Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TRUNG HOA ĐỐI VỚI NHẬT BẢN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.64 KB, 27 trang )

I : KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC NHẬT BẢN
1.1 : Vị trí địa lý của Nhật Bản
Là một quốc gia hải đảo hình vòng cung, có diện tích tổng cộng là
379.954 km² nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa châu Á, phía tây của
Thái Bình Dương. Đất nước này nằm ở phía đông của Hàn
Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển Hoa
Đông ở phía nam, dó 4 quần đảo độc lập hợp thành theo thứ tự từ Bắc xuống
Nam là: Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu cùng hàng ngàn đảo nhỏ
chung quanh. Có đường bờ biển dài 33899 km. Đồi núi chiếm 73% diện tích
tự nhiên của cả nước, trong đó có không ít là núi lửa.
Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc
triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Đi xa hơn về phía nam là
Philipine và quần đảo Bắc Mariana.
Là một quốc đảo nên Nhật Bản không tiếp giáp với quốc gia hay lãnh
thổ nào trên đất liền.
Nhật Bản là quốc gia nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, có rất ít cơ
sở cũng như tiền đề để tạo điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế, bên cạnh
đó Nhật Bản còn thường xuyên gánh chịu những thảm họa của tự nhiên như
núi lửa và sóng thần. Nhưng cũng từ đó mà tư tưởng người Nhật, đức tính
người Nhật được thể hiện với đức tính cần cù, thông minh kết hợp với những
thận lợi bên ngoài Nhật Bản đã vươn lên vị trí là một trong những nước đứng
hàng đầu về kinh tế. Nhật Bản cũng là một quốc gia có truyền thống lịch sử
lâu dài được biết đến qua các thời kỳ
1.2 CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ CỦA ĐẤT NƯỚC NHẬT BẢN
+ Thời kỳ Jõmon: 10.000 - 300 năm trước công nguyên tương ứng với
nền văn hóa đồ đá giữa, người Nhật chuyển sang trồng lúa và hình thành
việc định cư.
+ Thời kỳ Yayoi: Đây được coi là thời kì mà xã hội nông nghiệp thể
hiện những đặc điểm trọn vẹn của nó. Xã hội Yayoi dần phát triển thành một
1
xã hội phân chia đẳng cấp với sự thống trị của tầng lớp quý tộc quân đội và


những lãnh đia được tổ chức theo mô hình gia tộc.
+ Thời kỳ Konfun: Kéo dài từ khoảng 250 đến 538. Thời kì này điển
hình với sự xuất hiện một nền văn hóa tôn thờ vật tổ. Đây là thời kì có sử
thành văn đầu tiên ở Nhật Bản .
+ Thời kỳ Asuka: Kéo dài từ 538 đến 710. Nhiều cung điện được xây
dựng vào thời kì này. Thời kỳ Asuka được biết đến với nhiều thay đổi quan
trọng về nghệ thuật, xã hội và chính trị. Chịu nhiều ảnh hưởng của sự xuất
hiện đạo Phật, đạo Phật xuất hiện đánh dấu một thay đổi lớn trong xã hội
Nhật Bản.
+ Thời kỳ Nara: (710 – 794) Đây là thời định đô đầu tiên của Thiên
Hoàng , kinh đô Nara được khởi công xây dựng có tên là Heijokyo, và chịu
ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Trung Quốc. Phật giáo trở thành quốc giáo.
+ Thời kỳ Heian (794 – 1192) : Đây là thời đại quý tộc, công gia.
Quyền lực từ Thiên Hoàng chuyển dần sang dòng họ Fujiwara. Thật sự từ
năm 898 có thể gọi là thời kì Fujiwara. Các tư tưởng, nghệ thuật từ Trung
Quốc du nhập vào Nhật Bản dần dần được Nhật Bản hoá. Sự phát triển của
chữ viết Kana tạo thuận lợi nền văn học Nhật Bản thực sự.
+ Thời Kamakura (1192 – 1333) : 1192 Yorimoto trở thành tướng quân
(Shogun) thiết lập chế độ Tướng phủ hay Mạc phủ (bakufu) (chính quyền
của tướng quân) ở Kamakura, thuộc miền đông Nhật Bản , mở đầu cho thời
đại của võ gia. Chế độ Mạc phủ tồn tại song song với chính quyền của Thiên
Hoàng đến năm 1868
+ Thời Muromachi (1333 – 1603)
- Thời kì Nam Bắc triều (1333 – 1392)
1333 Tướng phủ Kamakura (dòng họ Hojo) bị Thiên Hoàng Go-Daigo lật
đổ.
1334 cuộc khôi phục Kemmu: Thiên Hoàng nắm quyền lực trở lại, nhưng
không kéo dài lâu.
2
1338 Ashikaga Takauji tự xưng Tướng quân ở Kyoto. Thiên Hoàng

Go-Daigo chạy về thành Yoshino ở phía nam Kyoto (Nam triều). Đồng thời
Takauji lập Thiên Hoàng Misuaki (Bắc triều) ở Kyoto. Điều này có thể vì
cuộc tranh cãi về việc nối ngôi của hai dòng hoàng tộc sau cái chết của Thiên
Hoàng Go-Saga năm 1272
1378 Ashikaga Yoshimitsu (cháu của Takauji) xây dựng Bản doanh
của Mạc phủ trên đường phố Muromachi ở kinh đô, nên được gọi chung là
Mạc phủ Muromachi.
1392 theo đề nghị của Yoshimitsu, Thiên Hoàng của Nam triều thoái vị
và chuyển giao những bảo vật tượng trưng cho uy quyền của nhà vua cho
Thiên Hoàng Bắc triều.
- Thời Chiến quốc (Sengoku) (1467 – 1573)
Chiến tranh giữa các dòng họ võ gia và nhiều phong trào nổi dậy của nông
dân.
1457 – 1477 loạn Onin nhằm tranh giành chức Tướng quân và quân lĩnh.
1485 khởi nghĩa nông dân ở tỉnh Yamashiro, xây dựng chính quyền tự trị.
Tầng lớp tăng lữ và các giáo phái đối địch tham gia chiến tranh
+ Thời Edo (Tokugawa, 1603 – 1868) Thời của thị dân và thương gia,
được so sánh với thời Phục Hưng bên châu Âu.
1600 Tokugawa Ieyasu đập tan các nhóm nổi loạn ở chiến trường
Sekigahara, tự xưng “Tướng quân”, lập Mạc phủ ở Edo.
1603 Ieyasu được Thiên Hoàng phong “Chinh di đại tướng quân”.
Ieyashu tăng cường ngoại thương.
+ Thời cận đại và hiện đại (từ 1868 – )
- Thời Meiji (1868 – 1912)
Trước áp lực trong cũng như ngoài nước, chế độ Tướng phủ tan rã.
Quyền lực phục hồi về Thiên Hoàng
1867 Matsuhito lên ngôi, hiệu là Thiên Hoàng Meiji (Minh Trị).
1868 Dời đô về Edo, đặt tên mới là Tokyo (Đông Kinh). Như vậy các Thiên
3
Hoàng đã từng đóng đô ở Nam kinh Nara, Tây kinh Kyoto và cuối cùng là

