Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp Da giầy là một trong những ngành có kim ngạch
xuất khẩu cao nhất, thu nhiều ngoại tệ về cho đất nước và tạo nhiều việc làm
cho lao động trong nước. Để đứng vững trong vòng xoáy cạnh tranh đòi hỏi
bản thân mỗi doanh nghiệp phải tổ chức một cơ cấu phù hợp, đặc biệt bộ máy
kế toán phải đơn giản nhưng hiệu quả, nắm bắt được tình hình mới, các phần
hành kế toán phải được tổ chức theo đúng chế độ, phù hợp với điều kiện công
ty, trở thành cố vấn đắc lực cho ban lãnh đạo.
Phần hành kế toán tiêu thụ thành phẩm là một trong những phần hành
quan trọng nhất. Đó là khâu cuối của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của bất kì doanh nghiệp nào bởi nó tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí, đưa sản
phẩm ra thị trường, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Bộ Tài chính
và Vụ chế độ kế toán đã ban hành các chuẩn mực kế toán và các văn bản
khác nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp trong quá trình hạch toán kế toán nói
chung và trong kế toán tiêu thụ thành phẩm nói riêng nhưng việc áp dụng vào
thực tế còn nhiều tồn tại.
Nhận thức được tầm quan trọng của phần hành kế toán này, trong thời
gian thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội, em
đã tìm hiểu và nghiên cứu về công tác tiêu thụ ở đây với mong muốn có thể
góp một phần công sức của mình vào việc hoàn thiện công tác kế toán của
Công ty. Đây cũng là lí do khiến em chọn đề tài: “HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU DA GIẦY HÀ NỘI”.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
1
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Chuyên đề bao gồm 3 phần chủ yếu sau:
Phần 1: Tổng quan về Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩu Da
giầy Hà Nội
Phần 2: Thực tế kế toán tiêu thụ thành phẩm tại Công ty Cổ phần
Đầu tư Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ
thành phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội.
Do thời gian thực tập không nhiều cũng như khả năng nghiên cứu còn
hạn chế nên chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết
nhất định. Vì vậy em rất mong được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo
để giúp cho việc thực tập đạt kết quả tốt nhất.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong phòng kế toán công ty
cùng các cán bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập
khẩu Da giầy Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn giảng viên Thạc sỹ Nguyễn Thị Mỹ đã giúp
đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
2
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU DA GIẦY HÀ NỘI
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY
TÊN CÔNG TY: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU DA GIẦY HÀ
NỘI
Tên giao dịch quốc tế: Hanoi Leather and Shoes Import Export Investment
Joint Stock Company (tên viết tắt: HANSHOES.JSC)
Địa chỉ: Số 409 Tam Trinh - phường Hoàng Văn Thụ - Quận Hoàng Mai – Hà Nội
Điện thoại: 04.8621254 Fax: 04.8624811
Giấy phép ĐKKD số: 0103010021 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà
Nội cấp ngày 21/11/2005.
Vốn điều lệ: 50.000.000.000 (Năm mươi tỷ đồng chẵn)
1.1.1 Sự ra đời của Công ty
Công ty CP ĐT XNK Da giầy Hà Nội tiền thân là Công ty Thuộc da
Đông Dương, do ông Max Roux, quốc tịch Thuỵ Sỹ bỏ vốn thành lập vào
năm 1912 với tổng số vốn đầu tư 180.000 đồng bạc Đông Dương tại làng
Thụy Khuê - Tổng Trung ngoại thành Hà Nội. Số lượng công nhân lúc đó là
80 người với sản phẩm chủ yếu da kip - măng để sản xuất bao súng, bao đạn,
yên ngựa, dây lưng, tắc – kê, dây cu-roa nhằm phục vụ cho quân đội là chính
và đồng thời phục vụ công nghiệp quốc phòng cho thực dân Pháp.
Công ty đã trải qua các thời kỳ hình thành và phát triển chủ yếu sau:
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
3
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
- Thời kỳ 1912 - 1954: Sau 42 năm thành lập và phát triển, nhà máy bị
đóng cửa do sản lượng của Công ty thấp và chủ yếu là da cứng và da mềm.
Đến năm 1954 Công ty đã được chuyển nhượng lại cho phía Việt Nam.
