ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 8 HỌC KÌ I
I.Tiếng Viêt:
1.Công dụng của dấu câu
2. Từ vựng:
a,Cấp độ khái quát nghóa của tư ø
Dấu câu Công dụng
1.Dấu chấm Dùng để kết thúc câu trần thuật
2.Dấu chấm hỏi Kết thúc câu nghi vấn
3.Dấu chấm than Kết thúc câu cầu khiến hoặc cảm thán.
4.Dấu phẩy Phân cách các thành phần và bộ phận của câu.
5.Dấu chấm lửng - Biểu thò bộ phận chưa liệt kê hết
- Biểu thò lời nói ngập ngừng , ngắt quãng
- Làm giản nhòp điệu câu văn , hài hước , dí dỏm
6.Dấu chấm phẩy - Đánh dấu ranh giới giữa các vế câu ghép có cấu tạo phức tạp
- Đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận trong một phép liệt kê phức tạp
7.Dấu gạch ngang - Báo trước bộ phận giải thích , chú thích trong câu
- Báo trước lời thoại của nhân vật .
8.Dấu gạch nối - Nối các tiếng trong một từ phiên âm tên ngườI, đòa phương , sản phẩm nước ngoài.
- Nối các từ trong một liên danh.
9. Dấu ngoặc đơn
- Đánh dấu phần chú thích (bổ sung , giải thích, thuyết minh)
10.Dấu hai chấm
- Báo trước phần giải thích thuyết minh cho một phần trước đó.
- Báo trước lời dẫn trực tiếp hoặc lời thoại.
11.Dấu ngoặc kép
- Đánh dấu từ ngữ , câu , đoạn dẫn trực tiếp
- Đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghóa đặc biệt hoặc có hàm ý mỉa mai
- Đánh dấu tên tác phẩm , tờ báo , tạp chí , tập san … dẫn trong câu văn
- Một từ có nghóa rộng khi phạm vi nghóa của từ ngữ đó được bao hàm nghóa của một số từ
ngữ khác
VD : Cá có ngóa rông hơn cá thu, cá heo.
- Một từ có nghóa hẹp khi phạm vi nghóa của từ ngữ đó được bao hàm trong phạm vi nghóa
của 1 từ ngữ khác
VD :Chợ Bến Thành có nghóa hẹp hơn chợ.
- Tính chất rộng , hẹp của nghóa từ ngữ là tương đối vì nó phụ thuộc vào phạm vi nghóa của
từ.
VD : Từ cây có nghóa hẹp hơn từ thực vật nhưng rộng hơn nghóa của từ cây xoài.
b, Trường từ vựng : Trường từ vựng là tập hợp tất cả các từ có ít nhất một nét chung về nghóa
.
VD : tàu , xe, thuyền , máy bay cùng trường tư vựng về phương tiện giao thông
c, Từ tượng hình , từ tượng thanh
- Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh , dáng vẻ , hoạt động , trạng thái của sự vật ( VD:lom
khom, phấp phới)
- Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên , của con người (VD: ríu rít, ào ào)
d, Từ đòa phương và biệt ngữ xã hội
- Từ đòa phương là từ ngữ chỉ sử dụng ở một hoặc một số đòa phương nhất đònh (VD : bắp ,
trái , vô …)
- Biệt ngữ xh là những từ ngữ chỉ được dùng trong một tầng lớp xã hội ( VD tầng lớp học
sinh:ngỗng , gậy …)
e, Nói quá : Là biện phát tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật , hiện tượng
được miêu tả để nhấn mạnh , gây ấn tượng , tăng sức biểu cảm (VD :Nhanh như cắt )
g, Nói giảm nói tránh : Là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhò , uyển chuyển ,
tránh gây cảm giác quá đau buồn , ghê sợ , nặng nề ; tránh thô tục , thiếu lòch sự
VD : Chò ấy không còn trẻ lắm
3.Ngữ pháp
a ,Trợ từ , Thán từ :Trợ từ là những từ dùng để nhấn mạnh hoặc biểu thò thái độ đánh giá sự
vật , sự việc được nói đến trong câu
VD : Lan sáng tác những ba bài thơ.
