Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Nâng cao chất lượng giáo dục ở Trường Tiểu học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (163.49 KB, 16 trang )

Đề tài: Nâng cao chất lượng giáo dục ở Trường Tiểu học Đồng Kho 1.
Phần thứ nhất
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục là con đường cơ bản nhất và vững bền nhất để hình thành và
hoàn thiện con người có nhân cách, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Giáo dục vừa là một bộ phận khăng khít của nền kinh tế - xã hội, vừa là động
lực hàng đầu, động lực trí tuệ và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của từng lĩnh
vực và toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Muốn vậy phải hoàn thiện con người - đặc
biệt phải hoàn thiện năng lực lao động của con người, trước hết thông qua con
đường giáo dục. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển
kinh tế xã hội. Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp “ trồng người”. Trong công
cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự phát triển của xã hội, Đảng ta đã xác định
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài. Phát triển giáo dục được quan tâm ở mọi cấp học, bậc
học và nâng cao chất lượng giáo dục là một chủ trương lớn được thực hiện trên
mọi miền đất nước. Chất lượng giáo dục ở các địa phương được nâng lên góp
phần thúc đẩy nền giáo dục nước nhà ngày một phát triển, xây dựng một xã hội
tiến bộ, văn minh.
Trong những năm gần đây, giáo dục ở huyện Tánh Linh từng bước được
củng cố, chất lượng giáo dục tiểu học cơ bản ổn định. Tỉ lệ học sinh lên lớp
thẳng, học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học năm sau cao hơn năm trước.
Cùng với các đơn vị khác trong huyện, Trường Tiểu học Đồng Kho 1 đã có
nhiều nỗ lực trong việc phát triển giáo dục, tỉ lệ học sinh đi học trong độ tuổi
ngày càng tăng, quy mô giáo dục được mở rộng, cơ sở vật chất trường lớp ngày
càng được kiên cố hoá, chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy
nhiên, chất lượng giáo dục chưa thật sự bền vững, tỉ lệ học sinh nguy cơ lưu ban
còn cao; một số học sinh còn hạn chế năng lực tự học, tư duy sáng tạo; một số
giáo viên năng lực còn hạn chế, chậm đổi mới so với yêu cầu ngày càng cao về
SKKN-Mai Đồng Kho 1
1


chất lượng giáo dục; cơ sở vật chất tuy đã có nhiều chuyển biến song vẫn còn
thiếu, . . So với mục tiêu giáo dục thì sự nghiệp giáo dục của nhà trường còn
phải phấn đấu nhiều hơn nữa, đòi hỏi sự cộng đồng trách nhiệm giữa ngành giáo
dục với các ban ngành, đoàn thể, phải làm cho nhân dân thấy được tầm quan
trọng của việc học và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là bậc tiểu học.
Chính vì vậy, nhằm khắc phục những tồn tại yếu kém trên và góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học ở huyện nhà nói chung, Trường Tiểu học
Đồng Kho 1 nói riêng, nên tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng giáo dục ở
Trường Tiểu học Đồng Kho 1” nhằm đánh giá đúng thực trạng, xác định
phương hướng, đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục ở
Trường Tiểu học Đồng Kho1 tạo tiền đề cho các em vững bước vào học lớp
6 ở bậc trung học cơ sở.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC VÀ CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC TIỂU HỌC
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục là sự tác động đến nhân cách con người bằng các tri thức khoa
học làm cho nhân cách ấy biến đổi, phát triển theo yêu cầu của xã hội
1.1.2. Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là khả năng và trình độ thực hiện mục tiêu giáo dục
đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và của sự phát triển toàn diện
xã hội.
Chất lượng giáo dục tiểu học là sự đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo
dục tiểu học giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo,
hình thành nhân cách con người.
1.2. Mục tiêu chất lượng giáo dục tiểu học
1.2.1. Mục tiêu giáo dục tiểu học
1.2.1.1. Mục tiêu chung
Theo Luật Giáo dục năm 2005, “mục tiêu giáo dục là đào tạo con người

