trên cây ớt Red chilli F1 vụ thu đông 2013 tại xã
Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ,Thái Bình 37
4.5 Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến khả năng gây hại của bệnh
thán thư trên cây ớt Chỉ thiên vụ thu đông năm 2013 tại Quỳnh
Phụ, Thái Bình 39
4.6 Tản nấm Colletotrichum gloeosporioides trên môi trường PDA
sau 9 ngày cấy 41
4.7 Bào tử nấm Colletotrichum gloeosporioides 41
4.8 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm
C. gloeosporioides 43
4.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của nấm
C. gloeosporioides trên môi trường PGA 45
4.10 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng nảy mầm của bào tử nấm
C. gloeosporioides 47
4.11 Ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của nấm C. gloeosporioides
trên môi trường PGA 48
4.12 Hiệu quả phòng trừ của SA, CuCl2 đến chiều dài vết bệnh thán
thư trên lá và quả ớt trong điều kiện có sát thương 54
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page x
4.13 Hiệu quả phòng trừ của SA, CuCl2 đến chiều dài vết bệnh thán
thư trên lá và quả ớt trong điều kiện không sát thương 55
4.14 Ảnh hưởng của chất kích kháng đến bệnh thán thư ớt trên giống
Red - chilli tại Quỳnh Phụ - Thái Bình vụ thu đông 2013 57
4.15 Hiệu lực phòng trừ bệnh thán thư hại ớt ngoài đồng ruộng bằng
thuốc hóa học 60
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ớt có tên khoa học Capsium frutescens L; Capsium annuum L. thuộc
chi Capsicum, thuộc họ cà (Solanaceae) có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Có hai
nhóm phổ biến là ớt cay (Capsicum annuum L.) và ớt ngọt (Capsicum
annuum var. grossum).
Ớt vừa là một loại rau vừa là một loại gia vị. Ớt đã là một phần trong ẩm
thực của loài người ít nhất là 7500 năm trước Công nguyên. Trong quả ớt
chứa nhiều chất hoá học bao gồm chất dầu dễ bay hơi, dầu béo, capsaicinoit,
carotenoit, vitamin, protein, chất sợi và các nguyên tố khoáng chất. Nhiều
thành phần trong quả ớt có giá trị dinh dưỡng quan trọng, làm gia vị, mùi
thơm và màu sắc. Quả ớt giúp làm giảm nhiễm sạ và cholesterol, giàu vitamin
A và C, nhiều khoáng kali, axit folic và vitamin E. Hai nhóm chất hoá học
quan trọng trong ớt là capsaicinoit và carotenoit. Capsaicinoit là alkaloit tạo ra
vị cay cho quả ớt. Capsaicin (C
9
H
14
O
2
) có công dụng trị bệnh được dùng
nhiều trong y học. Theo các nhà khoa học Trung Quốc, capsaicin có tác dụng
kích thích não bộ sản xuất ra chất endorphin, một chất morphin nội sinh có
đặc tính như thuốc giảm đau, đặc biệt có ích cho những bệnh nhân vị viêm
khớp mạn tính và các bệnh ung thư.
Ở Việt Nam ớt được sử dụng như một loại gia vị phổ biến, những năm
gần đây ớt được coi là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Diện tích trồng ớt cay ở
các vùng trồng ớt trong cả nước vào khoảng 3000 ha, năm cao nhất (1998) lên
tới 5700ha. Vùng trồng ớt chuyên canh tập trung chủ yếu ở khu vực miền
trung: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Sản phẩm ớt bột hiện đứng
vị trí thứ nhất trong mặt hàng rau - gia vị xuất khẩu. Khác với các loại rau
khác, quả ớt có thể thu hoạch nhiều lần, sơ chế hay chế biến đơn giản (phơi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
khô, bột, tương…), với đặc điểm này cây ớt khắc phục được tính rủi ro của thị
trường, giữ giá cả ổn định, đảm bảo được lợi ích cho người sản xuất. Do giá
trị to lớn mà cây ớt mang lại, hiện nay diện tích trồng ớt không những ở phía
Nam mà đã được mở rộng ra các tỉnh thuộc khu vực phía Bắc: Hải Dương,
Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Giang, Hưng Yên
Hiện nay, trình độ thâm canh về cây ớt của người dân đã được tăng lên
đáng kể, nhiều giống mới được đưa vào sản xuất nhằm mục tiêu tăng năng
suất. Tuy nhiên việc thâm canh cao, cùng với sản xuất đại trà theo hướng hàng
hóa cũng góp phần làm gia tăng sự phát triển của các loại dịch hại trên cây ớt.