Tokyo.
-Thời chủ nghĩa quân phiệt (1912 – 1945)
1912 Thiên hoàng Meiji chết. Thiên Hoàng Taisho lên ngôi (1912 –
1926). Chấm dứt thời kỳ cai trị của nhóm người thiểu số và chuyển sang chế
độ nghị viện và các đảng dân chủ
1914 tham gia Thế chiến I, ở phía Đồng Minh, nhưng chỉ đóng vai trò
nhỏ bé trong cuộc chiên chống quân đội thực dân Đức ở đông Á
Thời hậu chiến (1945 – )
1945 – 1952 Mĩ chiếm đóng Nhật Bản : Lần đầu tiên Nhật bị quân nước
ngoài chiếm đóng.
1946 hiến pháp mới được ban hành, Thiên Hoàng mất tất cả quyền lực
về chính trị và quân sự và chỉ là biểu tượng của quốc gia. Áp dụng chế độ
phổ thông đầu phiếu và bảo đảm nhân quyền. Nhật Bản bị cấm lãnh đạo
chiến tranh và duy trì quân đội. Thần đạo và nhà nước được tách biệt rõ ràng
II. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TRUNG HOA ĐỐI
VỚI NHẬT BẢN TRONG THỜI KỲ CỔ TRUNG ĐẠI
Với chiều dài lịch sử của các quốc gia phương Đông, cùng với sự hình
thành và lớn mạnh đó là những di sản để lại cho nhân loại, sức mạnh và sự
ảnh hưởng của các quốc gia này là không hề nhỏ, không chỉ là những nhà
nước quân chủ với chế độ chính trị tiêu biểu mà bên cạnh đó sự ảnh hưởng
thông qua các nền văn hóa ,văn minh rực rỡ , tiêu biểu của văn minh phương
Đông phải kể đến văn minh của Trung Hoa. Thành tựu của nền văn minh
này có nhiều những ý nghĩa to lớn, có đóng góp quan trọng vào các thành
tựu văn minh của loài người, và bên cạnh đó văn minh Trung Hoa có sự ảnh
hưởng mạnh mẽ ra các vùng lân cận trong đó có Nhật Bản nói riêng và các
nước Đông Á và Đông Nam Á nói chung
Sự ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa tới văn hóa Nhật Bản . Từ thời
cổ đại là Thời đại Ðại Hòa (Yamato) Thời đại Na Lương (Nara) Thời đại
4
Bình An (Heian) … vv đã ảnh hưởng sâu sắc bởi văn minh văn hóa Trung

Hoa . Tuy nhiên sự ảnh hưởng đó không phải là sự tiêu cực mà nó là cơ hội
để làm cho văn hóa của Nhật Bản càng sâu sắc theo một cách riêng, những
thứ mà đã được chắt lọc sau đó làm cho phù hợp với văn hóa của người Nhật
và có thể thấy những ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa qua từng thời kỳ
lịch sử.
2.1. Sự ảnh hưởng của chữ viết và văn học
Nhật Bản là một nước láng giềng của Trung Quốc, trong thời cổ đại
nước này đã có nhiều mối quan hệ trao đổi với Trung Quốc. Dưới triều nhà
Tùy và nhà Đường , nền kinh tế của Trung Quốc phồn vinh, văn hóa phát
triển hưng thịnh. Nhật Bản đã cử đi 13 nhóm “khiển Đường sứ” (sứ giả phái
đến nhà Đường) tới triều đình nhà Đường để học tập, nhóm đông nhất lên tới
600 người. Một số kẻ đọc sách và hòa thượng Nhật Bản ùn ùn kéo đến thủ
đô nhà Đường và Trường An để học tập các loại kiến thức văn hóa cùng các
sách kinh điển của đạo Phật. Sau khi học tập thành công một số người còn ở
lại triều đình nhà Đường để làm quan, nhưng phần lớn đã tích cực về nước
rồi truyền bá văn hóa của triều đại nhà Đường.
Cả đến Thiên Hoàng nước Nhật thời bấy giờ cũng mời những danh sư
sang bên Trung Quốc để có thể học tập văn hóa của nhà Đường, đồng thời
Thiên Hoàng cũng bổ nhiệm một số lưu học sinh từ triều nhà Đường trở về
cũng trao cho họ một số trách nhiệm mô phỏng theo các chế độ chính trị,
kinh tế, văn hóa của nhà Đường để tiến hành cải cách trong nước. Chuyện
này được lịch sử ghi lại trong cuốn “Đại hóa cách tân”.
Những người có học của Nhật Bản tới lưu học tại triều đình nhà Đường
đã tinh thông văn hóa Trung Quốc, họ sử dụng thể chữ thảo và những bộ của
chữ Hán nhằm sáng tạo ra một thứ văn tự để viết tiếng Nhật gọi là “binh giả
danh”(Katakana) và “Phiến giả danh” (Hiragana). Trong số các chữ này chữ
Hán hoàn toàn được giữ nguyên, chỉ có cách đọc bị đổi khác mà thôi.
5
Ngày nay, chỉ cần nhìn qua các mộc giản và văn thư còn tràng trữ tại
Shôsôin, bảo tàng viện tối của Nhật ở Nara, ta đủ biết vai trò của chữ Hán và

văn minh Trung Quốc là rất quan trọng đối với sự hình thành của nhà nước
và văn hóa Nhật Bản đến chừng nào, hai quyển sử thư của Nhật Bản ,
Kôjiki và Nihôn shôki, cũng phải thông qua ngôn ngữ Trung Quốc, mục đích
của chương này trình bày diễn tiến của ảnh hưởng đó nhưng cũng không
quên theo dõi vai trò tích cực trong sự tiếp thu có sáng tạo từ phía Nhật Bản.
Tuy nhiên, trước khi bàn đến Trung Quốc, ta cần phải nhắc qua vai trò
của Triều Tiên cổ đại đối với Nhật Bản vì mọi thông thương đối với Trung
Quốc đều bắt đầu từ ngả Triều Tiên, một quốc gia đại lục có vị trí gần gũi
với Nhật Bản hơn cả, chưa kể lịch sử của hai quốc gia Nhật Bản và triều tiên
có những điểm tương đồng.
Khoảng thế kỉ thứ IV và V tức tiền bán thời đại Kôfun, đã có rất nhiều
hình thức văn hóa từ đại lục đến Nhật Bản. Vào thế kỉ thứ IV, tình hình bán
đảo triều tiên mất an ninh nên người ở đó đã chạy qua tị nạn ở Nhật và mang
theo nhiều kĩ thuật. Các tay hào tộc Yamatô (tên cũ của Nhật Bản ) đã tích
cực thâu nhận họ. Một ví dụ của chuyện đó là ngày nay ở vùng Kyôtô còn có
dòng họ hata-uji mà tổ tiên mang tên Yuzuki (thứ 15). Các người di trú
(Toraijin = độ lai nhân) này đã đem nghề nông, nghề rèn, nghề xây cất đến
đây và tụ tập những nhóm cùng ngề (Shinabe = phẩm bộ). Người chuyên dệt
củi thì vào Hataôribe (cơ chức bộ), người làm gầm vóc vào nishigôribe (cẩm
chức bộ), người làm đồ gốm thuộc về Suetsukuribe (đào tác bộ), người biết
ghi chép văn thư thì thuộc về Fuhitobe (sử bộ).
Trước kia, Nhật không có văn tự riêng, phải dùng chữ Hán truyền từ đại
lục để ghi chép lời nói. Chỉ mãi về sau họ mới bắt đầu có văn tự biểu âm
riêng nhưng những kí hiệu ấy cũng thoát thai từ chữ Hán. Tuyên truyền từ
giữa thế kỉ thứ IV, thứ V, quan bác sĩ người Kudara tên Wani đã đến Nhật
cư trú ,đem theo bộ sách nho giáo luận ngữ (Rôngô) và tập thơ bốn chữ thiên
tự văn. Di tích tối cổ của văn tự thời ấy nay còn ghi lại 6 chữ Hán khắc 5 âm
6
wa-ka-ta-ke-ru, tục truyền là tên Thiên Hoàng (thứ 21) Yuuryaku (Hùng
Lược, giữa thế kỉ thứ V, niên đại không rõ) tên một thanh kiếm gọi là

