Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

thực trạng và giải pháp phòng, chống tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (279.39 KB, 48 trang )

Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt bốn năm học tập tại trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh,
em đã tiếp thu được nhiều kiến thức quý báu mà Quý Thầy, Cô đã truyền đạt cùng
với những kỹ năng cần thiết sẽ giúp em vững vàng hơn khi bước vào thực tiễn công
việc. Em xin chân thành cảm ơn tập thể Quý Thầy, Cô của khoa Kinh tế - Luật
trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình ba tháng thực tập vừa qua, tuy ban đầu còn gặp nhiều khó
khăn trong việc áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế. Nhưng nhờ sự hướng dẫn
tận tình của giảng viên hướng dẫn Phạm Thanh Tú đã giúp em hoàn thành bài báo
cáo tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn cô Phạm Thanh Tú.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Văn phòng Luật sư Quang Trung, Trưởng
văn phòng – Luật sư Vũ Mạnh Hòa và Luật sư tập sự Hoàng Đăng Vĩnh Huy, đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại Quý Văn
phòng.
Do giới hạn về thời gian thực tập và kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài báo
cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện. Vì vậy,
em rất mong nhận được những ý kiến, hướng dẫn từ Quý Thầy, Cô để bài báo cáo
được hoàn thiện tốt hơn.
Cuối cùng, một lần nữa em xin cảm ơn Quý Thầy, Cô, giảng viên hướng dẫn
Phạm Thanh Tú. Chúc Quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp giáo dục cao quý của mình. Em cũng xin cảm ơn và kính chúc Văn phòng
Luật sư Quang Trung, Luật sư Vũ Mạnh Hòa, Luật sư tập sự Hoàng Đăng Vĩnh Huy
luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong công việc.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………


………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
BLDS
TAND
VKSND
TANDTC
VKSNDTC
XHCN
TNHH
Tp.HCM
Bộ luật Hình sự
Bộ luật Dân sự
Tòa án nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Xã hội chủ nghĩa
Trách nhiệm hữu hạn
Thành phố Hồ Chí Minh
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và số bị cáo
Bảng 3.2: Động thái diễn biến các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
từ năm 2010 - 2012 (lấy năm 2010 làm gốc so sánh).
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành
tựu quan trọng mà nước ta đã đạt được trên các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội thì
mặt trái của nền kinh tế thị trường mang lại là tình hình tội phạm diễn biến ngày
càng phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với tính chất, mức độ ngày càng
tinh vi, nguy hiểm hơn. Trong số này, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là
một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến. Tuy nhiên, việc xét xử loại tội phạm
này trong thực tiễn vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định tội danh, quyết
định hình phạt, vấn đề “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế và “phi
hình sự hóa”. Các cơ quan áp dụng pháp luật đôi lúc còn tỏ ra lúng túng trong quá
trình áp dụng pháp luật, do đó, phần nào đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất
lượng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” để nghiên
cứu, nhằm tìm hiểu thực trạng của tội phạm này, qua đó đề xuất một số kiến nghị,

giải pháp đối với tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” góp phần phòng ngừa
và chống tội phạm này.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu của đề tài này nhằm hướng đến mục tiêu:
- Làm rõ các dấu hiệu pháp lý về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản.
- Thực trạng về tội phạm này, các vấn đề bất cập, các thiếu sót, hạn chế của
quy định về tội phạm này trong thực tiễn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong chuyên đề báo cáo này sẽ nghiên cứu quy định pháp luật về tội phạm
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và thực trạng của tội phạm lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua số liệu trong giai đoạn ba năm từ 2010 – 2012
trên phạm vi cả nước.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài, nhằm hướng đến những mục tiêu
đã đề ra, trong bài báo cáo này sẽ sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật của
chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp nghiên cứu tổng hợp so sánh, phương pháp
phân tích, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp xã hội học kết hợp với tư
duy logic để xây dựng đề tài.
1.5 Kết cấu chuyên đề
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
PHẦN 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM LẠM DỤNG TÍN
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
PHẦN 3: THỰC TRẠNG VỀ TỘI PHẠM LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM
ĐOẠT TÀI SẢN
PHẦN 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐƯỢC ĐỀ XUẤT