Theo thông tin từ Chi cục bảo vệ thực vật Thái Bình cho biết ngoài các
loại sâu bệnh gây hại thì bệnh thán thư là đối tượng gây hại nặng trên cây ớt.
Bệnh thán thư (còn gọi là bệnh nổ trái) do nấm Colletotrichum spp. gây nên,
đây là bệnh hại nguy hiểm, gây thối quả ớt hàng loạt làm ảnh hưởng trực tiếp
đến năng suất và chất lượng quả ớt. Tuy nhiên công tác phòng trừ bệnh thán
thư ớt tại vùng chưa mang lại hiệu quả do những hiểu biết của người trồng ớt
còn hạn chế.
Xuất phát từ thực trạng tác hại của bệnh thán thư gây ra trên cây ớt và những
khó khăn trong công tác phòng trừ bệnh, được sự phân công của Bộ môn Bệnh
cây - Khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, dưới sự hướng dẫn
của TS. Trần Nguyễn Hà chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh
thán thư hại quả ớt (Colletotrichum spp.) và biện pháp phòng trừ tại
Quỳnh Phụ - Thái Bình”.
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Điều tra, xác định thành phần bệnh nấm hại ớt tại Quỳnh phụ – Thái
Bình. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm C. gloeosporioides gây bệnh
thán thư hại ớt và khảo sát biện pháp phòng trừ ngoài ruộng sản xuất tại Quỳnh
phụ – Thái Bình năm 2013 - 2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
1.2.2. Yêu cầu
- Xác định thành phần bệnh nấm gây hại ớt trồng tại Quỳnh Phụ - Thái
Bình vụ thu đông và vụ xuân hè 2013 – 2014.
- Điều tra diễn biến bệnh thán thư gây hại ớt trồng tại Quỳnh phụ – Thái
Bình vụ thu đông và vụ xuân hè 2013 – 2014.
- Áp dụng biện pháp kỹ thuật và sử dụng chất kích kháng phòng trừ nấm
C. gloeosporioides gây bệnh thán thư ớt tại Quỳnh Phụ – Thái Bình vụ thu
đông 2013.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm C. gloeosporioides gây bệnh
thán thư ớt.
- Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh thán thư hại ớt bằng biện pháp hóa
học ngoài đồng ruộng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những nghiên cứu ngoài nước
2.1.1. Nghiên cứu về thành phần bệnh nấm hại ớt
Theo Ken Pernezny và Tim Momol (2006) bệnh nấm gây hại trên cây ớt
gồm có: Bệnh chết rạp cây con (do nấm Pythium spp và Rhizoctonia solani):
Cây con trồng từ hạt khi bị nhiễm nấm sẽ xuất hiện vết chết hoại ở trụ lá mầm
và cổ rễ và làm cho cây đổ gập xuống và chết. Bệnh chết rạp do nấm Pythium
spp gây hại khá phổ biến ở Nam Florida gây chết cây con ngay từ đầu vụ;
Bệnh đốm trắng lá (Cercospora capsici): Vết đốm trên lá có hình tròn thô
giáp, ở giữa vết bệnh có màu nâu vàng nhạt tới trắng và có viền màu nâu đen.
Bệnh đốm trắng lá gây hại nặng là nguyên nhân gây rụng lá và làm giảm năng
suất ruộng ớt; Bệnh đốm xám lá (Stemphylium solani): Vết đốm trên lá có
dạng gần giống hình tròn, các vết đốm ban đầu có màu nâu sau chuyển sang
màu nâu sáng tới sáng trắng với thương tổn bị lõm ở giữa vết bệnh và viền vết
bệnh có màu nâu tới đo đỏ. Các vết đốm có thể xuất hiện trên thân, cuống lá
hoặc cuống quả nhưng không xuất hiện trên quả và cánh hoa. Bệnh đốm xám
lá rất hiếm thấy ở Florida; Bệnh sương mai do nấm Phytophthora capsici là
một bệnh phổ biến và hại nghiêm trọng ở Floria. Bệnh có thể xâm nhiễm vào
các bộ phận khác nhau trên cây ớt. Bệnh làm chết cây con cũng như thối rễ,
thối thân, héo lá và thối quả ớt. Sự lây nhiễm của bệnh lên thân qua tiếp xúc
với đất là phổ biến. Cây trồng bị nhiễm bệnh héo và chết ngay sau đó. Vết
bệnh ban đầu trên lá, thân và quả màu xanh tối và sũng nước nhưng chuyển
sang màu nâu khi cây chết. Giai đoạn cây ớt ra hoa bị nhiễm nấm, toàn bộ các
cành có thể bị nhiễm bệnh. Các vết đốm nhỏ trên lá có dạng hình tròn tới hình