- Thời kỳ từ năm 1954 - 1962: Công ty tồn tại dưới hình thức Công tư
Hợp danh với các giai đoạn nhỏ là:
+ Từ năm 1954 - 1956: Nhà máy hoạt động dưới sự quản lý của
các nhà công thương và đổi tên thành Công ty Thuộc da Việt Nam với số tiền
mua lại là 220.000 đồng bạc Đông Dương và vốn của Công ty là 300.000.000
đồng và chia thành 300 cổ phiếu.
+ Từ năm 1956 - 1958: Công ty được đổi tên thành Công ty
Thuộc da Thuỵ Khuê dưới hình thức là Công ty cổ phần hữu hạn trách nhiệm
dưới sự lãnh đạo của 1 ban quản trị được các cổ đông bầu ra quản lý công ty.
+ Từ năm 1958 - 1962: Công ty tiến hành công tư hợp danh và
được đổi tên thành Nhà máy Công ty Hợp danh Thuộc da Thuỵ Khuê. Đây là
thời kỳ Công ty hoạt động dưới hình thức Công – Tư hợp doanh nghĩa là có
cả vốn Nhà nước và vốn của các tư sản Việt Nam lúc bấy giờ.
- Thời kỳ từ năm 1962-1990: Đây là thời kỳ Công ty được chuyển đổi
thành Doanh nghiệp Nhà nước.
Năm 1962, với 100% vốn của Nhà nước, Công ty hoạt động dưới sự
quản lý của Nhà nước. Thời kỳ này Công ty có tên là Nhà máy Thuộc da
Thuỵ Khuê với tên giao dịch quốc tế là HALEXIM, thuộc Công ty tạp phẩm
mà sau này là Tổng công ty Da Giầy Việt Nam. Từ đó cho đến năm 1992
Công ty vẫn có trụ sở tại 151 Thụy khuê và sản phẩm chính vẫn là các sản
phẩm da thuộc.
Thời kỳ 1992 – tháng 10/2005: Đây là thời kỳ đổi mới và chuyển đổi
sản xuất của Công ty. Cùng với sự thay đổi chung, từ những năm 1990, Bộ
Công nghiệp (cũ) nay là Bộ Công thương và UBND Thành phố Hà Nội cho
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
4
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Công ty chuyển Bộ phận thuộc da từ số 151 Thuỵ Khuê về địa chỉ 409 Tam
Trinh – Hoàng Mai – Hà Nội và đổi tên thành Công ty Da giầy Hà Nội với tên
giao dịch quốc tế là HANSHOES. Nhiệm vụ của Công ty trong thời kỳ này
vẫn là sản xuất, kinh doanh các sản phẩm về da. Nhưng vì lý do môi trường
nên Công ty đã bàn giao toàn bộ thiết bị thuộc da cho Nhà máy Thuộc da
Vinh và đầu tư vào ngành giầy vải và giầy da. Năm 1998 Công ty đã đầu tư 2
dây chuyền giầy vải xuất khẩu với công suất từ 1 – 1,2 triệu đôi/năm và
chuyển hướng sản xuất kinh doanh mới là sản xuất giầy dép.
- Thời kỳ từ tháng 10/2005 đến nay: Đây là thời kỳ Công ty thực hiện
cổ phần hoá, đổi tên thành Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩu Da giầy
Hà Nội.
Năm 2005 theo chủ trương của nhà nước Công ty Da giầy Hà Nội đã
tiến hành cổ phần hoá xong và lấy tên là Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất Nhập
khẩu Da giầy Hà Nội. Sau khi cổ phần hoá, phương hướng hoạt động sản xuất
và kinh doanh của Công ty được mở rộng một cách linh hoạt không chỉ đơn
thuần là sản xuất giầy dép mà còn kinh doanh và làm đại lý cho các doanh
nghiệp trong và ngoài nước về các loại nguyên phụ liệu hoá chất và máy móc
ngành da giầy và các ngành khác, đầu tư xây dựng và kinh doanh địa ốc.
1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty
a. Chức năng
Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội là công ty có
hoạt động kinh doanh độc lập, tự hạch toán trên cơ sở lấy thu bù chi, khai thác
nguồn vật tư, nhân lực của đất nước đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, tăng
thu ngoại tệ, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sau khi cổ phần hoá chức năng sản xuất và kinh doanh chính của công ty như
sau:
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
5
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
- Sản xuất và xuất nhập khẩu các loại giầy vải xuất khẩu, giầy da, giầy
thể thao, giầy thời trang và dép đi trong nhà làm từ các loại nguyên liệu bằng
da, giả da, cao su, vải, nhựa PVC.
