LỜI NÓI ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang tích cực tiến hành sự nghiệp công nghiệp húa- hiện đại
hoá đất nước. Để làm được điều này, Việt Nam đã và đang áp dụng những
biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trong đó chuyển giao công nghệ áp dụng
thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến đã trở thành sự đầu tư đúng hướng. Tuy
nhiên việc đổi mới máy móc, thiết bị cần một lượng vốn rất lớn. Với khá
nhiều tiện Ých, đồng thời mức độ rủi ro lại thấp, cho thuê tài chính tỏ ra là
một nghiệp vụ ngân hàng có nhiều ưu điểm có thể linh hoạt đáp ứng yêu cầu
vốn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chính vì vậy cho thuê tài chính thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Trong xu thế chung của cả nền kinh tế, ngành Ngân hàng nói chung, các
Ngân hàng thương mại nói riêng đã và đang triển khai dự án hiện đại hoá các
dịch vụ ngân hàng, với mục tiêu đa dạng hoá và đổi mới các quy trình nghiệp
vụ ngân hàng sao cho phù hợp với xu thế phát triển của thị trường tài chính
tiền tệ trong nước và khu vực đó là: cho thuê tài chính, rút tiền tự động qua
máy ATM, thanh toán thẻ, thanh toán Online,…
Ở Việt Nam, việc ra đời và phát triển của thị trường cho thuê tài chính là
một tất yếu khách quan nhằm giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp thiếu
vốn hiện nay. Sau hơn 10 năm hoạt động tại Việt Nam, thị trường cho thuê tài
chính đã đạt được những bước phát triển quan trọng, cho thuê tài chính đã góp
phần đa dạng hoá các hoạt động của các tổ chức tín dụng. Đặc biệt đối với
Ngân hàng Công thương Việt Nam, một Ngân hàng với xu hướng kinh doanh
đa năng với các sản phẩm dịch vụ phong phó cho các hoạt động khách hàng
và hoạt động cho thuê tài chính được bắt đầu vào năm 1995 do phòng Tín
dụng thuê mua quản lý, sau đó đến năm 1998 phòng này tách ra và thành lập
Công ty cho thuê tài chính độc lập theo luật định.
- 1 -
Tuy nhiên, trong thời gian qua hoạt động cho thuê tài chính nói chung,
hoạt động cho thuê tài chính tại Ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng
còn gặp nhiều khó khăn, bất cập và thực sự chưa có hiệu quả. Để thị trường
phát triển hơn nữa phải có nhiều giải pháp tích cực và đồng bộ từ nhiều phía
để hoàn thiện nghiệp vụ cho thuê tài chính nói chung và các nghiệp vụ liên
quan, trong đó nghiệp vụ kế toán cho thuê tài chính là nghiệp vụ quan trọng
không thể không quan tâm.
Xuất phát từ quan điểm đó, em đã lựa chọn đề tài "Một số giải pháp
hoàn thiện công tác kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính tại Công ty cho
thuê tài chính - Ngân hàng Công thương Việt Nam" mà mục đích là đi sâu
phân tích cơ sở lý luận, cơ bản và thực tiễn hoạt động kế toán cho thuê tài
chính, nghiên cứu và luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn để làm sáng tỏ
hơn về hoạt động kế toán cho thuê tài chính hiện nay. Phân tích đánh giá thực
trạng hoạt động cho thuê tài chính nói chung và đi sâu vào phân tích, đánh giá
thực trạng hoạt động kế toán cho thuê tài chính nói riêng tại Ngân hàng Công
thương Việt Nam. Nêu được một số vần đề bất cập trong hoạt động kế toán
cho thuê tài chính trên cơ sở đó, tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân
hàng Công thương Việt Nam.
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kế toán cho thuê tài chính
và thực tiễn hoạt động kế toán cho thuê tài chính ở Công ty cho thuê tài
chính-Ngân hàng Công thương Việt Nam từ đó đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả kế toán cho thuê tài chính.
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu hoạt động kế toán nghiệp vụ
cho thuê tài chính tại Ngân hàng Công thương Việt Nam mà cụ thể là tại Công
ty cho thuê tài chính-Ngân hàng Công thương Việt Nam; không đi sâu nghiên
cứu về tất cả các nghiệp vụ kế toán tại Công ty.
- 2 -
III. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề áp dông phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với một số
phương pháp nghiên cứu như: suy luận lụgớc, phương pháp so sánh và thống
kờ…
IV. Kết cấu của chuyên đề:
Tên chuyên đề: "Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán nghiệp
vụ cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Công
thương Việt Nam".
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I: Những vấn đề cơ bản về cho thuê tài chính và nghiệp vụ kế
toán cho thuê tài chính.
Chương II: Thực trạng công tác kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính
tại Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác
kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính- Ngân
hàng Công thương Việt Nam.
Qua đây, em cũng xin bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới Học Viện Tài
chớnh, các thầy cô trong khoa Tài chớnh Ngân hàng, Công ty cho thuê tài
Chớnh – Ngân hàng công thương Việt Nam đã giúp đỡ em hoàn thành bài
chuyên đề này và đúc rút nhiều kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo và quí cơ quan đã giúp đỡ,
tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề này.
- 3 -
Chương I: Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ kế toán
cho thuê tài chính
1.1 Sự cần thiết và vai trò của hoạt động cho thuê tài chính trong nền
kinh tế thị trường
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài
chính
Cho thuê tài chính là một công cụ tài chính đã được sáng tạo ra từ rất sớm
trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhiều tài liệu đã chứng minh rằng Cho thuê
tài sản đã xuất hiện khoảng năm 2800 trước Công Nguyên. Tuy nhiên các giao
dịch thuê tài sản thời cổ thuộc hình thức thuê kiểu truyền thống (Traditional
Lease), tài sản được đem ra giao dịch khi đó hết sức đa dạng như : công cụ sản
xuất nông nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa, ruộng đất… Các giao dịch thuê tài sản
thời kì này chỉ ở dạng đơn giản được gọi là hình thức thuê mua truyền thống
(Traditional Lease ). Phương thức giao dịch này tương tự như phương thức
thuê vận hành ngày nay. Hiểu một cách đơn giản mà theo đó người cho thuê
chuyển cho người thuê quyền sử dụng tài sản trong một thời gian nhất định để
lấy tiền thuê.