- Thán từ là những từ dùng làm dấu hiệu bộc lộ cảm xúc , tình cảm , thái độ của người nói
hoặc dùng để gọi đáp
VD : ô hay , tôi tưởng anh cũng biết rồi !
b, Tính thái từ :Tình thái từ là những từ được thêm vào câu để cấu tạo câu nghi vấn ,
câu cầu khiến , câu cảm thán và để biểu thò các sắc thái tình cảm của người nói .
- Tình thái từ nghi vấn ( VD:Anh đọc xong cuốn sách này rồi à?)
- Tình thái từ cầu khiến (VD: Chớ vội!)
- Tình thái từ cảm thán (VD: Tội nghiệp thay con bé!ù)
- Tình thái từ biểu thò tình cảm cảm xúc ( VD:Con nghe thấy rồi ạ !)
c, câu ghép : Câu ghép là câu có từ 2 cụm C-V trở lên và chúng không bao chứa nhau. Mỗi
vế câu ghép có cấu tạo là một cụm C-V, nó được xem là một câu đơn.(VD : Gío thổi , mây
bay , hoa nở)
- Quan hệ giữa các vế trong câu ghép :Quan hệ bổ sung , nối tiếp , nguyên nhân – kết qủa
(Vì trời mưa nên đường lầy lội)û , tương phản (Mùa hè nhưng trời không nóng lắm)
II. Văn bản:
a.Văn bản truyện kí Việt Nam **
Tác phẩm,
tác giả
Thể
loại
PTBĐ Nội dung Nghệ thuật
Tôi đi học
(Thanh Tònh)
(1911-1988)
Truyện
ngắn
Tự sự-
miêu tả-
biểu
cảm
- Những kỉ niệm trong
sáng về ngày đầu tiên
được đến trường đi học
-Tự sự kết hợp trữ tình ; kể chuyện kết
hợp với miêu tả và biểu cảm.
-Những hình ảnh so sánh mới mẻ và
gợi cảm
Trong lòng mẹ
(Trích “ Những
ngày thơ ấu”)
Nguyên Hồng
(1918-1982)
Hồi kí-
tiểu
thuyết.
Tự sự
(xen trữ
tình)
Nổi cay đắng tủi cực và
tình yêu thương mẹ mãnh
liệt của chú bé Hồng khi
xa mẹ, khi được nằm
trong lòng mẹ
-Tự sự kết hợp với trữ tình, kể truyện
kết hợp với miêu tả và biểu cảm, đánh
giá
-Cảm xúc và tâm trạng nồng nàn,
mãnh liệt; sử dụng những hình ảnh so
sánh, liên tưởng táo bạo
Tức nước vỡ bờ
(Trích chương
13, tiểu thuyết
Tắt Đèn)
Ngô Tất Tố
Tiểu
thuyết
Tự sự -Vạch trần bộ mặt tàn ác,
bất nhân của chế độ thực
phong kiến, tố cáo chính
sách thuế khoá vô nhân
đạo.
-Ca ngợi những phẩm chất
cao q và sức mạnh quật
khởi tiềm tàng, mạnh mẽ
của chò Dậu.
-Ngòi bút hiện thực khoẻ khoắn, giàu
tinh thần lạc quan
- Xây dựng tình huống truyện bất ngờ,
có cao trào và giải quyết hợp lí
-Xây dựng miêu tả nhân vật chủ yếu
qua ngôn ngữ, và hành động, trong thế
tương phản với các nhân vật khác
Lão Hạc
(Trích truyện
ngắn lão Hạc )
Nam Cao
Truyện
ngắn
Tự sự
( Xen
trữ tình)
- Số phận đau thương và
phẩm chất cao q của
người nông dân cùng khổ
trong xã hội Việt Nam
trước cách mạng tháng
tám. Thái độ trân trọng
của tác giả với họ.