không xác định có thể liên kết với nhau gây cháy lá; Bệnh héo rũ gốc mốc
trắng (Sclerotium rolfsii): Bệnh gây hại trong điều kiện thời tiết ấm và ẩm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
ướt. Cây trồng bị nhiễm bệnh thường bị héo do rễ và thân bị chết. Trong điều
kiện thời tiết có ẩm độ cao, sợi nấm trắng xuất hiện trên thân ở vị trí tiếp ráp
với mặt đất. Nhiều hạch nấm nhỏ xuất hiện trên hệ sợi nấm, ban đầu hạch
nấm có màu trắng sau chuyển sang màu nâu (Ken Pernezny và Tim Momol
,2006). Bệnh thối hạch do nấm Sclerotinia sclerotiorium gây hại nặng trên
cây ớt những năm có điều kiện thời tiết mát mẻ, mùa đông ẩm ướt và đặc biệt
những cánh đồng ớt có trồng các cây trồng mẫn cảm với bệnh. Nấm thường
xâm nhiễm lên thân từ phần thân, cuống lá và đôi khi cả trên quả khi các bộ
phận này tiếp xúc với bề mặt đất. Sự lây nhiễm nấm xung quanh thân thường
là nguyên nhân làm cây héo và chết. Khi điều kiện thời tiết có ẩm độ cao sợi
nấm trắng thường xuất hiện nhiều trên bề mặt thân thậm trí lên cả mặt đất
xung quanh thân (Ken Pernezny và Tim Momol ,2006).
Theo Thomas A. Zitter (1989) bệnh do nấm và lớp phụ nấm gây nên trên
cây ớt gồm: Bệnh thán thư, bệnh đốm lá, bệnh đen rễ, bệnh héo Fusarium,
bệnh đốm xám lá, bệnh mốc xám, bệnh mốc trắng, bệnh sương mai, bệnh
phấn trắng.
Bệnh sương mai xuất hiện rải rác ở New York hơn 40 năm nay và gây
thiệt hại nghiêm trọng ở New Jersey, California, New Mixico và Floria. Các
cây trồng khác ở New York bị nhiễm nấm Phytophthora capsici bao gồm các
cây họ cà như: cây cà chua, cây bí hè, bí đông và bí ngô, cây dưa chuột, dưa
hấu và dưa bở ruột xanh; Bệnh héo Fusarium là một bệnh nấm gây hại trên cà
chua, khoai tây, cây họ cà và cây ớt, bệnh được tìm thấy ở khắp nơi của nước
Mỹ. Nấm bệnh (Fusarium oxysporum) xâm nhiễm qua rễ vào cây và phát
triển trong cây cản trở sự vận chuyển nước trong cây làm lá bị héo vàng.
Triệu chứng của bệnh thường xuất hiện muộn thông qua hiện tượng các lá già
bị rụng. Tiếp theo là sự lây nhiễm nấm sang các lá non và cuối cùng là cây bị
chết. Trong nhiều trường hợp, chỉ có một cành hoặc một phần của cây có triệu
chứng héo (Thomas A. Zitter, 1989).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
2.1.2. Nghiên cứu về các loài nấm Colletotrichum sp gây bệnh thán thư ớt
Bệnh thán thư do các loài Colletotrichum gây nên thuộc Giới Nấm;
Ngành Ascomycota; Lớp Deuteromycetes; bộ Melanconiales, họ
Melanconiaceae. Giai đoạn hữu tính là Glomerella. Bệnh thán thư ớt được
Halsted báo cáo đầu tiên tại New Jersey, USA vào năm 1980, Halsted đã mô
tả các tác nhân gây ra là Gloeopsorium piperatum và Colletotrichum nigrum.
Arx (1957) xem sự phân loại học này lúc đó như là tương đồng với C.
gloeosporioides (Halsted, 1890).
Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gây ra là một trong số những bệnh
có ý nghĩa kinh tế quan trọng nhất làm giảm năng suất từ 10 đến 80% ở một
số quốc gia đang phát triển, đặc biệt là Thái Lan. Bệnh thán thư gây hại chủ
yếu trên quả ớt chín, gây thiệt hại nghiêm trọng cho quả ớt cả trước và sau khi
thu hoạch (Poonpolgul and Kumphai, 2007).
Bệnh thán thư trên ớt đã được nghiên cứu là do các loài nấm
Colletotrichum gây ra bào gồm nấm C. acutatum (Simmonds), Colletotrichum
capsici (Syd.) Butler và Bisby, C. gloeosporioides (Penz.) Penz. và Sacc., và
C. coccodes (Simmonds, 1965; Sharma et al.,2005).
Theo Park và Kim xác định các loài gây bệnh thán thư trên ớt ở Hàn
Quốc là C. gloeosporioides ; C. acutatum ; C. coccodes ; C. dematium ;
Glomerella cingulata. Trong đó loài C. gloeosporioides là phổ biến hơn.
