ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Số: 193 /BC-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Buôn Ma Thuột, ngày 02 tháng 12 năm 2010
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI, BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG – AN NINH NĂM 2010
VÀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2011
(Báo cáo này thay cho Báo cáo số 163/BC-UBND ngày 02/11/2010 của UBND tỉnh)
Phần I
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2010
Năm 2010 là năm có ý nghĩa rất quan trọng, là năm cuối thực hiện Nghị
quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Nghị quyết số 22/2006/NQ-HĐND về kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010. Được sự lãnh đạo của Tỉnh
ủy, Uỷ ban Nhân dân tỉnh triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-
CP ngày 15/01/2010 của Chính phủ, về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều
hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà
nước năm 2010, Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ, về các
giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ
tăng trưởng kinh tế khỏang 6,5% trong năm 2010 và các văn bản chỉ đạo, điều
hành khác của Chính phủ; sự lãnh đạo của Tỉnh ủy trong năm 2010 với quyết
tâm duy trì tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững
an ninh quốc phòng, phấn đấu thực hiện đạt và vượt các mục tiêu cơ bản kế
hoạch 5 năm đã đề ra, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XV, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đồng thời tạo tiền đề vững
chắc cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và toàn diện hơn trong giai đoạn tiếp
theo.
Trong quá trình thực hiện nghị quyết, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do
tác động tiêu cực của tình trạng suy giảm kinh tế; lũ lụt, hạn hán gây hại cho cây
trồng; dịch bệnh gia súc diễn ra trên diện rộng, … song được sự chỉ đạo của
Tỉnh uỷ, sự giám sát chặt chẽ của HĐND và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh,
Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp, vận động cộng đồng doanh
nghiệp và các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các giải pháp của Chính phủ trong
chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, nỗ lực vượt qua khó khăn,
thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 15/NQ-HĐND ngày 16/12/2009
của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh - tế xã hội, đảm bảo an ninh, quốc
phòng năm 2010.
Kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2010 được đánh giá như sau:
A. Về Kinh tế
1
1- Giá trị tổng sản phẩm (giá so sánh năm 1994) ước đạt 12.813 tỷ đồng,
tăng 12,2% so với năm 2009 (KH tăng 12-13%). Trong đó:
- Nông – lâm - ngư nghiệp ước đạt 6.367 tỷ đồng, tăng 5,1% so với năm
2009 (KH tăng 5-6%);
- Công nghiệp - xây dựng ước đạt 2.253 tỷ đồng, tăng 19% (KH tăng 28-
30%);
Riêng ngành công nghiệp ước đạt 1.699 tỷ đồng, tăng 20%(KH 1.710 tỷ
đồng, tăng 22-23%).
- Dịch vụ đạt 4.193 tỷ đồng, tăng 20,8% (KH tăng 20-21%).
Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): Nông-lâm-ngư nghiệp 53,2%; công
nghiệp - xây dựng 18,4%; dịch vụ 28.4%.
2- Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 9.050 tỷ đồng, bằng 36% so với GDP
(KH 9.450 tỷ đồng).
3- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn 26.400 tỷ đồng (KH
17.800 tỷ đồng).
4- Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 620 triệu USD (KH 620 triệu
USD); Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 16 triệu USD (KH 20 triệu USD).
5- Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 2.910 tỷ
đồng (KH 2.500 tỷ đồng).
6- Phát triển hạ tầng: Thuỷ lợi bảo đảm tưới chủ động cho trên 70% diện
tích cây trồng có nhu cầu tưới (KH 70%); cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông
hóa 75,4% các tuyến đường tỉnh (KH 100%), 100% đường đến trung tâm xã
(KH 100%), 52% hệ thống đường huyện (KH 50%), 25% đường xã và liên xã
(KH 25%); 94% thôn, buôn có điện (KH 95%), trong đó 95% số hộ được dùng
điện (KH 95%).
B. Về Xã hội:
7- Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia đạt 16 %, (KH 22%). Có 84,3% thôn,
buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo( KH 80-85% thôn, buôn có trường hoặc lớp
mẫu giáo).
8- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở đạt
98%, (KH 98%).
9- Mức giảm tỷ lệ sinh khoảng 0,8%o (KH tỉnh dưới 1%o). Tỷ lệ tăng dân
số 1,36% (KH 1,3%). Quy mô dân số năm 2010 khoảng 1.758 ngàn người (KH
1.815 ngàn người).
10- Tạo việc làm mới cho 24.976 lao động (KH 36.200). Tỷ lệ lao động
qua đào tạo 37% (KH từ 37% trở lên).
11- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 10% (KH <10%).
14- Có 40 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em (KH 50
xã).
15- Có 73% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa (KH 75%). 100% buôn
đồng bào dân tộc thiểu số có nhà sinh hoạt cộng đồng (KH 100%).
16- Củng cố và nâng cao chất lượng phủ sóng phát thanh cho 100% số hộ;
phủ sóng truyền hình cho 99% số hộ (bằng 100% KH).
17- Có 90,2% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (KH 85%).
2
C. Về Môi trường:
18- Tỷ lệ dân cư đô thị được sử dụng nước sạch 60% (KH 85%).
19- Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh
71,3% (KH 75%).
20- Tỷ lệ che phủ rừng (tính cả cây cao su) 50% (KH 50%).
21- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn tại đô thị 62% (KH 60%).
D. Quốc phòng an ninh:
22- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn
với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu. Xây
dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, chủ động nắm chắc tình hình và
xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Kết quả trên các lĩnh vực thể hiện cụ thể như sau:
I. Lĩnh vực Kinh tế
1. Sản xuất nông nghiệp
Vụ Đông Xuân 2009 – 2010: tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm
40.348/36.600 ha KH, đạt 110%, vượt 3.748 ha kế hoạch và tăng 3.007 ha so
với vụ Đông - Xuân năm trước
(1)
. Tuy thời tiết không thuận lợi
(2)
song năng suất
bình quân và sản lượng lương thực vẫn tăng so với vụ Đông - Xuân năm trước.
Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 204.276 tấn, tăng 21% so với kế hoạch đã
đề ra.
Vụ Hè - Thu gieo trồng được 190.873/188.615 ha KH, đạt 101%
(3)
. Vụ Thu
- Đông đã gieo trồng được 60.965/71.480 ha KH, đạt 85,4%
(4)
.
Ước sản lượng lương thực cả năm 2010 đạt 1.000.027 tấn, tăng 3,11 % so
với cùng kỳ năm trước.
1
Trong đó:
- Lúa nước: đã thực hiện 29.782 ha/25.850ha, đạt 115,2 % KH, tăng hơn cùng kỳ năm trước 1.567 ha
(lúa lai 3.915 ha, chiếm 13,14%, giảm so với vụ Đông xuân năm trước 189 ha). Năng suất bình quân đạt 63,87
tạ/ha, sản lượng 190.219 tấn, đạt 124,7% KH và tăng 37.689 tấn so KH;
- Cây Ngô: diện tích thực hiện 2.959 ha/3.000 ha, đạt 98,63% KH, năng suất 47,51 tạ/ha, sản lượng
14.057 tấn (so vụ Đông Xuân 2008 – 2009 diện tích tăng 109,5%, năng suất bằng 88% và sản lượng ngô giảm
gần 544 tấn), nguyên nhân do ảnh hưởng hạn làm thiệt hại 353ha tại huyện Krông Bông và M’Đrắk;
- Khoai lang, sắn và cây chất bột: 1.391 ha/1.400 ha KH đạt 99,35% KH, so với Đông Xuân trước giảm
53 ha (trong đó diện tích cây sắn tăng 93 ha, diện tích cây khoai lang giảm 252 ha, cây chất bột tăng 106 ha), sản
lượng 21.001 tấn;
- Rau các loại: 2.774 ha/2.395 ha KH đạt 99,07%KH, tăng 25 ha so với Đông Xuân trước, sản lượng 43.278 tấn;
- Đậu các loại: 1.625 ha/2.000 ha KH đạt 81,25%KH, giảm 297 ha so với Đông Xuân trước, sản lượng
755 tấn;
- Cây thuốc lá: 961 ha/300 ha KH tăng 3 lần so KH và tăng hơn vụ Đông Xuân trước 651 ha, sản lượng
1.888 tấn; cây bông vải: 3 ha.
2
Tình hình thiệt hại do ngập lụt: ngày 19 và 20/01/2010, mưa diện rộng đã gây ngập lụt tại một số vùng
trũng của các huyện Lăk, Krông Ana, làm thiệt hại khoảng 600 ha lúa vụ Đông Xuân mới gieo sạ. Trong đó,
huyện Lăk: 353 ha, Krông Ana: 247,2 ha. Trong những tháng tiếp theo, tình trạng nắng nóng kéo dài làm nước
các sông, suối, hồ đập tiếp tục giảm. Các huyện Krông Păk, Lăk, Ea Kar, M’Drăk, Krông Bông, EaHleo, Krông
Ana đã xảy ra tình trạng thiếu nước tưới cho một số diện tích cây trồngn, diện tích lúa nước bị khô hạn 2.116 ha
trong đó mất trắng 788 ha; diện tích ngô bị khô hạn 83 ha; diện tích cà phê bị hạn 2.540 ha.
3
Trong đó cây lương thực có hạt: 117.605/120.470 ha KH, đạt 97,6%; cây có củ và cây có bột
25.254/21.270 ha KH, đạt 118%; rau đậu các loại: 26.738/26.835 ha KH, đạt 99,6%; cây công nghiệp ngắn ngày:
20.417/18.115 ha KH, đạt 112,7%; cây khác và cây thức ăn gia súc: 859/1.925 ha KH, đạt 44,6%.
4
Tính đến hết tháng 11/2010.
3
Chăn nuôi, thú y: Năm 2010 là năm khó khăn đối với ngành chăn nuôi
của tỉnh, từ đầu năm đến nay do liên tiếp xảy ra các bệnh dịch như: lở mồm long
móng, dịch heo tai xanh và một số bệnh khác. Tính đến nay, dịch bệnh đã hạn
chế thiệt hại cho ngành chăn nuôi của tỉnh, riêng dịch bệnh heo tai xanh ước
thiệt hại trên 100 tỷ đồng
(5)
.
UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng khẩn trương triển khai các biện
pháp chống dịch nhằm ngăn chặn dịch bệnh, không để lây lan, kéo dài, hạn chế
thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân.
Về lâm nghiệp:
Công tác khai thác gỗ rừng tự nhiên: Kết thúc khai thác gỗ thuộc chỉ tiêu
năm 2009 được 26.262/26.012 m
3
KH, đạt 101%. Thiết kế khai thác gỗ rừng tự
nhiên kế hoạch năm 2010 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT thẩm định tại
Công văn 756/TCLN-SDR ngày 19/8/2010, UBND tỉnh đang xem xét phê duyệt
theo quy định.
Về phát triển rừng: tỉnh đã tập trung chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị triển khai
kế hoạch trồng rừng năm 2010, tính đến tháng 11/2010 đã trồng được 5.984 ha
rừng tập trung
(6)
. Dự kiến đến cuối năm 2010, trồng được 7600 ha/7.075 ha KH,
đạt 107,4%, trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng trồng được 600 ha/670 ha KH, đạt
90%, rừng sản suất 7000 ha/6405 ha KH, đạt 109%.