- Tài năng khắc hoạ nhân vật rất cụ
thể, sinh động, đặc biệt là miêu tả và
phân tích diễn biến tâm lí số phận
nhân vật, cách kể chuyện mới mẻ, linh
hoạt.
-Ngôn ngữ kể chuyện rất chân thực,
đậm đà chất nông dân giản dò, tự nhiên
b, Văn bản nhật dụng *
Tác phẩm Tác giả Chủ đề Đăc điểm nghệ thuật
Thông tin về
ngày trái đất
năm 2000
Theo tài liệu của
sở khoa học –
công nghệ Hà
Nội
Tuyên truyền , phổ biến tác hại của bao bi
nì lông. Kêu gọi thực hiện một ngày
không dùng bao bì ni lông , bảo vệ môi
trường trái đất trong sạch.
Thuyết minh ( giới thiệu ,
giải thích , phân tích , đề
nghò)
n dòch ,
thuốc lá
Theo Nguyễn
Khắc Viện Từ
thuốc lá đến ma
Lên án thuốc lá là thứ ôn dòch nguy hiểm
hơn AIDS. Bởi vậy cần phải chống lại
việc hút thuốc lá, loại bỏ thuốc lá ra khỏi
Giải thích và chứng minh
bằng những lí lẽ và dẫn
chứng cụ thể , sinh động ,
tuý-Bệnh nghiện
đời sống. gần gũi và hiển nhiên để
cảnh báo mọi người
Bài toán dân
số
Theo Thái An
báo GD & TĐ số
28,1995
Dân số thế giới và Việt Nam tăng rất
nhanh. Dân số tăng nhanh kìm hãm sự
phát triển kinh tế vì vậy hạn chế gia tăng
dân số là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển
loài người .
Từ câu chuyện bài toán dân
số cổ hạt thóc , tác giả đưa
ra các con số buộc người
ngẫm đọc phải liên tưởng
và suy
C, Văn bản thơ
Tác phẩm Tác giả Thể loại Nội dung
Vào nhà ngục
Quảng Đông
cảm tác
Phan Bội Châu
( 1867-1940)
Thất ngôn
bát cú
Khí phách kiên cường bất khuất và phong thái ung dung ,
đường hoàng vượt lên trên cảnh tù ngục của nhà chí só
yêu nước
Đập đá ở Côn
Lôn
Phan Châu Trinh
(1872 -1926)
Thất ngôn
bát cú
Hình tượng đẹp lẫm liệt , ngan tàng của người tù yêu nước
trên đảo Côn Lôn
Muốn làm
thằng Cuội
Tản Đà
Nguyễn Khắc
Hiếu(1889-1939)
Thất ngôn
bát cú
Tâm sự của một con người bất hoà sâu sắc với thực tại tầm
thường , xấu xa , muốn thoát li bằng những mộng tưởng
lên cung trăng để bầu bạn với chò Hằng
Hai chữ nước
nhà
Trần Tuấn Khải
(1895-1983)
Song thất
lục bát
Mượn câu chuyện lòch sử có sức gợi cảm lớn để bộc lộ
cảm xúc và khích lệ lòng yêu nước , ý chí cứu nước của
đồng bào
d, Văn bản nước ngoài
Tác phẩm Tác giả Thể loại Nội dung Đặc sắc nghệ thuật
Cô bé bán
diêm
An đéc – xen
( 1805-1875)
Đan mạch
Truyện
cổ tích
Lòng thương cảm sâu sắc đối với
1 em bé Đan Mạch bất hạnh ,
chết cóng bên đường trong đêm
giao thừa
Kể chuyện cổ tích rất hấp dẫn ,
đan xen hiện thực và mộng ảo ,
tình tiết diễn biến hợp lí
Đánh
nhau với
cối xay
gió
Xéc- van -téc
( 1547-1616)
Tây Ban Nha
Tiểu
thuyết
Sự tương phản về mọi mặt giữa
2 nhân vật Đôn Ki- hô- tê và
Xan –trô Pan –xa . Cả 2 đều có
những mặt tốt , đáng q bên
cạnh những đểm đáng trách ,
đáng cười biểu hiện trong chiến
công đánh cối xay gió.