shichishitô (thất chi đao) hay cây kiếm bảy nhánh, dài khoảng 75cm, tương
truyền do vua nước kudara và thế tử của họ làm ra đẻ tặng “vua nước
yamato’’ vào năm 369. Thanh kiếm ấy còn đươc gìn giữ ở đền ishinokami
juguu (thạch thượng thần cung) ở Nara.
Đến khoảng thế kỉ thứ VI ,thứ VII thì số lượng văn hóa phẩm đã thêm
nhiều. Năm 513, có nhiều viên ngũ kinh bác sĩ cung gốc kudara tên dan-yoni
(âm Hán là đoàn dương nhĩ) tinh thông kinh điển (thi, thư, dịch, lễ, xuân thu)
đến Nhật và truyền bá đạo nho. Năm 554, các bác sĩ thông hiểu dịch học,
lịch học, y học cũng lần hồi đến Nhật. Ngoài ra, người nước kokuri (Cao Cú
Lệ) tên donchô (đàm trưng) cũng đem mực, giấy, họa cụ đến Nhật truyền bá
hội họa.
Trong tập Shinten Shôji-roku (Tân tuyển tính thị tập) làm ra thời Heian,
trong số trên 1300 họ thi đã có đến 30% xuất thân từ nước ngoài. Ban đầu
những người này sống gần Kyôto – Ôsaka bây giờ nhưng sau tản ra cả nước .
Địa danh mang âm sắc Triều Tiên như Kôrai (Cao Lệ) hãy còn thấy ở vùng
Tôkiô.
Như thế ta đã thấy, thời thượng cổ, ảnh hưởng của đại lục đến Nhật Bản
qua ngả Triều Tiên rất quan trọng. Văn hóa và văn học đại lục dù là Trung
Quốc, Ân Độ hay Ba Tư, do điều kiện địa lí, trao đổi thương mại và liên
minh quân sự, hầu như được truyền đến bằng con đường gián tiếp này.
Ngoài thuyết cho rằng Thiên Hoang Jinmu, Thiên Hoàng mở nước
trong thần thoại Nhật Bản không ai khác hơn là đạo sĩ Từ Phúc, người
được Tần Thủy Hoàng sai đem mấy nghìn đồng nam đồng nữ ra “Tam Thần
Sơn” ngoài biển Đông tìm thuốc trường sinh bất tử thi khoảng trước công
nguyên, sự giao dich với Trung Quốc không thấy nhắc tới trong lịch sử cổ
đại Nhật Bản . Lần đầu tiên người Nhật Bản tiếp xúc với Trung Quốc lại là
nhờ thuyền buôn của Triều Tiên. Lý do là đường biển đi thẳng từ Nhật đến
7
Trung Quốc với phương tiện thuở ấy được coi là xa xôi và đầy sóng gió
nguy hiểm.

Đối với Trung Quốc, vào năm thứ 1 sau công nguyên, Hán thư có nhắc
đến một miền đất gọi là Wa bao gồm cả trăm tiểu quốc. Đến khoảng năm 57,
Hậu Hán Thư, Hhaauj Hán Thư, Đông Di Truyện, có chép đến sự kiện vua
nước Na tiến công Quang Vũ đế ở Lạc Dương và nhận ấn thụ Hán Nụy Nô
Quốc Vương cho bà.
Nhật Bản tiếp thu văn học Tùy Đường:
Sau giai đoạn trên, ta còn thấy liên lạc tuy thưa thớt nhưng vẫn có của
các người cai trị Nhật Bản đối với Trung Quốc các triều Lưu Tống (420 –
479) và Lương (502 – 557). Mối liên hệ đó chỉ trở thành mật thiết dưới triều
Tùy (589 – 618) khi Nhật Bản gửi sứ bộ đầu tiên sang thông hiếu và học
hỏi. Từ đó chế độ hành chính và pháp luật nhà nước Nhật Bản sẽ in đậm dấu
ấn của Trung Quốc.
Ảnh hưởng của văn học đại lục đến văn học Nhật Bản phần lớn do sự
tiếp xúc của các học tăng và phái bộ ngoại giao Nhật Bản với Trung Quốc
(Tùy - Đường) Triều đình Yamato và những triều đại kế tiếp đã biết học tập
các định chế hành chính và pháp luật để tổ chức nhà nước Nhật Bản . Riêng
về phương diện văn học, sau khi thâu nhận tư tưởng kinh điển Nho giáo, việc
tiếp thu thi ca Trung Quốc đã đóng một vai trò quan trọng đối với văn học
Nhật Bản thời kì Nara. Những tác phẩm có từ thời Hán Thư như Văn Tuyển,
Sử Ký, Hán Thư, Hậu Hán Thư, Thế Thuyết Tân Ngữ, Nghệ Văn Loại Tụ đã
là nguồn tài liệu phong phú cho các tác phẩm Nhật Bản như Fudoki (Phong
tổ ký) và Caifuso (Hoài phong tảo) Tác phẩm đã truyền vào đất Nhật rất
sớm đó là Senjimon “Thiên Tự Văn”, quyển Ngữ vựng do Chu Hưng Tự
theo lệnh Vương Vũ Đế soạn theo văn vần, có từ thời Lục Triều (đầu thế kỉ
6) để dạy chữ Hán căn Bản cho những ai muốn tìm đọc sách viết bằng chữ
Hán. Sách viết bằng chữ Hán, gồm 250 câu, mỗi câu 4 chữ.
8
Hiến pháp 17 điều: là một văn kiện quan trọng của Nhật chứng minh
được ảnh hưởng sâu sắc của Trung Quốc thời đường trong cách tổ chức xã
hội Nhật Bản. Các tập thơ chữ Hán Đầu tiên: Người Nhật Đã bắt đầu làm

thơ chũ Hán từ giữa thế kỉ thứ VII thời Thiên Hoàng Tenmu giai đoạn Triều
đình Nhật Bản còn đóng đô ở vùng OOmi và lúc Văn hóa Trung Quốc là
mẫu mực của đời sống chính trị và văn hóa Nhật Bản … Lúc đó thi nhân viết
Hán Thi là tầng lớp quý tộc cung đình. Về sau qua thời Trung Cổ họ là tăng
nhân phái Ngũ Sơn, Đến thời Cận Đại lớp người này là những nhà nho đứng
bên trong hoặc bên ngoài Mạc Phủ, cuối cùng là tầng lớp văn nhân và quan
nhân.
Vào thế kỉ thứ 7, ngoài việc Man.yô-gán, một biểu ký nặng ảnh hưởng
chữ Hán, Nhật Bản đã có những tập thơ thuần chữ Hán mà sớm nhất là
Kafuuô (Hoài phong tảo, 751), do một số văn nhân soạn. Tiêu biểu là bài thơ
chúc hạ của hoàng tử Ôtomo nhan đề Thị Yến ca, ca tụng ân đức của vua
cha, Thiên Hoàng Tenij đã thống nhất đất nước, làm cho Nhât Bản trở
thành một thứ tiểu Trung Hoa. Thơ được đăng trong Kaifuusô và được xem
như bài Hán thư tối cổ của người Nhật. Vào tiền bán thế kỉ thứ 9, nổi trội 3
tập thơ chữ Hán soạn theo sắc chiếu Ryôun-shuu (Lăng Vân Tập), Bunka
Shuurei-shuu (Văn Hoa Tú Lệ tập) và Keikoku-shuu (Kinh Quốc Tập) Thi
nhân Hán Thi tiêu biểu là các vị Thiên Hoàng , những nhà đại quý tộc và còn
có các bậc trung hay thấp. Chứng tỏ bên cạnh quý tộc đã có một tầng lớp
quan lại ra đời. Lúc đó lại thêm những nhà sứ thần từ đại lục đã đến triều
đình Nara cũng như bóng dáng những bài thơ phụ nữ đầu tiên.
Sau giai đoạn trên thì thơ chữ Hán đã bớt đi ảnh hưởng vì văn hóa một
triều đình nhà Đường đầy biến loạn, không còn được trọng vọng như xưa,
nhất là ý thức độc lập dân tộc của Nhật Bản đã lên cao. Nhưng trong những
triều đại sau Nhật Bản vẫn tham khảo Trung Quốc mỗi khi phải đương đầu
với thử thách mới.
9
Đến thời Thiên Hoàng Saga, ngoài Thiên Hoàng còn có một số tên
tuổi đáng được nhác đến trong lĩnh vực Hán Thi như Hoằng Pháp Đại Sư
trong lĩnh vực thơ và lý luận thơ ông đã học từ Trung Quốc được chép lại
trong 10 quyển Tính Linh Tập và Văn Kính Bí Phủ Luận.