SKKN-Mai Đồng Kho 1
2
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
(1)
1.2.1.2. Mục tiêu giáo dục tiểu học
Mục tiêu phát triển giáo dục tiểu học đến năm 2010 là phát triển những
đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và
những đức tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học tập tốt.
Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước.
Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000
lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010.
sinh những kiến thức khoa học làm nền tảng cho việc học tập và chiếm lĩnh tri
thức, tạo tiền đề để học tiếp các bậc học sau.
Phần thứ hai
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG KHO 1
2.1. Tình hình văn hoá, xã hội, giáo dục
Kinh tế của địa phương chậm phát triển, đời sống của người dân trong
vùng còn khó khăn, nhận thức của người dân về học hành của con em từng bước
được nâng cao. Mặc dù đời sống nhân dân còn khó khăn nhưng đa số phụ huynh
cố gắng tạo điều kiện để con em được đến trường, bên cạnh đó vẫn còn một số
phụ huynh không quan tâm đến việc học hành của con cái chỉ giao phó cho thầy
cô giáo.
Hiện nay mạng lưới trường học liên tục được đầu tư, nâng cấp và phát
triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập. Xã có một trường THCS, hai
trường tiểu học và một trường mầm non. Đây là một trong những điều kiện
thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng giáo dục của địa phương.

Trường hiện có 309 học sinh/14 lớp, sĩ số học sinh bình quân 22 học sinh /
1
Luật Giáo dục năm 2005, Điều 2
SKKN-Mai Đồng Kho 1
3
lớp. Lớp có số học sinh thấp nhất là 19 em và lớp có số học sinh cao nhất là 28 em.
Quy mô trường, lớp, học sinh đạt chuẩn theo quy định. Giáo viên đầy đủ, có trình độ
chuyên môn và năng lực giảng dạy phù hợp với điều kiện của trường.
Giáo viên trong trường đủ về số lượng, trường hiện có 18 giáo viên;
100% đạt chuẩn sư phạm; trong đó, 94,4% (17/18) giáo viên có trình độ trên
chuẩn; 01 giáo viên 12+ 2. Đa số giáo viên có trình độ chuyên môn vững
vàng, giáo viên dạy giỏi: 08; trong đó: dạy giỏi cấp Tỉnh: 01, cấp huyện: 02,
cấp trường: 06. Trường đảm bảo được các quyền cho giáo viên theo quy định
của Điều lệ trường tiểu học.
2.2. Chương trình và các hoạt động giáo dục
Trong những năm vừa qua, nhà trường đã chỉ đạo thực hiện đúng, đủ
chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Tổ chức các hoạt
động dự giờ thăm lớp, hội giảng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà
trường xây dựng kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và từng bước
triển khai thực hiện có hiệu quả. Các hoạt động hỗ trợ giáo dục luôn được quan
tâm; xây dựng hợp lý và thực hiện có hiệu quả thời khoá biểu để phục vụ hiệu quả
các hoạt động giáo dục.
Trường có kế hoạch và biện pháp cải tiến các hoạt động dạy và học, như:
rèn học sinh đọc diễn cảm, giúp học sinh ghi nhớ lịch sử, học tốt môn học vần; một
số giải pháp nhằm giúp học sinh viết ít sai lỗi chính tả, giải pháp nhằm giảm thiểu
học sinh có nguy cơ lưu ban và ngồi nhầm lớp, . . . Mỗi học kì nhà trường tổ chức rút
kinh nghiệm các biện pháp, bổ sung, điều chỉnh các giải pháp, chính vì vậy chất
lượng dạy và học của nhà trường ngày một nâng cao.
2.3. Nguyên nhân đạt được
Thứ nhất, nhờ có chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự quan

tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, chính quyền địa phương về công tác nâng
cao chất lượng giáo dục, trong đó coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học.
Thứ hai, sự chỉ đạo xuyên suốt và thường xuyên của Phòng Giáo dục và
Đào tạo Tánh Linh đã tạo điều kiện cho trường hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học.
Thứ ba, trong những năm gần đây, kinh tế địa phương ngày một phát
SKKN-Mai Đồng Kho 1
4
triển, đời sống nhân dân được cải thiện, điều kiện kinh tế của nhiều hộ gia đình
tăng lên đáng kể, nhận thức của người dân về giáo dục được nâng lên. Vì vậy
người dân quan tâm đầu tư cho việc học tập của con em mình, không để con em
bỏ học và đưa trẻ đi học đúng độ tuổi.
Thứ tư, cán bộ quản lý và giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, an tâm
công tác, 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ sư phạm; cùng với sự tham mưu
tích cực của Ban Giám hiệu nhà trường; sự phối hợp với các ban ngành, đoàn
thể đã đem lại kết quả khả quan cho công tác nâng cao chất lượng giáo dục tiểu
học trong những năm qua.
Thứ năm, sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo, sự năng nổ, mạnh
dạn đổi mới hình thức và phương pháp dạy học đã tạo điều kiện cho học sinh tự
chiếm lĩnh kiến thức, tự mình chủ động trong giờ học, làm cho tiết học nhẹ
nhàng, thoải mái, mang lại hiệu quả cao.
2.4. Tồn tại và nguyên nhân
2.4.1. Tồn tại trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở Trường Tiểu
học Đồng Kho 1
Bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng giáo dục ở Trường Tiểu
học Đồng Kho 1 vẫn còn những tồn tại sau đây:
Nhà trường chưa có giáo viên dạy chuyên các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục.
Nhân viên trong trường chưa được tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên
môn, nghiệp vụ. Cán bộ thư viện kiêm luôn công tác thiết bị nên cũng gặp không ít
khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Tinh thần phê và tự phê của một số giáo viên, nhân viên chưa cao.

2.4.2. Chương trình và các hoạt động giáo dục
Nhà trường đã thực hiện chương trình giáo dục, dự giờ, thăm lớp, hội
giảng nhưng kết quả đạt chưa cao, phương pháp dạy và học còn chậm đổi mới.
Số lượng sáng kiến kinh nghiệm hằng năm của trường được cơ quan thẩm
quyền công nhận còn ít; một số giáo viên chưa thật sự quan tâm vận dụng biện
pháp cải tiến các hoạt động dạy và học. Một vài giáo viên không có khả năng
dạy toàn cấp, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy, chưa năng động, sáng tạo
SKKN-Mai Đồng Kho 1
5
trong vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
2.4.3. Kết quả giáo dục
Chất lượng giáo dục toàn diện chưa đi vào chiều sâu, chất lượng thực
chất chưa đảm bảo, một số học sinh còn hạn chế về năng lực tự học, tư duy sáng
tạo, năng lực thực hành. Tỉ lệ học sinh lưu ban còn cao. Năm học 2007 - 2008,
học sinh yếu: 11/309, chiếm tỉ lệ 3,6%; năm học 2008 - 2009, học sinh yếu:
09/301, chiếm tỉ lệ 3,0%; năm học 2009-2010, học sinh yếu: 06/301, chiếm tỉ lệ:
2,0%. Số lượng học sinh giỏi, tiên tiến còn thấp so với kế hoạch mức chất lượng
tối thiểu. Năm học 2007 - 2008, học sinh giỏi, tiên tiến: 123/309, tỉ lệ: 39,8%;
năm học 2008 - 2009, học sinh giỏi, tiên tiến: 167/301, tỉ lệ: 55,5%; năm học
2009 - 2010, học sinh giỏi, tiên tiến: 176/301, tỉ lệ: 58,5%.
2.4.4. Nguyên nhân tồn tại
Một là, kinh phí cho giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu, nguồn huy động
khác đầu tư cho giáo dục còn thấp.
Hai là, Cấp ủy Đảng, chính quyền xã chưa chỉ đạo sâu sát; Ban Chỉ đạo
công tác phát triển giáo dục chưa làm hết vai trò trách nhiệm của mình. Sự quan
tâm của các ban ngành trong địa phương chưa đều, thiếu đồng bộ. Sự phối hợp
giáo dục của một số phụ huynh còn hạn chế, không quan tâm đến việc học của
con em, còn giao trắng cho nhà trường.
Ba là, kinh tế của cư dân trong địa bàn trường phụ trách phát triển chưa
cao, còn nhiều hộ nghèo, trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức về công tác

