Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
A. NhËn thức cũ giải pháp cũ
I.
1.
Nhận thức cũ
Dạy kỹ năng nghe:
HiƯn nay trêng tiĨu häc cđa ta cßn coi nhĐ việc rèn luyện ngôn ngữ nói, do đó
tất yếu dẫn đến coi nhẹ kỹ năng nghe. Chơng trình Tiếng Việt hiện hành ở bậc học
này không có phần môn nào đặt trọng tâm kỹ năng nghe nh Tập đọc rèn luyện kỹ
năng đọc, Tập viết rèn kỹ năng viết, Kỹ năng nghe đ ợc rèn một cách tự phát qua
việc học các phần môn nh Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện,Đồng thời kỹ năng nghe
cũng không đợc xác định rõ mức độ cần đạt đợc qua từng lớp. Nhiều ngời đơn giản
trong suy nghĩ thờng cho rằng không cần dạy cho học sinh kỹ năng nghe với lập
luận sau :
- Ai nghe tiếng mẹ đẻ mà không hiểu?
Đó là một sù ngé nhËn. Bëi thùc tÕ, nhiỊu trêng hỵp nghe mà chỉ hiểu một phần
hoặc thậm chí không hiểu hoặc có hiểu thì không thấu đáo, đầy đủ, không hiểu hÕt
sù tinh vi, tinh tÕ cđa ngêi nãi. V× vËy mà nhà trờng cần rèn cho học sinh kỹ năng
nghe.
Nghe là một hoạt động nhận tin nhờ bộ máy thính giác. Trớc hết ngời nghe phải
nghe chính xác, đầy đủ thông báo; sau đó nhờ các hoạt động t duy mà hiểu đợc các
nội dung thông báo.
Có hai hình thức nghe:
- Nghe đối thoại ( trong giao tiếp hội thoại).
- Nghe độc thoai ( trong giao tiếp truyền, phát tin)
Ngời nghe đối thoại là ngời trong cuộc tham gia xác lập nội dung hội thoại.
Trong quá trình giao tiếp, luôn cã sù ®ỉi vai tõ ngêi nghe sang ngêi nãi hoặc ngợc
lại. Đề tài cuộc giao tiếp có thể đợc xác định trớc, cũng có khi tuỳ hứng của những
ngời tham gia, song nội dung luôn phát triển, biến đổi suốt cuộc hội thoại.
Ngời nghe độc thoại chỉ đóng vai trò là ngời nhận tin, không có sự chuyển vai
nh trong hội thoại. Nội dung của các cuộc độc thoại do ngời nói quy định, ngời
nghe không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung.
* Ưu điểm :
- Trong quá trình dạy giáo viên dễ truyền tải đầy ®đ néi dung bµi häc.
1
Cao Xuân Hùng Trờng tiểu học Diễn Kim
- Không cần chú trọng khai thác nội dung bài học do đó, có nhiều thời gian
và thời lợng để cung cấp kiến thức cho học sinh.
* Nhợc điểm :
- Giáo viên không luyện đợc cho học sinh kỹ năng nói và các tín hiệu phi
ngôn ngữ.
- Không phát huy đợc kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
- Mức độ nghe của học sinh bị hạn chế, nhiều khi nghe mà không hiểu hay
nghe mà thiếu phân tích.
2. Dạy kỹ năng nói :
Nói là hoạt động phát tin nhờ bộ máy phát âm. đầu tiên ngời nói phải xác định
nội dung lời nói, lựa chọn nội dung để diễn tả nội dung đó. Sau đó ngời nói sử dụng
bộ máy phát âm để truyền đi chuổi lời nói đà đợc xác định. Có 2 dạng nói: Độc
thoại và đối thoại. Mỗi dạng có đặc điểm riêng.
Thực tế giảng dạy ở các trờng tiểu học hiện nay đà có phần chú trọng đến cho
học sinh kỹ năng nói. Cụ thể là qua các bi häc nh TËp ®äc ®· rÌn cho häc sinh
nãi khi trả lời câu hỏi, kể lại câu chuyện; Chính tả cũng rèn kỹ năng nói, trong Tập
đọc còn rèn nói chính xác ở phần luyện đọc. Kể chuyện giáo viên cho học sinh
kể lại câu chuyện nh vậy đà rèn đợc kỹ năng nói cho học sinh
Nh vậy với quan điểm chỉ cần cho học sinh luyện nói theo chủ đề cho sẵn thì
học sinh nói đợc nh thế là đà đợc thành công.