Công tác quản lý bảo vệ rừng: mặc dù được các cấp, các ngành quan tâm
triển khai nhiều biện pháp quyết liệt và đã thu được những kết quả nhất định, song
tình trạng vi phạm lâm luật trong quản lý bảo vệ rừng vẫn diễn biến phức tạp,
rừng bị xâm hại vẫn còn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều địa phương trong tỉnh
(7)
.
Chương trình phát triển cây cao su: Đến nay các Doanh nghiệp được thuê
đất trồng cao su đã lập thủ tục để triển khai dự án. Hiện nay có 11 Doanh nghiệp
triển khai trồng gần 3.000 ha cao su tại các huyện: Ea H’leo, Ea Súp, Buôn Đôn,
Ea Kar, công tác kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án được tăng cường
kiểm soát chặt chẽ, nhằm hạn chế được các sai sót phát sinh.
5
Luỹ kế từ đầu năm đến hết tháng 11/2010 đã xảy ra dịch heo tai xanh tại 146 xã, phường, thị trấn của
14 huyện (riêng huyện Lắk không xảy ra dịch) với số lợn mắc bệnh 105.615 con, số lợn chết và phải tiêu huỷ
48.766 con (tổng trọng lượng tiêu huỷ 1.997.136 kg)
Đến cuối tháng 11/2010, có 95/146 xã, phường, thị trấn đã qua 21 ngày không phát sinh thêm gia súc bị
ốm. Sơ bộ thống kê đàn gia súc gia cầm có: Đàn trâu 33.000 con, đàn bò 245 ngàn con, đàn heo 685 ngàn con,
đàn gia cầm 7,1 triệu con, đàn ong 180 ngàn đàn.
Dịch lở mồm long móng xảy ra tại 6 huyện M’Drăk, Ea Kar, Ea Sup, Buôn Hồ, Buôn Đôn, Krông Păk,
với số trâu bò mắc bệnh là 411 con (đã điều trị khỏi bệnh được 342 con).
6
Trong đó:
- Trồng rừng bằng nguồn vốn 661: 1.745 ha/2.520 ha KH, đạt 69%KH trong đó trồng rừng phòng hộ: 520
ha/670 ha KH, đạt 77,61%KH; hỗ trợ dân trồng rừng sản xuất: 1.225 ha/1.850 ha KH, đạt 66%KH.
- Trồng rừng sản xuất bằng các nguồn vốn khác: các doanh nghiệp trong, ngoài tỉnh đăng ký 4.550 ha và
đã trồng được: 4.239 ha.
7
Trong năm 2010, số vụ vi phạm tài nguyên rừng được phát hiện là 1.115 vụ, trong đó diện tích phá rừng
trái phép: 64,92 ha; gỗ tịch thu: 2.531,640 m3; động vật rừng: 414 kg; phương tiện tịch thu: 75 xe các loại (ô tô,
máy kéo, công nông: 51 chiếc; xe máy: 24 chiếc); máy móc các loại: 89 chiếc; công cụ thô sơ thông thường: 124
chiếc; tổng các khoản thu 15.247.442.000 đồng; nộp ngân sách 13.340.342.000 đồng; kiểm tra đóng búa kiểm lâm
49.968,533m
3
; theo dõi tiêu thụ lâm sản 4.333,038m
3
. Những vụ vi phạm nghiêm trọng đã được chuyển giao cho
chức năng điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
4
Kinh tế trang trại: Hiện nay, toàn tỉnh có 1.629 trang trại, trong đó:
1.165 trang trại trồng trọt, 230 trang trại chăn nuôi, 28 trang trại thuỷ sản, 34
trang trại lâm nghiệp, 172 trang trại tổng hợp. Nhìn chung, mô hình kinh tế trang
trại của tỉnh còn ở dạng sản xuất nhỏ, đầu tư áp dụng khoa học kỹ thuật còn hạn
chế, hiệu quả và tính cạnh tranh chưa cao; phát triển chưa tương xứng với tiềm
năng.
2. Tài nguyên, Môi trường
Công tác quản lý tài nguyên môi trường được tăng cường; đã tập trung chỉ
đạo mạnh về công tác quản lý đất đai
(8)
, hoàn thành công tác kiểm kê đất và xây
dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của tỉnh, UBND tỉnh đã phê duyệt
đề cương, dự toán quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của 15 đơn vị
hành chính cấp huyện và đang tiến hành rà soát, quy hoạch sử dụng đất toàn tỉnh
đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 theo chỉ đạo của
Chính phủ.
Các hoạt động quản lý về môi trường được tăng cường; công tác kiểm tra
về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở chế biến công nghiệp được quan tâm chỉ
đạo; Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường được triển
khai rộng khắp và tổ chức tốt ngày môi trường thế giới.
4. Công nghiệp – Xây dựng
- Công nghiệp: Trong năm 2010, ngành công nghiệp gặp không ít khó
khăn do tình hình thiếu điện trong mùa khô ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
của các nhà máy, nhưng UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành điện ưu tiên đảm bảo điện
cho sản xuất, do vậy sản xuất công nghiệp vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng so với
cùng kỳ năm trước; Công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng tăng do thời tiết thuận
lợi và nhu cầu xây dựng phát triển; Công nghiệp chế biến tinh bột sắn, đường, hạt
điều nhân … sản xuất ổn định do nguồn nguyên liệu đảm bảo nhu cầu; Các sản
phẩm Bia, nước uống đóng chai, điện sản xuất, nước sinh hoạt v.v… sản xuất ổn
định và tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong năm có 2 nhà máy thuỷ điện là
Sêrêpốk 3 và Sêrêpốk 4 đã phát điện nên giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn.
Ước tính, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 (theo giá cố định năm 1994)
đạt 3.378 tỷ đồng, đạt 99% kế hoạch, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2009.
- Xây dựng: Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng so với cùng kỳ do số
lượng và quy mô các dự án đầu tư xây dựng trong tỉnh tăng mạnh. Nhìn chung,
giá trị sản xuất xây lắp và tư vấn xây dựng toàn tỉnh so với cùng kỳ năm trước
tăng đáng kể do triển khai được nhiều dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn. Ước
tính giá trị sản xuất ngành xây dựng cả năm đạt 3.800 tỷ đồng.
5. Thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu
Hoạt động thương mại, dịch vụ của tỉnh tiếp tục phát triển do sức mua
trên thị trường tiếp tục tăng mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch
8
Trong năm 2010, đã lập hồ sơ thu hồi đất của 33 tổ chức, diện tích 3.590,54 ha; giao đất cho 49 tổ
chức, diện tích 41.941,3 ha; cho 64 tổ chức thuê đất, diện tích 10.460,85 ha; chuyển mục đích sử dung đất từ đất
nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp cho 07 tổ chức, diện tích 79,38ha. Cấp 1.353 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho 520 tổ chức, diện tích 458.985,82 ha. Ký hợp đồng thuê đất với 48 tổ chức, diện tích 4.912,24 ha.
Ban hành 27 Quyết định về đơn giá thuê đất phi nông nghiệp đối với 23 tổ chức.
5
vụ cả năm ước đạt 26.400 tỷ đồng, đạt 148% kế hoạch, tăng 67% so với cùng kỳ
năm trước.
Hoạt động vận tải đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại
của nhân dân; mạng lưới xe buýt tiếp tục duy trì hoạt động tới tất cả các huyện,
thành phố, thị xã trong tỉnh và 6/8 huyện, thị xã của tỉnh Đăk Nông. Hiện nay,
trên địa bàn tỉnh có 68 doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hoá và hành
khách, trong đó có 58 doanh nghiệp kinh doanh vận tải khách với 286 tuyến liên
tỉnh và 12 tuyến nội tỉnh. Vận tải khách công cộng bằng xe buýt có 265 tuyến
với 187 xe. Vận tải khách bằng taxi có 06 đơn vị hoạt động với 306 xe với năng
lực hiện tại cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân
Dịch vụ ngân hàng đã đáp ứng khá tốt nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh
doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn. Tổng nguồn vốn huy động tại chỗ đạt
10.394 tỷ đồng, tăng 24% so với đầu năm. Mặc dù các tổ chức tín dụng trên địa
bàn đã có nhiều nỗ lực trong công tác huy động, nhiều sản phẩm và hình thức
khuyến mãi mới được áp dụng, nhưng huy động vốn đạt thấp hơn so với năm
trước. Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn huy động đã có chuyển biến tích cực theo
xu hướng tăng dần tỷ trọng tiền gửi có thời hạn trên 12 tháng (tỷ lệ tăng 11%),
giảm dần tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn
(9)
.
6. Thu - Chi cân đối ngân sách nhà nước
Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn vượt kế hoạch đề ra và
đạt mức cao nhất từ trước đến nay
(10)
. UBND tỉnh và các ngành, các cấp đã tập
trung chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt công tác thu ngân sách, kịp thời tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc tại cơ sở; triển khai các biện pháp chống thất thu thuế, xử
lý nợ đọng quyết liệt nên thu ngân sách năm 2010 đạt kết quả cao. Bên cạnh đó,
các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển nhanh; ý thức thực hiện nghĩa
vụ thuế của nhiều người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn đã góp phần quan
trọng vào việc tăng thu ngân sách nhà nước.
Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước ước đạt 5.560 tỷ đồng, đáp ứng
được các nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc
phòng, an ninh của tỉnh.
7. Hoạt động xúc tiến đầu tư và kinh tế đối ngoại
Tình hình thu hút đầu tư của tỉnh có chuyển biến tích cực, các dự án khởi
công và hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm tăng, tạo bước chuyển biến tích
cực trong môi trường đầu tư của tỉnh. Các dự án đầu tư đi vào hoạt động góp
phần giải quyết việc làm cho người dân địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Mặc dù còn nhiều khó khăn song
với sự nỗ lực của các cấp chính quyền trong công tác xúc tiến đầu tư nên việc
xúc tiến, kêu gọi đầu tư ngày càng đạt hiệu quả cao. Luỹ kế từ năm 2006 đến
nay đã thu hút 405 dự án với tổng vốn trên 60.000 tỷ đồng (Riêng trong năm
9
. Doanh số cho vay đạt 28.588 tỷ đồng, bằng 77% so với cùng kỳ năm 2009. Doanh số thu nợ đạt
26.039 tỷ đồng, bằng 79% so với cùng kỳ năm 2009. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến tháng 9/2010 đạt
26.144 tỷ đồng, tăng 10,8% so với đầu năm.
10
Thu ngân sách ước đạt 2.910 tỷ đồng, tăng 23,67% so với năm trước.
6
2010 đã thu hút được 34 dự án, với số vốn 1.808 tỷ đồng trong đó: số dự án
thuộc lĩnh vực Công nghiệp: có 05 dự án, 29 dự án còn lại thuộc lĩnh vực
thương mại – dịch vụ). Ngoài ra, tiếp và hướng dẫn thủ tục đầu tư cho hơn 70
lượt nhà đầu tư đến tìm hiểu cơ hội đầu tư vào tỉnh.