(Park và Kim, 1989).
Sự xâm nhiễm ban đầu bởi các loài nấm Colletotrichum có liên quan đến
một loạt các quy trình bao gồm sự tiếp xúc bào tử nên bề mặt cây trồng, sự
nảy mầm của bào tử, sự hình thành giác bám, sự xâm nhập vào biểu bì của
cây, sự phát triển và định vị vào mô cây và sự sản sinh ra đĩa cành và bào tử
phân sinh.
Trong hệ thống phân loại bệnh học chi Colletotrichum, Freeman et al
chỉ ra rằng các loài Colletotrichum khác nhau có thể kết hợp gây ra bệnh thán
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
thư trên cùng cây ký chủ. Các loài Colletotrichum gây nên bệnh thán thư trên
ớt ở các quốc gia, các vùng khác nhau là khác nhau. Mặc dù nghiên cứu về
các loài đã thu được nhiều kết quả được ghi nhận trong các báo cáo song vẫn
còn nhiều điều cần được nghiên cứu thêm để biết về quá trình lây bệnh và về
mối quan hệ phức hợp liên quan giữa các loài (Freeman et al, 1998).
Nấm C. coccodes gây bệnh thán thư trên lá cây ớt con được trồng trên
đồng ruộng lần đầu tiên được Hong và Hwang báo cáo ở tỉnh Chungnam Hàn
Quốc vào năm 1988 (Hong và Hwang, 1998). Cũng theo Hong và Hwang
năm 1998 và Kim et al vào năm 1999 các loài Colletotrichum khác nhau cũng
có thể hiện vai trò quan trong khác nhau trong các giai đoạn quả chín khác
nhau. Ví dụ, nấm Colletotrichum capsici phổ biến trên quả ớt đỏ, nhưng
ngược lại nấm C. acutatum và C. gloeosporioides được xem là phổ biến trên
cả quả xanh non và chín. Nấm C. coccodes gây bệnh thán thư không được
xem là bệnh nguy hiểm trên quả ớt (Hong và Hwang, 1998).
2.1.3. Nghiên cứu về nấm C. gloeosporioides
2.1.3.1. Sự phân bố và phạm vi ký chủ của nấm C. gloeosporioides
Theo K.D. Kim và ctv nấm C. gloeosporioides được biết đến là nguyên
nhân gây bệnh thán thư trên nhiều loại cây trồng. Isolated của nấm
Colletotrichum gloesporioides từ các ký chủ khác nhau là không có tính đặc
trưng rõ ràng theo từng cây ký chủ (Kim và ctv, 1989). Phạm vi ký chủ của
nấm có khoảng 70 loại cây trồng khác nhau bao gồm các ký chủ chính như :
Đay (Corchorus), đậu Lupins (Luinus spp.), điều (Anacadium occidentale),
đu đủ, bông, bơ, bưởi, cà chua, cà phê, cam, chanh, cao su, phong lan và các
ký chủ phụ khác như các loại đậu, bí ngô, dưa, vải (Kim và ctv, 1989).
Theo số liệu của CABI thì nấm C. gloeosporioides gây hại trên hầu
hết các loại cây trồng ở 47 nước trên thế giới, đặc biệt phổ biến ở vùng
nhiệt đới và vùng á nhiệt đới (CABI, 2003). Ở vùng nhiệt đới giai đoạn
tồn tại chủ yếu của nấm C. gloeosporioides là sống hoại sinh trên mô chết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
hoặc những tàn dư của cây trồng (CABI, 2003).
2.1.3.2. Đặc điểm hình thái và sinh học của nấm C. gloeosporioides
Nấm C. gloeosporioides sinh trưởng phát triển và hình thành bào tử
thuận lợi trên môi trường PDA và môi trường tổng hợp (CABI, 2003).
Trên môi trường PDA, tản nấm có màu trắng xám nhạt đến màu xám
đậm. Ở một số mẫu phân lập sợi nấm ký sinh chỉ hình thành những chòm liên
quan đến sự hình thành quả thể và quả thể đôi khi hình thành trên tản nấm
non phổ biến hơn so với tản nấm già (CABI, 2003).
Quả thể mở hình thành trên các bộ phận khác nhau của cây trồng, mọc
riêng rẽ hoặc từng đám hình cầu hay hình quả lê, kích thước đường kính 85 -
80 µm. Bên trong quả thể có các túi bào tử nằm rải rác, xen kẽ với các sợi
nấm vô tính, thường có 8 bào tử túi. Bào tử túi hình trụ hoặc hình chuỳ, kích
thước 8 - 80 x 8 - 14 µm(CABI, 2003).