Đến đầu thế kỉ XIX, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền
kinh tế hàng hoá, các doanh nghiệp muốn tồn tại buộc phải thường xuyên đổi
mới máy móc thiết bị. Môi trường này tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh
mẽ của hoạt động thuê mua và nghiệp vụ tín dụng thuê mua thuần (Net Lease
hay Thuê tài chính- Finanse Lase, hay còn gọi là thuê tư bản-Capital Lease )
xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Hoạt động cho thuê tài
chính đã có sự gia tăng đáng kể về số lượng và chủng loại thiết bị, tài sản cho
thuê, trở thành công cụ tài chính được chấp thuận rộng rãi.
Đến đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, giao dịch cho thuê tài chính đã có
những bước tiến nhảy vọt, nhất là tại Mỹ. Nguyên nhân của sự phát triển này
- 4 -
là do hoạt động cho thuê tài chính đã có những thay đổi về tính chất giao dịch
của nó.
Nhằm đáp ứng những nhu cầu về vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ cho
thuê tài chính đã được sáng tạo ra trước tiên ở Mỹ vào năm 1952, do công ty
tư nhân United States Leasing Corporation, sau đó được phát triển sang châu
Âu vào những năm 60 của thế kỷ XX và được ghi vào luật thuê mua của Pháp
năm 1960 với tên gọi là Credit Bail. Mặc dù mới ra đời hơn nửa thế kỉ nhưng
cho thuê tài chính thế giới đó có những bước phát triển mạnh mẽ ở châu Á và
nhiều khu vực khác kể từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX. Theo một thống kê
kinh tế cho thấy ngành công nghiệp cho thuê tài chính thế giới có giá trị trao
đổi chiếm khoảng 350 tỷ USD vào năm 1994. Hiện nay ở Mỹ, ngành thuê mua
thiết bị chiếm khoảng 25% đến 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua
bán thiết bị hàng năm.
Nguyên nhân chính thúc đẩy các hoạt động cho thuê tài chính có những
bước phát triển mạnh mẽ, nhất là trong những năm gần đây là do nó là một
hình thức tài trợ có tính an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả đối với các bên tham
gia. Ngày nay giao dịch cho thuê tài sản đặc biệt là cho thuê tài chính đã trở
nờn quen thuộc trong kinh doanh . Tuy nhiên, cho tới nay không phải quốc gia
nào cũng có một khái niệm chuẩn về cho thuê tài chính, mỗi khu vực và mỗi
quốc gia khác nhau có sự tiếp cận khác nhau về lĩnh vực cho thuê tài chính.
Theo công bố của công ty Cho thuê tài chính Quốc tế ( IFC ),chỉ có 19 trên 37
quốc gia được điều tra thăm dò có định nghĩa về cho thuê tài chính và mỗi
quốc gia cũng có nhưng quy định riêng về cho thuê tài chính tùy thuộc vào
điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của mình. Nhưng điểm chung nhất, thực tế mà
mọi quốc gia đều thừa nhận là, nếu xét từ góc độ nghiệp vụ kế toán và dịch vụ
tài chính, thì từ đầu thế kỷ XX về trước cho thuê tài chính gọi là nghiệp vụ cổ
điển của Ngân hàng trong giai đoạn đầu nh nhận tiền gửi, chiết khấu, tín dụng,
kế toán, thanh toán, séc tuy là nghiệp vụ cổ điển, song ngày nay các nghiệp vụ
đó vẫn được các ngân hàng, các tổ chức tài chính trung gian áp dụng phổ biến.
- 5 -
1.1.2 Khái niệm về cho thuê tài chính
- Khái niệm thông thường: Cho thuê tài chính là hình thức cho thuê tài
sản trung dài hạn, mà trong thời hạn đó người cho thuê chuyển giao tài sản
thuộc sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng. Người thuê có trách nhiệm
thanh toán tiền thuê trong suèt thời hạn thuê và có thể được quyền sở hữu tài
sản thuê, hoặc được quyền mua tài sản thuê, hoặc được quyền thuê tiếp theo
các điều kiện đã được hai bên thoả thuận.
- Khái niệm theo tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IAS 17):
Thuê tài sản là một thoả thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê tài sản về
việc bên cho thuê tài sản chuyển quyền sử dụng cho bên đi thuê tài sản trong
một khoảng thời gian nhất định để được nhận tiền cho thuê.
Thuê tài chính là thuê tài sản có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi
Ých gắn liÒn với quyền sở hữu của tài sản. Quyền sở hữu có thể chuyển giao
vào cuối thời hạn thuê.
- Khái niệm cho thuê tài chính ở Việt Nam: Với sự giúp đỡ của IMF,
nghiệp vô cho thuê tài chính được du nhập vào Việt Nam năm 1991. Sau đó,
Ngân hàng Nhà nước ra quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995 về việc
ban hành thể lệ tín dụng thuê mua. Ngày 9/10/1995, Chớnh phủ đã ra Nghị
định số 64CP về việc ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của
Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam. Điều 1, Chương 1 trong Quy chế tạm
thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính Việt Nam chỉ rõ
“Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho
thuê máy móc, thiết bị và các động sản khỏc. Bờn cho thuê cam kết mua máy
móc, thiết bị và các động sản khác theo yêu cầu của bờn thuờ và nắm giữ
quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê đú. Bờn thuờ sử dụng tài sản và thanh
toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không
được hủy bỏ hợp đồng trước hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bờn thuờ được
- 6 -
quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện được
thỏa thuận trong hợp đụng thuờ ”.