Miêu tả và kể chuyện theo trật
tự thời gian và dựa trên sự đối
lập , tương phản , song hành
của cặp nhân vật chính
Giọng điệu hài hước ,chế giễu
khi kể , tả về thầy trò nhà hiệp
só anh hùng nhưng cũng rất
đáng thương
Chiếc lá
cuối cùng
O Hen – ri
( 1862-1910)
Mó
Truyện
ngăn
Ca ngợi tình yêu thương cao cả
giữa những nghệ só nghèo
Nghệ thuật đảo ngược tình
huống hai lần , hình ảnh chiếc
lá cuối cùng
Hai cây
phong
Ai-ma-tốp
( 1928)
Liên xô cũ
Truyện
ngắn
Tình yêu quê hương da diết gắn
với câu chuyện hai cây phong và
thầy giáo Đuy – sen thời thơ ấu
của tác giả
Miêu tả cây phong rất sinh
động . Câu chuyện đậm chất
hồi ức , ngòi bút đậm chất hội
hoạ
3) Tập làm văn:
1>Thuyết minh:
Thuyết minh về áo dài
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những văn hóa, nét đặc trưng của từng vùng
miền và trang phục truyền thống riêng. Phụ nữ Nhật tự hào với Kimono, phụ
nữ Hàn Quốc nổi tiếng với Hanbok, phụ nữ Ấn Độ để lại cho ta ấn tượng rất
đặc biệt với bộ Sari. Còn phụ nữ Việt Nam, từ xưa đến nay vẫn mãi song hành
với chiếc áo dài duyên dáng và thướt tha.
Cho đến nay, vẫn chưa biết được nguồn gốc chính xác của chiếc áo dài. Nhưng
nối ngược dòng thởi gian, tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài với hai tà áo
thướt tha đã được tìm thấy ở các hình khắc mặt trống đồng Ngọc Lũ cách đây
vài nghìn năm
.
Áo dài có rất nhiều loại. Nhưng sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giai
lãnh: cũng giống như áo tứ thân nhưng khi ,mặc thì hai thân trước để giao
nhau mà không buộc lại. Vì sau này, phụ nữ phải làm việc đồng áng hay buôn
bán nên áo giai lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân: gồm bốn vạt nửa trước
phải, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái. Nhưng với những người phụ nữ tỉnh
thành nhàn nhạ, muốn có một kiểu áo dài dược cách tân thế nào đó dể giảm chế
nét dân dã lao động và tăng dáng dấp sang trọng, khuê các. Thế là áo tứ thân
được biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay lại được thu bé trở lai thành vạt con;
thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước trở thành áo ngũ thân.
Ngoài ra còn áo dài Le Mor của một họa sĩ vào đầu thập niên 1930, áo dài Lê
Phổ của họa sĩ Lê Phổ được thiết kế vào năm 1934, áo dài với tay giác lăng vào
thập niên 1960, áo dài miniraglan danh cho các nữ sinh…
Khác với Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt
Nam vừa truyền thống lại vừa hiện đại, có thể mặc ở mọi lúc mọi nơi: dùng làm
trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc để tiếp khách trang trọng trong
nhà… Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kì, những thứ
mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài guốc,
hay giày đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm ái dài
và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hay một chiếc miện Tây tùy thích. Đây
chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.