- Kinh doanh và làm đại lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước
về các loại nguyên vật liệu, hoá chất, máy móc thiết bị cho ngành da giầy.
- Kinh doanh máy móc thiết bị, dụng cụ kim khí, điện máy, điện dân
dụng, máy công cụ cầm tay; kinh doanh hàng tiêu dùng, nông, lâm, thổ, sản.
- Xuất nhập khẩu uỷ thác.
- Sản xuất và kinh doanh nước tinh khiết, nước giải khát có gas.
- Đầu tư xây dựng và kinh doanh địa ốc.
b. Nhiệm vụ
- Tuân thủ pháp luật của Nhà nước về quản lý tài chính, quản lý xuất
nhập khẩu và giao dịch đối ngoại. Nghiêm chỉnh thực hiện cam kết trong hợp
đồng buôn bán và các hợp đồng liên quan đến sản xuất kinh doanh của công
ty.
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, có kiến nghị và đề
xuất các giải pháp với Bộ Công Thương nhằm giải quyết các vướng mắc
trong hoạt động kinh doanh.
- Quản lý sử dụng vốn có hiệu quả đồng thời tự bổ xung nguồn vốn
kinh doanh, đầu tư mở rộng trang thiết bị bù đắp chi phí, đảm bảo kinh doanh
có lãi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nhằm thu ngoại tệ phục vụ cho việc
nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, xuất khẩu các sản phầm giầy
vải, giầy da, giầy thể thao và các loại giầy dép khác.
- Công ty tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO-9001 trên phạm vi toàn công ty.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
6
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
1.1.3 Bộ máy quản lý tại Công ty
a. Cơ quan Tổng Giám đốc
Bao gồm Tổng Giám đốc và 2 Phó Tổng Giám đốc. Cơ quan này có
nhiệm vụ điều hành tổ chức hoạt động sản xuất của công ty, chịu trách nhiệm
ty trước hội đồng cổ đông về các nhiệm vụ được giao.
b. Các phòng ban chức năng
- Phòng Tổ chức Hành chính: Thực hiện các chức năng cơ bản sau: Bộ
phận văn phòng thực hiện các chức năng quản lý hồ sơ và văn thư lưu trữ,
quản trị văn phòng phẩm, in ấn, công tác tạp vụ, y tế và lái xe. Bộ phận tổ
chức thực hiện công tác tổ chức cán bộ, nhân sự, tiền lương và các chế độ với
các cán bộ công nhân viên trong toàn công ty, công tác bảo hộ lao động, công
tác thi đua tuyên truyền.
- Phòng Tài chính Kế toán: Thực hiện các chức năng tham mưu cho
lãnh đạo công ty về lĩnh vực tài chính của công ty. Có các nhiệm vụ chính:
lập và thực hiện kế hoạch tài chính cho từng năm sản xuất, chỉ đạo về công nợ
và thu hồi công nợ, quản lý vật tư hàng hoá và thành phẩm.
- Phòng Kinh doanh XNK: Lập và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh
doanh của công ty, định hướng công tác phát triển thị trường ngoài nước, tiếp
cận đàm phán và thực hiện triển khai các đơn hàng thông qua công tác cung
ứng vật tư, thiết bị và các yếu tố sản xuất, điều độ và tác nghiệp giữa phòng
kỹ thuật, các phân xưởng sản xuất và xuất thành phẩm cuối cùng giao khách
hàng.
- Phòng Kinh doanh 1: Kinh doanh các loại nguyên phụ liệu đầu vào
cho ngành Da giầy phục vụ cho sản xuất của công ty và các đơn vị khác. Kinh
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
7
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
doanh các mặt hàng trong giấy phép đăng ký kinh doanh của công ty nhằm
đem lại lợi ích, nâng cao vị thế, uy tín và khả năng tài chính của công ty.
- Phòng Kinh doanh 2: Tổ chức và thực hiện công tác tiêu thụ nội địa,
nghiên cứu mở rộng thị trường trong nước cho sản phẩm của công ty. Quản lý
và phát triển hệ thống cửa hàng đại lý sản phẩm của công ty.