* Ưu điểm :
- Giáo viên truyền tải đợc kỹ năng nói cho học sinh theo yêu cầu nội dung ở
sách giáo khoa.
- Phát huy và tập cho học sinh kỹ năng nói trớc đông ngời. Trình bày bằng lời
trớc sự chứng kiến của nhiều ngời.
* Tồn tại :
- Chỉ chú trọng đến kỹ năng nói ở dạng độc thoại mà không rèn kỹ năng đối
thoại.
- Ngời nói cha chú ý đến tác động bên ngoài để điều chỉnh lời nói của bản thân
.
2
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
- Lêi độc thoại thờng diễn ra liên tục. Do đó ngời nói ít có thời gian ngng nghỉ
để chuẩn bị .
II. Giải pháp cũ :
1. Dạy kỹ năng nghe: Có hai hình thức nghe :
a. Nghe đối thoại (trong giao tiếp hội thoại)
Ngời nghe đối thoại là ngời trong cuộc tham gia xác lập nội dung hội thoại.
Trong quá trình giao tiếp, luôn có sự thay đổi vai từ ngời nghe sang ngời nói hoặc
ngợc lại. Đề tài của cuộc hội thoại thờng đợc giáo viên xác định và cho trớc, cịng
cã khi tuy høng cđa häc sinh.
ë h×nh thøc nghe đối thoại thờng đợc giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi sau
đó ngời nghe phân tích và nhận xét. ở kỹ năng này còn đợc giáo viên luyện cho
học sinh nghe hiểu văn bản. Nghe để viết một đoạn hay bài Chính tả.
b. Nghe độc thoại :
Nghe độc thoại chỉ đóng vai trò nhận tin, không có sự chuyển đổi vai nh trong
hội thoại. Nội dung của cuộc độc thoại do ngời nói(giáo viên) quy định, ngời nghe(
học sinh hay häc sinh – häc sinh) kh«ng tham dù trực tiếp vào việc xác lập nội
dung.
ở kỹ năng nghe độc thoại thờng đợc giáo viên truyền tải học sinh nghe nh
ngời nhận tin, giáo viên đóng vai trò là ngời phát thanh viên. Kỹ năng này đợc giáo
viên luyện một cách đơn điệu trong các phân môn Kể chuyện, Chính tả ( nghe
viết),
* Ưu điểm :
- Đối với kỹ năng nghe đối thoại :
+ Giáo viên đạt đợc yêu cầu là truyền tải nội dung bài học.
+ Häc sinh chó ý nghe ®Ĩ tiÕp thu néi dung.
- Đối với kỹ năng nghe độc thoại :
+ Giáo viên khai thác đợc nội dung bài học thông qua nghe và trả lời câu hỏi.
+ Học sinh rèn đợc kỹ năng nghe giáo viên, bạn bè, bố mẹ hay ngời xung
quanh nói để chú ý lắng nghe.
* Nhợc điểm :
- Chỉ chú trọng hình thức nghe độc thoại và coi nhẹ hình thức nghe đối thoại.
3
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
- G©y cho học sinh nhiều thiệt thòi trong việc hoàn thiện năng lực sử dụng
Tiếng Việt .
2. Dạy kỹ năng nói : Có hai dạng nói : Đối thoại và độc thoại
a. ở dạng đối thoại :
Hiện nay ở trờng tiểu học kỹ năng nói đối thoại đợc thông qua các phân môn
nh trong Tập đọc, học sinh nghe nói cho bạn nghe. Phân môn Kể chuyện đợc
giáo viên tổ chức cho sắm vai để đối thoại.
b. ở dạng độc thoại :
Giáo viên hiện nay dạy kỹ năng độc thoại cho học sinh bằng cách học sinh
nghe giáo viên nói, đặt câu hỏi sau đó trả lời. Kỹ năng này giáo viên nói theo nội
dung có sẵn học sinh thông qua câu hỏi, tìm hiểu nội dung đà có và trả lời đối thoại
với giáo viên.
* Ưu điểm :
- Dạng đối thoại : Ngời đối thoại là ngời tham gia vào qúa trình xây dựng nội
dung và diễn biến cuộc hội thoại.