Đĩa cành hình thành trên các bộ phận của cây, có lông cứng dài, màu
nâu, thuôn về phía đỉnh, hơi phồng nhẹ ở phần gốc, kích thước chiều dài
khoảng 500 µm, đường kính 4 - 8 µm, có từ 1 - 4 vách ngăn (CABI, 2003).
Bào tử phân sinh hình thành trên cành bào tử ngắn, hẹp, trong suốt, hình
trụ, đầu hơi tù, đỉnh tròn, không có vách ngăn, kích thước từ 9 - 24 x 3 - 6
µm. Trên môi trường nhân tạo PDA, kích thước và hình dạng của bào tử có
thể thay đổi so với trên cây ký chủ. Khối bào tử màu hồng nhạt được hình
thành trên cành bào tử phân sinh. Bào tử nảy mầm và hình thành giác bám
màu nâu, hình ô van hoặc hình quả đấm, kích thước 6 - 20 x 4 - 12 µm
(CABI, 2003).
Nấm có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 4
o
C nhưng nhiệt độ thích hợp nhất
cho nấm phát triển là từ 25 - 29
o
C và ẩm độ gần 100%, trong điều kiện này
nấm gây hại nghiêm trọng nhất (Mordue, 1971 (CABI, 2003).
Theo các nghiên cứu của CABI nấm C. gloeosporioides bảo tồn dưới
nhiều dạng khác nhau: tồn tại trong hạt, trên tàn dư của cây trồng và trên cây
ký chủ. Chúng phát tán nguồn bệnh nhờ mưa và nước tưới, có mối tương quan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
giữa lượng mưa, thời gian mưa với khả năng lây nhiễm của nấm, từ đó dẫn đến
mức độ gây hại khác nhau (CABI, 2003).
2.1.3.3. Đặc điểm phát sinh phát triển và gây hại của nấm C. gloeosporioides
gây bệnh thán thư ớt
Theo Kim B.S; H.K. Park, W.S. Lee (1989) nấm C. gloeosporioides,
Colletotrichum capsici và Glomerella cingulata là tác nhân gây bệnh loét trên
quả ớt xanh và quả ớt chín (Capsicum annuum L.) tại Đài Loan, trong đó loài
nấm C. gloeosporioides là có ý nghĩa nhất (Kim và ctv, 1989).
Trong các tác nhân gây bệnh thán thư trên ớt, thì nấm C.
gloeosporioides là loài phổ biến nhất trong các loài C.acutatum, C. coccodes,
C. dematium, C. gloeosporioides và Glomerella cingulata (Kim và ctv, 1989).
Một Isolate của C. gloeosporioides thu được thể hiện triệu chứng loét điển
hình chỉ có ở trên quả ớt xanh. Khi quan sát dưới kính hiển vi tác giả thấy
rằng sự xâm lấn của nấm ở Isolate vào trong thành tế bào thông qua lớp biểu
bì chỉ xảy ra trên những quả ớt xanh mà không xảy ra trên những quả ớt chín.
(Kim và ctv, 1989). Bởi vậy, dựa vào đặc tính này để nghiên cứu, kiểm soát
và đánh giá sự phát triển của bệnh loét trên quả ớt xanh và quả ớt chín khi đã
phân lập được nấm C. gloeosporioides từ quả ớt xanh. Thí nghiệm kiểm tra sự
nảy mầm của bào tử, sự hình thành giác bám và sự hình thành vết bệnh trên
quả bằng quá trình lây bệnh nhân tạo trên những quả ớt xanh và ớt chín sạch
bệnh. Sau khi thu mẫu, tác giả đã phân lập trên môi trường WA và cấy trên
môi trường PDA, lấy 1 bào tử của mẫu đã phân lập và cấy trên môi trường
PDA trong 5 ngày ở nhiệt độ 28
o
C, hoà môi trường với 10 ml nước cất vô
trùng, bào tử được lấy bằng cách lọc dịch chiết qua 4 lớp của miếng lọc vô
trùng để loại bỏ những mảnh vỡ vụn, bào tử được rửa 3 lần dưới nước cất vô
trùng bằng máy li tâm và được điều chỉnh đến tỷ lệ là 1 x 10
6
bào tử /1ml
nước cất vô trùng. Quả ớt đem lây bệnh được xử lý trong 10% Clorox
R
trong
3 phút, rửa bằng nước cất vô trùng một vài lần và thấm khô bằng khăn giấy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
vô trùng. Quả ớt cho lây nhiễm có thể tạo vết thương hoặc không và được để
trong hộp plastic có kích thước là 25 x 16 x 6cm với tấm che có mắt lưới, ở