- Đội Bảo vệ: Có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động đảm bảo an ninh
trật tự, phòng chống bão lụt, cháy nổ trong công ty.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
8
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Sơ đồ 1: SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU DA GIẦY HÀ NỘI
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
THƯ KÝ
HĐQT
BAN KIỂM SOÁT
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH
KINH DOANH
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
THƯỜNG TRỰC
PHÒNG
KINH
DOANH
XNK
PHÒNG
KINH
DOANH
1
PHÒNG
KINH
DOANH
2
PHÒNG
TÀI
CHÍNH
KẾ
TOÀN
PHÒNG
TỔ
CHỨC
HÀNH
CHÍNH
- Bộ phận văn
phòng.
- Công tác tiền
lương và
BHXH.
- Công tác
khoán và hạch
toán nội bộ.
-Nhà máy
giầy Thái
nguyên, Nhà
máy giầy
Phùng Hưng.
- Công tác
tác tài chính
kế toán.
ĐỘI
BẢO
VỆ
9
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT KINH
DOANH TẠI CÔNG TY
Sản xuất sản phẩm giầy dép có đặc trưng là đa dạng về chủng loại sản
phẩm, bên cạnh đó Công ty CP Đầu tư XNK Da giầy Hà Nội là một công ty
có quy mô sản xuất nhỏ nên công ty có hệ thống sản xuất theo chuyên môn
hóa công nghệ, bao gồm: PX Bồi Chặt, PX May, PX Gò-Hoàn tất. Ngoài ra
còn có các xưởng sản xuất phụ trợ: PX Cao su sản xuất và cung cấp trong nội
bộ công ty các bán thành phẩm bằng cao su, pha chế hoá chất , PX sản xuất
phụ, PX cơ điện có nhiệm vụ duy trì sửa chữa bảo dưỡng hoạt động của tất
các các máy móc thiết bị của công ty bao gồm: cơ, điện, hơi. Các phân xưởng
sản xuất của công ty có mối quan hệ trong quy trình công nghệ sản xuất như
sau:
Sơ đồ 2: MỐI QUAN HỆ CÁC PHÂN XƯỞNG TRONG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ
Đường đi chính của BTP trong Quy trình công nghệ
Cung cấp dịch vụ từ phân xưởng phụ.
Các phân xưởng sản xuất này tuỳ theo đặc tính bước công nghệ phân
chia theo tổ sản xuất hoặc chuyền sản xuất. Các tổ hoặc chuyền sản xuất có
thể đảm nhận một bước công việc cụ thể trong bước công nghệ tại phân
xưởng mình hoặc thực hiện hoàn chỉnh toàn bộ bước công nghệ đó.
Sản phẩm chủ yếu của công ty là các loại giầy vải, giầy da, giầy thể
thao và sản xuất theo đơn đặt hàng. Quy trình công nghệ sản xuất được xây
dựng theo từng công đoạn và từng mã hàng, tuy nhiên vẫn phải tuân theo từng
bước chính trong quy trình chung được chỉ ra ở sơ đồ sau:
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
PX Bồi – Chặt :
Bồi tráng NVL,
chặt BTP
PX May : May
mũ giầy
PX Gũ : Gò –
Hoàn tất
PX Cao su : Đế
và các BTP cao su
Xưởng
Cơ điện
10
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Sơ đồ 3: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIẦY
Để có sản phẩm đạt chất lượng tại mỗi bước công đoạn bán thành phẩm
phải được tuân thủ theo đúng yêu cầu kỹ thuật đã đặt ra. Các bước công đoạn
có mối liên hệ chặt chẽ và có ảnh hưởng trực tiếp từ bước công đoạn đầu tiên
đến cuối cùng. Tuy nhiên trong quy trình trên bước công đoạn có ảnh hưởng
lớn nhất đến chất lượng sản phẩm là công đoạn gò ráp. Công đoạn này quyết
định đến hình dáng và độ bám dính của đôi giầy. Chính vì vậy công đoạn này
tại công ty các bước kiểm tra được thực hiện với mật độ cao hơn không chỉ
bằng trực quan mà còn bằng các thiết bị chuyên dụng (Máy uốn gập, máy đo
độ bám dính…).
1.3 ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
Bồi tráng nguyên vật
liệu
Chặt BTP
May mũ giầy
Gò ráp giầy
Lưu hoá
Hoàn tất đóng gói
Sản xuất các chi
tiết bằng cao su
11
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Sơ đồ 4: TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
1.3.2 Hình thức ghi sổ kế toán
Hiện ở công ty đang áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chứng từ.