- Dạng độc thoại : Ngời độc thọai giữ vai trò chủ động khi đà có định hớng nội
dung của giáo viên.
* Nhợc điểm :
- Lời độc thoại diễn ra liên tục, do đó ngời nói ít có thời gian ngng nghỉ để
chuẩn bị.
- Cha chú ý đến kỹ năng đối thoại.
B. Nhận thức mới giải pháp mới
I. Nhận thức mới
Mục đích của việc dạy Tiếng Việt là giúp cho học sinh biết sử dụng thành thạo,
sinh động Tiếng Việt trong giao tiếp, sử dụng đúng và hay Tiếng Việt trong việc
sản sinh văn bản. Bài viết này tập trung vào vấn đề dạy các kỹ năng nghe, nói cho
học sinh bậc tiểu học đợc nâng cao hơn.
Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả là những phân môn của môn Tiếng Việt, có nhiều
điều kiện rèn kỹ năng nghe cho häc sinh. ChÝnh t¶ rÌn cho häc sinh nghe đúng,
nghe chính xác và nghe tinh tế để viết lại đúng, chính xác bài chính tả. Tập đọc rèn
4
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
cho häc sinh nghe đúng, nghe chính xác và nghe tinh tế ®Ĩ nhËn ra sù diƠn c¶m
trong giäng ®äc cđa ngêi đọc. Có lẽ, phân môn kể chuyện có u thế hơn cả trong
việc rèn luyện kỹ năng nghe. Học sinh không những đợc nghe đúng, chính xác mà
còn đợc rèn luyện khả năng thông hiểu nội dung câu chuyện để sau đó có khả năng
tái tạo lại câu chuyện đó.
II.
Giải pháp mới
1. Rèn kỹ năng nghe : Có thể rèn cho học sinh tiểu học theo các loại bài tập
sau :
Các bài tập rèn kỹ năng nghe cho học sinh
Bài tập
rèn các
khả năng
phân biệt
các âm
thanh
trong tự
nhiên
Bài tập
rèn các
khả năng
phân biệt
các âm
thanh
trong
Tiếng
Việt.
Bài tập
rèn khả
năng
nhận
biết các
kiểu câu
nhờ
phân
biệt ngữ
điệu.
Bài tập
rèn khả
năng ghi
nhớ và
ghi chép
nội dung
văn bản.
(a)
(b)
(c)
(d)
5
Bài tập
rèn khả
năng
thông
hiểu nội
dung
văn bản
vừa
nghe.
(e)
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
Cơ thĨ các loại bài tập trên đợc trình bày nh sau :
(a) - Bài tập rèn luyện khả năng phân biệt các âm thanh trong tự nhiên.
Trờng tiểu học của ta hầu nh không sử dụng loại bài tập này, song ở các nớc
trên thế giới, mở đầu cho lớp học đầu tiên bậc tiểu học (nh lớp 1 của ta) chỉ định
một số tiết học để thực hiện các bài tập phân biệt âm thanh trong tự nhiên. Loại bài
tập này nhằm rèn luyện sự tinh nhạy của đôi tai đối với các âm thanh( nhanh nhận
ra sự thay đổi của cao độ, trờng độ, cờng độ, âm sắc của từng loại âm thanh). Với
loại bài tập này có thể rèn luyện các bài cụ thể sau:
+ Nhận ra những âm thanh cụ thể trên cơ sở các âm thanh khác nhau hoặc
phân chia các âm nghe đợc thành từng nhóm.
+ Phân biệt các âm về cao độ (cao hay thấp), trờng độ (dài hay ngắn), cờng độ
(to hay nhỏ).
+ NhËn biÕt ý nghÜa cđa mét sè ©m thanh nghe đợc.
Ví dụ : Tiết học ngoài trời, học sinh nhận ra tiếng chim hót giữa các âm thanh
lẫn lộn ngoài thiên nhiên.
(b) - Bài tập rèn khả năng phân biệt các âm thanh trong Tiếng Việt
Loại bài tập này đợc dùng trong các giờ học âm, học vần, giờ chính tả so sánh.
(Khi làm bài tập phân biệt chính tả giữa các phụ âm đầu, vần, thanh, phụ âm cuối
do địa phơng phát âm sai so với âm chuẩn, ).Giúp học sinh sửa lỗi phát âm sai,
các lỗi chính tả đợc phát âm nhầm lẫn ở địa phơng.