Dưới thời Heian 3 cây bút nổi bật nhất đã đóng góp nhiều cho sự hưng
thịnh của thơ chữ Hán là Thiên Hoàng Saga, Không Hải, nhà quý tộc
Tachibana no hayanari. Ngoài ra còn có những bài thơ của bầy tôi, tác giả
thơ trong 3 thi tuyển Hán Thi soạn theo chiếu chỉ (Lăng Vân, Văn Hoa Tú
Lệ, Kinh Quốc) tụ họp van học cung đình mà trung tâm là Thiên Hoàng .
Tuy nhiên thơ chỉ mô phỏng về “Đường Phong” tức thơ Trung Quốc đời
Đường, cho dù khi họ muốn nói về nước mình.
Nhìn chung giai đoạn này, sự vay mượn, ở đây hầu như tuyệt đối qua
việc chuyển nguyên cảnh vật Trung Quốc Sang Nhật. Sự “ chuyên môn hóa”
trong việc làm thơ chữ Hán…
Đường Thi và Thi ca Nhật Bản cũng không kém phần ảnh hưởng của
Trung Quốc. Vào buổi đầu thơ Waka cung đình Nhật Bản phần lớn là những
bài thiếu tính sáng tạo vì chủ yếu thơ chỉ dịch từ Trung Quốc. Tuy nhiên,
sinh hoạt ngôn ngữ của trí thức Nhật Bản thời đó có tính cách nhị trùng: họ
vừa biết làm thơ Kana vừa biết lam thơ thuần túy Hán văn. Thơ chữ Hán trở
thành khuôn mẫu dùng nơi triều đình vì trí thức quý tộc thời đó nếu không
có Hán học thì không thể nào lập thân.
2.2. Sự ảnh hưởng của các tôn giáo
Nói đến Nhật Bản là nói đến một quốc gia đa tôn giáo. Nhìn vào quá
trình phát triển lịch sử Nhật Bản ta luôn thấy sự hiện diện của nhiều tôn
giáo, chủ yếu là ba tôn giáo sau: Tín ngưỡng Bản địa -Thần đạo (đạo
Shinto), du nhập từ bên ngoài vào có Phật giáo (Trung Hoa) và Thiên chúa
giáo (Phương Tây). Ngoài ra còn có Đạo giáo được du nhập từ Trung Quốc
vào. Đến nay, ảnh hưởng của ba tôn giáo này đã để lại dấu ấn đậm nét trong
đời sống văn hoá của người Nhật.
10
2.2.1. Phật Giáo
+ Thời đại Nara: Thế kỉ VI đánh dấu cho sự du nhập văn hoá Trung
Hoa chính thức vào Nhật Bản , mở đầu là Phật giáo và Hán học. Tầng lớp tu
sĩ, tăng lữ là những người đi tiên phong trong việc tiếp thu các tri thức mới

học được của Trung Hoa mang về cho đất nứớc. Đặc biệt Thái tử nhiếp
chính Shotoku với “Hiến Pháp 17 điều” mà ông đề ra đã khiến cho Phật giáo
phát triển rộng rãi ở Nhật Bản. Người Nhật đến với Phật giáo với nguyện
vọng đơn giản muốn thoả mãn lợi ích vật chất. Vì vậy, sức hấp dẫn của đạo
Phật cũng chính là vẻ đẹp tráng lệ của các ngôi chùa, với những buổi lễ trang
trọng. Tuy nhiên ở thời kì này, người ta chỉ coi những lời cúng bái như là sự
phù phép chứ chưa có tác động gì đến tinh thần. Khi hiểu biết hơn, người
Nhật đã có sự thay đồi trong cách nghĩ. Ban đầu họ coi trọng các yếu tố tinh
thần của Phật giáo, đặc biệt là trong tình cảm đối với gia đình. Đến cuối thế
kỉ VI, đạo Phật đã trở thành quốc giáo. Các nghi lễ Phật giáo trở thành một
bộ phận quan trọng của nghi lễ triều đình. Nhiều chùa chiền được xây dựng
theo lệnh của nhà nước. Ngay Bản thân tầng lớp quí tộc cũng cho xây dựng
điện thờ Phật trong dinh của họ.
Cuối thời Nara, do có sự hiểu biết hơn về Phật giáo các sư sãi đã
chuyển từ việc học các nguyên lý đại cương của đạo Phật sang việc tìm hiểu
sâu hơn những cái hay của tôn giáo mới này. Sau đó dần dần các giáo phái
khác nhau xuất hiện, trong đó nổi bật là sáu phái: Phái Tam luận (Sanron),
phái Thành thực (Joritsu), phái Pháp tưởng (Hosso), phái Duy thực(Yushiki),
phái Luật (Ritsu) và phái Hoa Nghiêm (Regon). Nhìn chung, cả sáu giáo
phái này có chung một mục đích và không chống đối nhau.
Ngay ở thời kì đầu, Phật giáo đã có những ảnh hưởng tích cực đến đời
sống của người Nhật. Phật giáo không những kích thích việc học hành, nâng
cao sự cảm thụ nghệ thuật cho dân tộc Nhật Bản mà còn thúc đẩy các ngành
kinh tế phát triển như ngành thủ công mỹ nghệ, xây dựng nhà cửa, làm thêm
đường xá…Tuy nhiên, Phật giáo cũng để lại ảnh hưởng tiêu cực đối với đất
11
nước. Do triều đình ban cho giới tu hành và giới quí tộc nhiều đặc quyền đặc
lợi nên quyền lực của triều đình bị đe doạ.
Dù có mặt tích cực và tiêu cực nhưng Phật giáo vẫn là động cơ thúc đẩy
sự tiến bộ của nền văn hoá dân tộc, đồng thời Phật giáo đã thổi một luồng

gió mới vào nước Nhật, làm cho tôn giáo này trở thành hệ thống tín ngưỡng
có sức thuyết phục nhất định và mang đến cho Nhật Bản nhiều yếu tố mới lạ
mà tín ngưỡng cổ truyền chưa thể có được.
+ Thời đại Heian: Để tránh ảnh hưởng quá sâu của tôn giáo, Hoàng đế
Kamu khi lên ngôi đã quyết định rời đô về Heian.Tuy nhiên, ở thời kỳ này,
triều đình vẫn giữ thái độ hoà bình với đạo Phật. Nghi lễ của đạo này vẫn
được tôn trọng trong đời sống xã hội. Vì vậy Phật giáo vẫn được coi là quốc
giáo. Bên cạnh đó, Phật giáo thời Heian đã có sự thay đổi lớn, từ một hệ
thống tôn giáo được tầng lớp trên ủng hộ vì mục đích riêng, nay đã trở thành
một tôn giáo thực sự hấp dẫn đối với công chúng.
Hai giáo phái lớn phổ biến là Tendai (Thiên đài) và Singon (Chân
ngôn) do hai nhà tu hành nổi tiếng Saicho và Kukai đứng đầu.Tendai là một
trường phái chính thống trong đạo Phật ở Nhật Bản , có liên quan đến trường
phái Phật giáo ở Trung Hoa nhưng mang màu sắc Nhật Bản. Đạo Tendai
được xây dựng trên cơ sở học thuyết siêu hình kết hợp với các trường phái
Phật giáo Nara trước đây. Nó là sự kết hợp của những trường phái thiên về
cách tu hành khổ hạnh. Còn đạo Singon toát lên những tư tưởng cao quí
mang tính huyền ảo, giàu tính tượng trưng hơn thể hiện.
Có thể nói hai đạo này đánh dấu những mốc lớn trong lịch sử tư tưởng
Nhật Bản và những bài viết của hai hoà thượng Saicho và Kukai được coi là
đã đặt nền móng cho một tư duy có hệ thống.
Về tổng thể, đạo Phật ở Nhật Bản thế kỉ IX, X chưa thật thịnh hành
trên cả nước .Trong khi giới quí tộc hướng về đạo Phật thì đông đảo người
dân, mặc dù vẫn đi lễ Phật nhưng tâm hồn lại dành cho các vị thần dân tộc
với tín ngưỡng cổ truyền là Thần đạo.
12
+ Thời đại Kamakura: Ở thời đại này, người ta chú trọng đến việc phục
hồi và cải tổ Phật giáo để Phật giáo mang tính bình dân. Trước đây, Phật
giáo chỉ dành riêng cho tầng lớp trên trong xã hội và chưa được truyền bá
rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân. Hơn nữa, những sai lạc thiếu nghiêm