Trong quá trình thực hiện kế toán, ở công ty không sử dụng toàn bộ các Nhật
ký chứng từ, bảng kê, bảng phân bổ và các sổ chi tiết mà chỉ sử dụng một số
loại gắn liền với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công ty nhưng vẫn đảm
bảo yêu cầu về kế toán.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
Trưởng phòng tài chính - kế toán
(Chịu trách nhiệm chung về
hoạt động của phòng và phụ trách công
tác tài chính của công ty)
Phó phòng
(Kế toán tiền mặt, kế toán tiêu thụ, kế toán
phải thu khách hàng, kế toán tạm ứng, kế
toán thuế, kế toán tổng hợp)
Thủ quỹ,
kế toán tiền
lương và
BHXH
Kế toán tổng
hợp, tính giá
thành, kế toán
vật tư
Kế toán thành
phẩm, kế toán
phải trả nhà
cung cấp, theo
dõi TK 242
Kế toán TGNH,
kế toán TSCĐ
và XDCB, kế
toán phải thu
phòng kinh
doanh
12
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
SƠ ĐỒ 5: TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN HÌNH THỨC NHẬT KÝ CHỨNG TỪ
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
PHẦN 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN
TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ XUẤT NHẬP KHẨU DA GIẦY HÀ NỘI
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH
PHẨM
2.1.1 Sự cần thiết của kế toán tiêu thụ thành phẩm
2.1.1.1 Khái niệm về hạch toán tiêu thụ thành phẩm
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
Sổ (Thẻ) kế toán
chi tiết
Chứng từ gốc
Bảng phân bổ
Nhật ký chứng từ
Bảng tổng hợp
chi tiết
Sổ cái
Báo cáo tài chính
Bảng kê
13
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Thành phẩm là sản phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chế biến
cuối cùng của quy trình công nghệ trong doanh nghiệp, được kiểm nghiệm đủ
tiêu chuẩn, kĩ thuật quy định và nhập kho hoặc đem bán.
Tiêu thụ thành phẩm là quá trình thực hiện giá trị của thành phẩm
nhằm thu hồi vốn, bù đắp chi phí và thực hiện lợi nhuận. Quá trình tiêu thụ
chỉ kết thúc khi doanh nghiệp chuyển giao xong quyền sở hữu thành phẩm
cho khách hàng và khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán số
lượng thành phẩm theo giá bán đã thoả thuận. Trong trường hợp, thành phẩm
đã xuất khỏi doanh nghiệp nhưng chưa có chứng từ đầy đủ chứng minh khách
hàng chấp nhận thanh toán hay không thì coi như hàng gửi bán và vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp.
a. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, khi ghi nhận doanh thu, kế toán
cần tuân theo các nguyên tắc sau:
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là
giá bán chưa thuế GTGT.
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế
GTGT hoặc chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán.
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu
thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu).
- Những doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hoá thì chi phí phản
ánh vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế được
hưởng, không bao gồm giá trị vật tư, hàng hoá nhận gia công.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
14
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
- Đối với hàng hoá nhận bán đại lí, kí gửi theo phương thức bán đúng
giá hưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ phần hoa hồng bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng.
- Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh
nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào
doanh thu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả
chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.
- Những sản phẩm, hàng hoá được xác định là tiêu thụ nhưng vì lí do
về chất lượng, quy cách kĩ thuật…người mua từ chối thanh toán, gửi trả lại
người bán hoặc yêu cầu giảm giá và được doanh nghiệp chấp nhận; hoặc
người mua mua hàng với khối lượng lớn được chiết khấu thương mại thì các
khoản giảm trừ doanh thu bán hàng này được theo dõi riêng biệt trên các TK
531 “Hàng bán bị trả lại”, TK 532 “Giảm giá hàng bán” và TK 521 “Chiết
khấu thương mại”.
- Trường hợp trong kì doanh nghiệp đã viết hoá đơn bán hàng và đã
thu tiền bán hàng nhưng đến cuối kì vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng
thì trị giá số hàng này không được coi là tiêu thụ và không được ghi vào TK
511 “doanh thu bán hàng và cung cấp dich vụ” mà chỉ hạch toán vào TK 131
“Phải thu khách hàng” về khoản tiền đã thu của khách hàng. Khi thực giao
hàng cho người mua sẽ hạch toán vào TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ” về trị giá hàng đã giao, đã thu trước tiền bán hàng, phù hợp với
các điều kiện ghi nhận doanh thu.