Ngày 2/5/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2001/NĐ-CP về tổ
chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính được ban hành thay thế cho
Nghị định số 64/CP. Tại Khoản 1, Điều 1 của Nghị định này quy định: “ Cho
thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê
máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khỏc trờn cơ sở
hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bờn thuờ. Bờn cho thuê cam kết mua
máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu
của bờn thuờ và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bờn thuờ
sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được
hai bên thỏa thuận”.
Tuy nhiên, theo định nghĩa của văn bản pháp lý trên, cho thuê tài chính áp
dụng ở Việt Nam có một số giới hạn nh : không áp dụng cho thuê đối với bất
động sản; người cho thuê là sở hữu chủ tài sản, nh vậy không áp dụng phương
thức thuê rồi cho thuê lại.
Nói tóm lại, có thể hiểu ngắn gọn về cho thuê tài chính là tất cả các
nghiệp vụ cho thuê tài sản trung, dài hạn có kèm theo quyền chọn mua.
1.1.3 Quy trình cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung dài hạn trong đó mục
đích của người cho thuê cũng giống như mục đích của người cho vay là thu lãi
trên số vốn đầu tư, còn mục đích của người thuê là sử dụng vốn. Người cho
thuê cấp tín dụng dưới dạng hiện vật (tài sản) chứ không phải bằng tiền,
nhưng thực chất là cung cấp tài chính (cho thuê vốn) nên được gọi là người
cho thuê tài chính, người đi vay sử dụng vốn nên gọi là người đi thuê tài
chính. Trong quan hệ cho thuê tài chính chủ yếu có ba bên tham gia:
Bên đi thuê : là các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng tài sản nhưng
không có vốn để đầu tư hoặc xét thấy việc đầu tư qua việc vay tín dụng là
không thuận lợi.
- 7 -
Bên cho thuê : là những Công ty cho thuê tài chớnh…Cỏc công ty này
đầu tư mua sắm máy móc thiết bị theo yêu cầu của người thuê để cho thuê
nhằm kiếm lợi nhuận.
Nhà cung cấp máy móc thiết bị: là các hãng sản xuất hoặc các đại lý
phân phối.
Sơ đồ Quy trình cho thuê tài chính
Lựa chọn MM,TB (1)
Giao hàng, lắp đặt (4)
Hợp đồng Hợp đồng
cho thuê (2) mua bán (3)
Thanh toán tiền thuê (6) Thanh toán tiền mua TS (5)
Quy trình phổ biến của hình thức cho thuê tài chính có thế tóm tắt như
sau:
1. Bên đi thuê lựa chọn máy móc, thiết bị từ nhà cung cấp.
2. Hai bên đi thuê và cho thuê ký một hợp đồng cho thuê tài chính.
3. Bên cho thuê ký hợp đồng mua tài sản với nhà cung cấp theo yêu cầu
của bên đi thuê.
4. Nhà cung cấp giao tài sản cho bên đi thuê và giao quyền sở hữu tài sản
cho bên cho thuê.
5. Công ty Cho thuê tài chính thanh toán tiền mua tài sản cho nhà cung
cấp.
6. Bên đi thuê trả tiền thuê cho bên cho thuê theo cách thức thanh toán đã
ghi trong hợp đồng.
- 8 -
Bªn thuª
Nhµ cung cÊp
m¸y mãc
thiÕt bÞ
C«ng ty cho
thuª tµi chÝnh
Kết thúc hợp đồng, hai bên thoả thuận với nhau về quyền lựa chọn của
bên đi thuê.
Tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, quyền sử dụng được
chuyển giao cho bên đi thuê trong suốt thời gian thuê, thường bằng tuổi thọ
của tài sản. Hợp đồng thuê không được huỷ ngang. Thông thường, một giao
dịch cho thuê tài chính được chia làm hai phần:
Thời hạn thuê cơ bản: là thời hạn mà bên đi thuê trả những khoản tiền
thuê cho bên cho thuê để được quyền sử dụng tài sản. Đây là thời hạn mà tất
cả các bên không được quyền huỷ ngang hợp đồng nếu không có sự chấp
thuận của bên kia.
Thời hạn gia hạn tuỳ chọn: Là thời hạn mà bên cho thuê cam kết sẽ cho
bên đi thuê tiếp tục thuê tài sản nếu bên đi thuê có nhu cầu sau khi kết thúc
thời hạn cơ bản.
Nh vậy, cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ vốn trung và dài
hạn không huỷ ngang cho các doanh nghiệp, ở đây bên nhận tài trợ (các doanh
nghiệp, cá nhân) không phải nhận bằng tiền như hình thức tài trợ cổ điển mà
được thực hiện dưới hình thức tài sản, với phương thức thanh toán trả dần và
được thanh toán chủ yếu dưới hình thái tiền tệ. Trong hình thức này các chức
trách về bảo trì, bảo hiểm tài sản và thuế tài sản thường là trách nhiệm của bên
đi thuê. Nói chung mét giao dịch cho thuê được coi là cho thuê tài chính nếu
nh về thực chất nó chuyển giao phần rủi ro và lợi Ých cho bên đi thuê. Và đây
cũng chính là đặc trưng của cho thuê tài chính để phân biệt nó với các hoạt
động tín dụng đầu tư khác.
1.1.4. Ý nghĩa của hoạt động cho thuê tài chính
Một trong những nguyên nhân thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính phát
triển mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là đối với các nền kinh tế đang phát triển
là do những lợi ích mà hoạt động này đem lại cho nền kinh tế nói chung và
cho cỏc bờn tham gia vào hoạt động này nói riêng.