xã hội hóa giáo dục còn hạn chế, gây khó khăn cho các hoạt động giáo dục của
nhà trường.
Bốn là, tinh thần, thái độ của người học chưa tốt, chưa ý thức được việc
học của mình, còn ỉ lại gia đình; một số học sinh còn thụ động trong giờ học.
Năm là, công tác quản lý của ngành giáo dục đối với trường tuy chặt chẽ,
thường xuyên, kịp thời nhưng còn chậm trong việc kiểm tra đôn đốc việc thực
hiện nâng cao chất lượng giáo dục. Mặt khác, ngành đã phê phán căn bệnh chạy
theo thành tích nhưng trong thực tế vẫn còn tồn tại, chưa thật sự quan tâm đến
chất lượng học sinh.
SKKN-Mai Đồng Kho 1
6
Sáu là, vai trò, trách nhiệm của người thầy chưa cao, một số giáo viên
chưa thể hiện vai trò trách nhiệm của mình trong công tác giảng dạy, chưa tích
cực trong việc đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học.
Phần thứ ba
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG KHO 1
3.1. Nâng cao hiệu quả quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục, Phòng Giáo dục và Đào tạo cần
hoàn thiện các quy định về công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chính
sách, pháp luật và các cuộc vận động; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra,
nhất là thanh, kiểm tra chuyên môn và quản lý chất lượng giáo dục.
Thông qua "Phong trào thi đua hai tốt” để lựa chọn những điển hình
trong cán bộ quản lý và giáo viên giỏi các cấp; có hình thức động viên khen
thưởng kịp thời và đề bạt để tạo động lực cho cán bộ quản lý, giáo viên dạy tốt
và tham gia công tác quản lý tốt.
Ban Giám hiệu cần tăng cường học hỏi thêm kinh nghiệm của những
người đi trước; phát huy tính sáng tạo của tập thể giáo viên; làm tốt công tác
tham mưu với các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương, thực hiện tốt
hơn nữa quy chế dân chủ ở trường học, có như vậy mới thực hiện tốt vai trò

trách nhiệm của người quản lý.
3.2. Tăng cường cơ sở vật chất trường học theo hướng hiện đại hóa
Mặc dù trường đã đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1, nhưng cơ sở vật chất
còn thiếu rất nhiều, kinh phí hoạt động chủ yếu là ngân sách nhà nước. Trong
điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, địa phương cần huy động thêm các nguồn lực
trong xã hội để phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá; có
chính sách đảm bảo điều kiện học tập cho học sinh thuộc diện gia đình người có
công, diện chính sách và học sinh thuộc gia đình nghèo vượt khó; có kế hoạch
cụ thể để xây dựng thêm phòng học, các phòng chức năng, nhà vệ sinh giáo
viên, làm lại sân chơi, bãi tập, nhà để xe . . . để đẩy nhanh tiến độ nâng cao chất
SKKN-Mai Đồng Kho 1
7
lượng giáo dục của trường và sớm đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2.
Nhà trường cần tăng cường tổ chức hội thi đồ dùng dạy học, mua sắm
thêm trang thiết bị hiện đại phục vụ đổi mới chương trình nội dung, phương
pháp giáo dục để học sinh có thêm điều kiện học tập. Không ngừng tăng cường
đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho công tác y tế trong nhà trường, đảm bảo
các điều kiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho học sinh nhằm hạn chế các yếu tố
ảnh hưởng tới sức khoẻ học sinh và gia tăng các bệnh tật học đường.
3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Hàng năm, trường cần yêu cầu giáo viên báo cáo cụ thể về cấu trúc nội
dung chương trình của môn học dạy ở từng lớp đến toàn cấp theo một lộ trình cụ
thể; xác định được nội dung kiến thức có liên quan đến môn học cần phải biết
thêm để tiến hành tốt trong các giờ giảng dạy trên lớp. Đối với giáo viên, khi
soạn bài, cần phải tự trả lời được câu hỏi là dạy cái gì và dạy như thế nào; trong
giảng dạy không nhất thiết phải tuân theo một phương pháp nào cứng nhắc, mà
phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo ở từng giờ dạy cụ thể theo đặc thù của
môn học và phải được học sinh ham thích khi học môn đó. Quá trình giảng dạy
cần làm tốt 3 khâu: chuẩn bị bài dạy, nội dung phương pháp giảng dạy trên lớp
và cách đánh giá học sinh.