- Đối với trường hợp cho thuê tài sản, có nhận trước tiền cho thuê của
nhiều năm thì doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tài chính là số
tiền cho thuê được xác định trên cơ sở lấy toàn bộ tổng tiền thu được chia cho
số năm thuê tài sản.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
15
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
- Đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước trợ cấp, trợ giá theo
quy định thì doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền Nhà nước chính thức thông
báo hoặc thực tế trợ cấp, trợ giá. Doanh thu trợ cấp, trợ giá được phản ánh
trên TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”.
b. Điều kiện ghi nhận doanh thu:
Doanh thu bán hàng được xác định khi thoả mãn đồng thời 5 điều kiện
sau:
- Doanh nghiệp chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá cho người mua.
- Doanh nghiệp không còn quản lí, kiểm soát sản phẩm, hàng hoá.
- Doanh thu được xác định một cách tương đối chắc chắn
- Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ bán hàng.
- Xác định được chi phí liên quan đến bán hàng.
2.1.1.2 Các phương thức tiêu thụ thành phẩm
Công tác tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp có thể tiến hành
theo các phương thức khác nhau nhưng nhất thiết phải gắn với việc thanh toán
với người mua. Tại doanh nghiệp có thể áp dụng những phương thức bán
hàng như sau:
- Phương thức tiêu thụ trực tiếp:
Đây là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp ở kho hay ở
các phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp. Sản phẩm bàn giao cho khách
hàng được chính thức coi là tiêu thụ và đơn vị bán mất quyền sở hữu về số
hàng này.
- Phương thức chuyển hàng theo hợp đồng:
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
16
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Theo phương thức này bên bán chuyển hàng cho bên mua theo thời
gian và địa điểm đã kí kết trên hợp đồng kinh tế. Số hàng chuyển đi vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi khách hàng kiểm nhận và thanh toán
hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng này mới được xác định là tiêu thụ.
- Phương thức tiêu thụ qua đại lý, ký gửi:
Hàng của doanh nghiệp được chuyển đến các đại lí để bán. Số hàng
này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và chỉ xác định là tiêu thụ khi
đại lí có chứng từ đầy đủ chứng minh đã chính thức tiêu thụ. Bên đại lí sẽ
hưởng thù lao đại lí dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.
- Phương thức bán hàng trả góp:
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng
chuyển giao được coi là tiêu thụ, người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại
thời điểm mua một phần. Số tiền còn lại người mua sẽ trả dần và phải chịu
một tỷ lệ lãi suất nhất định.
- Các trường hợp khác:
Các trường hợp được tính là tiêu thụ khác như: doanh nghiệp dùng sản
phẩm, vật tư, hàng hoá để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ nhân
viên, để biếu tặng, quảng cáo, chào hàng hay sử dụng sản phẩm phục vụ sản
xuất kinh doanh …
2.1.2 Kế toán tổng hợp tiêu thụ thành phẩm
2.1.2.1. Tài khoản sử dụng
- TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: phản ánh tổng
số doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kì và các khoản giảm
trừ doanh thu.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
17
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
- TK 512 – Doanh thu nội bộ: phản ánh doanh thu của sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ.
- TK 531 – Hàng bán bị trả lại: Theo dõi doanh thu của số thành phẩm,
hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại.
- TK 532 – Giảm giá hàng bán: Theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá
hàng bán cho khách hàng trên giá bán đã thoả thuận vì các lí do chủ quan của
doanh nghiệp.
2.1.2.2 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
* Kế toán bán hàng trực tiếp
TK3332, 3333 TK511 TK111,112
Thuế XK, TTĐB phải nộp NSNN DN nộp thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp
TK521,TK531,532 Dn nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ
D.thu hàng bán Ck k/c d.thu hàng bán bị
bị trả lại hoặc trả lại,giảm giá hàng bán
giảm giá ps trong kỳ
TK911
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
DOANH
THU
BÁN
HÀNG
P/S
18
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Ck,k/ch
TK33311
D.thu thuần
Thuế GTGT Thuế GTGT
hàng trả lại đầu ra
Khi hàng bán bị trả lại hoặc giảm giá hàng bán phát sinh
BIỂU 1: SƠ ĐỒ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRỰC TIẾP
* Kế toán bán hàng trả góp
TK155 TK632 TK511 TK111,112
X.kho TP Doanh thu theo Số tiền thu lần đầu,
giá thu tiền ngay thu ngay
TK3332,3333
Thuế XK,TTĐB
phải nộp NS TK131
TK33311
Thuế GTGT số tiền chưa khi thu tiền
đầu ra
TK515 TK 3387
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
19
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Lãi trả châm Số doanh thu
trả góp tiền lãi
BIỂU 2: SƠ ĐỒ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRẢ GÓP
* Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu.