dưới có lót 4 lớp khăn giấy với 100ml nước cất vô trùng để đảm bảo 100% độ
ẩm (Kim và ctv, 1989). Quả ớt được đánh dấu rõ ràng trên giữa quả và châm
kim khi muốn lây nhiễm trên quả có thương tổn nhân tạo. Khoảng 20µl dịch
bào tử được nhỏ xuống gần chỗ đánh dấu. Quả ớt đối chứng được nhỏ 20µl
nước cất vô trùng. Những hộp đó được để trong bóng tối ở 28
o
C. Nắp hộp
được bỏ ra sau khi lây nhiễm 48h (HAI). Sau đó để quả ớt ủ bệnh thêm 7
ngày dưới điều kiện tương tự cho đến lúc đánh giá. Kết quả thí nghiệm cho
thấy trên quả ớt xanh (cả ở quả không gây sát thương và quả có gây sát
thương) xuất hiện triệu chứng loét và lõm trên quả và xuất hiện trên quả ớt
chín khi được gây sát thương nhưng lại không xuất hiện ở quả ớt chín mà
không gây sát thương (Kim và ctv, 1989). Vết bệnh trên quả ớt xanh nhiều và
dài hơn so với trên quả ớt chín. Khi lớp biểu bì bên ngoài cùng của vỏ quả ớt
xanh và quả ớt chín bị loại đi bằng cách ngâm quả vào dung dịch Chloroform,
thì chỉ có quả ớt chín xuất hiện vết bệnh rộng và có nhiều bào tử phân sinh
hơn. Thêm vào đó, sự hiện diện của lớp biểu bì trên bề mặt quả ớt xanh và ớt
chín ảnh hưởng tới sự nảy mầm của bào tử và sự hình thành giác bám của
nấm (Kim và ctv, 1989).
Theo Kim B. S; H.K. Park & W. S. Lee (1989) cho rằng bệnh thán thư
là một nhân tố hạn chế sản lượng ớt ở hầu khắp các vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới. Năng suất quả ớt có thể bị mất tới hơn 50%. Bệnh này gây hại
chính trên quả đã chín, tuy nhiên bệnh cũng làm chết thui ở chồi, ngọn, gây
đốm lá và quả xanh cũng có thể bị hại. Nấm gây bệnh tồn tại trong hạt giống.
Nếu nguồn bệnh sơ cấp tồn tại ở trong hạt giống, sau đó gặp điều kiện ẩm ướt
thì nảy mầm và bệnh thứ cấp ở cây con tiếp tục tiềm tàng trong cây (Kim và
ctv, 1989). Triệu chứng điển hình trên vỏ quả là những đốm lõm tròn màu đen
trên cả quả xanh lẫn quả đã chín và sinh bào tử ngay dưới vết bệnh trong điều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
kiện ẩm ướt, thường thấy những vòng tròn đồng tâm chứa khối bào tử. Khi
vết bệnh phát triển, nấm sản sinh ra bào tử trong vòng 3 đến 5 ngày ở 6
o
C và
độ ẩm tương đối 90% (Kim và ctv, 1989). 5 loài trong chi Colletotrichum bao
gồm: Colletotrichum capsici, C. acutatum, C. cococdes, C. gloeosporioides,
C. graminicola được báo cáo là gây ra bệnh thán thư trên ớt. Các loài khác
nhau gây thán thư trên ớt có thể gây bệnh trên nhiều vụ và tồn tại trong hạt
giống, tàn dư mô bệnh, ký chủ luân phiên hoặc tồn tại trong đất (Kim và ctv,
1989).
2.1.4. Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh thán thư do nấm
Colletotrichum sp
Tác giả Agrios đưa ra kỹ thuật quản lý tổng hợp, không một chương
trình quản lý riêng biệt nào có thể loại trừ được bệnh thán thư ớt. Hiệu quả
của việc kiểm soát bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gây ra thường liên
quan đến việc kết hợp sử dụng giống kháng, biện pháp canh tác, sinh học, hoá
học (Agrios, 2005).
+ Biện pháp sử dụng giống chống chịu bệnh
Nhiều thực nghiệm của Agrios nhận thấy sử dụng các loại giống kháng
làm giảm mức độ nhiễm bệnh thán thư và giảm chi phí về máy móc và thuốc
hoá học trong phòng trừ bệnh. Có một số giống được ghi nhận kháng bệnh
thán thư là C. chinense Accs. 1555, 1554, 906. Tính chống bệnh thán thư là
trội và do vài gen quy định (Agrios, 2005).