Với loại bài tập này, giáo viên lần lợt đọc hoặc nói các cặp từ ngữ, các đoạn,
câu có chứa các âm, vần, thanh địa phơng thờng hay lẫn lộn hoặc cần học. Học sinh
nghe rồi đọc lại hoặc ghi ra giấy.
(c) Bài tập rèn khả năng nhận biết các kiểu câu nhờ phân biệt ngữ điệu.
Giáo viên đọc từng đoạn văn bản học sinh cha biết, chú ý đọc đúng ngữ điệu
các câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến có trong đoạn văn. Học sinh nghe và
nhận biết từng loại câu. Ngoài ra, có thể sử dụng hình thức trò chơi sắm vai, đóng
kịch, để học sinh nghe và phân biệt ngữ điệu các kiểu câu.
(d) Bài tập rèn khả năng ghi nhớ và ghi chép nội dung văn bản vừa nghe.
6
Cao Xuân Hùng Trờng tiểu học Diễn Kim
Giáo viên đọc một đến hai lần một văn bản (cụ thể là một câu chuyện, một bản
tin, một văn bản hành chính,) mà học sinh ch a đọc, học sinh chú ý nghe rồi làm
các bài tập với nhiều mức độ nh :
+ Kể lại nhân vật, thời gian, không gian xảy ra câu chuyện hoặc sự kiện.
+ Kể lại hay viÕt c¸c chi tiÕt chÝnh, c¸c sù kiƯn quan träng, các tin tức chủ yếu
trong văn bản.
+ Ghi lại thành dàn bài các ý chính của văn bản.
+ Vừa nghe, vừa tập ghi các chi tiết của văn bản.
(e) Bài tập rèn khả năng thông hiểu nội dung văn bản vừa nghe.
Giáo viên đọc một đến hai lần đoạn văn có tình tiết phức tạp, học sinh cha
biết. Học sinh nghe rồi làm các bài tập:
+ Nêu mối quan hệ giữu các sự kiên, tình tiết, các nhân vật, có trong văn
bản.
+ Nêu lên ý kiến đánh giá nhân vật hoặc sự kiện trong văn bản( ý kiến cần nên
ngắn gon, cô đọng).
2. Dạy kỹ năng nói :
Có hai dạng nói : Đối thoại và độc thoại .
- Đối thoại : Ngời đôí thoại là ngời tham gia vào quá trình xây dựng nội dung và
diễn biến cuộc hội thoại.
- Độc thoại : Ngời độc thoại thờng giữ vai trò chủ động trong việc lựa chọn nội
dung, định hớng nói, xác định phơng pháp nói. Độc thoại có 2 loại :
+ Độc thoại trực tiếp có sự hiển diện của ngời nghe (ví dụ : giáo viên giảng bài).
+ Độc thoại gián tiếp không có ngời nghe trớc mặt( ví dụ : các phát thanh viên
truyền thanh hay truyền hình).
So với kỹ năng nghe, trờng tiểu học của ta đà chú ý đến dạy kỹ năng nói cho
học sinh. Song chỉ chú ý đến khả năng độc thoại, bỏ qua khả năng đối thoại.
Trong chơng trình tiểu học sau này cần chú ý cân đối cho học sinh cả hai dạng
đối thoại và độc thoại. Việc rèn kỹ năng nói có thể tiến hành khi dạy các phân môn
học khác nh khi học sinh trả lời các câu hỏi do giáo viên nêu ra.
Có thể rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học theo các dạng bài tËp sau :
7
Cao Xuân Hùng Trờng tiểu học Diễn Kim
Bài tập rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học
Bài tập
luyện
phát
âm
theo
chuẩn.
Bài tập
tình
huống.
Bài tập
ngâm
thơ,
học
thuộc
lòng
Bài tập
luyện cách
nói dựa theo
câu hỏi định
hớng hoặc
trả lời câu
hỏi.
Bài tập
luyện
cách
nói
theo
dàn
bài.
(a)
(b)
(c)
(d)
(e)
Bài tập
rèn kỹ
năng
hội
thoại.