- 9 -
1.1.4.1. Lợi ích đối với nền kinh tế
Một, cho thuê tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế. Cho
thuê tài chính là một hình thức tài trợ có tính an toàn tương đối cao, phạm vi tài
trợ tương đối rộng nên khuyến khích được nhiều đối tượng trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, cho thuê tài chính
đã góp phần giỳp cỏc quốc gia thu hút các nguồn vốn quốc tế thông qua việc
nhận các loại máy móc, thiết bị cho thuê mà không làm tăng các khoản nợ
nước ngoài của quốc gia đó.
Cho thuê tài chính sẽ thu hút vốn quốc tế giỳp cỏc doanh nghiệp hiện đại
hoá sản xuất, tăng hiệu quả hoạt động, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển.
Hai, cho thuê tài chính góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải
tiến cho các kỹ thuật. Hoạt động cho thuê tài chính sẽ đưa các loại máy móc,
thiết bị có công nghệ tiên tiến đến các doanh nghiệp, góp phần nâng cao trình
độ công nghệ của nền sản xuất trong điều kiện có khó khăn về vốn đầu tư.
Đối với các quốc gia phát triển, cho thuê tài chính giúp cập nhật công
nghệ hiện đại cho nền kinh tế nờn nú vẫn phát huy mạnh mẽ.
Đối với các quốc gia đang phát triển, cho thuê tài chính càng phát huy tác
dụng mạnh mẽ hơn bởi nó đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ nhanh
chóng, giảm bớt sự tụt hậu về công nghệ trong thời đại bùng nổ công nghệ
như hiện nay. Từ đó, giỳp cỏc quốc gia này có những bước nhảy vọt, theo kịp
những nền kinh tế phát triển.
1.1.4.2. Lợi ích đối với người cho thuê
Sự khác biệt của nghiệp vụ cho thuê tài chính mang lại nhiều lợi ích cho
người cho thuê (hay nhà tài trợ) so với các nghiệp vụ tài trợ khác.
Trước hết, cho thuê tài chính là hình thức tài trợ có tính an toàn cao. Lợi
ích này xuất phát từ đặc điểm của cho thuê tài chính, đó là quyền sở hữu tài
sản cho thuê vẫn thuộc bên cho thuê nên họ có quyền kiểm tra, giám sát việc
- 10 -
sử dụng tài sản. Ngoài ra khoản tiền tài trợ được sử dụng đúng mục đích mà
người thuê yêu cầu và đối tượng tài trợ là tài sản hiện vật. Do đó, người cho
thuê tránh được những thiệt hại do mất vốn tài trợ, cũng như hạn chế được ảnh
hưởng của lạm phát, đồng thời không gặp khó khăn về khả năng thanh khoản
với tiền thuê và vốn được thu hồi dựa trên hiệu quả hoạt động của tài sản.
Bên cạnh đó, cho thuê tài chính cũng cho phép người cho thuê linh hoạt
trong kinh doanh bởi vốn tài trợ được thu hồi dần trong thời gian diễn ra giao
dịch thuê mua nên người cho thuê có thể thực hiện tái đầu tư vào các hoạt
động sinh lợi khác. Ngoài ra, người cho thuê cũng có điều kiện để đầu tư theo
chiều sâu đối với kiến thức kinh tế kỹ thuật và kỹ năng nghiệp vụ tín dụng; từ
đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của họ.
1.1.4.3. Lợi ích đối với người đi thuê
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế có thể huy động vốn trung và dài hạn
từ nhiều nguồn khác nhau. Trong đó nguồn vốn được huy động thông qua hoạt
động thuê tài chính là nguồn rất được quan tâm bởi nó đem lại cho người thuê
rất nhiều lợi ích.
Thứ nhất, người thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong điều kiện bị
hạn chế về nguồn vốn đầu tư. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh
nghiệp có thể phải gia tăng công suất bất kỳ lúc nào và việc đáp ứng nhu cầu
này đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn vốn tích luỹ lớn; nhưng thực tế, các
doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng gặp khó
khăn rất lớn về nguồn vốn trung, dài hạn. Thông qua tín dụng thuê mua, các
doanh nghiệp không cần phải có tài sản thế chấp mà vẫn có thể có được nguồn
vốn trung, dài hạn để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của mình dưới
dạng máy móc, thiết bị hoặc động sản khác.
Thứ hai, hoạt động thuê tài chính giỳp cỏc doanh nghiệp không thoả món
cỏc yêu cầu vay vốn của các định chế tài chính cũng vẫn có thể nhận được vốn
tài trợ. Đặc thù của cho thuê tài chính là tính an toàn cao nờn cỏc công ty cho
- 11 -
thuê tài chính có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu tư của khách hàng ngay
cả khi uy tín hoặc khả năng tài chính của khách hàng còn hạn chế
Thứ ba, hoạt động thuê tài chính có thể giúp doanh nghiệp đi thuê không
bị đọng vốn trong tài sản cố định. Trong trường hợp khách hàng đó mua tài
sản nhưng thiếu vốn lưu động, khách hàng có thể bán lại cho công ty CTTC
sau đó thuê lại. Như vậy khách hàng vừa có vốn để hoạt động, vừa có tài sản
để sử dụng.
Thứ tư, thuê mua tài chính là phương thức rút ngắn thời gian triển khai
đầu tư, đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh do các thủ tục, cũng như các
điều kiện tài trợ đơn giản hơn nhiều so với các phương thức tài trợ khác; đồng
thời cách thức cung ứng thiết bị được tổ chức khép kín nên tiết kiệm được rất
nhiều thời gian.
Thứ sáu, hoạt động thuê tài chính cho phép người thuê hiện đại hoá sản
xuất, theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới. Ngày nay, các cuộc cách
mạng công nghệ diễn ra thường xuyên hơn, đòi hỏi các thiết bị, máy móc phải
thay đổi liên tục để theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới, từ đó tạo ra
những sản phẩm có tính riêng biệt và có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên
thị trường là vấn đề tất yếu phải giải quyết đối với mọi doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường. Thông qua hoạt động thuê tài chính, các doanh nghiệp
có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới và việc thay đổi thiết bị này không
đem lại bất cứ rủi ro nào về mặt pháp lý, cũng như về mặt hao mòn vô hình
đối với người thuê.