Tại trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu Á nghiên cứu tính
chống bệnh thán thư của 8 giống ớt, kết luận rằng giống PBC 495 có khả năng
kháng bệnh thán thư. Giống có biểu bì dày thì giảm tốc độ phát triển của nấm
bệnh (Agrios, 2005).
Ở Phillipin bệnh thán thư xuất hiện ở 13/19 tỉnh trồng ớt. Trong 71 dòng
ớt thí nghiệm có dòng A-148 và CO1172 kháng bệnh thán thư. Kết quả
nghiên cứu giống chống bệnh thán thư ở Thái Lan cho thấy có hai giống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
CASOO và CA 446 kháng bệnh cao.
Một số dòng C. baccatum kháng mạnh với mầm bệnh và kết quả lây nhiễm
bệnh không thể hiện hoặc vết thương bị giới hạn trên quả ớt (Yoon, 2003). Tuy
nhiên, tới ngày nay chưa có tính kháng mạnh trong dòng ớt Capsicum annuum là
loài duy nhất được trồng rộng khắp trên thế giới (Park, 2007).
+ Biện pháp canh tác
Theo Roberts ruộng trồng ớt đã nhiễm bệnh thán thư từ vụ trước nên
tránh trồng cây họ cà ít nhất là 2 năm (Roberts et al., 2001). Thực hành vệ
sinh đồng ruộng bao gồm kiểm soát cỏ dại và các cây ớt dại. Lựa chon các
giống ớt chín nhanh để tránh sự xâm nhiễm bởi các loài nấm. Hạn chế vết
thương tổn trên quả do côn trùng hoặc các loài khác để giảm nguy cơ lây
nhiễm của các loài nấm Colletotrichum spp và các vi khuẩn gây thối rữa khác.
Đến cuối vụ các tàn dư cây trồng bị nhiễm bệnh trên đồng ruộng cần mang
khỏi đồng ruộng hoặc bị chôn vùi kết hợp với bón cân đối Đạm – Lân – Ka ly
và bổ sung các chất hỗ trợ (Roberts et al., 2001).
+ Biên pháp hoá học
Theo Padaganur và Naik (1991) nấm bệnh thán thư tồn tại bên ngoài hạt
giống do vậy dễ bị ảnh hưởng bởi thuốc hoá học nhưng không phải lúc nào
việc xử lý hoá chất cũng mang lại hiệu quả [16]. Hơn nữa, cũng theo Staub
(1991) cho rằng, nếu sử dụng đơn lẻ một loại thuốc kéo dài, tính chống thuốc
của nấm gây bệnh thán thư sẽ hình hành (Staub, 1991). Một số loài nấm
Colletotrichum còn có phản ứng khác nhau trước các biện pháp phòng trừ, ví
dụ loài C. acutatum ít mẫn cảm với thuốc trừ nấm benzimidazole, trong khi
loài C. gloeosporioides mẫn cảm cao với hoạt chất này. Vì vậy, việc xác định
đúng loài nấm sẽ giúp cho việc quản lý bệnh hiệu quả hơn (Staub, 1991).
Trên thực tế, đối với các bệnh do nấm gây ra nói chung và bệnh do các loài
nấm Colletotrichum gây ra nói riêng, biện pháp hoá học vẫn đóng vai trò cần
thiết. Theo CABI thuốc có hợp chất gốc đồng, Benzamidazole,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Dithiocarbamates, Triazole và các thuốc trừ nấm như : Chlorothalonil,
Imazalil, Prochloraz có hiệu quả trừ nấm C. gloeosporioides do những nhóm
thuốc này có khả năng xâm nhập vào mô cây ngăn cản và phá huỷ sự xâm
nhiễm tiềm ẩn của nấm (CABI, 2003). Tuy nhiên, việc dùng Benzamidazole
liên tục có thể làm tăng khả năng kháng thuốc của nấm (Voorrips et al, 2004).