Việc vận động tài trợ ODA có nhiều khởi sắc, trong năm 2010 tỉnh đã vận
động thành công 04 dự án, gồm 01 dự án đầu tư xây dựng, 03 dự án hỗ trợ kỹ
thuật với tổng mức đầu tư 6,5 triệu USD, tiếp nhận 01 dự án do Bộ Giáo dục và
Đào tạo là cơ quan chủ quản. Nhìn chung các dự án triển khai đúng tiến độ đề
ra, tỷ lệ giải ngân các dự án ODA do tỉnh quản lý năm 2010 ước đạt 80% đối với
vốn ODA và 90% đối với vốn đối ứng.
Về tài trợ phi Chính phủ nước ngoài, tỉnh đã phê duyệt 03 dự án với tổng
vốn tài trợ gần 50.000 USD, các dự án thực hiện đúng tiến độ đề ra.
Trong năm đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 01 dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài gắn với thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Nhật Bản), tổng
vốn đầu tư 65 triệu USD. Đã được Bộ Kế hoạch Đầu tư cấp CNĐT cho 01 Dự án
đầu tư ra nước ngoài (Công ty CP Cao su Krông Búk – Rattanakiri) với tổng vốn
đầu tư 700 tỷ đồng.
8. Sắp xếp, đổi mới DNNN và phát triển doanh nghiệp
Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp được triển khai theo kế hoạch đề ra,
đã hoàn thành việc chuyển đổi 15 Công ty lâm nghiệp và 9 Công ty cà phê, cao su
thành Công ty TNHH 1 thành viên.
Số lượng doanh nghiệp dân doanh đăng ký hoạt động trên địa bàn tiếp tục
tăng. Trong năm 2010, có 630 doanh nghiệp dân doanh đăng ký thành lập mới với
số vốn đăng ký là 2.345 tỷ đồng. Ngoài ra, có 51 Chi nhánh, 15 Văn phòng đại diện
của các Doanh nghiệp đăng ký hoạt động mới
(11)
. Tổng số doanh nghiệp trên địa
bàn có 5.259 doanh nghiệp, trong đó: 4.861 doanh nghiệp dân doanh, 335 hợp
tác xã, 59 doanh nghiệp nhà nước, 04 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
có 797 Chi nhánh, Văn phòng đại diện và 47.200 hộ kinh doanh cá thể.
II. Lĩnh vực xã hội
1. Giáo dục - Đào tạo
Giáo dục phổ thông: Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung
học phổ thông năm học 2009-2010 được chuẩn bị chu đáo và tổ chức an toàn,
nghiêm túc, kết quả đậu tốt nghiệp THPT là 78,14% (tăng 9% so với năm học
trước)
(12)
. Công tác tuyển sinh vào các lớp đầu cấp (lớp 6, lớp 10) được triển khai
đúng quy định.
Năm học 2010 - 2011, toàn tỉnh có 892 trường, 15.480 lớp, 468.500 học
11
Trong 630 Doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên địa bàn, bao gồm: DNTN có 109 doanh nghiệp;
Công ty TNHH 2 thành viên 201 doanh nghiệp; Công ty TNHH 1 thành viên 251 doanh nghiệp; Công ty CP có
69 doanh nghiệp.
12
Khối trung học phổ thông có 21.935 thí sinh đăng ký dự thi, có 21.821 thí sinh dự thi, 114 thí sinh
bỏ thi chiếm 0,52%; có 3 thí sinh vi phạm quy chế thi: 01 bị đình chỉ thi, 02 bị cảnh cáo. Khối bổ túc trung học
phổ thông có 2.602 thí sinh đăng ký dự thi, có 2.532 thí sinh dự thi, 70 thí sinh bỏ thi chiếm 2,69%; có 2 thí sinh
vi phạm quy chế bị đình chỉ thi.
7
sinh từ bậc học Mầm non đến Trung học phổ thông, tăng 8 trường, giảm 4.600
học sinh so với đầu năm học trước, trong đó học sinh dân tộc thiểu số chiếm
33,6%. Số học sinh phổ thông có chiều hướng giảm do chính sách dân số và kế
hoạch hoá gia đình được thực hiện tốt hơn, dân di cư tự do đến tỉnh ta vẫn còn
nhưng giảm so với các năm trước. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học
chủ yếu là do lực học yếu, không theo kịp chương trình
(13)
. Ngành giáo dục tiếp
tục thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua trong nhà trường, đổi
mới phương pháp dạy học, tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học
sinh, số lượng và chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên
(14)
.
Công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học được quan tâm, đặc biệt
chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên thực hiện
bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn
ODA được các ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện, nhưng do nhu
cầu đầu tư rất lớn, trong khi khả năng nguồn vốn có hạn, đến nay mới có 62,7%
phòng học được xây dựng kiên cố (kế hoạch 70%), vẫn còn 35% số trường trung
học phổ thông, 70% số trường trung học cơ sở chưa có phòng thí nghiệm thực
hành được xây dựng theo quy chuẩn.
Giáo dục thường xuyên từng bước được nâng cao chất lượng và đáp ứng
về điều kiện cơ sở vật chất, chuyên môn cho người học; Trung tâm giáo dục
thường xuyên tỉnh đã mở rộng hình thức liên kết đào tạo. Các Trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện đã có nhiều hình thức hướng dẫn, tư vấn nghề
nghiệp kết hợp với học văn hóa nhằm thực hiện tốt việc phân luồng học sinh.
Giáo dục chuyên nghiệp tiếp tục được củng cố, mở rộng cả về quy mô và
ngành nghề đào tạo. Các trường chuyên nghiệp đã thực hiện tốt kế hoạch tuyển
sinh, đảm bảo chất lượng đào tạo, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên, mở rộng hình thức liên kết đào tạo để đáp ứng nhu cầu của người học.
Chương trình xây dựng nhà ở cho sinh viên bằng nguồn vốn trái phiếu Chính
phủ được triển khai thực hiện, từng bước góp phần giải quyết khó khăn, tạo điều
kiện cho sinh viên yên tâm học tập.
Công tác dạy nghề ngày càng được quan tâm
(15)
, cùng với việc tổ chức dạy
nghề cho lao động nông thôn, cho phụ nữ theo các chính sách hỗ trợ của nhà nước
(16)
, hiện nay các địa phương đang tích cực đẩy nhanh tiến độ thành lập trung tâm
dạy nghề cấp huyện, triển khai xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo các điều kiện để
thực hiện tốt đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo chỉ
đạo của Trung ương, trong năm đã khởi công 9 Trung tâm dạy nghề của các huyện,
13
Năm học 2009 – 2010 học sinh bỏ học chiếm tỷ lệ 1,1%, giảm 0,29% (năm học trước là 1,39%).
14
Đến nay đã có 15/15 huyện, 178 xã, phường được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học
cơ sở (đạt 96,7%, kế hoạch năm 2010 là 98%); 146/184 xã, phường hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi
(đạt 79,3%); 167/892 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt 18,7%, kế hoạch năm 2010 là 22%); Tỷ lệ học sinh mẫu
giáo 5 tuổi ra lớp đạt 96,58% so với trẻ 5 tuổi, trong đó học sinh dân tộc thiểu số đạt tỷ lệ 84,65%. Có 30 học
sinh giỏi quốc gia.
15
Số học sinh tuyển mới là:14.200 người, trong đó đào tạo sơ cấp nghề miễn phí cho lao động nông
thôn là 2.293 người. Dân tộc thiểu số người). Số học sinh hiện đang theo học tại các cơ sở dạy nghề: 2.742
người, chia theo trình độ đào tạo như sau: Cao đẳng nghề: 890); hệ trung cấp nghề:2.742; hệ sơ cấp nghề: 3.632
Số học sinh tốt nghiệp: 13.286 người, trong đó: Hệ Cao đẳng nghề: 121, trung cấp nghề: 583 ; hệ sơ cấp nghề:
12.032
16
Đã tổ chức được 56 lớp dạy nghề cho 1.646 người nghèo, với kinh phí 4.800 triệu đồng;
8
thị xã
17
, các đơn vị còn lại đang chuẩn bị dự án để triển khai tiếp theo kế hoạch.
2. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngành y tế đã tập trung mọi lực lượng tiếp tục triển khai các biện pháp
kiểm soát, phòng chống dịch bệnh, tăng cường công tác giám sát, phát hiện và
xử lý kịp thời ổ dịch, thực hiện tốt qui trình xử lý ổ dịch, phát hiện sớm các
trường hợp mắc bệnh để xử lý kịp thời, hạn chế tối đa các trường hợp tử vong có
thể xảy ra (cho nên trong năm 2010 chỉ có 03 trường hợp sốt xuất huyết bị tử
vong); phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan triển khai các biện pháp
phòng, chống dịch, nhất là tập trung phòng chống dịch sốt xuất huyết, sốt rét.
Các cơ sở khám chữa bệnh chuẩn bị đầy đủ cơ số thuốc, trang thiết bị cấp cứu,
điều trị và giường bệnh để kịp thời tiếp nhận điều trị sớm bệnh nhân; sẵn sàng
hỗ trợ chuyên môn cho các cơ sở y tế tuyến dưới trong việc xử lý, cấp cứu, điều
trị, chăm sóc bệnh nhân
(18)
.
Hệ thống cơ sở vật chất, nhân lực ngành y tế được tăng cường, đảm bảo
đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Tỉnh đang đầu tư, nâng cấp và
xây dựng 14 Bệnh viện đa khoa cấp huyện và khu vực; 2 bệnh viện chuyên khoa
tuyến tỉnh, 01 bệnh viện vùng; 11 Trung tâm y tế tuyến huyện, 22 trạm y tế xã;
đến nay đã đưa vào sử dụng 46.867 m
2
nhà của các bệnh viện, 5 Trung tâm y tế
huyện, 20 trạm y tế xã phục vụ cho công tác khám, điều trị bệnh cho nhân dân.
3. Lao động, thương binh và xã hội
Công tác giải quyết việc làm được chú trọng, các hoạt động xúc tiến, giới
thiệu việc làm được đẩy mạnh, các chính sách cho vay vốn để tạo việc làm được
triển khai tích cực trong năm 2010. Khai trương Sàn giao dịch việc làm và tiến
hành 03 phiên giao dịch việc làm lần thứ nhất tại Trung tâm Giới thiệu việc làm
tỉnh và 03 cơ sở vệ tinh tại các huyện: Krông Búk, Krông Ana và Ea Kar.
Về thực hiện chính sách với người có công đã được các cấp, các ngành
đặc biệt quan tâm; công tác tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ chính sách đã
được thực hiện đúng quy trình và thời gian quy định
(19)
, tạo điều kiện thuận lợi
17
Gồm Trung tâm dạy nghề các huyện, thị xã: Buôn Hồ, Cư M’gar, Cư Kuin, Krông Năng, Krông Búk,
Ea Súp, Ea Kar, Krông Ana, Ea H’leo.