Tóm lại, cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ có vai trò to lớn đối
với nền kinh tế nói chung và đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động này
nói riêng. Lợi ích mà nó mang lại được chứng minh qua sự phát triển mạnh
mẽ của hoạt động cho thuê tài chính trên khắp thế giới trong những thập niên
qua về cả giá trị giao dịch lẫn chủng loại tài sản.
- 12 -
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho thuê tài
chính
Hoạt động cho thuê tài chính chủ yếu là cho thuê máy móc, thiết bị,
phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê
thông qua các dự án xin thuê khả thi của chủ đầu tư. Do đó, hoạt động cho
thuê tài chính hiệu quả phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động đầu tư theo dự án
của chủ đầu tư. Khi chủ đầu tư thực hiện thành công việc đầu tư của mình, họ
sẽ dẫ dàng trả nợ công ty cho thuê tài chính cả gốc và lãi đúng thời hạn.
Ngược lại, việc đầu tư gặp trở ngại, thất bại thì việc thu hồi vốn của Công ty
cho thuê tài chính gặp khó khăn, thậm chí không thu hồi được. Vì vậy, các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính trước hết là
những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư theo dự án xin thuê của chủ đầu
tư. Hơn nữa, hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam còn rất mới mẻ nên có
rất nhiều nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hoạt động cho thuê
tài chính.Các nhân tố đó là:
+ Nguồn vốn hoạt động
+ Chất lượng thẩm định các dự án cho thuê
+ Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho thuê
+ Các loại rủi ro đặc trưng: rủi ro tài chính; rủi ro liên quan đến tài sản
cho thuê; rủi ro khách quan.
1.3. Kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính.
Theo thông lệ, các quốc gia thường áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc
tế 1991/1992 được IASC công bố và có hiệu lực từ ngày 01/01/1991 cho các
hoạt động thuê mua. Tuy nhiên, việc hạch toán cụ thể trong từng quốc gia lại
có những khác biệt nhất định. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do các quy
tắc hạch toán thuê mua được căn cứ vào quyền sở hữu pháp lý hay căn cứ vào
quyền sử dụng. Ở Việt Nam các Công ty cho thuê tài chính sử dụng hệ thống
tài khoản áp dụng cho tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số
29/2006/QĐ-NHNN để hạch toán theo dõi các hoạt động cho thuê tài chính.
- 13 -
Như đã nghiên cứu ở trên, đứng ở góc độ tín dụng, cho thuê tài chính là
loại hình tín dụng trung, dài hạn thông thường nhằm giỳp cỏc doanh nghiệp
giải quyết khó khăn về tài chính (vốn để đầu tư tài sản cố định). Vì thế, các
công ty cho thuê tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng trong quá trình hoạt
động phải đảm bảo hai mặt: Một mặt, phải đảm bảo quy trình nghiệp vụ của
loại tín dụng “đặc thự” này, mặt khác phải tuân thủ quy chế tín dụng, kỹ thuật
kế toán cho vay nói chung của Ngân hàng thương mại.
1.3.1. Nhiệm vụ và vai trò của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính
1.3.1.1. Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính
Kế toán cho thuê tài chính là công việc tính toán, ghi chép bằng con số
một cách kịp thời, đầy đủ, trung thực tất cả các giai đoạn trong quá trình cho
thuê tài chính. Cùng với công tác kế toán các hoạt động khác, kế toán nghiệp
vụ cho thuê tài chính còng tham gia vào quá trình kinh doanh của công ty cho
thuê tài chính. Vì vậy, kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính có những nhiệm
vụ quan trọng sau:
Một, kế toán cho thuê tài chính thực hiện việc ghi chép, phản ánh kịp
thời, đầy đủ và chính xác các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình cho thuê tài
chính theo đúng chế độ, quy định của Nhà nước và pháp luật. Trên cơ sở đó
đảm bảo an toàn vốn cho Công ty cho thuê tài chính.
Hai, kế toán cho thuê tài chính phải thực hiện tớnh lói một cách đầy đủ,
chính xác, kịp thời để đảm bảo thu nhập của Công ty cho thuê tài chính.
Ba, kế toán cho thuê tài chính phải quản lý toàn bộ hồ sơ cho thuê và theo
dõi chặt chẽ kỳ hạn trả nợ để thu hồi vốn kịp thời và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Đồng thời, cùng với kế toán các nghiệp vụ khác như: kế toán chi
phí, kế toán cho thuê tài chính góp phần tăng cường kỷ luật tài chính và chế độ
hạch toán kinh tế.
Bốn, kế toán cho thuê tài chính phải tiến hành phân loại, tổng hợp số liệu
theo các chỉ tiêu một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời nhất để phục vụ cho
công tác chỉ đạo, lãnh đạo của Ban lãnh đạo Công ty, cũng như cho việc thực
- 14 -
thi các chế độ, các chính sách của cơ quan quản lý Nhà nước diễn ra một cách
tốt nhất.
1.3.1.2. Vai trò của kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính.
Với chức năng phản ánh mọi thông tin kinh tế, tài chính một cách đầy đủ,
chính xác, kịp thời và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế, tài chính,
công tác kế toán ngân hàng nói chung và công tác kế toán nghiệp vụ cho thuê
tài chính nói riêng có những vai trò sau:
Thứ nhất, kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính cung cấp thông tin một
cách đầy đủ, chính xác và kịp thời nhất về hoạt động kinh doanh. Từ đó, giúp
cho quá trình điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty cho thuê
tài chính đạt hiệu quả cao nhất.