PHẦN 5: KẾT LUẬN
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
PHẦN 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.1 Khái niệm chung về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
Nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, với xu hướng toàn cầu hóa và
khu vực hóa, nước ta đã và đang đẩy mạnh hội nhập với thế giới. Việc được các
nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO đồng ý cho gia nhập là thành
quả của sự nỗ lực không ngừng trong các chính sách phát triển kinh tế của Việt
Nam. Cùng với đó là tiến trình khu vực hóa hướng đến việc thành lập cộng đồng
chung ASEAN vào năm 2016. Với xu hướng đó việc các giao dịch dân sự, kinh tế,
thương mại diễn ra ngày càng thương xuyên, đa dạng nhiều chiều là một hệ quả tất
yếu của sự phát triển kinh tế, nhưng kèm theo đó là những biến tướng phát sinh.
Việc nhận diện đúng ranh giới giữa giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại với hành
vi phạm tội hình sự để có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật một cách hữu hiệu là
điều rất cần thiết, mang ý nghĩa to lớn. Điều đó nhằm lành mạnh hóa các quan hệ xã
hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự.
Loại bỏ tình trạng “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, tránh nhầm lẫn và bỏ lọt tội
phạm. Vì vậy, chúng ta cần phải tìm hiểu nghiên cứu làm rõ mặt khái niệm về tội
phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Tội phạm là một khái niệm được khoa học Luật Hình sự chú trọng nghiên
cứu, tại Điều 8 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, được sửa đổi, bổ sung tại
Quốc hội khóa 12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS) định nghĩa
như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.”
Khái niệm tội phạm tại Điều 8 BLHS đã thể hiện rõ được quan điểm của nhà
nước ta về tội phạm và cũng khái quát được đầy đủ các yếu tố của tội phạm: khách
thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản về mặt cấu trúc cũng có đầy đủ bốn yếu tố cấu thành trên.
Ngày 27 tháng 06 năm 1985 Quốc hội đã chính thức thông qua Bộ luật Hình
sự, lần đầu tiên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một bộ luật, đánh dấu
bước tiến bộ vượt bậc trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta. BLHS 1985 đã
giành hai chương quy định về tội xâm phạm sở hữu, chương IX – các tội xâm phạm
sở hữu XHCN và chương VI – các tội xâm phạm sở hữu của công dân. Trong đó, tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 135 (tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN) và Điều 158 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản công dân). Điều 135 quy định: “1. Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị
phạt tù từ sáu tháng đến năm năm…” và Điều 158 quy định: “1. Người nào lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm…”. Việc quy định hai điều
luật về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã thể hiện sự nghiêm trọng
của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên cả hai điều luật đều
không mô tả hành vi khách quan của tội phạm trong cấu thành tội phạm mà chỉ quy
định một cách rất chung, rất khó để xác định tội phạm.
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, đòi hỏi các quy định pháp luật
cũng phải có những thay đổi phù hợp với từng thời kỳ, theo đó BLHS 1985 đã được
sửa đổi bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997. Tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản XHCN cũng được sửa đổi hai lần vào các năm 1989 và 1992, tội

SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân được sửa đổi một lần vào năm
1991. Tuy nhiên, các lần sửa đổi này chỉ sửa đổi hoặc bổ sung các tình tiết tăng
nặng, các khung hình phạt mà vẫn không có mô tả về hành vi khách quan và cũng
không có các văn bản hướng dẫn cụ thể nên việc định nghĩa về tội phạm này và việc
xác định tội phạm trong thực tiễn là khá mơ hồ và gặp nhiều khó khăn.
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn đấu
tranh phòng chống tội phạm và trình độ lập pháp. Ngày 22 tháng 11 năm 1999 Quốc
hội X đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, theo đó Điều 140 BLHS về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ra đời là kết quả của sự sửa đổi một cách căn bản,
từ hai điều luật riêng rẽ trong BLHS năm 1985. Việc sửa đổi này là hoàn toàn phù
hợp, qua đó giúp định nghĩa được rõ ràng hơn về tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, khắc phục được nhược điểm về mặt khách quan của tội phạm, đã
có mô tả cụ thể trong cấu thành tội phạm, điều này có vai trò quan trọng trong việc
xác định tội phạm và tránh oan sai. Ngày 19 tháng 06 năm 2009, tại Quốc hội XII đã
thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999, theo đó tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 chỉ sửa đổi về yếu tố định lượng cụ thể là
nâng mức định lượng trong cấu thành tội phạm của BLHS 1999 lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản có giá trị từ một triệu đồng trở lên là đã cấu thành tội phạm này
thì được sửa đổi nâng mức định lượng lên bốn triệu đồng.
Quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 BLHS 1999
như sau: “Người nào có một trong những hành vi sau đây: Chiếm đoạt tài sản của
người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới
bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về
hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án
tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ
ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn

để chiếm đoạt tài sản đó;
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
b) Vay mượn thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất
hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
Như vậy, theo quy định này, có thể định nghĩa tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản như sau: Tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành
vi chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của người khác đã giao trên cơ sở hợp
đồng được ký kết giữa chủ tài sản và người có hành vi chiếm đoạt.
Xét về mặt thuật ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt thì “lạm dụng” nghĩa là “sử
dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định”,
1
theo quan điểm cá nhân tôi thì
“lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là một cách gọi chưa hợp lý. Theo cách gọi
này thì có thể hiểu rằng việc dùng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là có thể được nhưng
không được phép làm quá mức hay quá nhiều, vì vậy, về mặt thuật ngữ cần xem xét
lại.
2.2 Dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
Cũng giống như các loại tội phạm khác, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản cũng được hình thành bởi bốn yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, mặt
khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý cấu thành
tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất của loại tội phạm
này từ đó làm cơ sở cho việc định tội và truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.2.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề được khoa học luật hình
sự chú trọng nghiên cứu, qua đó đã khẳng định: “Khách thể của tội phạm là quan hệ
xã hội bị tội phạm xâm hại”
2

.
1 Từ điển tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa 2013
2 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 44.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu.
Hiến pháp 1992 và Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) đã quy định các hình thức sở
hữu ở nước ta hiện nay, theo đó có rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân… Đây là những quan hệ được Luật Hình sự
bảo vệ và bị tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xâm phạm. Khi xâm
phạm đến các quan hệ sở hữu nghĩa là xâm phạm đến các quyền: Quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
Để xâm phạm đến quan hệ sở hữu thì người phạm tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản phải tác động đến tài sản. Tài sản chính là đối tượng tác động của
loại tội phạm này, là đối tượng vật chất mà nhờ đó quan hệ sở hữu phát sinh và tồn
tại. Tài sản mà tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tác động đến là
những tài sản được quy định tại Điều 163 BLDS 2005 gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản. Để trở thành đối tượng tác động của tội phạm lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản thì những tài sản này phải thỏa mãn một số điều kiện là:
Đối với vật thì vật đó phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, là thước đo giá
trị lao động của con người và là đối tượng của giao lưu dân sự. Những vật có sẵn
trong tự nhiên không phải do con người tạo ra thì không phải là đối tượng tác động
của tội phạm xâm phạm sở hữu, vật là đối tượng tác động của các tội phạm xâm
phạm sở hữu thì không có tính năng đặc biệt. Đối với tiền thì bao gồm tiền Việt
Nam, ngoại tệ, đây là những loại tiền thật và được phép lưu thông, có giá trị thanh
toán.
3
Tài sản bị chiếm đoạt của tội phạm này phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở
lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp luật định tại
điều 140 BLHS.