Tổ chức cho các tổ chuyên môn học tập, sinh hoạt về đổi mới nội dung,
phương pháp dạy học một cách thực chất, hiệu quả, xoá bỏ dạy chay, rập khuôn
máy móc, khuyến khích sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Tăng cường
tổ chức thao giảng, dự giờ, xem đây là một hoạt động mang tính thường xuyên
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Tổ chức và tham gia các cuộc thi giáo
viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh.
Cần tăng cường công tác kiểm tra dưới nhiều hình thức nhằm phát hiện
những thiếu sót, kịp thời sửa chữa, bổ sung, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện
nâng cao chất lượng giảng dạy. Khi tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả bồi
dưỡng phải được kết hợp qua nhiều kênh thông tin và thông tin từ đồng nghiệp,
từ học sinh và phụ huynh học sinh là căn cứ cơ bản.
3.4. Nâng cao kết quả giáo dục toàn diện
SKKN-Mai Đồng Kho 1
8
Để giáo dục kiến thức, hình thành cho học sinh kỹ năng quan sát, phân
tích, so sánh, tổng hợp, suy luận, thì giáo viên nên sử dụng phương pháp dạy
học tích cực để các em được chủ động trong lĩnh hội, kiến thức được khám phá,
tìm tòi, được đặt những câu hỏi mà học sinh chưa biết rõ về vấn đề nào đó.
Muốn vậy, giáo viên cần chuẩn bị tốt giáo án và đồ dùng dạy học, đặt những câu
hỏi mở cho học sinh trả lời, cần khuyến khích động viên các em phát biểu, tham
gia tích cực vào các hoạt động của lớp để được trải nghiệm, khám phá và học
hỏi. Thầy cô giáo nên thể hiện đúng vai trò người tổ chức và hướng dẫn học sinh
tìm hiểu và thu nhận kiến thức, nên chú ý lồng ghép các chuyên đề giáo dục về
“An toàn giao thông”, “Phòng chống ma tuý và các chất gây nghiện”, “Vệ sinh
môi trường”, “Giáo dục bảo vệ môi trường” và “Chương trình giáo dục nha
khoa, giáo dục sức khoẻ”.
Nhà trường kết hợp với Ủy ban nhân dân xã duy trì thực hiện cuộc vận
động “Hai không” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Phòng Giáo dục và
Đào tạo và nhà trường phải nghiêm túc thực hiện chương trình hành động chống
tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, không nên áp đặt kết quả

thi lên lớp, hoàn thành chương trình tiểu học một cách hình thức mà phải tổ
chức các kì thi, kiểm tra nghiêm túc; chấm bài công bằng, khách quan, chính
xác, đúng thực chất. Nhà trường, giáo viên chủ nhiệm cần phải quan tâm đến
học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh cá biệt để có biện
pháp giúp đỡ phù hợp, tạo điều kiện tốt nhất để các em này tiếp tục đến trường,
hạn chế tối đa học sinh bỏ học.
3.5. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trước hết phải đổi mới nội dung,
phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.
Đối với nhà trường cần: thực hiện việc giảng dạy theo đúng nội dung,
chương trình sách giáo khoa hiện hành; tăng cường vai trò của các tổ chuyên môn
trường học; chú ý vận dụng linh hoạt công văn 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 01
tháng 3 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để phân phối thời lượng thích hợp
SKKN-Mai Đồng Kho 1
9
cho từng bài dạy, phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình của từng lớp. Động
viên và tạo điều kiện cho giáo viên soạn giáo án bằng máy vi tính, soạn giảng
bằng giáo án điện tử, từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy. Nhà trường
cần nghiên cứu những hình thức thích hợp để tổ chức cho giáo viên dạy và sử
dụng tối đa các thiết bị, đồ dùng dạy học đã được trang bị, tổ chức tốt các tiết
học lý thuyết, thực hành theo yêu cầu của chương trình.
Đối với đội ngũ giáo viên, cần: tập trung nghiên cứu nắm vững nội dung
yêu cầu chương trình sách giáo khoa toàn cấp tiểu học, đặc biệt là những yêu
cầu kiến thức, kĩ năng của từng bộ môn do mình phụ trách. Dành nhiều thời gian
nghiên cứu sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo, sách
báo có liên quan nhằm gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống nhưng phải
bám theo chuẩn kiến thức kĩ năng; trong nội dung giáo dục cần chú ý đến giáo
dục thể chất và bồi dưỡng nhân cách người học. Nắm bắt cụ thể, chính xác trình
độ, năng lực học tập của học sinh, chú trọng đặc biệt đến đối tượng học sinh yếu