18
Về tình hình sốt rét trong thời gian qua tăng nhiều về số lượng bệnh nhân và chỉ số ký sinh trung sốt
rét so với cùng kỳ năm trước. Số bệnh nhân sốt rét tăng ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố; mặc dù không có
bệnh nhân tử vong do sốt rét và không bùng phát dịch nhưng quy mô tăng như số bệnh nhân mắc sốt rét/1.000
dân tăng 55%, số người mắc sốt rét tăng 1,5 lần, 14/15 huyện có số bệnh nhân mắc sốt rét tăng so với cùng kỳ
năm 2009; Tỉ lệ ký sinh trùng sốt rét tăng 171% v.v…
Ghi nhận tại 15/15 huyện, thị xã, thành phố có số lượng bệnh nhân sốt xuất huyết tăng cao trong tháng
8 và 9, tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ năm 2009 và có 03 trường hợp tử vong. Đã triển khai các biện pháp xử lý
bằng phun hóa chất nhưng chưa được duy trì thường xuyên và các hộ gia đình vẫn chưa tự giác thực hiện các
biện pháp vệ sinh môi trường, loại trừ bọ gậy xung quanh khu vực mình sinh sống. Hiện tại bệnh vẫn đang tiếp
tục gia tăng tại các huyện, thị xã, thành phố. Ban chỉ đạo phòng chống sốt xuất huyết đang tích cực chỉ đạo các
biện pháp phòng chống bệnh.
Có 32 trường hợp nhập viện nghi cúm A/H
1
N
1
nhưng không có trường hợp nặng và dương tính.
19
Trong năm 2010, đã tiếp nhận 2.024 hồ sơ đối tượng chính sách các loại, trong đó tiếp nhận từ tỉnh
khác chuyển đến 312 hồ sơ; qua kiểm tra, thẩm định chuyển trả 316 hồ sơ không đủ điều kiện để bổ sung, hoàn
chỉnh và đã giải quyết chế độ cho 1.396 hồ sơ đủ điều kiện. Trên cơ sở nguồn kinh phí được Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội giao trong năm 2010; Sở Lao động – Thương binh xã hội đã triển khai thực hiện với
9
cho việc quản lý hồ sơ hiệu quả hơn; làm tốt công tác tiếp nhận và an táng 09
hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Cămpuchia về nước; các
chế độ chính sách cho người có công và thân nhân được giải quyết kịp thời, chu
đáo.
Công tác giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội được chú trọng thực
hiện; đảm bảo cho người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, ngoài ra
còn có các chính sách hỗ trợ đã thật sự trợ giúp cho người nghèo ổn định cuộc
sống và vươn lên làm kinh tế để thoát nghèo. Các chính sách cho đối tượng bảo
trợ xã hội được quan tâm, số đối tượng được hưởng trợ cấp tại cộng đồng ngày
càng tăng. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được các cấp, các ngành quan
tâm triển khai với nhiều hình thức như: Xây dựng các mô hình điểm về phòng,
chống tai nạn, thương tích tại xã, phường có tỷ lệ trẻ cao em bị tai nạn đuối
nước; toạ đàm, nói chuyện chuyên đề về nạn xâm hại trẻ em; các mô hình xã,
phường phù hợp với trẻ em …. Công tác phòng chống tệ nạn xã hội đã triển khai
với nhiều giải pháp nhằm hạn chế tệ nạn xã hội phát sinh trên địa bàn.
Thực hiện các chương trình, chính sách xã hội tiếp tục được các ngành,
các cấp quan tâm chỉ đạo và đạt được một số kết quả khả quan, góp phần ổn
định đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh (chi tiết như phụ lục kèm theo). Tuy
nhiên, còn một số hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới, là: Năng lực làm
chủ đầu tư của một số xã còn hạn chế, lúng túng trong việc thực hiện các chính
sách, chưa nắm chắc các quy định, hướng dẫn thực hiện kế hoạch vốn đầu tư,
đặc biệt là vốn đầu tư phát triển hạ tầng nên nhiều công trình hạ tầng chương
trình 135 ở một số đơn vị triển khai chậm. Một số đơn vị chưa làm tốt công tác
tập huấn, đào tạo và đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số thuộc chương
trình 135; Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách dân tộc chưa thường
xuyên, chưa tổ chức đồng bộ; Việc bình xét xã hoàn thành các mục tiêu của
Chương trình 135 theo Thông tư số 05/2007/TT-UBDT ngày 19/7/2007 của Uỷ
ban Dân tộc chưa được tổ chức kịp thời; Công tác tuyên truyền chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc ở một số địa phương chưa
được chú trọng hoặc có thực hiện nhưng chưa đầy đủ….
4. Công tác thông tin - truyền thông, phát thanh và truyền hình
Các hoạt động truyền thông đã tập trung phản ảnh các lĩnh vực phát triển
kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, công
tác vận động quần chúng từ tỉnh đến cơ sở, nhất là tuyên truyền, phổ biến pháp
luật trong các tầng lớp nhân dân. Hệ thống thông tin liên lạc được duy trì thông
suốt, phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội,
phòng chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh.
kinh phí 2 tỷ đồng đối với các công trình: Nhà tưởng niệm xã Quảng Điền; Nhà bia xã Ea Na huyện Krông Ana;
Nhà bia xã Ea Pil và Nghĩa trang Liệt sỹ huyện M’Đrắc; Nhà bia xã Ea Rốc huyện Ea Súp; Đài tưởng niệm xã
Ea Quang huyện Krông Păk.
Tính đến nay, tổng số đối tượng chính sách và thụ hưởng chính sách trên địa bàn của tỉnh do ngành
quản lý có khoảng 53.000 hồ sơ đối tượng; trong đó có 12.075 đối tượng đang chi trả trợ cấp hàng tháng, với số
tiền chi trả gần 10 tỷ đồng/tháng.
10
Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh đã tăng thời lượng phát sóng chương
trình địa phương so với cùng kỳ năm trước, chất lượng phát sóng đảm bảo và
nội dung các chương trình ngày càng phong phú, bám sát định hướng chung,
tuyên truyền ôn lại truyền thống yêu nước, ý chí độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội; khơi dậy niềm tự hào trong cán bộ và các tầng lớp nhân dân. Biểu
dương gương người tốt, việc tốt, các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh giỏi;
những tấm gương tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Các tác phẩm báo nói, báo hình địa phương đảm bảo đúng tôn chỉ, mục
đích; chất lượng, nội dung các chương trình không ngừng được cải tiến và nâng
cao, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin, phục vụ tinh thần giải trí của nhân dân
các dân tộc trong tỉnh.
5. Hoạt động Văn hoá - Thể thao và Du lịch
Ngành văn hóa tập trung triển khai công tác tuyên truyền cổ động và tổ
chức nhiều hoạt động văn hoá, thể thao chào mừng các sự kiện trọng đại của tỉnh
và đất nước như: Đại hội Đảng cấp cơ sở, cấp huyện và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XV, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; kỷ niệm 80 năm thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đặc biệt, tổ chức thành công các sự kiện lớn là: Lễ kỷ niệm 105 năm thành phố
Buôn Ma Thuột hình thành và phát triển, 35 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột,
Lễ công nhận Buôn Ma Thuột là đô thị loại I trực thuộc tỉnh, đón nhận Huân
chương Hồ Chí Minh vào ngày 10/3/2010; Lễ mít tinh kỷ niệm 65 năm Cách
mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Lễ kỷ niệm 80 Mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể; Lễ kỷ niệm 65 năm các ngành đã có nhiều hoạt động thiết thực
về Quốc giỗ Hùng Vương, Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội v.v…
Các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án của tỉnh về
bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc được thực hiện đạt hiệu quả cao. Đã
hoàn thành thống kê di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên toàn tỉnh,
có tổng số 59 di tích lịch sử, địa danh, trong đó: có 11 di tích, địa danh được
công nhận di tích cấp quốc gia, 01 di tích cấp tỉnh và 47 di tích lịch sử, văn hoá,
kiến trúc tiềm năng.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” triển khai
rộng khắp đến cơ sở và được đông đảo nhân dân ủng hộ. Qua đó, các họat động
văn hoá ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực, nếp sống văn hoá tốt đẹp được
giữ gìn và phát huy; các phong trào giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm
nghèo, khuyến học ngày càng được nhân rộng ở các địa phương.
Thể thao thành tích cao của tỉnh năm 2010 có tiến bộ rõ nét. Đến tháng
10/2010, các đội tuyển Thể thao Đắk Lắk đã tham dự 7 môn thi đấu trong
chương trình thi đấu Đại hội thể dục thể thao toàn quốc đạt 19 huy chương;
trong đó có 4 huy chương vàng, 4 huy chương bạc và 11 huy chương đồng
(20)
.
20
Các môn thể thao đã tham gia Đại hội gồm: Môn Boxing (nam, nữ), Wushu, Võ cổ truyền, Đẩy gậy,
Bắn nỏ, Điền kinh (tham gia giải chinh phục đỉnh cao Bà Rá) và Võ Karatedo; trong đó, môn Võ cổ truyền và
đội tuyển Boxing nam hoàn thành kế hoạch, các môn thể thao còn lại chưa hoàn thành chỉ tiêu đề ra.
Thể thao tỉnh Đắk Lắk đã tham dự 36 giải thể thao khu vực, quốc gia và quốc tế; thành tích đạt được
100 huy chương (kể cả các giải và huy chương trong chương trình thi đấu Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần
11
Ngành du lịch đạt được những kết quả tiến bộ
(21)
. Tỉnh đã xây dựng quy
hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 – 2020 và định
hướng đến năm 2030; triển khai thực hiện các chương trình của Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch và xây dựng kế hoạch phát triển Du lịch của tỉnh; Hướng
dẫn các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tăng cường công tác quảng bá, giới
thiệu các sản phẩm du lịch đặc trưng, xây dựng sản phẩm du lịch mới nhằm thu
hút khách du lịch; phối hợp cung cấp thông tin về du lịch trên các phương tiện
thông tin đại chúng; thực hiện các ấn phẩm giới thiệu hình ảnh, tiềm năng du
lịch Đắk Lắk ở trong nước và quốc tế.
6. Về Khoa học và Công nghệ
Lĩnh vực Khoa học và Công nghệ được quan tâm triển khai đồng bộ từ tỉnh
đến cơ sở, nhiều đề tài khoa học có giá trị thực tiễn cao được đưa dần vào áp dụng
trong sản xuất. Công tác ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ đã chủ
động triển khai theo kế hoạch đã đặt ra, đảm bảo được nội dung và tiến độ.
Công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường chất lượng được duy trì. Đến nay,
đã kiểm định được 8.987 phương tiện đo các loại, đạt 72% KH, trong đó có 278
phương tiện đo không đạt tiêu chuẩn (chiếm 39%). Do nguồn nhân lực thiếu,
nên công tác kiểm định phương tiện đo, nhất là kiểm định lưu động tại các
huyện chưa đáp ứng được nhu cầu kiểm định phương tiện đo của nhân dân.
III. Lĩnh vực nội chính
1. Thanh tra, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thanh tra các cấp, các ngành đã chủ động triển khai thực hiện kế hoạch
thanh tra theo đúng quy định của Luật Thanh tra
(22)
. Qua thanh tra cho thấy, các
thứ 6); trong đó có 21 huy chương vàng, 26 huy chương bạc, 53 huy chương đồng. Đội tuyển Kéo co tỉnh Đắk
Lắk đại diện quốc gia tham dự giải vô địch Kéo co châu Á và giải Kéo co châu Á mở rộng đạt 1 huy chương bạc,
2 huy chương đồng .