Áo dài có thể nhiều màu nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là chiếc áo dài trắng thể hiện
sự thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. Trong trường học, không gì đẹp
mắt và thanh bình cho bằng mỗi sáng, từng nhóm nữ sinh trong bộ áo dài,
thướt tha, xõa tóc dài chạy xe đạp đến trường. Cũng nơi đó, những cô giáo,
những người mẹ thứ hai của các học sinh nhẹ nhàng đón rón những đứa con
của mình trước giờ vào học trong chiếc áo dài mới thực sự toát lên vẻ đằm
thắm, và thương yêu. Trong những dịp lễ Tết, chiếc áo dài lại thêm một lần nữa
thấp thoáng trên các ngã tư đường phố, cùng hoa va cảnh sắc của trời mới đất
mới, khoe sắc ngày Tết. Áo dài giũa phố đông chật chội người và xe, ấm ào náo
động, làm dịu lại cảnh sắc và làm mát lại những hồn người, làm cho ai đó phải
quay lại ngắm nhìn dù chỉ một lần, dịu đi cái khó chịu và u uất vốn có trong
bản tính mỗi con người bân rộn.
Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn lên nét đẹp của mọi thân hình. Phần
trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật rộng trên đôi ống quần rộng. Hai tà
xẻ đến trên vòng eo khiến cho người mặc có cảm giác thoải mái, lại tạo dáng
thướt tha tôn lên vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bằng vài lụa
mềm lại cũng vừa khiêu gợi vì nó làm lộ ra sống eo. Chính vì thế, chiếc áo dài
mang tính cá nhân hóa rất cao, mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người và chỉ
dành cho ngươi ấy, không thể là một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo
dài. Người đi may được lấy số đo rất kĩ, khi may xong phải thử và chỉnh sửa lại
thêm vài lần nữa thì mới hoàn thiện được.
Thực vậy, trong các hội nghị quốc tế, ở hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 100
năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nữ học giả Mỹ đã vận một chiếc áo
dài, và mở đầu bài phát biểu của mình bằng một câu tiếng Việt: “Xin chào các
bạn”, cả hội trường Ba Đỉnh trang trọng khi đó bỗng tràn ngập một không khí
thân thương trìu mến. Trong hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam, áo
dài đã được vinh dự là trang phục chính cho các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc
gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội nghị. Áo dài, như vậy có
thể là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt, mang nước Việt Nam cùng hòa chung
vào dòng kinh tế năng động và nhiệt huyết trên thương trường thế giới, là một
nét riêng của người phụ nữ Việt nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung.
Áo dài là hiện thân của dân tộc Việt, một vẻ đẹp mĩ miều nhưng đằm thắm, là
một phần tất yếu trong mỗi phụ nữ Việt, là đặc trưng cho một quốc gia có người
phụ nữ chịu thương chịu khó, luôn hy sinh, đứng phía sau để cổ động tinh thần
cho nước nhà, cùng nhau hòa nhịp và phát triển. Trải qua từng thời kì, từng
giai đoạn cùng với những diễn biến của quà trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài
Việt Nam luôn tồn tại theo dòng thời gian, vẫn mãi sẽ là tâm hồn Việt, văn hóa
Việt, là tinh thần Việt và là trang phục truyền thống mang đậm tính lịch sử lâu
đời của nước Việt ngàn năm văn hiến.
Kín đáo, duyên dáng và gợi cảm là một trong những yếu tố đưa áo dài trở thành
niềm kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa - chiếc áo dài đã trở
thành biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật
thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt.
Thuy t minh v cây ào ngày T tế ề đ ế
Ngày Tết được báo hiệu bởi những cơn mưa xuân ấm áp, những lộc non mơm mởn
trên những cành cây, nhưng quan trọng nhất là sự xuất hiện của những cành mai,
cành đào được bày bán trên vỉa hè của khắp các khu phố. Nếu mai là biểu tượng
của mùa xuân phương Nam thì ở xứ Bắc, loài hoa vinh dự được chọn là hoa đào.