kém, học sinh khuyết tật; trên cơ sở đó chọn lựa phương pháp giảng dạy phù
hợp với học sinh.
Trong quá trình giảng dạy trên lớp, cần quan tâm thường xuyên đánh giá
mức độ tiếp cận của học sinh để kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho
thích hợp; chú trọng hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, phương pháp học tập
một cách khoa học; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh, giảm bớt việc thuyết giảng, tăng cường việc nêu vấn đề
để học sinh suy nghĩ, phát biểu, chú trọng nhiều đến việc luyện tập, thực hành.
Tăng cường công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, chú trọng các bộ
môn Ngoại ngữ, Nhạc, Thể dục… làm nền tảng để sau này các em dễ dàng hội
nhập với cuộc sống hiện đại.
Thực hiện phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đi vào
từng bài giảng, tiết dạy; ngoài đồ dùng dạy học sẵn có cần tăng cường tự làm
thêm đồ dùng dạy học để phục vụ tiết dạy tốt hơn.
3.6. Tăng cường phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội
Xây dựng mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội là yếu tố cần
SKKN-Mai Đồng Kho 1
10
thiết. Thực tế ở địa phương, sự quan tâm giúp đỡ con em từ phía gia đình còn
nhiều bất cập, phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của con cái, phần nhiều
giao khoán cho thầy cô giáo, phó thác cho nhà trường. Vì vậy cần tăng cường
phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
Nhà trường cần tăng cường phát động tập thể giáo viên làm tốt công tác
chủ nhiệm; chủ động thường xuyên liên hệ với phụ huynh học sinh với nhiều
hình thức thích hợp, như gặp trực tiếp phụ huynh khi họ đưa, đón con; thông tin
qua phiếu phối hợp giáo dục; đến nhà thăm hỏi, gần gũi, thân mật và thông cảm
động viên, giúp đỡ đối với những phụ huynh nghèo, khó khăn, bệnh tật.
Ban Giám hiệu cần làm tốt công tác tham mưu với Đảng uỷ, chính quyền
xã để có chính sách ưu đãi với các đối tượng học sinh nghèo, khó khăn, miễn,
giảm đóng góp một số loại quỹ, phát huy hơn nữa chức năng của Hội khuyến

học xã.
Chính quyền cần tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ các hộ gia đình nghèo có
con em đi học phát triển kinh tế, như cho vay vốn ưu đãi, miễn giảm một số loại
thuế. Bên cạnh đó, thường xuyên tuyên truyền về công tác giáo dục qua các tổ chức
đoàn thể, gia đình, từ đó tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục.
Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân, Đoàn thanh niên cùng với nhà trường tổ chức tốt
các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, các hội thi, các buổi ngoại khoá để các em
giao lưu học hỏi nhằm phát triển toàn diện cho học sinh.
3.7. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục
Xã hội hoá giáo dục tức là nói đến sự chung tay góp sức về tinh thần cũng
như vật lực cho bậc học của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị, các tổ
chức, cá nhân và cả phụ huynh học sinh trong địa bàn để tạo môi trường học tập
lành mạnh, chăm sóc giáo dục các em đạt hiệu quả.
Chính vì vậy, lãnh đạo địa phương cần làm tốt hơn công tác vận động sức
dân, các tổ chức, cá nhân đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, như các phòng học,
khu vệ sinh giáo viên, sân chơi, bãi tập, phòng chức năng để rèn luyện phát triển
năng khiếu cho trẻ; đóng góp từ phía phụ huynh học sinh về chương trình và
phương pháp dạy học cũng như nhiệm vụ năm học góp phần hoàn thiện các biện
SKKN-Mai Đồng Kho 1
11
pháp chăm sóc giáo dục học sinh mà nhà trường đưa ra để nâng cao hiệu quả
giáo dục.
Tăng cường các mối quan hệ giữa nhà trường với các cơ quan, đơn vị, các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội ở địa phương để xây dựng nhà trường
thật sự trở thành trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục lành mạnh để giáo dục
học sinh toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; kiên quyết bài trừ tệ nạn xã hội và các
tiêu cực trong giảng dạy và học tập.
3.8. Tổ chức có hiệu quả các hoạt động hỗ trợ giáo dục
Hoạt động hỗ trợ giáo dục ở tiểu học gồm hoạt động tham quan, giáo dục
an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, phòng chống ma tuý, chất gây nghiện,