3 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 347
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Theo khoa học Luật Hình sự, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài
của tội phạm, là những biểu hiện ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, có
thể nhận thức được bằng các giác quan trực tiếp hay bằng tư duy logic. Mặt khách
quan của tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho
xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như những biểu hiện
bên ngoài khác như công cụ, phương tiện, thời gian, hoàn cảnh phạm tội… Trong
các dấu hiệu của mặt khách quan, hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc
phải có trong cấu thành của mọi tội phạm.
Về hành vi khách quan của tội phạm, được hiểu là những biểu hiện của
con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới hình thức cụ thể nhằm đạt được
mục đích mong muốn. Tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng có đầy
đủ các đặc điểm về mặt khách quan của tội phạm nói chung. Hành vi khách quan
của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt gây thiệt
hại về vật chất cho chủ sở hữu và trái pháp luật hình sự. Trong hành vi khách quan
của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã nhận tài sản
của người khác một cách hợp pháp, ngay thẳng, sau đó dùng thủ đoạn gian dối hoặc
bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp
pháp, dẫn đến tình trạng không có khả năng chi trả lại tài sản cho chủ tài sản. Hành
vi khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại
Điều 140 BLHS như sau:
“Người nào có một trong những hành vi sau đây: Chiếm đoạt tài sản của
người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới
bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về
hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án
tích mà còn vi phạm,…
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn
để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay mượn thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất
hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
Như vậy, hành vi khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản trước hết được thể hiện ở dấu hiệu người phạm tội đã nhận được tài sản một
cách ngay thẳng và hợp pháp thông qua các hình thức giao dịch như vay, mượn,
thuê tài sản hoặc các hình thức hợp đồng khác rồi mới thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản đã nhận
bằng một trong các thủ đoạn:
Gian dối để không trả lại tài sản, thường xảy ra phổ biến như giả tạo bị mất
tài sản, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản khiến tài sản không còn đủ về số lượng, chất
lượng như yêu cầu của hợp đồng, xóa dấu tích, chứng cứ, các tài liệu quan trọng
chứng minh nghĩa vụ trả lại tài sản, làm thay đổi sai lệch các thông tin khác để thực
hiện hành vi chiếm đoạt.
Bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn sau khi nhận được tài sản một cách
hợp pháp người phạm tội đã bỏ trốn với ý thức cố tình không thanh toán, không trả
lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lí tài sản. Người phạm tội dùng thủ đoạn
này thường rơi vào trường hợp sau khi có được tài sản hợp pháp trên cơ sở hợp
đồng, do làm ăn thua lỗ hoặc vì hoàn cảnh khách quan dẫn đến không có khả năng
thanh toán nợ, trả lại tài sản nên đã bỏ trốn để tránh nghĩa vụ trả lại tài sản. Đây là
dấu hiệu biểu hiện của hành vi chiếm đoạt. Nếu một người nhận được tài sản của
người khác một cách hợp pháp sau đó sử dụng tài sản vào mục đích hợp pháp nhưng
thua lỗ hoặc vì lý do khách quan nào đó khiến cho không có khả năng chi trả lại tài
sản nhưng không bỏ trốn thì đây không phải là tội phạm mà chỉ là một quan hệ dân
sự.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
Thủ đoạn bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản thể hiện rõ tính có lỗi và nguy hiểm
của hành vi phạm tội. Hành vi bỏ trốn đã gây khó khăn cho việc xử lý tội phạm, vì
vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc đối với trường hợp này.
Thủ đoạn của hành vi nguy hiểm thứ ba là sử dụng tài sản vào mục đích bất
hợp pháp dẫn đến tình trạng không có khả năng chi trả lại tài sản. Ở thủ đoạn này
người phạm tội nhận tài sản của người khác một cách hợp pháp và sử dụng tài sản
đó vào mục đích bất hợp pháp, nghĩa là sử dụng tài sản vào các hành vi có thể cấu
thành tội phạm như dùng tiền để đánh số đề, đánh bạc, sử dụng ma túy, mua hàng
cấm, buôn lậu,…
Khi thực hiện hành vi, người phạm tội nhận thức được khả năng rủi ro không
trả lại được tài sản là rất lớn, nhưng họ vẫn sử dụng tài sản vào các mục đích trái
pháp luật. Điều đó thể hiện được tình trạng không có tài sản để trả lại cho chủ sở
hữu nhưng vẫn thực hiện nên đây là một hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt
tài sản.
Về thủ đoạn này cần lưu ý phân biệt việc sử dụng tài sản vào mục đích bất
hợp pháp với việc sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp
đồng. Mục đích bất hợp pháp là trái với quy định của pháp luật, còn trái mục đích
khi giao kết là trái với các thỏa thuận trong hợp đồng nhưng có thể không trái pháp
luật. Cần xem xét cụ thể từng trường hợp để tránh nhầm lẫn.
Về hậu quả, theo Luật Hình sự Việt Nam: “Hậu quả của tội phạm là thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội, là khách thể bảo vệ của Luật
Hình sự”.
4
Đây là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của các tội phạm có cấu
thành vật chất.
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất. Tội
phạm này hoàn thành sau khi người phạm tội đã thực hiện các hành vi nêu trên và có
các thủ đoạn nhằm không trả lại tài sản cho chủ sở hữu tài sản sau khi đã đến hạn
4 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 73

SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
phải trả và chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã đòi lại. Hậu quả của tội phạm là
thiệt hại về tài sản từ bốn triệu đồng trở lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc
một trong các trường hợp luật định.
Về mối quan hệ nhân quả, được biểu hiện ở việc hành vi chiếm đoạt tài sản
phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu quả chính là kết quả trực tiếp của
hành vi chiếm đoạt tài sản.
Các dấu hiệu khác như về đặc điểm, thời gian… không phải là dấu hiệu bắt
buộc trong mặt khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
2.2.3 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người đạt độ tuổi nhất định đã thực hiện hành vi
phạm tội cụ thể trong khi không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm
hình sự.
5
Như vậy, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể chứ không
thể là pháp nhân.
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người tại thời điểm thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó.
6
Đây là điều kiện tiền đề
để xác định một người có lỗi khi người đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
và chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự thì mới có thể trở thành chủ thể
của tội phạm.
Dấu hiệu thứ hai của một chủ thể bất kỳ là tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tại
Điều 12 Bộ luật Hình sự của Việt Nam quy định độ tuổi đủ 14 tuổi
7
, chỉ chịu trách
nhiệm đối với trường hợp pham tội rất nghiêm trong do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt

nghiêm trọng. Ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi
5 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 80
6 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 83
7 Đọc: Điều 12,Bộ luật Hình sự nước CHXHCNVN, NXB Lao Động 2011
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
tội phạm. Ngoài ra, người phạm tội phải không rơi vào tình trạng không có năng lực
trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 BLHS thì mới đủ điều kiện để trở
thành một chủ thể thường.
Để xác định thế nào là tội phạm rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng
cần căn cứ vào quy định Điều 8 BLHS theo đó tội phạm được chia làm bốn loại là
tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Trong đó, tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây thiệt hại không lớn cho xã hội
có mức hình phạt cao nhất của khung là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội
phạm có mức độ gây thiệt hại cho xã hội lớn có mức cao nhất của khung hình phạt
là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho
xã hội và có mức cao nhất của khung hình phạt là đến mười lăm năm tù; tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây thiệt hại đặc biệt lớn cho xã hội, có mức cao
nhất của khung hình phạt là trên mười lăm năm tù, chung thân hoặc tử hình.
Trong quy định đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều
140 BLHS thì tội phạm này có mức cao nhất của khung hình phạt như sau: Khoản 1
là đến ba năm tù, khoản 2 là đến bảy năm tù, khoản 3 là mười lăm năm tù và khoản
4 có mức cao nhất là tù chung thân. Tương ứng với bốn loại tội phạm ít nghiêm
trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trong tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội luôn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, vì
vậy, căn cứ vào Điều 8, Điều 12 BLHS thì chủ thể của tội phạm này phải thỏa mãn
các dấu hiệu là có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự, cụ thể như sau:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thực
hiện hành vi phạm tội quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 140 BLHS.