Ngày xưa, ở phiá Ðông núi Sóc Sơn, Bắc Việt, có một cây đào mọc đã lâu đời.
Cành lá đào xum xuê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng.
Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây đào khổng lồ này, tỏa rộng
uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỹ dữ hay ma quái nào bén mãng lui
đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy
vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sự luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành đào
là bỏ chạy xa bay. Ðến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và
Uất Luỹ phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng.
Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác
quái. Ðể ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành đào về cắm trong nhà.
Ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột
trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.
Từ đó, hàng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành đào về cắm
trong nhà trừ ma quỵ Lâu dần, người Việt quên mất ý nghĩa thần bí của tục lệ này,
không còn tin mấy ở ma quỷ thần linh như tổ tiên ngày xưa. Ngày nay, hoa đào
hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ hồng điều với câu đối
hoà hợp được trang trí mấy ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.
Cây đào (danh pháp khoa học: Prunus persica) là một loài cây có lẽ có nguồn gốc
từ Trung Quốc, được trồng để lấy quả hay hoa. Nó là một loài cây sớm rụng lá thân
gỗ nhỏ, có thể cao tới 5–10 m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7–15 cm và rộng 2–
3 cm. Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá; hoa đơn hay có đôi, đường kính
2,5–3 cm, màu hồng với 5 cánh hoa. Quả đào cùng với quả của anh đào, mận, mơ
là các loại quả hạch.Quả của nó có một hạt to được bao bọc trong một lớp vỏ gỗ
cứng (gọi là “hột”), cùi thịt màu vàng hay ánh trắng, có mùi vị thơm ngon và lớp
vỏ có lông tơ mềm như nhung.
Tên gọi khoa học persica có lẽ có từ niềm tin ban đầu của người châu Âu cho rằng
đào có nguồn gốc ở khu vực Ba Tư (Persia) (hiện nay là Iran). Sự đồng thuận lớn
trong giới các nhà thực vật học ngày nay đã cho rằng nó có nguồn gốc từ Trung
Quốc và được đưa vào Ba Tư cũng như khu vực Địa Trung Hải theo con đường tơ
lụa vào khoảng thời gian ban đầu của lịch sử nhân loại, có lẽ vào khoảng thiên niên
kỷ 2 TCN (Huxley và những người khác, 1992).
Các giống đào trồng được chia thành hai loại là “hột rời” và “hột dính”, phụ thuộc
vào việc hột có dính với cùi thịt hay không; cả hai loại này đều có cùi thịt trắng
hay vàng. Quả đào với cùi thịt trắng thông thường có vị rất ngọt và ít vị chua, trong
khi loại có cùi thịt màu vàng thông thường có vị chua kèm theo vị ngọt, mặc dù
điều này cũng có sự dao động lớn. Cả hai màu thông thường đều có các vệt đỏ
trong lớp thịt của chúng. Loại đào cùi trắng, ít chua là phổ biến nhất tại Trung
Quốc, Nhật Bản và các quốc gia châu Á xung quanh, trong khi người châu Âu và
Bắc Mỹ ưa thích loại có cùi thịt màu vàng và có vị chua hơn.
Đào được biết đến tại Trung Quốc và Nhật Bản không chỉ như là một loại quả phổ
biến mà còn gắn liền với nhiều truyện dân gian và tín ngưỡng. Momotaro (Đào
Thái Lang), một trong những nhân vật bán lịch sử và cao quý nhất tại Nhật Bản,
được sinh ra trong một quả đào khổng lồ trôi theo dòng sông.
Tại Trung Quốc, quả đào được coi là được các vị tiên ăn do các tính chất huyền bí
của nó đối với sự trường thọ dành cho những người ăn nó. Ngọc Hoàng, vị thần cai
quản thiên đình, có vợ tên là Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu mời các vị tiên ăn
những quả đào trường sinh và như thế đã đảm bảo cho sự tồn tại vĩnh cửu của họ.