Thứ hai, kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính phản ánh được toàn bộ giá
trị và chủng loại tài sản hiện có của Công ty, cũng như quá trình vận động của
tài sản; qua đó góp phần quản lý an toàn tài sản trên cả hai mặt chất lượng và
số lượng.
Thứ ba, kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính phản ánh được toàn bộ hoạt
động tài chính, các khoản thu – chi, cũng như kết quả kinh doanh của Công ty
cho thuê tài chính. Qua đó, giúp công tác quản lý hoạt động cho thuê tài chính
đạt hiệu quả cao bằng cách tăng thu nhập và giảm chi phí, đảm bảo kinh
doanh có lãi.
Thứ tư, xuất phát từ đặc điểm của kế toán là mang tính tổng hợp cao, cho
nên kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính cùng với kế toán các nghiệp vụ khỏc
cũn cú vai trò cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác nhằm phục vụ cho các
hoạt động quan trọng của Công ty cho thuê tài chính như: hoạt động thanh tra,
kiểm soát, kiểm toán và phân tích hoạt động cho thuê tài chính.
1.3.2. Hợp đồng cho thuê tài chính
Hợp đồng cho thuê tài chính là căn cứ quan trọng nhất để hạch toán giá trị
tài sản cho thuê tài chính và hạch toán quá trình thu hồi vốn gốc và thu lãi cho
thuê tài chính.
- 15 -
Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả thuận giữa bên cho thuê và bên đi
thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận
chuyển và các động sản khác phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên tham
gia.
Hợp đồng cho thuê tài chính phải được lập thành văn bản phù hợp với
quy định của pháp luật và là loại hợp đồng không được phép huỷ ngang, ngoại
trừ những trường hợp đặc biệt. Trước khi hợp đồng cho thuê tài chính có hiệu
lực, các bên tham gia phải tiến hành đăng ký tại cơ quan quản lý hợp đồng
theo quy định của pháp luật.
Không những là chứng từ quan trọng dùng làm căn cứ cho công tác hạch
toán nghiệp vụ cho thuê tài chính, hợp đồng cho thuê tài chính còn là căn cứ
có giá trị pháp lý quan trọng nhất để các cơ quan luật pháp tiến hành xử lý
tranh chấp trong trường hợp xảy ra tranh chấp và phải đưa ra giải quyết trước
pháp luật.
1.3.3. Tài khoản và chứng từ sử dụng trong kế toán nghiệp vụ cho
thuê tài chính
1.3.3.1. Tài khoản sử dụng trong nghiệp vụ kế toán cho thuê tài chính
Ở Việt Nam, các Công ty CTTC sử dụng hệ thống tài khoản áp dụng cho
tổ chức tín dụng ban hành kèm theo quyết định số 29/2006/QĐ-NHNN để
hạch toán theo dõi các hoạt động cho thuê tài chớnh.Theo hệ thống tài khoản
này nghiệp vụ cho thuê tài chính được hạch toán và theo dõi ở tài khoản cấp
một 23 “ Cho thuê tài chớnh”. Nội dung hạch toán các tài khoản này như sau :
Hệ thống các tài khoản sử dụng:
* Tài khoản 231- Cho thuê tài chính bằng Việt Nam đồng
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị tài sản cho thuê tài chính bằng
đồng Việt Nam.
Bên nợ ghi: giá trị tài sản giao cho khách hàng thuê tài chính theo hợp
đồng.
Bên có ghi: giá trị tài sản cho thuê tài chính được thu hồi khi khách hàng
- 16 -
trả tiền theo hợp đồng.
Số dư nợ : Phản ánh giá trị tài sản giao cho khách hàng thuê tài chính
đang nợ trong hạn.
Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết cho từng khách hàng thuê tài
chính đang nợ trong hạn.
*Tài khoản 231 cú cỏc tài khoản cấp III sau:
2311 Nợ đủ tiêu chuẩn
2312 Nợ cần chú ý
2313 Nợ dưới tiêu chuẩn
2314 Nợ nghi ngờ
2315 Nợ có khả năng mất vốn
*Tài khoản 232 - Cho thuê tài chính bằng ngoại tệ
Tài khoản này cùng để phản ánh giá trị tài sản cho thuê tài chính bằng
ngoại tệ
Nội dung hạch toán của tài khoản 232 giống như nội dung hạch toán của
tài khoản 231.
*Tài khoản 385- Đầu tư bằng đồng Việt Nam vào các thiết bị cho thuê tài
chính.
Tài khoản này dùng để phản ánh số tiền đồng Viờt Nam mà công ty đã
chi ra để mua sắm tài sản cho thuê tài chính trong thời gian trước khi bắt đầu
cho thuê tài chính.
Hạch toán chi tiết theo từng khách hàng thuê tài chính.
*Tài khoản 386- Đầu tư bằng ngoại tệ vào các thiết bị cho thuê tài chính.
Tài khoản này phản ánh số ngoại tệ mà công ty đã chi ra để mua sắm tài
sản cho thuê tài chính trong thời gian trước khi bắt đầu cho thuê tài chính.
Nội dung hạch toán của tài khoản 386 giống như nội dung hạch toán của
tài khoản 385.
*Tài khoản 3943- Lãi phải thu từ cho thuê tài chính
Tài khoản này phản ánh số tiền lãi cộng dồn phải thu của khách hàng.
- 17 -
*Tài khoản 705- Thu lãi cho thuê tài chính
Tài khoản này phản ánh thu nhập của công ty từ hoạt động cho thuê tài
chính.
*Ngoài ra cũn cú cỏc tài khoản ngoại bảng sau :
-Tài khoản 951- Tài sản dùng để cho thuê tài chính đang được quản lý tại
công ty.
-Tài khoản 952- Tài sản dùng để cho thuê tài chính đang giao cho khác
hàng thuê.