(g)
Bài tập
kể
chuyện
(h)
Các bài tập đợc trình bày có nội dung nh sau :
(a) Bài tập luyện phát âm theo chuẩn :
Hiện nay, loại bài tập này ít đợc sử dụng. Với dạng bài tập này giáo viên lựa
chọn các loại âm, vần địa phơng thờng phát âm sai chuẩn xây dựng thành câu hoặc
đoạn bắt học sinh nói đi, nói lại nhiều lần các âm vần đoạn đó. Điều quan trong là
cần có ngời nói mẫu đúng chuÈn.
8
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
VÝ dơ : Để chữa các bài tập phát âm sai l/n cho học sinh tập nói các câu con
lơn nó lợn trong lọ , cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc .
(b) Bài tập tình huống : Cho học sinh sắm vai, đóng kịch .
Bài tập này nhằm luyện tập các nghi thức lời nói và phát triển ngôn ngữ nói. ở
lớp 1, lớp 2 học sinh tập trung theo từng nhóm chơi đóng vai (ví dụ : ông già và
các cháu nhỏ; ngời bán hàng và ngời mua hàng) để luyện tập các nghi thức lời
nói (chào hỏi khi gặp mặt, chia tay, nói lời cảm ơn, xin lỗi; yêu cầu đề nghị một
việc gì đó). Hoạt động này là một cách phát triển ngôn ngữ qua hình thức vừa
chơi, vừa học, vừa phát triển ngôn ngữ nói, vừa giáo dục tác phong văn minh, lịch
sự,
ở các lớp lớn hơn, có thể ra các bài tập tình huống giao tiếp phức tạp hơn
(tặng quà, mừng sinh nhật, mời tham dự hoạt động). Học sinh sẽ trình bày các
ứng xử bằng ngôn ngữ hành động.
Hai loại bài tập trên hầu nh cha đợc ứng dụng ở trờng tiểu học của ta song ở
các nớc khác lại thực hiện nhiều. Với loại bài tập này, hình thức tổ chức học tập sẽ
thay đổi. Bên cạnh tổ chức học theo líp cßn tỉ chøc häc theo nhãm nhá, theo cá
nhân, học trong lớp và học ngoài trời.
(c) Bài tập ngâm thơ - học thuộc lòng .
Bài học thuộc lòng tháng nào cũng có và cũng đợc kiểm tra. Bởi vậy, giáo viên
cần chú ý yêu cầu học sinh không những đọc thuộc bài thơ, bài văn mà có ngữ
điệu, giọng đọc, cách ngắt nghỉ phù hợp với thể thơ, với nội dung bài thơ, câu thơ,
bài văn, câu văn.
ở trờng tiểu học của ta hiện nay chỉ sử dụng hình thức ngâm thơ khi nào ngẫu
nhiên cô giáo (hoặc có học sinh) biết ngâm thơ. Cần khuyến khích học sinh tập
ngâm thơ ( qua các buổi sinh hoạt ở câu lạc bộ, ), coi đây một hoạt động chính
thức của môn Tiếng Việt có nh vậy mới phát triển đợc hình thức ngâm thơ trong
nhà trờng.
(d) Bài tập luyện cách nói dựa theo câu hỏi định hớng hoặc trả lời câu
hỏi.
Hiện nay ở lớp 2 và lớp 3 có các tiêt Tập làm văn nói, kể lại nội dung bài tập
đọc, nội dung của tranh vẽ theo các câu hỏi gợi ý, còn việc trả lời câu hỏi đ ợc
9
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
thùc hiƯn ở tất cả các môn học. Tuy vậy, nhiều gíao viên chỉ chú ý đến cách nói để
uốn nắn khi có sai sót. ĐÃ đén lúc mọi giáo viên cần hớng dẫn học sinh biết cách
nói mạch lạc, hấp dẫn khi trả lời câu hỏi của bất cứ môn học nào.
(e) Bài tập luyện cách nói theo dàn bài
Hình thức này đợc luyện tập trong các tiết Tập làm văn nói. Các biện pháp
khắc phục nhợc điểm của tiết Tập làm văn nói đà phân tích : chỉ cho nói những đề
bài gây hứng thú, tạo nhu cầu nói năng cho học sinh khi bớc vào tiết học, hớng dẫn
học sinh sử dụng các yếu tố phụ trợ (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt,) khi nói năng.