BIỂU 3: SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN CHIẾT KHẤU THƯỜNG
MẠI, GIẢM GIÁ HÀNG BÁN, HÀNG BÁN BỊ TRẢ LẠI
2.1.2.3 Kế toán tổng hợp giá vốn thành phẩm tiêu thụ
- TK 632: Phản ánh sự biến động của giá vốn hàng bán. Đây là tài khoản
chi phí.
a. Phương pháp xác định giá vốn thành phẩm tiêu thụ
Về nguyên tắc, giá vốn thành phẩm xuất kho được tính theo giá thực
tế. Có nhiều phương pháp tính giá thực tế khác nhau nên việc lựa chọn
phương pháp tính giá nào phụ thuộc đặc điểm của từng doanh nghiệp, đặc
điểm của loại hàng hoá doanh nghiệp kinh doanh…
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
K/C xác định doanh thu thuầnSố CKPS trong kỳ
TK3331
TK521,531,532TK111,112,131 TK511
20
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
* Phương pháp giá bình quân
- Phương pháp giá bình quân cả kì dự trữ
Theo phương pháp này, giá thực tế thành phẩm xuất kho được xác
định dựa trên số lượng thành phẩm xuất kho và đơn giá thực tế bình quân.
Giá thực tế tp xuất kho = Số lượng tp xuất kho Đơn giá thực tế bình quân cuối kì
=
- Phương pháp giá bình quân sau mỗi lần nhập
Theo phương pháp này, doanh nghiệp sẽ tính toán lại giá thực tế bình
quân thành phẩm sau mỗi lần nhập để làm cơ sở tính giá xuất kho.
Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất kho Đơn giá thực tế bình quân tp
=
* Phương pháp giá thực tế đích danh
Theo phương pháp này giá thực tế xuất kho căn cứ vào đơn giá thành
phẩm nhập kho theo từng lô, từng lần nhập. Phương pháp này có ưu điểm là
giá thành phẩm xuất kho được tính chính xác, kịp thời. Tuy nhiên, để áp dụng
phương pháp này thì hệ thống kho tàng của doanh nghiệp phải cho phép bảo
quản riêng từng lô thành phẩm nhập kho. Do vậy, phương pháp này chỉ áp
dụng đối với những doanh nghiệp mà thành phẩm có giá trị cao, ít chủng loại
thành phẩm, có điều kiện bảo quản riêng từng lô thành phẩm nhập kho.
* Phương pháp Nhập trước - Xuất trước (FIFO)
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
21
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
Theo phương pháp này, thành phẩm được tính giá thực tế xuất kho
trên cơ sở giả định lô thành phẩm nào nhập kho trước thì được xuất dùng
trước, vì vậy lượng thành phẩm xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính theo giá
thực tế của lần nhập đó.
* Phương pháp Nhập sau-Xuất trước (LIFO)
Theo phương pháp này, thành phẩm được tính giá thực tế xuất kho
dựa trên cơ sở giả định lô thành phẩm nào nhập kho sau thì sẽ xuất trước, vì
vậy việc tính giá xuất của thành phẩm được làm ngược lại với phương pháp
FIFO.
b. Kế toán tổng hợp giá vốn thành phẩm tiêu thụ trong doanh nghiệp áp dụng
phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp hạch toán tổng hợp
thành phẩm một cách thường xuyên, liên tục tình hình nhập – xuất – tồn của
thành phẩm.
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
TK 154 TK 632 TK 155,157,138
TK 911
Xuất bán thành phẩm tại xưởng Kết chuyển giá vồn hàng bán
TK 155
Xuất bán thành phẩm từ kho Kết chuyển giá vồn hàng bán cuối kì
TK 157
Hàng gửi bán được tiêu thụ
bị trả lại
22
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
BIỂU 4: SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP GIÁ VỐN THÀNH PHẨM TIÊU THỤ TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN.
BIỂU 5: SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP GIÁ VỐN THÀNH PHẨM TIÊU THỤ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP KIỂM KÊ ĐỊNH KÌ
c. Kế toán tổng hợp giá vốn thành phẩm tiêu thụ trong doanh nghiệp áp dụng
phương pháp kiểm kê định kì.