minh trong Phật pháp được coi là những nguyên nhân gây nên sự suy sụp về
tinh thần trong xã hội. Sau này, Phật giáo được phổ biến rộng rãi, mang tính
dân tộc và màu sắc Nhật Bản . Điều này được thể hiện rõ nét trong cách nhìn
nhận đối với Phật giáo chính thống thời Fujwara. Có 3 trường phái khác
nhau:
- Phái chủ trương phục hồi các giáo phái ở Nara, nhất là Kegon( Luật
tông) và Ritsu (Nghiêm tông)
- Phái chủ truơng tách khỏi giáo phái Heian, lập các giáo phái mới, đó
là Jodo, Shin và Nichiren.
- Phái Zen phát triển rộng rãi trong quá trình giao lưu với Trung Hoa
đời nhà Tống.
Nhóm chủ trương phục hồi giáo phái cổ Nara đặc biệt đề cao Luật tông
và Nghiêm tông nhằm mục đích chấn chỉnh lại kỉ cương Phật giáo.Tuy
nhiên, giáo phái này không thu được kết quả để kéo chúng trở lại dòng chính
của tôn giáo, ngoại trừ việc trùng tu lại tu viện Todaiji bị thiêu huỷ năm
1180.
Sự phát triển của giáo phái Zen là một hiện tựơng “có một không hai”
trong lịch sử tôn giáo Nhật Bản . Nó có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội, ảnh
hưởng đến tư duy, nếp nghĩ của người Nhật, đến nghệ thuật và văn hoá Nhật
Bản . Giáo phái này cho rằng sự giác ngộ chỉ có được bằng nhận thức trực
giác và tư tưởng này đã rất phổ biến ở nhiều giáo phái từ thời kì Nara như
thiên Đài và Chân Ngôn.
Ngoài hai giáo phái chính nói trên, có một giáo phái khác cũng của đạo
Phật được tầng lớp võ sĩ Nhật Bản rất coi trọng, đó là phái Thiền Tông do
các nhà sư du học ở Trung Hoa mang về vào thế kỉ XII. Các tu sĩ phái Thiền
13
Tông đóng vai trò chủ đạo trong lịch sử phát triển các hình thức nghệ thuật
của Nhật như kịch, kiến trúc và hội hoạ. Ngoài ra, còn có ba ngành nghệ
thuật mà sau này trở thành nét đặc trưng cho văn hoá Nhật Bản , đó là nghệ
thuật vườn cảnh, nghệ thuật cắm hoa và nghệ thuật trà đạo.

+Thời đại Muromachi: Mặc dù thời đại Muromachi là thời đại đầy rối
ren, hỗn loạn nhưng cũng là một thời kì phát triển mạnh mẽ của tôn giáo.
Có thể nói Phật giáo Thiền có ảnh hưởng lớn trong các tổ chức tôn giáo
đương thời. Khác với các giáo phái đương thời, Thiền tông thường đứng
ngoài các cuộc tranh chấp tôn giáo. Các nhà tu hành Thiền là những người
có học vấn uyên thâm, tài giỏi và được các lãnh chúa phong kiến coi trọng.
Giới lãnh đạo phong kiến thường tham khảo ý kiến của họ về học vấn, về
năng khiếu thẩm mỹ và cả các chính sách cai trị nước. Các Thiền sư sử dụng
việc truyền giáo nhằm giữ ổn định tình hình xã hội. Thông qua Thiền đạo,
giới lãnh đạo Nhật đã tiếp cận được nhiều tác phẩm cổ điển của Trung Hoa
và các tu sĩ Thiền tông có mối quan hệ mật thiết với Trung Hoa.
Hiệu quả hàng đầu của việc học tập được đẩy mạnh, đặc biệt là học vấn
của phái Bugaku ở Kamakura và Kyoto. Các tu viện là nơi tâp trung sức
mạnh của đạo Phật và giới tăng lữ thời kì này.
Lúc này giáo phái Thiền có những cơ sở lớn ở Kamakura và Kyoto.Ở
Kamakura có 5 tu viện và 10 điện, đứng đầu là Kenjochi được xây dựng
dưới thời Hojo. Ở Kyoto cũng có một số lượng tương đương, đứng đầu là
các Tenryuj.
Tuy đạo Thiền phát triển và được coi trọng nhưng tín ngưỡng Bản địa
đạo Shinto vẫn tồn tại và lúc này Thần- Phật kết hợp với nhau.
+ Thời đại Azuchi-Momoyama: Phật giáo thời kì này có ảnh hưởng
rộng lớn, có thế lực trong xã hội và có sức mạnh quân sự ở Nhật Bản , nhưng
nó vẫn chưa đủ sức để thu phục các lãnh chúa phong kiến, kể cả triều đình
và các tướng quân.
14
Trong quá trình phát triển, đạo Phật có ảnh hưởng rất lớn trong đời
sống tinh thần của người Nhật Bản. Phái Thiền tông đã thành công trong
việc phát triển và mở rộng các hình thức nghệ thuật và văn hoá. Tuy nhiên
các giáo phái khác như Tendai (Thiên đài)…lại là nguyên nhân gây ra những
bất ổn xã hội hoặc quá lạm dụng đặc quyền của mình. Nhưng sau này dưới

thời Tokugawa, đạo Phật bị hội đồng Tướng quân giám sát chặt chẽ. Việc
thờ cúng vẫn được duy trì nhưng quyền lực của đạo Phật không còn mạnh
như trước. Thời kì đen tối của đạo Phật bắt đầu từ thời Minh Trị khi nhà
nước phục hồi lại đạo Shinto. Sau này, đạo Phật dần dần lấy lại được lòng tin
của người dân và trở thành tôn giáo chính thống.
+ Thời đại Edo: Đạo Khổng được chú trọng như vậy không có nghĩa là
đạo Phật bị lãng quên. So với đạo Khổng, đạo Phật không có ưu thế bằng
nhưng đạo Phật vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Giờ
đây, người Nhật không những đi theo đạo Phật mà còn tìm cách kết hợp
Tống nho với Thiền, chủ yếu là tầng lớp võ sĩ. Mặc dù võ sĩ Samurai thời
Eido không còn được đề cao như thời Chiến quốc nhưng họ vẫn luôn muốn
thể hiện được tầm vóc của giai cấp mình. Qua việc nghiên cứu, học tập
những tư tưởng trong Thiền, họ đã tìm thấy ý nghĩa cuộc sống trong kỷ kuật,
tính tự chủ, danh dự, đạo lý về danh dự. Trong khi tọa Thiền, người võ sĩ
trau dồi thêm đạo đức Khổng giáo với các đức tính: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín. Nhờ đó, các võ sĩ đạo đã tạo được nền tảng cho riêng mình. Chính các
võ sĩ Samurai và các nghệ sĩ Thiền đạo đã có những đóng góp không nhỏ
góp phần hoàn thiện thêm nền văn hoá Nhật Bản như các môn võ nghệ: kiếm
thuật( Kẹnjutsu), Cung thuật( Kyujutsu) hay các môn nghệ thuật khác: Kịch
No, Trà đạo,…Có thể nói rằng dưới thời Tokugawa, Phật giáo được chấn
hưng nhiều hơn thời kì Momoyama. Và chính sự hoà nhập tổng hợp giữa
truyền thống Thần đạo với Phật giáo và Nho giáo đã trở thành nền tảng thẩm
mỹ trong văn hoá truyền thống Nhật Bản .
2.2.2 Nho Giáo
15
+Thời đại Nara: Cùng với Phật giáo, Nhật Bản thời Nara còn tiếp nhận
một tôn giáo khác, đó là Khổng giáo. Đây là hệ thống lý luận, chuẩn mực
đạo đức chính thống về văn hoá và chính trị của Trung Hoa. Nó được truyền
bá vào Nhật Bản qua nhiều con đường mà mở đầu là con đường Triều Tiên.
Những qui tắc và tư tưởng của đạo Khổng trong “Hiến Pháp 17 điều” của