21
Tổng số khách đón tiếp ước đạt 200.000 lượt, đạt 57,14% kế hoạch, tăng 11,73% so với cùng kỳ năm
2009; trong đó khách quốc tế ước đạt 18.500 lượt, đạt 58,73 kế hoạch, tăng 20,92% so với cùng kỳ năm 2009;
khách trong nước ước đạt 181.570 lượt, đạt 56,99% kế hoạch, tăng 10,87% so với cùng kỳ năm 2009; công suất
sử dụng buồng phòng ước đạt 60%, tăng 11,74% so với cùng kỳ năm 2009; tổng doanh thu ước đạt 143 tỷ đồng,
đạt 71,50% kế hoạch, tăng 16,73% so với cùng kỳ năm 2009.
22
- Trong năm 2010, toàn ngành Thanh tra đã triển khai 34 cuộc thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng
các cơ quan nhà nước về việc thực hiện nhiệm vụ tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham
nhũng tại 64 đơn vị; đã kết thúc 30 cuộc tại 60 đơn vị. Trong đó: Thanh tra việc thực hiện pháp luật về khiếu nại,
tố cáo: Triển khai 20 cuộc, đã kết thúc 19 cuộc tại 39 đơn vị (Thanh tra tỉnh triển khai 5 cuộc, đã kết luận 04
cuộc, đang tiến hành 01 cuộc).
Tiến hành 72 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, trong đó thanh tra theo kế hoạch 59 cuộc, thanh tra đột
xuất 13 cuộc. Tổng số cuộc thanh tra đã kết thúc 66 cuộc, trong đó: 13 cuộc của năm 2009 chuyển qua và 53
cuộc của năm 2010. Tổng số đơn vị được thanh tra là 210, trong đó: phát hiện 150 đơn vị có sai phạm. Đã kiến nghị
xử lý trên nhiều lĩnh vực về kinh tế, đất đai, hành chính v.v…. Nhìn chung, các kiến nghị liên quan đến sai phạm
của đơn vị được thanh tra và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, phần lớn đã được các cơ quan, đơn vị
thực hiện nghiêm túc.
Ngoài ra, Thanh tra các sở, ngành trong tỉnh đã tiến hành được 2.434 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với
2.462 lượt đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trên các lĩnh vực: Y tế, Văn hóa, Du lịch, Khoa học và Công
nghệ, Thông tin và Truyền thông, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và phát triển nông thôn v.v… Qua thanh tra,
kiểm tra đã phát hiện 808 lượt đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có sai phạm. Quyết định xử phạt hành
chính với tổng số tiền 2.018 triệu đồng; đã thu nộp ngân sách 2.018 triệu động; đình chỉ thi công 129 công trình
xây dựng, đình chỉ kinh doanh đối với 02 đơn vị.
12
cơ quan, đơn vị đã tổ chức thực hiện tốt các quy định của pháp luật về giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Các sở, ngành và UBND cấp huyện đã bố trí phòng tiếp công
dân tại nơi thuận tiện, bố trí cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực
và nghiệp vụ làm công tác tiếp công dân. Đã kết thúc 11/14 cuộc thanh tra việc
thực hiện phòng, chống tham nhũng tại 21 đơn vị. Nhìn chung, các cơ quan, đơn
vị được thanh tra đã tổ chức thực hiện tương đối tốt các quy định của pháp luật
về phòng, chống tham nhũng theo thẩm quyền.
Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo và xử lý các
vụ tồn đọng đã được các cấp, các ngành quan tâm. Ở cấp tỉnh, lãnh đạo HĐND,
Đòan ĐBQH và UBND tỉnh đã thực hiện tiếp dân định kỳ vào ngày 15 và ngày
28 hàng tháng và tổ chức tiếp đột xuất khi cần thiết, đồng thời chỉ đạo Thanh tra
tỉnh tổ chức tiếp công dân hàng ngày tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh. Đơn thư
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân đều được các cấp, các ngành
tiếp nhận, phân loại, xử lý kịp thời và hướng dẫn, chuyển đơn đến đúng cơ quan
có thẩm quyền giải quyết; các vụ việc thuộc thẩm quyền đã được xác minh, kết
luận và ban hành quyết định, kết luận giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Tổng
số đơn thư khiếu nại, tố cáo đã được xác minh xử lý là 4.027 đơn, gồm 3.710 vụ
(23)
, đã xác minh, giải quyết đạt 75%.
Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế như: Việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện
kết luận, kiến nghị và quyết định xử lý về thanh tra chưa được triệt để, nghiêm
túc, nhất là trong việc thực hiện xử lý thu hồi tài chính, làm hạn chế hiệu lực, hiệu
quả công tác thanh tra. Trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, còn một số cơ quan,
đơn vị giải quyết đơn kéo dài, vi phạm thời hạn giải quyết đơn; việc chấp hành
chế độ thông tin báo cáo nói chung và nhất là báo cáo về công tác xét khiếu tố,
công tác phòng, chống tham nhũng còn một số đơn vị thực hiện không nghiêm
túc, báo cáo chậm, số liệu không đầy đủ, không rõ ràng, một số đơn vị thực hiện
kê khai tài sản, thu nhập cá nhân còn chậm, chưa xây dựng kế hoạch chuyển đổi
vị trí công tác theo quy định đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo.
2. Tư pháp
Tổ chức bộ máy Ngành tư pháp từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố,
kiện toàn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp
vụ cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ cấp xã được chú trọng triển khai.
Công tác xây dựng, thẩm định, góp ý, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật được tăng cường và nâng cao chất lượng văn bản. Công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật và trợ giúp pháp lý tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, thông tin kịp
thời các quy định của pháp luật đến với nhân dân
(24)
. Trong năm 2010, tiếp tục
23
Trong đó: Số đơn thư không thuộc thẩm quyền giải quyết và không đủ điều kiện xem xét giải quyết
là 1.793 đơn, gồm 1.476 vụ;
Tổng số đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị - phản ảnh thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan quản
lý hành chính trong tỉnh là 2.234 đơn/2.234 vụ.
24
Triển khai Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2010, toàn tỉnh đã tổ chức 568 cuộc tuyên
truyền, phổ biến các luật mới ban hành và các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân
cho 73.294 lượt cán bộ chủ chốt cấp huyện, cấp xã, báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật và nhân dân ở cơ
sở; đồng thời, thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật trên hệ thống truyền thanh, truyền hình của huyện
và đài truyền thanh, trạm truyền thanh ở cơ sở, nhằm thông tin kịp thời các quy định của pháp luật đến cán bộ,
13
rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, gắn với việc thực hiện cơ chế một
cửa, cơ chế một cửa liên thông, nhằm giải quyết kịp thời, thuận lợi các yêu cầu
của công dân, tổ chức, doanh nghiệp.
3. Nội vụ
Công tác cán bộ, công chức, viên chức được thường xuyên kiện toàn;
thực hiện nâng lương, xếp chuyển ngạch lương, thuyên chuyển công tác cho cán
bộ công chức theo đúng quy trình, quy định. Tỉnh tiếp tục thực hiện phân cấp
thẩm quyền tuyển dụng viên chức sự nghiệp công lập cho các Sở, ban, ngành,
UBND các huyện, thị xã, thành phố nhằm nâng cao tính chủ động và trách
nhiệm cho các đơn vị.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức luôn được
quan tâm, chú trọng, đã tổ chức các lớp tập huấn và cử các cán bộ công chức
tham gia nhằm nâng cao năng lực, yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ.
Công tác cải cách hành chính tiếp tục được thực hiện đạt kết quả tốt. Tỉnh
đã hoàn thành việc rà soát thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ;
công tác kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và
hoàn trả hồ sơ của các đơn vị được duy trì. Việc tổng kết thực hiện chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 được các cấp, các
ngành quan tâm chỉ đạo và thực hiện, làm rõ những kết quả đạt được, rút ra
những yếu kém, hạn chế để có định hướng sát hơn, thực hiện hiệu quả hơn công
tác này trong giai 2011 - 2020.
Công tác thi đua, khen thưởng được thực hiện kịp thời và theo đúng quy
trình. Tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội thi đua yêu nước lần thứ 9, qua đó
tuyên dương, khen thưởng nhiều cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc ở các
ngành, các địa phương, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của
tỉnh, qua đó duy trì được các phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn
trong các cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư.
Công tác Tôn giáo thường xuyên được các cấp, các ngành rất quan tâm.
Đã hướng dẫn các tôn giáo hoạt động theo đúng pháp luật; các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo của đồng bào có đạo được tạo điều kiện thuận lợi tổ chức trang
trọng, an toàn, tốt đẹp …
4. Phòng chống tham nhũng:
Công tác phòng chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển
biến tốt. Ban Chỉ đạo về phòng chống tham nhũng của tỉnh đã chủ động tăng
cường kiểm tra, đôn đốc các ngành, địa phương trong tỉnh thực hiện Luật Phòng
chống tham nhũng; Các cơ quan chức năng trong tỉnh đã bám sát và thực hiện
tốt công tác phòng chống tham nhũng: tăng cường công tác quản lý cán bộ, công
chức, làm tốt công tác chính trị tư tưởng kết hợp với các biện pháp phòng ngừa
như: Công khai, minh bạch trong việc tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bổ
nhiệm, chuyển ngạch, luân chuyển, điều động, thi đua khen thưởng; công khai
các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; triển khai mới 06 cuôc thanh ta kinh tế - xã
hội, nộp ngân sách nhà nước 74 triệu đồng.
nhân dân ở từng địa phương.
14
IV. Quốc phòng, An ninh và Trật tự an toàn xã hội
Công tác quốc phòng được thực hiện thường xuyên, nghiên túc ở tất cả các
cấp, các ngành. Tuyển quân năm 2010 được triển khai đúng quy định của pháp
luật, đảm bảo cả số lượng và chất lượng.
Trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Các đơn vị nghiệp vụ, Công an tỉnh
và các huyện, thị xã, thành phố đã chủ động xây dựng kế hoạch tập trung đấu
tranh quyết liệt đã kiềm chế và giảm hoạt động của tội phạm hình sự, không để
hình thành băng nhóm tội phạm, gây án nghiêm trọng … Do vậy, các tệ nạn xã
hội đã hạn chế hơn
(25)
, việc chấp hành pháp luật giao thông có chuyển biến tích
cực, tai nạn giao thông giảm về số người chết và người bị thương
(26)
. Tuy nhiên,
thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm ngày càng liều lĩnh, táo bạo và tính chất rất
nghiêm trọng; tình trạng học sinh, thanh thiếu niên vi phạm pháp luật còn nhiều.