Các vị tiên được Tây Vương Mẫu thết đãi một bữa tiệc sang trọng tại hội bàn đào.
Các vị tiên phải chờ đợi 6.000 năm để có được bữa tiệc sang trọng này; cây đào
tiên chỉ ra lá sau mỗi một nghìn năm và cần tới 3.000 năm để làm quả chín. Các
bức tượng bằng ngà voi họa lại những người tham dự bữa tiệc của Tây Vương Mẫu
thông thường có ba quả đào.
Quả đào đóng một vai trò quan trọng trong tín ngưỡng Trung Hoa và là biểu tượng
của sự trường thọ. Một ví dụ liên quan đến quả đào là chuyện về Trương Đạo
Lăng, được nhiều người cho là người đã sáng lập ra Lão giáo. Trương Quả Lão,
một trong số Bát Tiên của người Trung Quốc, thường được họa lại là mang theo
quả đào trường sinh. Hoa đào cũng được đánh giá cao trong văn hóa Trung Hoa,
tương tự như hoa mai (mơ).
Đào là một trong những cây ăn quả quan trọng nhất, sản lượng toàn thế giới hàng
năm đạt tới 7 – 8 triệu tấn. Cách đây hơn 300 năm, Đào đã được trồng ở các tính
miền Tây Bắc Trung Quốc, hiện nay Đào được trồng nhiều ở các nước: Trung
Quốc, Mỹ, Ý, Pháp, Nhật, Achentina… ở nước ta, Đào được trồng nhiều ở các
tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Đào cũng được trồng ở vùng núi
các tỉnh miền Bắc nhưng hiệu quả kinh tế kém, ở vùng đồng bằng, Đào được trồng
chủ yếu để cho hoa là chính.
Đào có vị thơm, ngon, giàu chất dinh dưỡng. Trong 100g cùi thịt quả Đào có 0,9g
protein, 0,1g lipit, 7g gluxit, 8mg canxi, 20mg phốtpho, 10mg sắt, 2mg caroten,
8,3mg Vitamin B1, 2mg Vitamin B2, 6mg Vitamin C, các axit hữu cơ: xitric,
tactric, clorogenic. Đào rất bổ dưỡng nhưng không nên ăn nhiều vì Đào tính ấm, vị
ngọt, chua, ăn nhiều dễ sinh bốc hoả, đầy chướng bụng, sinh mụn nhọt.
Ngoài thịt quả, các bộ phận khác của cây Đào đều là những vị thuốc quý. Nhân hạt
Đào (Đào nhân) vị đắng ngọt, tính bình vào 2 kinh tâm và can, có tác dụng phá
huyết tan ứ, làm tan đờm, nhuận tràng, điều hoà chức năng cơ quan hô hấp, giảm
ho, chữa bế kinh, đau bụng kinh, cao huyết áp, viêm ruột thừa, tụ huyết sưng đau
do chấn thương, điều trị chứng tắc nghẽn mạch máu.
Rễ Đào: Dùng ngoài da chữa sưng đau, sắc uống chữa viêm gan vàng da.
Nhựa thân cây Đào: Chữa kiết lỵ ra máu, đái tháo đường, viêm phế quản.
Cành Đào: Chữa sốt rét.
Lá Đào: Có amygdalin, axit tanic, cumarin. Thường dùng lá Đào diệt sâu bọ:
Ngâm vào nước tù đọng diệt được bọ gậy, cho vào hố xí diệt được giòi, đun lấy
nước chữa lở ngứa, ghẻ, viêm âm đạo.
Hoa Đào: Có tác dụng hạ khí, tiêu báng nước, lợi tiểu. Dầu hoa Đào làm kem bôi
mặt, da mặt sẽ mịn màng…
HẾT