Thái tử Shotoku đã chứng tỏ được sức ảnh hưởng của Khổng giáo đối với
nhà nước Nhật Bản . Khổng giáo tác động lên khá nhiều mặt trong đời sống
của người Nhật, đặc biệt là mặt đạo đức. Nhiều điều răn dạy của Khổng giáo
đã được ghi chép tập hợp lại thành sách, trong đó “Hiếu kinh” được cho là
cuốn sách không thể thiếu trong chương trình học của mỗi trường.
Tuy nhiên, với người Nhật đạo Khổng còn nặng về lý thuyết nhiều hơn
thực tế và người Nhật chỉ sử dụng những ngôn từ mượn từ đạo Khổng để
duy trì luân lý đạo đức và đề cao trung hiếu.
+ Thời đại Heian: Ngoài đạo Phật, thời Heian, với nền tảng được xây
dựng từ thời Nara, đạo Khổng được người dân khá coi trọng và trở thành
môn học hàng đầu trong chương trình giảng dạy đại học. Việc nghiên cứu
đạo Khổng ngày càng được chuyên môn hoá. Tuy nhiên, do đạo Khổng
mang tính chất triêt lí nên người Nhật chỉ quan tâm đến mặt chính trị, lịch
sử của đạo Khổng và những châm ngôn được dùng trong việc cai trị.
Mặc dù nhận thức của con người đã tiến bộ hơn nhưng nói chung xã hội
Heian và cả tầng lớp quí tộc vẫn tin vào các lực lượng siêu nhiên. Niềm tin
này được lý giải bằng thuyết âm dương, bằng khía cạnh huyền bí của đạo
Phật nên nó vẫn tồn tại lâu dài. Hơn nữa, ý thức hệ của con người thời đại
Heian bị chi phối bởi trào lưu tư tưởng, kể cả mặt siêu nhiên và siêu hình của
đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật và Thần đạo kết hợp với nó, những phép bói
toán, xem sao, xem hướng đất… rất được phổ biến.
+ Thời đại Edo: Vào thời Edo, đạo Khổng (chủ yếu là Tống Nho) được
chính quyền Mạc Phủ chọn làm hệ tư tưởng chính thống của đất nước. Tống
Nho ( học thuyết Chi Hi ) được truyền bá vào Nhật Bản từ thế kỉ XIV, nay
16
ngày càng được củng cố và luôn đề cao hai chữ “Trung-Hiếu” đây là điều
cần thiết hàng đầu để bảo vệ chế độ phong kiến.
Đền thờ Khổng Tử được xây dựng ở nhiều nơi. Ví dụ như ở Nagoya
Ueno(1632) do Yoshinao, ở Mito do Mitsukuni, ở Hozuna do Aizu xây
dựng…Riêng ở Ueno, đền thờ Khổng Tử là nơi tổ chức các nghi lễ đạo

Khổng. Vào những buổi lễ hội theo mùa, người ta tế đức Khổng Tử như tế
các vị thần Nhật Bản xa xưa. Năm 1690, Thánh đường thờ Khổng Tử được
dời về Yushima. Nơi đây người ta đã xây dựng một khu tHánh đường lớn và
khu đào tạo người tài cho đất nước theo đạo đức Khổng giáo. Từ đó,
Yushima trở thành trung tâm lễ hội kỉ niệm Khổng Tử của cả nước.
Cùng với một số tín ngưỡng dân gian, người Nhật luôn coi trọng Đạo
giáo. Người Nhật vốn ưa sống sạch sẽ, thanh tịnh, gần gũi với thiên nhiên,
sống hoà mình với thiên nhiên. Hơn nữa, trong nhà người Nhật luôn có bàn
thờ để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Chính những điều này đã trở thành
nét đẹp truyền thống của văn hoá Nhật Bản .
Mặc dù từ thế kỉ thứ VII, đạo Khổng và đạo Phật đã du nhập vào nước
Nhật nhưng chúng vẫn không lấn áp được tính dân tộc và tín ngưỡng truyền
thống của người Nhật. Ở thời đại Kamakura, Thần đạo được coi là chính
thống và sự phát triển lí luận Thần giáo cũng bắt đầu từ đây.
Sự hỗn hợp tư tưởng Thần đạo và Phật giáo được hoàn thành vào thế kỉ
thứ XII, do hai trường phái Thần đạo Tendai và Shingon đại diện. Chủ
trương của hai tông phái này là: Mọi sự vật trong vũ trụ đều là sự thể hiện
Phật Thích Ca và bày ra rất nhiều nghi lễ Phật giáo trong Thần đạo.Vì vậy
những đền thờ Thần đạo chịu ảnh hưởng của Phật giáo chiếm hơn một nửa.
Vào thế kỉ VIII, những lí luận như lý thuyết Thần đạo-Phật giáo, Tiểu khí…
đã đựợc tập hợp thành luận thuyết Honji Suijaku-một tác phẩm nói về nền
tảng của vũ trụ, của đức Phật và của sự tồn tại.
17
Nói chung, đạo Shinto đề cao vai trò của các vị Hoàng Đế trong hệ
thống cai trị nước Nhật. Và Thần đạo là một trong những công cụ của người
cầm quyền binh trong nước.
Thời đại Edo: Mặc dù chính quyền Mạc Phủ đề cao đạo đức Khổng
giáo nhưng trong tâm linh người Nhật, Thần đạo không bao giờ mất đi.
Người Nhật luôn ý thức rằng họ là con cháu các vị thần thánh và các vị thần
linh luôn được thờ cúng rộng rãi trên khắp nước Nhật. Với tâm niệm rằng

các vị thần linh Kami luôn bảo trợ cho họ nên hàng năm, người Nhật tổ chức
các lễ hội truyền thốngvà thu hút nhiều người dân khắp nơi về thờ cúng, đặc
biệt là ở đền Isejingu, nơi thờ tổ tiên Thiên Hoàng xứ Mặt Trời Mọc
(Amaterasu).
Mặc dù, nghiên cứu Tống Nho nhưng một số học giả lại tìm hiểu cội
nguồn Nhật Bản và từ đó, trào lưu phục hưng Thần đạo ra đời. Nhìn chung,
các học giả luôn cố gắng tìm điểm tương đồng giữa đạo Khổng và Thần đạo;
hay nói cách khác, người Nhật tiếp thu đạo Khổng một cách có chọn lọc và
họ chỉ đề cao những điểm phù hợp với truyền thống dân tộc của họ.
Tính chất chung của các tôn giáo truyền thống Nhật Bản vô cùng phức
tạp. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, các tôn giáo ngoại lai đều thay đổi, biến dạng
và bị Nhật hóa đi rất nhiều. các tôn giáo chính Phật giáo, Thần đạo, Nho giáo
đều thể hiện được hệ thống tổng hợp giải thích về tự nhiên, con người, xã hội
và lịch sử nói chung; là nơi gửi gắm tình cảm tôn giáo của người dân Nhật
Bản.
2.2.3. Sự ảnh hưởng của văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật
+ Trà Đạo
Trà lần đầu tiên được giới thiệu đến Nhật Bản từ Trung Quốc trong năm
700. Trong thời kỳ Nara (710-794), trà là một sản phẩm sang trọng có sẵn
với số lượng nhỏ các linh mục và quý tộc như một thức uống thuốc.
Xung quanh đầu của thời kỳ Kamakura (1192-1333), Eisai, người sáng
lập của Nhật Bản Thiền Phật giáo, mang về từ Trung Quốc các tùy chỉnh của
18
pha trà từ lá bột. Sau đó, việc trồng trà lan truyền khắp Nhật Bản, đặc biệt là
tại Đền Kozanji trong Takao và trong Uji .
Trong thời Muromachi (1333-1573), trà trở nên phổ biến trong số
những người thuộc mọi tầng lớp xã hội. Người đã tụ tập ở bên uống trà lớn
và chơi một trò chơi đoán, theo đó người tham gia, sau khi uống từ tách trà
được thông qua cùng, đoán tên trà và họ đến từ đâu. Thu thập và hiển thị đồ
dùng trà được đánh giá cao cũng là phổ biến trong giàu có.