ĐÁNH GIÁ CHUNG
Trong bối cảnh chung của cả nước và của địa phương còn nhiều khó
khăn, kết quả đạt được trên các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2010 là
rất khả quan. Kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì được tăng trưởng cao, thu ngân
sách vượt kế hoạch, đầu tư phát triển được đẩy mạnh, huy động và giải ngân vốn
đầu tư có chuyển biến tích cực. Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển khá, tổng
mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và du lịch đều tăng. Sản xuất
nông nghiệp tuy bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, nhưng vẫn đạt kế hoạch
(năm 2010, lần đầu tiên tỉnh Đắk Lắk tham gia vào Câu lạc bộ 01 triệu tấn lương
thực). Chất lượng giáo dục, y tế được nâng lên; các hoạt động văn hoá, thể thao
được tổ chức đa dạng, rộng khắp, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân. Các
chính sách xã hội được thực hiện kịp thời, đầy đủ. Cải cách hành chính, hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước các cấp được nâng cao; An ninh quốc phòng, trật
tự an toàn xã hội được giữ vững.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: nền kinh tế của tỉnh đang tăng
25
Tính đến 30/9/2010:
Tội phạm kinh tế, môi trường xảy ra 115 vụ, 160 đối tượng, giảm 22 vụ, 42 đối tượng so với cùng kỳ
năm 2009, thiệt hại tài sản ước tính gần 15 tỷ đồng. Nổi lên vẫn là hành vi vi phạm các quy định về khai thác,
bảo vệ rừng và một số hành vi trốn thuế, tham nhũng, kinh doanh trái phép, khai thác khoáng sản trái phép v.v…
Xảy ra 13 vụ trộm cắp cáp viễn thông xảy ra tại địa bàn huyện Krông Pắk, Krông Búk, Krông Bông,
TX Buôn Hồ, thành phố Buôn Ma Thuột. Kẻ trộm đã cắt phá loại sợi Cable 200 x 2 x 0,5 với tổng chiều dài
2565m, gây thiệt hại cho doanh nghiệp 289.695.441đồng. Hiện Công an tỉnh và Công an các huyện, thành phố
liên quan đang phối hợp điều tra.
Tội phạm hình sự xảy ra 824 vụ, làm chết 32 người, bị thương 243 người, thiệt hại tài sản trị giá
khoảng 15,3 tỷ đồng, giảm 59 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đã điều tra làm rõ 586 vụ, bắt 746 đối tượng, thu
hồi tài sản trị giá trên hai tỷ đồng.
Tội phạm ma túy: Phát hiện và bắt giữ 45 vụ, 69 đối tượng, giảm 6 vụ, 25 đối tượng so với năm 2009.
Hoạt động của tội phạm ma túy trong thời gian qua thường là tàng trữ, vận chuyển, buôn bán với số lượng ít, chủ
yếu tại đại bàn thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ, huyện Ea H’Leo, Krông Năng, Ea Kar.
26
- Tai nạn giao thông: xảy ra 246 vụ, chết 253 người, bị thương 158 người, hư hỏng 332 phương tiện
các loại, so với cùng kỳ tăng 5 vụ, giảm 12 người chết, giảm 26 người bị thương.
.
15
trưởng khá cao so với mức tăng trưởng chung của cả nước, nhưng thiếu tính bền
vững và quy mô nền kinh tế quả nhỏ so với tiềm năng của tỉnh; tác động của suy
thoái kinh tế thế giới còn rất nặng nề; tình hình thời tiết bất lợi, dịch bệnh phát sinh
diễn biến phức tạp gây hậu quả, thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế của tỉnh; việc huy
động vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó
khăn, hạn chế; nhu cầu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đòi hỏi rất
lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước; tai, tệ nạn xã hội mặc dù
đã được kiềm chế và giảm, nhưng vẫn còn ở mức cao, phức tạp và nghiêm trọng.
Phần II
MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VÀ CÁC NHIỆM VỤ CHỦ YẾU NĂM 2011
Năm 2011 có ý nghĩa đặc biệt đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV
và kế hoạch 5 năm 2011-2015. Theo dự báo, năm 2011, kinh tế thế giới tiếp tục
phục hồi nhưng chưa vững chắc và còn nhiều khó khăn. Thị trường xuất khẩu
chính của mặt hàng cà phê của tỉnh như Hoa Kỳ, EU tăng trưởng chậm. Sự hội
nhập kinh tế thế giới của nước ta ngày một sâu hơn, đặc biệt là hội nhập Đông Á
và việc thực hiện các Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN và ASEAN mở rộng
ngày càng sâu rộng, tạo ra cơ hội nhưng cũng đặt ra những thách thức rất lớn đối
với nền kinh tế nước ta, tất yếu sẽ tác động ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Ở trong nước, nền kinh tế phục hồi khá nhanh và lấy lại đà tăng trưởng
sau ảnh hưởng của khủng hoảng; chính trị xã hội ổn định, môi trường kinh
doanh tiếp tục được cải thiện, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước bắt đầu phát huy hiệu quả, đây là những thuận lợi cơ bản. Tuy nhiên, vẫn
còn những yếu tố gây lạm phát cao và bất ổn định kinh tế vĩ mô.
Ở tỉnh ta, Đại hội Đảng bộ các cấp đã thành công tốt đẹp, tạo ra những
động lực mới. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra những mục
tiêu, nhiệm vụ và giải pháp quan trọng, tạo điều kiện cho các ngành, các cấp cụ
thể hóa và triển khai thực hiện ngay từ đầu nhiệm kỳ. Một số dự án, công trình
trọng điểm đã đầu tư xong đưa vào khai thác, sử dụng làm tăng thêm năng lực
sản xuất mới cho nền kinh tế. Tuy nhiên, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí
hậu; giá cả nguyên liệu đầu vào có xu hướng tăng có thể tác động xấu đến sự
phát triển, nhất là sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Nhu cầu đầu tư
cho hạ tầng kinh tế - xã hội lớn, nhưng nguồn vốn đầu tư có hạn đã cản trở sự
phát triển. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn còn diễn biến
phức tạp.
Trên cơ sở kết quả thực hiện kế hoạch năm 2010, định hướng giai đoạn
2011-2015, các dự báo nêu trên, dự kiến mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ
yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng năm
2011 như sau:
I. Mục tiêu tổng quát
Tổ chức triển khai thực hiện các định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội tỉnh
16
Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, tạo điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu
của kế hoạch 5 năm 2011-2015 trong những năm tiếp theo. Tập trung mọi nỗ lực
phấn đấu thúc đẩy sản xuất phát triển, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền vững,
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp,
dịch vụ. Đổi mới mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nâng cao rõ rệt chất lượng
giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và y tế, văn hóa, thể dục thể thao;
cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kết hợp giữa
phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, chăm
lo công tác quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và bảo đảm
quốc phòng, an ninh.
II. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2011
(1) Các chỉ tiêu kinh tế:
1- Tổng sản phẩm xã hội (giá so sánh 1994) 14.580 tỷ đồng. Tăng trưởng
kinh tế 13,8 % so với ước thực hiện năm 2010.
Trong đó:
- Nông, lâm, ngư nghiệp 6.720 tỷ đồng, tăng 5,6%.
- Công nghiệp - xây dựng 2.760 tỷ đồng, tăng 22,5%.
Riêng công nghiệp 2.090 tỷ đồng, tăng 23%
- Dịch vụ 5.100 tỷ đồng, tăng 21,7 %.
*. Cơ cấu kinh tế
(27)
: Nông-lâm-ngư nghiệp 46 - 47%; công nghiệp - xây
dựng 18 - 19%; dịch vụ 34 -35%.
2- Huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 11.000 tỷ đồng, tăng 21,5% so
với kế họach thực hiện năm 2010, bằng khoảng 36,4% tổng sản phẩm xã hội.
3- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn 27.500 tỷ đồng, tăng 4,2%
so ước thực hiện năm 2010.
4- Tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 650 triệu USD, tăng 4,8% so ước
thực hiện 2010; Tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 20 triệu USD, tăng 25% so
ước thực hiện 2010.
5- Thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn khoảng 3.400 tỷ đồng, tăng
16,8% so với ước thực hiện năm 2010.
6- Phát triển hạ tầng: Thuỷ lợi bảo đảm tưới chủ động cho trên 72% diện
tích cây trồng có nhu cầu tưới; cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa 80% các
tuyến đường tỉnh, 57% hệ thống đường huyện, 28,7% đường xã và liên xã;
95,2% thôn, buôn có điện, trong đó 95,8% số hộ được dùng điện.
(2) Về xã hội:
7- Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia đạt 22%. Có 87% thôn, buôn có
trường hoặc lớp mẫu giáo.
8- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở đạt 100%.
9- Thu nhập bình quân đầu người 17 triệu đồng/năm
10- Mức giảm tỷ lệ sinh khoảng từ 0,8%o. Tỷ lệ tăng dân số 1,3%. Quy
mô dân số năm 2011 khoảng 1.778 ngàn người.
27
Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): Nông-lâm-ngư nghiệp 49-50%; công nghiệp - xây dựng 19 -
20%; dịch vụ 30 -31%.
17
11- Tạo việc làm mới cho 25.200 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo so
với tổng số lao động 39 %, trong đó qua đào tạo nghề 31%.
12- Giảm tỷ lệ hộ nghèo 3% so với năm 2010.
13- Có 74,4% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. 100 % buôn đồng
bào dân tộc thiểu số có nhà sinh hoạt cộng đồng.
14- Phủ sóng phát thanh, truyền hình (đài địa phương) cho 100% số hộ.
15- Có 93% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
16- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn
với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu. Xây
dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, chủ động nắm chắc tình hình và
xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
(3) Về môi trường:
17- Tỷ lệ dân cư đô thị được sử dụng nước sạch trên 65%.
18- Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh trên 73,8%.
19- Tỷ lệ che phủ rừng (tính cả cây cao su) 50,5%.
20- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn tại đô thị 65%.
III. Định hướng nhiệm vụ phát triển ngành, lĩnh vực chủ yếu
1. Về kinh tế
Tập trung thực hiện các giải pháp để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, từng
bước nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và
từng sản phẩm.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành theo hướng cạnh tranh: Phát
triển công nghiệp dựa trên lợi thế nguồn nguyên liệu từ sản phẩm nông nghiệp,
phát triển chế biến sản phẩm nông nghiệp và phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho ngành sản xuất nông, lâm,
thuỷ sản, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp; triển khai
các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo chỉ đạo của
Chính phủ ngay từ đầu năm 2011 có giải pháp phục hồi đàn gia súc sau dịch
bệnh để các hộ nông dân có điều kiện phát triển chăn nuôi theo hướng công
nghiệp; làm tốt công tác quy hoạch, chuẩn bị các điều kiện để xây dựng chương
trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới theo Nghị quyết Trung ương 7 đảm
bảo cho sự phát triển bền vững. Phát triển và đa dạng hoá các ngành và sản
phẩm dịch vụ, tăng số lượng và chất lượng các sản phẩm du lịch trên địa bàn
tỉnh ; mở rộng mạng lưới dịch vụ ở nông thôn, hỗ trợ và khuyến khích các thành
phần kinh tế từng bước đầu tư xây dựng các chợ đầu mối huyện, xã, phường, thị
trấn theo quy hoạch. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cả trong và ngoài nước
cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, trong đó đẩy mạnh đầu tư các dự án
có hiệu quả, các công trình hạ tầng quan trọng, tập trung vốn cho các công trình
hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2011 và 2012; không đầu tư mới các
công trình chưa cấp thiết, hiệu quả thấp. Tiếp tục cải cách, đơn giản hóa các thủ
18
tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, tạo điều kiện kinh doanh
thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp. Triển khai linh hoạt các chính sách tiền
tệ của Nhà nước nhằm giữ vững ổn định kinh tế, phòng ngừa lạm phát, đáp ứng
nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đảm bảo cân đối thu chi ngân sách nhà nước, cân
đối cung cầu hàng hóa và các cân đối lớn khác của tỉnh .