2.2. Những nghiên cứu trong nước
Theo Ngô Bích Hảo nguyên nhân gây bệnh thối quả ớt là do 2 loài nấm
Colletotrichum nigrum và Colletotrichum capsici. Bệnh thường xuất hiện và
gây hại nặng vào giai đoạn đang thu hoạch quả, nhiệt độ trung bình là 28 -
6
o
C, độ ẩm 85 - 90%, mưa nhiều (Ngô Thị Bích Hảo, 1991). Bệnh hại nặng
vào tháng 4, 5, 6 (TLB 80% - Huế), tháng 6,7,8 (TLB 20% - Hà Nội). Vào
thời điểm nhiệt độ 20
o
C bào tử nấm nảy mầm với tốc độ nhanh. Khả năng
nhiễm bệnh của Isolate Colletotrichum nigrum trên giống ớt Chìa vôi Huế là
rất mạnh. Các Isolate nấm ở các vùng sinh thái khác nhau có khả năng nhiễm
bệnh khác nhau. Sự phân bố và mức độ gây hại của hai loài nấm C. nigrum và
Colletotrichum capsici có sự khác nhau (Ngô Thị Bích Hảo, 1991). Ở vùng
trồng ớt tỉnh Thừa Thiên Huế và Hà Nội, loài C. nigrum là phổ biến, ngược
lại ở Hải Dương, Hưng Yên, Hà Bắc loài Colletotrichum capsici phổ biến
hơn. Tuy nhiên, cả hai loài cùng phá hại mạnh vào cuối giai đoạn sinh trưởng
của ớt ở khắp các vùng trồng. Cây ớt đặc biệt mẫn cảm với bệnh giai đoạn
quả già và chín. Quả càng già tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao. Ở quả xanh tỷ lệ
nhiễm bệnh là 8,11%, quả ương là 23,9% và quả chín là 44,47%. Hai loài
nấm C. nigrum và Colletotrichum capsici phát triển tốt, khả năng hình thành
bào tử lớn nhất trên môi trường bán tổng hợp so với 2 loại môi trường là môi
trường Mactin và môi trường khoai tây. Ở mức nhiệt độ 6 - 8
0
C bào tử nảy
mầm với tỷ lệ cao nhất với cả hai loài nấm. Tuy nhiên ở mức nhiệt độ 18 -
20
0
C sau 48 giờ trên 50% số bào tử đã nảy mầm, đây chính là thời điểm cần
phòng trừ để ngăn chặn khả năng xâm nhiễm và truyền lan của bệnh trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
đồng ruộng. Bệnh gây hại nặng vào thời kỳ mưa nhiều và nhiệt độ cao nên
biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học ít có hiệu quả, cần áp dụng biện pháp
phòng trừ tổng hợp đối với bệnh này. Theo tác giả nấm Colletotrichum
nigrum và Coletotrichum capsici gây bệnh thán thư ớt có khả năng tồn tại trên
hạt giống sau 16 tháng bảo quản. Xử lý hạt giống bằng KMnO
4
hoặc nước
nóng 52
o
C có thể hạn chế được bệnh và làm tăng sức sống của cây con (Ngô
Thị Bích Hảo, 1991).
Theo Nguyễn Thanh Phong cho rằng trong vụ đông xuân và xuân hè năm
2010 - 2011, tại Thái Bình đã xác định có hai loài gây bệnh thán thư trên ớt đó
là loài Colletotrichum capsici và C. gloeosporioides. Cả hai loài này có thể xâm
nhiễm gây hại nhiều vị trí khác nhau của quả ớt, ở vị trí giữa quả được coi là
thuận lợi nhất cho nấm Colletotrichum sp xâm nhiễm và gây hại. Trong đó nấm
C. gloeosporioides xuất hiện và gây hại trên ớt phổ biến hơn loài
Colletotrichum capsici (Nguyễn Thanh Phong, 2011).
Theo Nguyễn Thúy Hạnh và CTV bệnh thán thư ớt do nấm
Colletotrichum spp hại phổ biến trên các vùng trồng ớt ở các tỉnh Hà Nội,
Vĩnh Phúc, Bắc Giang và Bắc Ninh. Trong đó đã xác định được hai loài nấm
gây hại chính là C. gloeosporioides và Colletotrichum acutatum, hai loài nấm
này gây hại trên tất cả các bộ phận của cây ớt nhưng xuất hiện gây hại nhiều
là trên quả ớt chín và loài nấm Colletotrichum acutatum gây hại phổ biến hơn
nhiều so với nấm C. gloeosporioides. Các loài nấm này phát triển tốt trên môi
trường PDA, ở nhiệt độ từ 25 – 6
o
C và pH từ 6-7 (Nguyễn Thúy Hạnh và ctv,
2014).
Theo Vũ Triệu Mân và CTV bệnh do hai loại nấm Colletotrichum
nigrum Ell et Hals và Colletotrichum capsici (Syd.) Butler và Bisby gây ra.
Hai loài nấm trên thường song song phá hại làm quả ớt bị thối nhanh chóng.
Đĩa cành của nấm C. nigrum đường kính từ 120 - 280 mm có nhiều lông
gai đen nhọn ở đỉnh, kích thước 55 - 190 x 6,5 - 65µm bào tử phân sinh hình
bầu dục hoặc hình trụ hai đầu tròn, không màu, đơn bào, kích thước 18 - 25 x