Vào khoảng thời gian đó, một phiên bản tinh tế hơn của các bên trà,
với sự đơn giản truyền cảm hứng và nổi trội hơn về nghi thức và tâm linh
phát triển. Các buổi họp mặt với sự tham dự của chỉ một vài người trong một
căn phòng nhỏ, nơi lưu trữ các phục vụ khách trà, cho phép sự thân mật hơn.
Nó là từ các cuộc tụ họp rằng trà có nguồn gốc của nó.
+ Nghệ thuật cắm hoa
Lịch sử trồng hoa của người Trung Quốc vốn có từ lâu đời. Bên cạnh
việc trồng hoa, nghệ thuật cắm hoa ở đây cũng có lịch sử và truyền thống lâu
đời. Ngoài việc coi trọng về hình dáng, màu sắc và mùi hương của hoa, nghệ
thuật cắm hoa kiểu Trung Quốc còn chú trọng đến "hoa đức". Theo họ, hình
dáng, màu sắc và mùi hương chỉ là "hữu hình"; còn "hoa đức" thì lại trừu
tượng, thường mang ý nghĩa tượng trưng; chẳng hạn như lấy sự mềm mại
của hoa để so sánh với vẻ đẹp yểu điệu của nữ giới; đồng thời, cũng cách
chọn hoa những để mô tả đức độ của bậc chính nhân, quân tử. Điều này đã
trở thành một đặc tính riêng của nghệ thuật cắm hoa Trung Quốc.
Hoa đạo Nhật Bản bắt nguồn từ Trung Quốc, và được gắn liền với nghi
thức dâng hoa cúng Phật. Người Nhật đã nhanh chóng biến thành nghệ thuật
riêng nước mình, trở thành nghệ thuật truyền thống. Trong thời gian lâu dài,
nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản dùng trong tế tự đền miếu, đàn tế, lưu hành
trong giới tăng lữ. Đến thế kỷ VII, việc dâng hoa thờ được phổ biến trong lễ
cúng dân gian, nhưng nghệ thuật về hoa cỏ vẫn chưa thịnh hành. Vào thế kỷ
X, dùng hoa chẳng những trong lễ hội, mà còn để trang trí nhà cửa. Vào thế
19
kỷ XIII, trong các đền miếu đã bắt đầu xuất hiện phương pháp cắm hoa và
tạo hoa hình sen
Tới thế kỷ thứ XIV, giới quý tộc Nhật có những ngày lễ hội thưởng hoa
hằng năm gọi là "Hoa ngự hội" (thi cắm hoa), coi cắm hoa như là một môn
nghệ thuật tiêu khiển, nhàn dật; kể từ đó trở đi, cắm hoa đã thoát dần màu
sắc tôn giáo thuần túy, bước vào cung đình và các gia đình võ sĩ, quý tộc, trở
thành một sản phẩm nghệ thuật để trang trí và xuất hiện trong những lễ hội.

Cũng từ đó hình thức cắm hoa bắt đầu được quy phạm hóa, vừa coi
trọng chủ đề tư tưởng, vừa tôn sùng thiên nhiên; họ thường dùng 7 - 9 cành
hoa, kết hợp với một số lá: hình thức "lập hoa" thời kỳ đầu tiên tại Nhật
Vào thế kỷ XV - XVI, cắm hoa đã được phổ cập rộng rãi, nghệ thuật
cắm hoa có những bước phát triển mạnh mẽ, phong cách nghệ thuật này
cũng đã có những bước biến đổi tuơng đối lớn; ngoài hình thức "lập hoa" đã
hoàn thiện, lại còn có hình thức "sinh hoa". Đây là hình thức cắm 3 cành hoa
chính tượng chưng cho trời đất người .
Tác phẩm thường đơn giản, trong sáng, thanh nhã, được phổ cập và
phát triển mạnh mẽ. Như thế, triết lý và tư tưởng từng bước đi vào nghệ
thuật cắm hoa. Vào cuối thế kỷ XVII, "Bình sử" xâm nhập Nhật Bản và
được phát huy, tạo thành "trường phái Hoằng Ðạo".
Sau thế kỷ XVIII, Nhật Bản tiếp tục xuất hiện trường phái cắm hoa "Tự
do"; trường phái này không giống như "lập hoa" và "sinh hoa", mà dựa vào
trực giác và cảm giác, kết hợp với nhau tùy ý niệm của mỗi người, không
quá câu nệ vào hình thức nào. Đến thế kỷ XIX, nghệ thuật cắm hoa của Nhật
vào giai đoạn thoái trào, do ảnh hưởng của xã hội và chính trị thời đó; mãi
cho đến năm 1887, mới được hồi phục trở lại; tuy nhiên, trong giai đoạn này,
với việc giao lưu cùng nhiều dòng nghệ thuật nước ngoài, nhất là ảnh hưởng
của văn hoá Tây Phương cho nên phong trào cắm hoa của Nhật lại chuộng
về kiểu "Thịnh hoa" (tức là kiểu Moribana).
20
Hoa đạo của Nhật từ đó cũng đã chuyển hướng, từ cắm hoa trong bình
cao lại chuyển sang bình thấp và nông. Kiểu cắm hoa Moribana có thể được
coi là bước đột phá trong lịch sử cắm hoa Nhật Bản ; tuy nhiên bước đột phá
này vẫn chưa làm cho giới thưởng thức hoa và nghiên cứu cắm hoa Nhật
Bản thoả mãn. Vào thế kỷ XX, hoa đạo Nhật Bản có chuyển hoá khác, mang
tính chất lịch sử; đó là sự xuất hiện kiểu cắm hoa "Tự do" (Free style
arrangement), hay còn gọi là kiểu cắm hoa "tiền vệ" (Avant - garde Ikebana).
Ở một mức độ nào đó, kiểu cắm hoa này có những đường nét gần gủi với

phong cách cắm hoa hiện đại của Tây Phương. Với người Nhật, chính lối
này đã mang lại cho nghệ thuật cắm hoa Nhật trở nên rực rỡ, chói sáng.
Người Nhật thường truyền tụng những giai thoại về nhìn hoa, thưởng hoa và
vẽ hoa
2.2.4.Kiến trúc
Kiến trúc Nhật Bản có lịch sử lâu đời chịu ảnh hưởng của Trung Hoa.
Mặc dù vậy, vẫn có sự khác biệt lớn giữa hai đất nước. Một biến thể với kiến
trúc Nhật Bản thường được đặt trên sàn để ngồi, trong khi của Trung Quốc
đã cho họ ngồi trên ghế. Điều này tùy chỉnh bắt đầu thay đổi trong thời kỳ
Meiji (1868-1912).
Ảnh hưởng khác, bên cạnh lối sống, là khí hậu. Nhật Bản có kế hoạch
theo những thay đổi khí hậu và mùa. Kể từ khi Nhật Bản có mùa hè dài,
nóng, các nhà phản ánh điều đó bởi được nâng lên một chút để không khí có
thể di chuyển tất cả các xung quanh. Gỗ là một lựa chọn phổ biến cho các tài
liệu bởi vì nó điều chỉnh cũng cho động đất và hoạt động tốt với những thay
đổi mùa (mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông).
Phật giáo, cũng đã ảnh hưởng lớn đến kiến trúc Nhật Bản kể từ khi
giới thiệu từ Trung Quốc trong thời kỳ Asuka (593-710). Horyuki Đền được
xây dựng năm 607 dưới ảnh hưởng của Phật giáo, và đã được đăng ký trong
năm 1993 như là một tài sản di sản thế giới UNESCO. Cách bố trí của ngôi
đền này đã không thay đổi và được bảo quản trong những năm qua. Vị thần
21
Phật giáo tôn thờ tại đền thờ được đặt trong hội trường chính, đó là cấu trúc
bằng gỗ lâu đời nhất trên thế giới và là trung tâm của toàn bộ phức tạp.
Thời kỳ Nara (710-794) mang lại giả của thủ đô Trung Quốc. Một
thành phố vốn, Heijokyo, đã được lên kế hoạch như là một giả của thủ đô
Trung Quốc và bao gồm một mô hình bàn cờ cho các đường phố. Giới quý
tộc đã được đặt trong các tòa nhà trong thời kỳ Heian (794-1185) có các tòa
nhà chính và các phòng ngủ ở trung tâm với hành lang kết nối các căn hộ
khác. Phong cách này được gọi là shinden-zukuri và một ví dụ của việc này