2. Về khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và các lĩnh vực xã hội
Trong năm 2011, có giải pháp hữu hiệu tạo bước chuyển biến mạnh mẽ
trong việc chuyển giao ứng dụng và phát triển công nghệ cao, kỹ thuật và công
nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; thực hiện có hiệu quả
chương trình hỗ trợ và chuyển giao tiến bộ khoa học kỷ thuật tại các vùng nông
thôn, miền núi đến năm 2015 và Đề án phát triển nông nghiệp công nghệ cao
của Chính phủ đến năm 2020.
Đẩy mạnh xã hội hóa để huy động tốt hơn các nguồn lực xã hội cho giáo
dục, đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao.
Triển khai Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đọan 2011 - 2020,
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, trong
đó chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ. Triển khai thực
hiện Chiến lược Giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ và
thực hiện tốt Chủ đề năm học 2010 -2011: “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng
cao chất lượng giáo dục”. Chuẩn bị chu đáo về giáo trình và giáo viên để thực
hiện tốt Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 09/7/2010 của HĐND tỉnh về
việc dạy tiếng Êđê trong trường tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2010-
2015. Đẩy mạnh các giải pháp cả về đầu tư cơ sở vật chất, tuyên truyền vận
động, để thu hút trên 75% trẻ em trong độ tuổi tuổi vào học mẫu giáo, triển khai
thực hiện đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, 96% trẻ em 6 tuổi vào
học lớp 1 trong năm học 2011-2012. Thực hiện tốt công tác xây dựng trường đạt
chuẩn quốc gia, đổi mới phương pháp dạy học, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, học
sinh bỏ học, đổi mới công tác định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh.
Nâng cao chất lượng nghề nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội.
Chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tạo điều kiện để mọi
người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử
dụng các dịch vụ y tế có chất lượng. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra,
kiểm soát chất lượng và giá thuốc trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên kiểm tra, xử
lý các vụ việc vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm; làm tốt công tác y tế dự
phòng, kịp thời ngăn chặn và hạn chế dịch bệnh xảy ra trên diện rộng.
Cụ thể hóa Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020; Chương
trình giảm nghèo bền vững và Chương trình việc làm giai đoạn 2011 – 2015 của
tỉnh. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác
giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động và xóa đói, giảm nghèo, tập trung cho
các huyện và xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Rà
soát tiêu chí để xây dựng thêm 5 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với
19
trẻ em. Triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, các
chính sách cho đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách đối với các
đối tượng bảo trợ xã hội; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối
với học sinh, sinh viên.
3. Về bảo vệ tài nguyên, môi trường
Tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện và áp dụng các chế tài theo quy định
của pháp luật để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường,
đặc biệt là các vi phạm gây ô nhiễm trong các khu đô thị, khu dân cư, các vi
phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm và vi phạm các quy định pháp luật trong
quản lý bảo vệ rừng. Triển khai có hiệu quả Đề án di dời các cơ sở chế biến gỗ
vào các cụm, điểm công nghiệp.
Tiếp tục rà soát để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường phát sinh ở
khu vực các nhà máy, các khu, cụm công nghiệp, các khu đông dân cư; đầu tư
hệ thống xử lý nước thải trong các khu, cụm công nghiệp.
Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên, đảm bảo nền kinh
tế phát triển bền vững. Đẩy mạnh xã hội hoá và nâng cao nhận thức của toàn xã
hội về công tác bảo vệ môi trường.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức về môi
trường. Gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội
theo quan điểm phát triển bền vững.
4. Về quản lý nhà nước, cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí và phòng chống tham nhũng
Tiếp tục chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả đơn giản hóa thủ tục hành chính
trên các lĩnh vực quản lý nhà nước và áp dụng có hiệu quả bộ thủ tục hành chính
tại các cấp chính quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà
nước. Triển khai Đề án Chính phủ điện tử, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ
thông tin gắn với việc đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính
từ cấp tỉnh đến xã quản lý, tạo sự công khai, minh bạch trong công tác quản lý
nhà nước. Tổ chức thực hiện nghiêm Luật Cán bộ công chức, bảo đảm dân chủ
và đề cao kỷ luật, tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ. Xử lý nghiêm các
trường hợp vi phạm, báo cáo không trung thực.
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hành tiết kiệm, phòng chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu, đặc biệt trong các lĩnh vực: quản lý đất đai, khoáng
sản, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý vốn, tài sản của Nhà nước, tuyển dụng cán
bộ, công chức, viên chức. Chú trọng thực hiện các biện pháp phòng ngừa, tăng
cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát; xử lý kịp thời, nghiêm
minh các vụ, việc vi phạm. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, nâng
cao ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo thành thói quen, nếp sống
của mỗi người và cả cộng đồng.
Thực hiện tốt công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng
cường đối thoại, xử lý kịp thời, dứt điểm các vụ việc từ cơ sở, không để tồn
đọng kéo dài gây bức xúc, bất bình trong nhân dân.
5. Về quốc phòng, an ninh
20
Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, củng cố thế trận quốc phòng
toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
vững mạnh toàn diện. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm
quốc phòng, an ninh. Chủ động phát hiện, ngăn chặn mọi âm mưu chống phá,
gây rối, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, kiên quyết giữ vững an ninh chính
trị và trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục duy trì tốt mối quan hệ hữu nghị
với tỉnh Mondulkiri - Vương quốc Cămpuchia, tăng cường bảo vệ an ninh biên
giới, và các địa bàn trọng điểm. Thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc
gia về phòng, chống tội phạm, phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Xây dựng xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng, an ninh đạt trên
83%, trong đó có trên 67% đơn vị vững mạnh toàn diện.
IV. Các giải pháp chủ yếu để phát triển ngành, lĩnh vực
1- Giải pháp mang tính đột phá :
Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ
tỉnh lần thứ XV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015, cần
tập trung thực hiện một số giải pháp mang tình đột phá như:
(1)- Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước; gắn với việc ban hành chính sách thu hút đầu tư
đồng bộ, thông thoáng nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư trên địa bàn tỉnh.
(2)- Tiếp tục tổ chức, thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển cà phê
bền vững, kế hoạch phát triển cao su, dự án phát triển ca cao; chế biến nông –
lâm sản và xuất khẩu để nâng cao hiệu quả ngành nông nghiệp và công nghiệp.
(3)- Hoàn thành công tác quy hoạch đô thị Buôn Ma Thuột và các đô thị
thuộc tỉnh đảm bảo cho sự phát triển trong tương lai theo định hướng phát triển
của tỉnh đến năm 2020; đồng thời với việc tranh thủ nguồn vốn ngân sách TW,
vận động nguồn vốn ODA và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế,
kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đầu tư một số công trình kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hình thức BOT Nhằm phát triển thành phố
Buôn Ma Thuột thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên (giai đoạn 2010 -
2020) theo Kết luận số 60-KL/TW ngày 27/11/2009 của Bộ Chính trị và các đô
thị thuộc tỉnh gắn với đầu tư các cụm công nghiệp để kêu gọi đầu tư.
(4)- Đánh giá hiệu quả đầu tư trên lĩnh vực du lịch và có kế hoạch thu hồi
các dự án du lịch kém hiệu quả; đẩy mạnh tổ chức xúc tiến thu hút đầu tư trên
lĩnh vực du lịch với các sản phẩm mới, chuẩn bị một số dự án kêu gọi các nhà
đầu tư có tiềm năng, nhằm chuyển biến mạnh mẽ lĩnh vực kinh doanh du lịch.
2- Các giải pháp chủ yếu :
a. Giải pháp về quy hoạch
- Tiếp tục đánh giá, rà soát và điều chỉnh quy hoạch ngành, lĩnh vực đã
đến cuối kỳ quy hoạch, hoàn thành các thủ tục và phê duyệt Quy hoạch phát
triển KTXH đến năm 2020 của các địa phương: huyện Lắk, Ea Kar, Cư M’gar,
thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ. Kết hợp giữa quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch xây dựng và sử dụng
đất. Tiến hành quy hoạch chi tiết khu trung tâm hành chính, khu dân cư, các khu
21
chức năng khác của các thị trấn, huyện lỵ; tập trung xây dựng hoàn thiện các cơ
sở hạ tầng, các công trình công cộng của các thị trấn, huyện lỵ.
- Mở rộng giám sát cộng đồng đối với công tác quy hoạch, nhất là đối với
việc công khai thực hiện các dự án quy hoạch. Tiếp tục kiểm tra, thanh tra quản
lý xây dựng và kế hoạch sử dụng đất đai ở các địa phương. Tăng cường giám sát
thực hiện các dự án quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, xử lý nghiêm khắc các
vi phạm trong quản lý quy hoạch, quản lý đất đai.
- Triển khai có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới theo Quyết
định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ.
- Tổ chức thực hiện nghiêm túc quy hoạch mạng lưới chế biến lâm sản,
sớm di dời các cơ sở chế biến gỗ vào các cụm, điểm công nghiệp. Quy hoạch và
tạo điều kiện hình thành các làng nghề, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn Trung
ương hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề, sớm xây dựng một số làng nghề
truyền thống gắn với phát triển điểm du lịch. Quy hoạch khai thác sử dụng tài
nguyên rừng và khoáng sản một cách hợp lý, phù hợp với nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.
b. Giải pháp về huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển:
- Thực hiện có hiệu quả chủ trương ngoại giao kinh tế, xúc tiến thương
mại, đầu tư và du lịch, tranh thủ mọi nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội; gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo an ninh, quốc phòng.
- Tạo môi trường thông thoáng, ổn định, bảo đảm sự bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế để mọi tổ chức, cá nhân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh. Thực hiện Kế hoạch hành động nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh, thiết lập môi trường minh bạch, thông thoáng trong quản lý, đầu tư và
giải quyết thủ tục hành chính để tạo mọi điều kiện cho các nhà đầu tư phát triển
sản xuất.
- Rà soát, đánh giá các chính sách khuyến khích đầu tư của tỉnh ban hành,
để sớm điều chỉnh, bổ sung hoặc ban hành chính sách mới thu hút đầu tư trong
giai đoạn 2011-2015.