bảo vệ môi trường, vệ sinh trường lớp, vệ sinh cơ thể, khám sức khoẻ định kỳ
cho trẻ.
Muốn tổ chức các hoạt động hỗ trợ giáo dục có hiệu quả, nhà trường cần
tổ chức hoạt động tham quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa phương;
thăm các gia đình chính sách, neo đơn nhân các ngày lễ, tết để giáo dục học sinh
thêm yêu quê hương, làng xóm mình, tự hào về dân tộc và có ý thức trong giữ
gìn, bảo vệ những di tích lịch sử, thắng cảnh đẹp của quê hương đất nước đồng
thời phải đảm bảo an toàn cho các em.
Cần thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, như: các hoạt
động ngoại khóa, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, giao lưu văn nghệ, các hoạt
động bảo vệ môi trường, lao động vệ sinh trường lớp . . . theo đúng kế hoạch đã đề
ra, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp sẽ góp phần rèn luyện đạo đức, phát
triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu kém phù hợp đặc điểm
tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh.
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp cần phân công cụ thể cho từng giáo viên,
nhân viên và có sự phối hợp hiệu quả với các tổ chức xã hội; hàng tháng, nhà trường
tổ chức rà soát các biện pháp tăng cường các hoạt động giáo dục có hiệu quả.
SKKN-Mai Đồng Kho 1
12
Phần thứ tư
KẾT QUẢ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG KHO 1
Chất lượng học tập của học sinh từng bước được ổn định, hằng năm tỷ
lệ học sinh giỏi và học sinh tiên tiến tăng. Tỉ lệ học sinh lưu ban giảm, không có học
sinh bỏ học. Nhà trường có đội tuyển học sinh giỏi giải toán Internet và viết chữ
đẹp. Tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học năm sau cao hơn năm
trước. Cụ thể:
Năm học 2007 – 2008, học sinh xếp loại trung bình trở lên 298/309 học
sinh, đạt 96,4%; trong đó, học sinh giỏi: 41/309, tỉ lệ: 13,3%; học sinh tiên tiến:
82/309, tỉ lệ: 26,5%;

Xếp loại hạnh kiểm: 309/309, tỉ lệ: 100% học sinh thực hiện đầy đủ 4
nhiệm vụ.
Năm học 2008 – 2009, học sinh xếp loại trung bình trở lên 292/301 học sinh,
đạt 97%; tăng 0,6% so với năm học trước; trong đó, học sinh giỏi: 46/301, tỉ lệ:
15,3%; học sinh tiên tiến: 121/301, tỉ lệ: 40,2%, tăng 13,7% so với năm học trước.
Học sinh lưu ban: 09/301, tỉ lệ: 3%, giảm 0,6% so với năm học trước.
Xếp loại hạnh kiểm: 301/301, tỉ lệ: 100% học sinh thực hiện đầy đủ 4
nhiệm vụ.
Năm học 2009 – 2010, học sinh xếp loại trung bình trở lên 295/301 học sinh,
đạt 98%; tăng 1% so với năm học trước; trong đó, học sinh giỏi: 62/301, tỉ lệ: 20,6%;
học sinh tiên tiến: 114/301, tỉ lệ: 37,9%, tăng 3,% so với năm học trước.
Học sinh lưu ban: 06/301, tỉ lệ: 2%, giảm 1% so với năm học trước.
Xếp loại hạnh kiểm: 301/301, tỉ lệ: 100% học sinh thực hiện đầy đủ 5
nhiệm vụ.
Học sinh được tuyên truyền và giáo dục hiểu biết ý nghĩa về các ngày
truyền thống, các ngày lễ, kỹ năng sống, các phong trào gương “Người tốt- việc
tốt”, phong trào “Cử chỉ đẹp khi ra đường”, phong trào “Thiếu nhi Việt Nam thi
đua thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy”, phong trào “Xây dựng trường học thân
thiện - học sinh tích cực”. . . Phối hợp kịp thời với Trạm Y tế của xã khám,
SKKN-Mai Đồng Kho 1
13
kiểm tra sức khỏe định kì và tiêm chủng phòng bệnh cho HS, t ỷ lệ học sinh
được đánh giá rèn luyện sức khoẻ từ trung bình trở lên 100%. Tất cả học sinh
được tuyên truyền đầy đủ và hiệu quả giáo dục sức khỏe, đảm bảo an toàn vệ
sinh ăn uống, vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch trong giờ chào cờ đầu tuần, thông
qua các tiết sinh hoạt tập thể, các buổi hoạt động ngoại khóa Hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp luôn được cấp trên đánh giá cao.
KẾT LUẬN
Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp “trồng người”. Trong công cuộc đổi mới
đất nước, cùng với sự phát triển của xã hội, Đảng ta đã xác định giáo dục và đào

tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Phát triển giáo dục được quan tâm ở mọi cấp học, bậc học và nâng cao
chất lượng giáo dục là một chủ trương lớn được thực hiện trên mọi miền đất
nước. Chất lượng giáo dục ở các địa phương được nâng lên góp phần thúc đẩy
nền giáo dục nước nhà ngày một phát triển, xây dựng một xã hội tiến bộ, văn
minh. Giáo dục là điều kiện cơ bản để đào tạo nguồn lực con người, yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Trong thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: “Ưu tiên hàng đầu cho việc
nâng cao chất lượng dạy và học; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp
dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất
của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh,
sinh viên. Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây
dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng
đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên có bản lĩnh, phẩm chất và lối
sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại. Triển khai thực hiện hệ thống kiểm định
khách quan, trung thực chất lượng giáo dục đào tạo”
2
.
Thực hiện nghị quyết của Đảng về nâng cao chất lượng giáo dục - đào
tạo, Trường Tiểu học Đồng Kho 1 đã tham mưu với các cấp, các ngành, các tổ
2
: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 207
SKKN-Mai Đồng Kho 1
14
chức xã hội thực hiện tốt công tác nâng cao chất lượng giáo dục, tuy nhiên chất
lượng giáo dục của Trường vẫn còn một số yếu kém tồn tại. Vì vậy, Ban Giám
hiệu nhà trường cần tham mưu các cấp tạo điều kiện về cơ sở vật chất và làm tốt
hơn nữa vai trò quản lý chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục học sinh, thực
hiện tốt nhiệm vụ của năm học, làm tốt hơn nữa công tác tham mưu và phối hợp

với phụ huynh để giáo dục học sinh đạt hiệu quả hơn. Nhà trường xây dựng
được tập thể vững mạnh, thực sự đoàn kết, có nghiệp vụ chuyên môn vững
vàng, làm việc với tinh thần tất cả vì học sinh thân yêu, tích cực tham gia các
lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức, thực hiện các biện pháp
giảng dạy phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục thì sự nghiệp giáo dục nói
chung, giáo dục tiểu học ở Trường Tiểu học Đồng Kho 1 nói riêng ngày một
phát triển, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục bậc học trong giai
đoạn hiện nay.
Trên đây là kinh nghiệm mà tôi đã kiểm chứng với thực tế trong các năm
học qua và đã đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục mang lại hiệu quả.
Rất mong sự quan tâm góp ý của đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để
sánhg kiến kinh nghiệm này có tác dụng thực tế.
Đồng Kho ngày 05 tháng 4 năm 2011
Người viết
Nguyễn Thị Mai
SKKN-Mai Đồng Kho 1
15
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA TỔ CHUYÊN MÔN




TM.TỔ CHUYÊN MÔN
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA TRƯỜNG




HIỆU TRƯỞNG
16

×