(g) Bài tập luyện kỹ năng hội thoại .
Loại bài tập này hÇu nh cha cã ë trêng tiĨu häc cđa ta. Trong thực tế, học sinh
hăng hái tham gia các cuộc hội thoại, tranh luận Vì thế, giáo viên có thể lựa
chọn đề tài gây tranh cÃi, gây dựng thành tình huống để kích thích học sinh hứng
thú tham gia cđa mäi häc sinh (nh tr¶ lêi cc pháng vÊn, thi tranh luận chung
quanh một đề tài mọi ngời quan tâm). Sắp xếp lại cách ngồi trong lớp: chia thành
từng nhóm, tổ và ngồi quây quần với nhau để thảo luận hoặc để đóng vai. Có thể tổ
chức thi giữa các tổ : mỗi tổ cử một ngời trình bày ý kiÕn cđa tỉ xem ai cã lý lÏ
®óng nhÊt và cách nói hấp dẫn. Cần đề phòng cách ra đề bài đơn giản, cuộc hội
thoại trở thành tẻ nhạt, buồn chán.
(h) Bài tập kể chuyện
Loại bài tập này đợc áp dụng cả ở phân môn Kể chuyện và phân môn Tập làm
văn nói. Có thể cho học sinh kể lại câu chuyện đà nghe, đà đọc; có thể dựa vào
tranh để kể lại câu chuyện đà biết; có thể dựa vào tranh để sáng tác ra câu
chuyện cần chó ý híng dÉn häc sinh cã t thÕ, cã giọng kể thích hợp, biết sử dụng
các yếu tố phi ngôn ngữ bổ trợ, đặc biệt nắm vững câu chuyện định kể.
Lu ý : Loại bài kể chuyện chuyển đổi ngôi kể : đang kể theo lời ngời dẫn
truyện chuyển sang kể theo lời nhân vật này chuyển sang lời nhân vật khác.
Giáo viên cần quan tâm rèn cho học sinh cả hai kỹ năng nghe và nói.
10
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
C. KÕt quả sau khi áp dụng một số giải pháp nâng cao hai
kỹ năng nghe, nói cho học sinh tiểu học
Với sáng kiến một số giải pháp nâng cao hai kỹ năng nghe, nói cho học sinh
tiểu học, tôi đà áp dụng trong năm học 2008 2009 với đối tợng lµ häc sinh líp
5 – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim Diễn Châu. Kết quả nh sau :
1. Đối với kỹ năng nghe :
Số học sinh
Bi tp
Ghi chú :
- Các chữ a, b, c, d, e, là các kỹ năng
- Cột không ghạch chéo là trớc ghi áp dụng
- Cột ghạch chéo là khi đà đợc áp dụng
2. Đối với kỹ năng nói : 7 kỹ năng nh nội dung sáng kiến đà viết bao gồm các mục
: a, b, c, d, e, g, h ở mục giải pháp . Kết quả sau và trớc khi áp dụng sáng kiến :
11
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
Sè häc
sinh
Bài tập
Ghi chó :
: Tríc khi ¸p dơng
: Sau khi ¸p dụng
D . bài học kinh nghiệm
- Giáo viên cần đầu t thời gian để tìm nội dung phù hợp với từng loại bài
tập nh đà nêu ở sáng kiến.
- Giáo viên cần lu ý đến mối quan hệ giữa hai kỹ năng nghe và nói. Việc rèn
luyện hai kỹ năng thêng g¾n víi nhau.
12
Cao Xu©n Hïng – Trêng tiĨu häc DiƠn Kim
- ViƯc kiểm tra kết quả rèn kỹ năng nghe phải thông qua lời nói.
- Hai kỹ năng nghe và nói có quan hệ với kỹ năng đọc và viết.
- Giáo viên luôn ý thức đợc rằng đây là công việc quan trọng. Công việc này
phải đợc tiến hành thờng xuyên, không chỉ trong giờ Tiếng Việt mà trong cả các
giờ học khác.
Tha hội đồng thẩm định! Sáng kiến của tôi rất có ý nghĩa, kỳ công. Tôi
mong quý vị nghiên cứu để thấy hết sự u việt và khắc phục nhợc điểm để sáng
kiến sớm đi vào thực tiễn.
Xin chân thành cảm ơn!
Ngời viết
Cao Xuân Hùng.
13