1.3.3.2. Phương pháp tính tiền cho thuê tài chính
Tiền thuê được trả mỗi kỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : giá trị tài sản,
thời hạn thuê, kỳ trả nợ, thời điểm thanh toỏn,lói suất thuờ…
Có 2 cách trả tiền thuê:
(1).Cách 1: Số tiền thuê ( gốc ) được trả đều đặn từng kỳ, lãi phải trả của
kỳ tớnh trờn gốc còn lại của mỗi kỳ. Theo cách này, số tiền thuê gốc phải trả
từng kỳ được tính :
Tổng số tiền thuê gốc
Số tiền thuê gốc trả từng kỳ =
Số kì thanh toán
Lãi được tính dựa trên gốc còn lại mỗi kì theo lói suõt cố định đã được
xác định của hợp đông cho thuê.
(2).Cách 2 : trả như trả góp, số tiền trả từng kỳ bao gồm số tiền thuê gốc
và lãi của lỳ được tính và trả theo niên kim cố định, cụ thể cú cỏc phương
pháp sau:
Gọi P là tổng số tiền tài trợ.
a là niên kim cố định.
i là lãi suất.
n là số kì hạn trả nợ.
Q là tiền vốn được thu hồi.
- 18 -
V là giá trị tài sản khi kết thúc hợp đồng.
* Phương pháp 1: Tiền thuê trả vào cuối mỗi kỳ, trả theo niên kim cố định.
Tổng số tiền tài trợ là:
P =
A
+
A
+ …+
a
(1 + i) (1 + i)
2
(1 + i)
n
Số tiền thanh toán mỗi kỳ là:
a =
P.i.(1 + i)
n
(1 + i)
n
- 1
* Phương pháp 2: Tiền thuê trả vào đầu mỗi kỳ, niên kim cố định tổng số
tiền tài trợ là:
P = a +
a
+
A
+ …+
a
(1 + i) (1 + i)
2
(1 + i)
n
⇒P =
a[(1 + i)
n+1
- 1]
i(1 + i)
n
Số tiền thanh toán mỗi kỳ là:
a =
P.i.(1 + i)
n
(1 + i)
n + 1
- 1
* Phương pháp 3: Phương pháp tính tiền thuê với số vốn gốc được thu
hồi đều nhau, cuối mỗi kỳ.
Tiền vốn được thu hồi mỗi kỳ là:
Q = P/n
Tiền lãi mỗi kỳ là:
I = Q.i P
n
1.3.3.3. Quy trình kế toán nghiệp vụ cho thuê tài chính:
* Kế toán giai đoạn mua tài sản cho thuê:
+ Thông thường để đảm bảo chắc chắn cho việc thuê tài chính, công ty
- 19 -
yêu cầu khách hàng phải ký quĩ một số tiền nhất định.Kế toán ghi nhận số tiền
ký quĩ:
Nợ TK 1011(tiền mặt), hoặc tài khoản thích hợp Số tiền ký
Có TK 4277- Ký quĩ đảm bảo cho thuê tài chính quỹ
+ Khi Công ty mua tài sản theo hợp đồng mua bán của khách hàng, hạch
toán:
Nợ TK 385,386
Có TK 1011, hoặc tài khoản thích hợp
Đồng thời nhập tài khoản ngoại bảng 951: chưa nhập TS vì TS không
mang về cũng có thể giao ngay cho khách hàng.
+ Cầm cố, thế chấp
Nợ TK 994
Có TK 996
+ Đặt cọc: (Nếu có)
Nợ TK 101, 131
Có TK 4599
* Kế toán giai đoạn chuyển tài sản sang cho thuê tài chính:
+ Căn cứ vào hợp đồng cho thuê tài chính và các loại giấy tờ khác, kế
toán hạch toán giá trị tài sản thuê tài chính vào tài khoản cho thuê tài chính.
Nợ TK 231,232/ khách hàng thuê
Có TK 385,386
Đồng thời
Nhập TK 952
+ Trích tiền đặt cọc (nếu có)
Nợ TK 4599
Có TK 231, 232
Không trả lại số tiền ký quỹ đảm bảo thuê tài chính ngay cho khách hàng
mà khi kết thúc hợp đồng mới trả lại.
- Định kỳ (tháng) kế toán tính và hạch toán lãi dự thu:
- 20 -
Nợ TK 3943
Có TK 705
* Kế toán giai đoạn thu tiền thuê( thu nợ + lói thuờ định kỳ )
Dù khách hàng trả theo cách nào thì số tiền thu từng kỳ Công ty phải tớnh
riờng phần lãi và gốc thuê để hạch toán
Nợ TK 1011, hoặc tài khoản thích hợp: gốc + lãi
Có TK 231, 232 : gốc
Có TK 3943 : lãi
Có TK 205 : Số lãi chưa dù thu
* Kế toán giai đoạn kết thúc hợp đồng
Khi hết thời hạn cho thuê, giữa bên cho thuê và bờn thuờ thanh lý hợp
đồng cho thuê tài chính và xử lý tài sản thuê theo các trường hợp:
(1).Bên thuê mua lại tài sản ( thường với giá tượng trưng ) kế toán hạch
toán :
+ Xuất TK 952
+ Thu tiền bán tài sản:
Nợ TK 1011, hoặc thích hợp
Có TK 231, 232 : giá trị còn lại
Có TK 2050.02: thu tiền trên TS
(2).Bờn thuê trả lại tài sản:
+ Xuất TK 952
+ Nợ TK Tài sản có khác
Có TK 231
Thông thường xuất TK952, nhập TK 951, tuỳ từng trường hợp mà xử lý
hạch toán:
+ Nếu khách hàng phát mại TS: thu tiền
Nợ TK TM, TG
Nợ TK Chi phí (nếu có)
Có TK 231
- 21 -
+ Nếu nhập TSCĐ cuối kỳ:
Nợ TK TSCĐ
Nợ TK Chi phí
Có TK 231, 232
- 22 -
Chương II. Thực trạng nghiệp vụ kế toán cho thuê tài chính tại Công
ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thương Việt Nam
2.1. Vài nét về hoạt động kinh doanh của Công ty cho thuê tài chính
Ngân hàng Công thương Việt Nam
Công ty CTTC là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có tư cách pháp
nhân, hoạt động chủ yếu là cho thuê tài chính. Công ty CTTC được thành lập
và hoạt động ở Việt Nam dưới các hình thức sau:
- Công ty CTTC Nhà nước.