- Phối hợp tốt với các Bộ, Ngành Trung ương và chủ động bám sát các nhà
tài trợ lớn như DANIDA, GTZ, JICA, WB, ADB, KOICA, AP… để tranh thủ
các nguồn vốn ODA và NGO, trong đó chú trọng vận động tài trợ các dự án
trọng điểm như Quy hoạch mở rộng và xây dựng hạ tầng thành phố Buôn Ma
Thuột, Đầu tư nâng cấp các trạm xá tuyến xã đạt chuẩn quốc gia (do AP tài trợ)
… và các dự án đã phê duyệt trong chương trình vận động ODA giai đoạn 2011-
2015 theo Quyết định số 468/QĐ-UBND ngày 11/02/2010 của UBND tỉnh. Tiếp
tục mở rộng chương trình hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh trong
vùng Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã
hội và quốc phòng - an ninh, tạo ra mối liên kết vùng trong thu hút các nguồn
vốn đầu tư và nâng cao khả năng khai thác các tiềm năng hiện có cho phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Tiếp tục tranh thủ sự hỗ trợ ngân sách từ Trung ương. Quy hoạch và tổ
chức đầu tư hạ tầng một số khu đô thị, vừa giải quyết nhu cầu về đất ở cho dân
cư đô thị vừa tạo nguồn thu từ tiền bán quyền sử dụng đất, nhằm tạo nguồn ngân
sách để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho thành phố Buôn Ma
22
Thuột, thị xã Buôn Hồ, các thị trấn thuộc tỉnh và một số chương trình quan trọng
của tỉnh.
c. Giải pháp về phát triển các ngành, lĩnh vực:
* Phát triển nông nghiệp, nông thôn:
- Chuyển đổi mạnh cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, thay thế các giống cũ
bằng giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, đi đôi với áp dụng tiến bộ khoa
học trong kỹ thuật lai, ghép, thâm canh và công nghệ sinh học để tăng năng suất,
chất lượng sản phẩm. Triển khai chương trình tái canh cây cà phê đối với diện
tích cà phê đã hết chu kỳ kinh doanh và sâu bệnh nặng theo hướng thay thế dần
và không làm giảm sản lượng đột ngột, ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu
truyền thống.
- Tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học công nghệ
trong việc thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt
điều, ca cao, nông sản khác v.v… trong quá trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản
và chế biến. Đầu tư nâng cao năng lực hoạt động khoa học công nghệ, đặc biệt
là đầu tư nghiên cứu công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch đối với nông
sản phụ vụ chế biến và xuất khẩu.
- Tiếp tục mở rộng mô hình sản xuất lúa giống F1 thương phẩm để đem lại
thu nhập cao cho nông dân. Chọn một số vùng sản xuất lúa có sản lượng lớn để
sản xuất lúa hàng hóa. Đánh giá các mô hình sản xuất rau và nông sản an toàn để
từng bước hỗ trợ nông dân phát triển ra diện rộng và tạo thị trường ổn định.
- Có kế hoạch phục hồi đàn gia súc sau dịch bệnh và tăng cường nghiên
cứu nhân rộng các mô hình chăn nuôi các giống mới có hiệu quả kinh tế cao, có
thị trường ổn định như nuôi cá Hồi ở huyện Krông Bông, heo rừng lai F1 và một
số sản phẩm hàng hóa khác được thị trường tiêu thụ ổn định
- Chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch động vật, kịp thời
phát hiện và xử lý có hiệu quả khi có dịch bệnh xảy ra.
- Tập trung bảo vệ tốt diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng hiện có, đồng
thời thực hiện các biện pháp lâm sinh hợp lý (khoanh nuôi tái sinh, trồng mới,
v.v…) để phục hồi các diện tích đất quy hoạch rừng phòng hộ. Từng bước thí
điểm và triển khai ra diện rộng việc cấp chứng chỉ rừng, đảm bảo kinh doanh
rừng bền vững.
- Rà soát, củng cố bộ máy quản lý các Công ty nông – lâm nghiệp nhằm
nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này.
- Triển khai thực hiện đề án phát triển kinh tế xã hội 03 huyện nghèo, 02
huyện biên giới và phát triển kinh tế thôn, buôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số
tại chỗ.
- Tập trung lãnh đạo để các cấp, các ngành có giải pháp đầu tư, tổ chức
thực hiện có hiệu quả Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn giai đoạn
2009 - 2015 và định hướng đến năm 2020 ban hành theo Quyết định số
3043/QĐ-UBND ngày 02/11/2009 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh.
- Thực hiện Đề án quy hoạch, đầu tư nguồn lực để thực hiện tốt chính sách
phát triển kinh tế trang trại giai đoạn 2010-2015 theo chỉ đạo của Chính phủ và
Nghị quyết số 06/2009/NQ-HĐND ngày 10/7/2009 của Hội đồng Nhân dân tỉnh.
- Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết TW7, khóa X về nông nghiệp, nông
23
dân và nông thôn; gắn với việc quy hoạch, khảo sát, đánh giá thực trạng nông
thôn theo tiêu chí nông thôn mới để có kế hoạch tổ chức thực hiện Đề án phát
triển nông thôn mới ở các xã, trước mắt tổ chức thí điểm việc xây dựng xã nông
thôn mới và nhân ra diện rộng.
* Phát triển công nghiệp:
- Rà soát, bổ sung Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Đắk Lắk đã phê
duyệt tại Quyết định số 3007/QĐ-UBND ngày 28/12/2005 và Quyết định số
3742/QĐ-UBND ngày 22/12/2009 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh.
- Tập trung đầu tư xây dựng hoàn thành cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp
Hòa Phú và các Cụm công nghiệp trọng điểm bao gồm: Cụm công nghiệp Ea
Đar, Buôn Hồ, Tân An 1- 2, Trường Thành và Cư Kuin; đẩy mạnh công tác
quản lý và xúc tiến đầu tư nhằm thu hút đầu tư để tăng tỷ lệ lấp đầy trong các
khu, cụm công nghiệp, ưu tiên các dự án có suất đầu tư lớn trên một đơn vị diện
tích, hạn chế việc đầu tư các kho bãi trong khu, cụm công nghiệp; đồng thời
nghiên cứu triển khai mới một số cụm công nghiệp theo quy hoạch phát triển
các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã phê duyệt tại Quyết định số
2539/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND tỉnh, đề ra giải pháp phát triển
trong năm 2011 và những năm tiếp theo.
- Thực hiện tốt chính sách khuyến khích đầu tư khuyến khích các doanh
nghiệp vừa và nhỏ phát triển công nghiệp phù hợp với quy hoạch. Đẩy mạnh
phát triển tiểu thủ công nghiệp để giải quyết lao động nông thôn.
- Rà soát đánh giá kết quả phát triển mạng lưới chế biến nông sản trên địa
bàn tỉnh theo Quy hoạch đã được phê duyệt tại Quyết định số 3361/QĐ-UBND
ngày 09/12/2008 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh.
* Phát triển thương mại, dịch vụ:
- Vận dụng tốt các chính sách của nhà nước đầu tư các chợ đầu mối, chợ
vùng khó khăn, đồng thời thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư
hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại theo quy hoạch đã được UBND
tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3292/QĐ-UBND ngày 03/12/2008.
- Tăng cường bán buôn; mở rộng hình thức bán lẻ phù hợp như: bán trả
chậm, trả góp, cung cấp vật tư hàng hoá và thu mua sản phẩm, đặc biệt ở vùng
nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Tổ chức nhiều hội chợ giới thiệu sản phẩm và
khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân tham gia các hội chợ quốc tế và
quốc gia để giới thiệu sản phẩm và hợp tác đầu tư. Tổ chức các trạm thu mua
nông sản trên các địa bàn huyện, mở các đại lý, các hợp tác xã thương mại ở các
vùng nông thôn trong tỉnh, chú ý phát triển các chợ nông thôn liên xã có tính
chất khu vực ở các địa bàn huyện theo hình thức khuyến khích các thành phần
kinh tế đầu tư khai thác chợ. Tăng cường công tác quản lý giá cả, ổn định thị
trường hàng hóa.
- Khuyến khích và tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp, các nhà
đầu tư phát triển các ngành dịch vụ, tập trung vào các ngành có tiềm năng để
phát huy ưu thế và khả năng cạnh tranh như: du lịch, hàng không, tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, bưu chính viễn thông, … để từng bước trở thành
trung tâm dịch vụ lớn của vùng Tây Nguyên, song song với việc chú trọng các
24
dịch vụ xã hội thiết yếu, thương mại nông thôn, … qua đó góp phần đảm bảo an
sinh xã hội.
- Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, khai thác gắn
với tôn tạo và bảo tồn thiên nhiên, duy trì và phát triển tài nguyên du lịch, phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiến tới phát triển du lịch quốc tế trong tương lai,
đặc biệt là tuyến du lịch đường bộ dọc theo Quốc lộ 26, 27 và 14 nối các điểm
du lịch trong nước, đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên của Việt Nam với
Cămpuchia, Lào và Thái Lan.
- Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng đẩy mạnh việc hiện đại
hóa hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu thanh toán nội địa và thanh toán
quốc tế. Tăng cường các tiện ích ngân hàng nhằm khuyến khích các thành phần
kinh tế, kể cả cá nhân người tiêu dùng sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng, hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong quan hệ thương mại, tạo điều kiện thu
hút kiều hối lành mạnh.
- Khuyến khích mọi khả năng của các thành phần kinh tế trong phát triển
vận tải công cộng giao lưu hàng hóa, bảo đảm sự bình đẳng và cạnh tranh hợp
pháp của các thành phần kinh tế. Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho
các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển các cơ sở dịch vụ công cộng.
- Phát triển mạnh dịch vụ bưu chính viễn thông để hỗ trợ cho việc phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, góp phần nâng cao mức sống của các vùng và
các tầng lớp dân cư. Đầu tư cơ sở hạ tầng để phát triển dịch vụ bưu, chính viễn
thông, nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh.
d. Giải pháp về quản lý, bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên:
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường,
trong đó chú trọng quản lý khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh
theo Chỉ thị số 06/2009/CT-UBND ngày 04/11/2009 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh.
Đồng thời có cơ chế quản lý tốt các tài nguyên rừng, đất và nước.
- Giải quyết tình trạng suy thoái môi trường do rừng ngày một suy giảm
bằng việc trồng rừng tập trung, phát triển hệ thống cây xanh ở các đô thị, trồng
cây phân tán, … nhằm cải thiện môi trường và đảm bảo cân bằng sinh thái
nguồn nước, hạn chế thiệt hại do nguy cơ thiên tai hạn hán và lũ lụt diễn biến
phức tạp hàng năm.
- Sớm hoàn thành việc cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng
cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin về đất đai. Cụ thể hóa các văn bản pháp luật
trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm tăng cường công tác quản
lý nhà nước về lĩnh vực này.
- Hoàn thành công tác điều tra, đánh giá về hệ thống lưu vực sông, suối
trong tỉnh, có phương hướng phòng chống thiên tai sát với thực tế tình hình, hạn
chế các thiệt hại về người và tài sản.
- Tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện và có các chế tài đủ mạnh để ngăn
ngừa, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường, đặc biệt là các vi phạm
gây ô nhiễm trong các khu đô thị, khu dân cư tập trung, các vi phạm về vệ sinh
an toàn thực phẩm và vi phạm các quy định pháp luật trong quản lý bảo vệ rừng,
nguồn nước, khoáng sản và các tài nguyên khác.
25