Phương pháp kiểm kê định kì là phương pháp hạch toán tổng hợp
thành phẩm không theo dõi tình hình nhập – xuất – tồn thành phẩm một cách
thường xuyên liên tục mà chỉ theo dõi tồn kho cuối kì thông qua kiểm kê cuối
kì, từ đó xác định giá trị tồn kho cuối kì, tính ra giá trị thành phẩm xuất trong
kì.
= + -
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
Kết chuyển tp tồn kho đầu kì
Nhập kho sp hoàn thành trong kì
TK 631
TK 155, 157 TK 632
Kết chuyển thành phẩm tồn kho cuối kì
TK 911
Kết chuyển giá vốn tiêu thụ tp trong kì
(1)
(2)
(4)
(3)
23
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
2.2 THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TẠI
CÔNG TY
2.2.1 Đặc điểm tiêu thụ thành phẩm tại Công ty
Sản phẩm chủ yếu của Công ty là giầy dép với nhiều chủng loại, quy
cách, kích cỡ khác nhau như: giầy vải, giầy da, giầy bata, giầy đế kếp…Sản
phẩm cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
Giầy dép là sản phẩm chịu ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu và vùng
địa lí. Do vậy, nó được tiêu thụ chủ yếu ở các nước ôn đới và nhiệt đới đặc
biệt lượng tiêu thụ tăng cao vào mùa đông và dịp đầu năm mới. Đây cũng là
loại sản phẩm mang tính thời trang cao, kiểu dáng, mẫu mã chịu nhiều ảnh
hưởng của thị hiếu người tiêu dùng, của môi trường văn hoá, xã hội. Do vậy,
để đứng vững và phát triển trên thị trường Công ty phải không ngừng đổi mới
và hoàn thiện sản phẩm.
Sản phẩm của Công ty phải trải qua nhiều giai đoạn công nghệ liên
tục, khép kín. Mỗi giai đoạn đều có bộ phận KCS kiểm tra chất lượng để phân
loại sản phẩm đảm bảo mỗi sản phẩm đưa ra thị trường tiêu thụ đều đạt chất
lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002. Chính vì vậy, Công ty không những giữ
được những khách hàng truyền thống mà còn ngày càng mở rộng thị trường
tiêu thụ.
Các phương thức bán hàng
Khâu tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn do vậy
có thực hiện tốt tiêu thụ thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển.
Muốn tiêu thụ đạt hiệu quả thì việc đa dạng hoá các phương thức bán hàng
cũng là một chiến lược quan trọng. Hiện nay, công ty có các phương thức tiêu
thụ sau
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
24
Đoàn Thị Lan Hương – KT37A
* Bán hàng thu tiền trực tiếp
Đây là phương thức mà hàng được giao tại kho của Công ty được
khách hàng trả tiền ngay. Phương thức này thường áp dụng với các khách
hàng nhỏ, lẻ
* Bán hàng trả chậm
Theo phương thức này thì hàng được giao cho khách hàng, được
khách hàng chấp nhận thanh toán trong một thời hạn nhất định. Ở Công ty Cổ
phần Đầu tư Xuất Nhập khẩu Da giầy Hà Nội thời hạn thanh toán thường là
15 ngày. Phương thức này được áp dụng khá phổ biến ở công ty và thường áp
dụng với những khách hàng thường xuyên, có quan hệ chặt chẽ với công ty.
* Bán hàng theo phương thức chuyển hàng theo hợp đồng
Hàng được Công ty chuyển đến cho bên mua theo địa điểm đã thoả
thuận trên hợp đồng nhưng trước khi người mua tiếp nhận thì số hàng này vẫn
thuộc quyền sở hữu của công ty. Trong trường hợp đó thì kế toán phải thường
xuyên theo dõi tình hình chấp nhận hay không chấp nhận thanh toán để xử lí
trong thời hạn quy định đảm bảo lợi ích công ty. Phương thức này thường áp
dụng đối với các hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
* Bán hàng thông qua trao đổi hàng
Đây là một hình thức bán hàng thể hiện sự năng động, linh hoạt của
Công ty dựa trên cơ sở lợi ích của cả hai bên. Công ty và doanh nghiệp khác
đổi cho nhau một lượng hàng hoá nhất định có thể ngang giá hoặc không
ngang giá. Trường hợp này sẽ được xác định như tiêu thụ trả chậm và mua
hàng hoá của khách hàng.
* Bán hàng đại lý
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Khoa Kế toán
25