- Công ty CTTC cổ phần.
- Công ty CTTC trực thuộc tổ chức tín dụng.
- Công ty CTTC liên doanh.
- Công ty CTTC 100% vốn nước ngoài.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cho thuê tài
chính - Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Xuất phát từ nhu cầu về vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp ở Việt
Nam, đồng thời nhằm đa dạng hoá các hoạt động của Ngân hàng, sau khi
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra Quyết định số 149/QĐ-NH5 về
việc ban hành Thể lệ Tín dụng thuê mua, tháng 07/1995 Ngân hàng Công
thương Việt Nam đã thành lập phòng Tín dụng Thuê mua, ban đầu có chức
năng, nhiệm vụ: khai thác tài sản bắt nợ, thực hiện các dự án liên doanh, liên
kết giữa NHCTVN với các doanh nghiệp khác; nghiên cứu các văn bản về Tín
dụng Thuê mua để thực hiện các dự án cho thuê.
Đến tháng 10/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/CP về Quy chế
tạm thời về Tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam.
Quy chế quy định các Ngân hàng muốn thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính
phảI thành lập một công ty độc lập, một phòng không đủu chức năng thực
hiện nghhiệp vụ này. Ngày 26/01/1998, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ra Quyết định số 53/1998/QĐ-NHNN5 về việc thành lập Công ty chứng
- 23 -
khoán- NHCT Việt Nam.
Công ty CTTC Ngân hàng Công thương Việt Nam là loại hình Công ty
cho thuê tài chính trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam, là đơn vị
thành viên hạch toán độc lập của Ngân hàng Công thương Việt Nam, do Ngân
hàng Công thương Việt Nam thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở
hữu theo quy định của NHNN và các quy định của pháp luật.
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 112446 do sở kế hoạch đầu tư Hà
Nội cấp ngày 28/3/1998
Vốn điều lệ được cấp ban đầu là 55 VNĐ và đơn vị được bổ sung thêm
qua các năm, tháng 07/2001 bổ sung thêm 20 tỷ vốn điều lệ là 75 tỷ, đến năm
2008 là 300 tỷ VNĐ.
Trụ sở chính 18 Phan Đỡnh Phựng – Ba Đình – Hà Nội và 01 tổ kinh
doanh TP Hồ Chí Minh.
Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt Nam:
Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Tên gọi bằng tiếng Anh:
Leasing company of Industrial and Commercial Bank of Viet Nam.
Tên viết tắt ICVB-LC
a) Chức năng nhiệm vụ:
- Khai thác nguồn vốn nội, ngoại tệ theo quy định của pháp luật và cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền để đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho thuê tài
chính.
- Thực hiện nghiệp vụ CTTC đối với các doanh nghiệp được thành lập
theo pháp luật Việt Nam theo đúng quy định các quy định về CTTC của Nhà
nước, NHNN, NHCTVN đảm bảo nguyên tắc hiệu quả, an toàn và phát triển
nguồn vốn.
- CTTC đối với các doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam
b) Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu:
Theo Điều lệ của Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng Công thương
- 24 -
Việt Nam, Công ty hoạt động theo một số nội dung chủ yếu sau :
* Hoạt động cho thuê tài chính :
Hoạt động CTTC của Công ty được thực hiện dưới hình thức cho khách
hàng thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác
theo yêu cầu của bên đi thuê, sau đó giao cho bên đi thuê theo hợp đồng cho
thuê tài chính. Ngoài khách hàng là các doanh nghiệp trong nền kinh tế, Công
ty còn cho thuê đối với các chi nhánh thuộc hệ thống Ngân hàng Công thương
Việt Nam. Đây là hoạt động chính của Công ty.
* Hoạt động huy động vốn:
Công ty được huy động vốn từ các nguồn sau:
- Được vay vốn của các tổ chức tín dụng trong nước, ngoài nước.
- Được huy động tiền gửi của các tổ chức, cá nhân không quá 12 tháng.
- Được phát hành trái phiếu và các giấy tờ có giá khác khi được Ngân
hàng Nhà nước cho phép.
Ngoài hoạt động chính là cho thuê tài chính, Công ty còn thực hiện hoạt
động tư vấn, nhận bảo lãnh cho khách hàng về những dịch vụ có liên quan đến
nghiệp vụ CTTC, hoặc mua, nhập khẩu trực tiếp tài sản thuê theo yêu cầu của
bên đi thuê, hoặc tái xuất tài sản thuê trong trường hợp thu hồi tài sản thuê khi
hợp đồng CTTC chấm dứt trước hạn.
Ngoài ra, Công ty còn thực hiện các nghiệp vụ khác khi được Ngân
hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng của Nhà nước cho phép và phù
hợp với quy định của pháp luật. Các nghiệp vụ này có thể là: hùn vốn kinh
doanh hoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước.
Với phương châm hoạt động đúng đắn, cùng sự quan tâm, chỉ đạo tận tình
của các cấp lãnh đạo và sự tìm tòi sáng tạo, cố gắng khắc phục những khó
khăn, trở ngại trong quá trình hoạt động, chắc chắn Công ty CTTC – Ngân
hàng Công thương Việt Nam sẽ ngày một phát triển hơn.
2.1.2 Mô hình tổ chức quản lý, kinh doanh của Công ty cho thuê tài
- 25 -