là Tosanjo Palace (1043).
Katsura Rikyu ở Kyoto là một ví dụ về phong cách phổ biến trong thời
kỳ Muromachi (1333-1568). Tiệc trà phổ biến, sau đó các khu nhà trà được
xây dựng để phản ánh phong cách này. Các yếu tố gỗ thanh mảnh, đơn giản
không có đồ trang trí mất tập trung, và sự hòa hợp giữa căn nhà và khu vườn
cảnh quan có chỉ của sukiya-zukui .
Kiến trúc ở Nhật Bản với những ảnh hưởng Phật giáo đến từ Hàn Quốc
và Trung Quốc trong thế kỷ thứ VI. Đền được xây dựng dành riêng để thờ
Phật, và trong mỗi hợp chất có nhiều tòa nhà cho mục đích của tu sĩ hay nữ
tu nhà ở. Đến thế kỷ VIII, mỗi hợp chất cơ Bản bao gồm bảy tòa nhà: Chùa,
chính trường, giảng đường, tháp chuông, kho lưu trữ cho kinh điển, ký túc xá
và phòng ăn. Xung quanh hợp chất là một bức tường được thực hiện từ trái
đất có cửa mỗi bên.
Các hội trường chính trong khu đã tổ chức các đối tượng nổi bật nhất
của sự thờ phượng, giảng đường được sử dụng bởi các nhà sư để được
hướng dẫn, nghiên cứu hoặc cho nghi lễ. Trong ngôi đền đầu, giảng đường
thường là xây dựng lớn nhất. Có hai phong cách tháp chiếm ưu thế, một
trong trong đó tác phẩm kinh điển được lưu trữ và được sử dụng để thông
báo thời gian chấp hành tôn giáo mỗi ngày. Nó đã được phổ biến, trong
những ngày đầu của Phật giáo, chùa ở giữa của hợp chất. Các chùa đã tổ
chức di tích thiêng liêng, và những đối tượng chính của sự thờ phượng.
22
Trong quá khứ, kiến trúc của Nhật Bản được thể hiện rõ nét thông qua
các công trình thời tiền sử. Chúng thường chỉ là sự đơn giản chủ yếu để thích
nghi được với cuộc sống săn bắn hái lượm. Về sau, trong quá trình giao lưu
kinh tế, với các nước lân cận, đặc biệt là Hàn Quốc, Người Nhật đã nhìn thấy
các nét kiến trúc khá thú vị và tinh tế của nơi này nên họ bắt đầu hình thành
các ý tưởng thiết kế kiến trúc cho các công trình trên quê hương mình. Thực
chất, các công trình kiến trúc tại Hàn Quốc chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ
Trung Quốc, vì vậy, có thể nói kiến trúc Nhật Bản từ đây đã bắt đầu ảnh

hưởng một cách gián tiếp từ Trung Quốc.
Vườn ở Nhật mang nhiều ảnh hưởng của kiểu vườn Trung Quốc, nặng
tính tôn giáo và triết lý nhưng được "Nhật hóa" và nhấn sâu hơn bởi tính
tượng trưng và tính Thiền Kyoto là nơi hội tụ tất cả những yếu tố đó, với 9
khu vườn lớn mang đầy dấu ấn tâm linh. Phải chăng thần đạo Shinto luôn
dạy cho người dân nơi đây phải tôn thờ những sản vật của thiên nhiên nên
từng hòn sỏi, mỗi cành lá phong đỏ, những gốc cây anh đào, một cánh hạc
nơi đây đều đẹp đến độ linh thiêng.
2.2.5. Hội họa
Hội họa là một loại hình nghệ thuật lâu đời nhất và tinh tế nhất của
Nhật Bản , có nguồn gốc từ truyền thống kinh điển của lục địa vào thời kỳ xa
xưa của kịch sử (khoảng thế kỷ thứ VI, thứ VII sau Công nguyên).
Truyền thống Nhật Bản nguyên thủy đạt tới đỉnh cao của nó trong thời
kỳ Heian (1974 – 1185 sau Công Nguyên), đã có nhiều tác phẩm nghệ thuật
còn lưu truyền đến ngày nay. Trong thời kỳ chịu ảnh hưởng mạnh của Trung
Hoa, những hình thức nghệ thuật mới đã được ứng dụng, chẳng hạn như tác
phẩm vẽ về Phật, những bức vẽ bằng mực vào thời kỳ Muromachi, và các
bức họa phong cảnh trong thời kỳ Tokugawa.
Hội họa theo kiểu Nhật đã tiếp tục theo một thời trang mới, cập Nhật
hóa những khái niệm truyền thống trong khi vẫn giữ những đặc điệm thuộc
về Bản chất của nó.
23
Một số họa sĩ theo dạng này vẫn vẽ trên lụa hoặc giấy với màu và mực
truyền trống, trong khi đó có một số khác sử dụng những chất liệu mới về
Ainu, với lối thiết kế rõ ràng có nguyên mẫu từ thời tiền sử. Người ta có thể
ngược dòng lịch sử để trở về thế kỷ XV ở Nishijin, một trung tâm dệt của
Kyoto, nơi sản xuất những loại vải đẹp dành cho vua chúa và quý tộc.
Đến thế kỷ XVII, việc thiết kế mẫu vải được sử dụng khuân tô và hồ,
với phương pháp Yuzen, tức là nhuộm màu dùng hồ để phết lên những chỗ
không cần nhuộm. Cách nhuộm Yuzen đã được áp dụng trong cả việc làm

vải kim tuyến cho giới quý tộc, loại vải cấm thường dân sử dụng lúc bấy giờ.
Cách nhuộm này cũng được áp dụng để làm Kimono, rồi sau đó nền công
nghệ thời trang đương đại đã bắt chước để sử dụng cho các loại y phục kiểu
Tây phương. Ở Okinawa phương pháp nhuộm yuzen nổi tiếng này đã được
đưa vào kỹ thuật nhuộm binga ra để thiết kế ra nhiều kiểu vải màu sắc lộng
lẫy.
Sơn mài, loại plastic đầu tiên của loài người,được phát minh ở châu Á,
và việc sử dụng nó ở Nhật Bản được tính từ thời tiền sử. Đồ sơn mài thường
được làm từ gỗ, được sơn lên nhiều lớp cánh kiến đổ, mỗi lớp phải để thật
khô trước khi sơn lên lớp khác. Những lớp kiến cánh tạo thành một vỏ bọc
chống thấm nước, chống gãy, nhẹ và dễ lau chùi. Việc trang trí trên lớp mặt
với vàng hoặc là phủ màu từng lớp, hoặc trang trí trên lớp mặt vàng hoặc
khảm bằng những chất liệu quý, đã trở thành một nghệ thuật đáng giá từ thời
kỳ Nara(năm 710 – 794 sau Công Nguyên).
Việc làm giấy là một đóng góp của nền văn minh châu Á. Nghệ thuật
làm giấy từ cây dâu của Nhật Bản được cho là bắt đầu từ thế kỷ thứ 6 sau
Công Nguyên. Nhuộm giấy với nhiều màu sắc khác nhau và trang trí bằng
các mẫu thiết kế đã là một việc chính của triều đình heian, và việc thưởng
thức vẻ đẹp của giấy cùng với công dụng của nó đã tiếp tục sau đó, vời sự
thay đổi hiện đại hơn.
24
Loại giấy truyền thống gọi là Izumo được dử dụng vào việc trang trí các
fusuma (những tấm bình phong), dùng cho các họa sĩ vẽ tranh và để viết
những bức thư thanh lịch. Một số tiếng của Trung Hoa, đặc biệt là nước men
màu ngọc bích và màu xanh biển. Một trong những màu men được ưa
chuộng nhất ở Nhật Bản là màu Socola trên những chén trà do các thiền sư
mang từ đời Tống ở Trung Hoa.
25

×