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi
phạm tội quy định tại điều 140 BLHS.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
2.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là những yếu tố bên trong tội phạm, bao gồm:
Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Trong ba yếu tố này, lỗi là dấu hiệu không thể
thiếu, bắt buộc phải có trong cấu thành của tất cả các tội phạm. Các dấu hiệu còn lại
là mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ
quan của mọi cấu thành tội phạm, không mang nhiều ý nghĩa trong việc quyết định
tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, yếu tố lỗi trong mặt chủ
quan của người phạm tội luôn là lỗi cố ý trực tiếp. Khoản 1 Điều 9 BLHS định
nghĩa lỗi cố ý trực tiếp:
“Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;…”
Khi thực hiện tội phạm, người phạm tội nhận thức được hành vi chiếm đoạt
tài sản của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành
vi, tức là biết rằng khi thực hiện hành vi chiếm đoạt sẽ để lại hậu quả cho người
khác là thiệt hại, mất mát về tài sản gặp các vấn đề về tình thần và tâm lý nhưng
người phạm tội vẫn mong muốn để cho hậu quả xảy ra, tức là người thực hiện tội
phạm đã cố tình để mặc cho hậu quả xảy ra cho dù có thiệt hại tài sản cho người
khác nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi sai trái, người phạm tội cố tình không trả lại
tài sản sau khi có yêu cầu của người sở hữu tài sản. Việc xác định lỗi trong tội phạm
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần lưu ý hiểu rằng ở tội phạm này, ban đầu
người phạm tội nhận tài sản ngay thẳng thông qua hợp đồng và mong muốn thực
hiện hợp đồng đó. Vì vậy, ở thời điểm này không thực hiện tội phạm nên không có
yếu tố lỗi. Chỉ sau khi nhận được tài sản, đã giao kết hợp đồng xong thì người phạm
tội mới có hành vi chiếm đoạt nên chỉ xét lỗi của người phạm tội tại thời điểm này.

Điều đó cho thấy việc xác định lỗi đối với tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội, tránh nhầm lẫn với một số tội phạm
có dấu hiệu gần gũi.
Về động cơ phạm tội, động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy
người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý
8
. Đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản là động cơ vì vụ lợi cá nhân. Nhưng như đã đề cập ở trước, động
cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản.
Về mục đích phạm tội, mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan
mà người phạm tội đặt ra cho hành vi phạm tội phải đạt được khi thực hiện hành vi
phạm tội.
9
Trong tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mục đích phạm
tội là nhằm chiếm đoạt được tài sản, ngoài ra có thể người phạm tội còn có một số
mục đích khác. Nhưng mục đích phạm tội cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc
trong cấu thành tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vì trong hành vi
chiếm đoạt tài sản đã bao hàm mục đích phạm tội.
Cả bốn yếu tố cấu thành tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tồn tại cùng nhau. Những dấu hiệu pháp lý đó
là cơ sở đóng vai trò quan trong để truy cứu trách nhiệm hình sự và định tội danh. Vì
vậy, để đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản, những người, những cơ quan bảo vệ pháp luật phải nắm rõ được các dấu hiệu
pháp lý trên và đánh giá một cách khách quan, toàn diện, để tránh các tình trạng
nhầm lẫn trong việc định tội danh, hiện tượng “hình sự hóa” các quan hệ dân sự,
tránh oan sai, tránh bỏ lọt tội phạm, bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.
8 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 106

9 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 108
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
2.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với
một số tội phạm khác
Qua nghiên cứu về các dấu hiệu pháp lý của tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản đã phân tích ở trên, có thể thấy rằng việc nắm vững các dấu hiệu
pháp lý này là rất quan trọng. Đặc biệt trong thực tiễn hiện nay, có rất nhiều trường
hợp gặp khó khăn trong việc xác định tội danh, vì một số tội phạm có dấu hiệu pháp
lý gần giống với nhau trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc
phân tích, nắm bắt rõ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này giúp chúng ta phân biệt
với các tội phạm khác có dấu hiệu gần giống trong thực tiễn áp dụng.
Phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành gần giống nhất với tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trong thực tiễn các cơ quan tố tụng đã gặp rất
nhiều khó khăn khi xác định ranh giới giữa hai tội danh này. Cấu thành cơ bản của
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 139 BLHS như sau:
“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có
giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng
nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm
đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến
ba năm”
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
có các dấu hiệu ở mặt khách thể, mặt chủ thể và mặt chủ quan là giống nhau, chỉ
khác nhau về mặt khách quan. Cụ thể ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
người phạm tội đã nhận được tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp thông qua một
hợp đồng từ người chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Trong quá trình trước và
trong khi nhận tài sản người phạm tội không hề có ý định chiếm đoạt tài sản. Chỉ
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
sau khi đã nhận được tài sản một cách hợp pháp, ngay thẳng thì người phạm tội mới
có ý thức chiếm đoạt bằng các thủ đoạn như gian dối, bỏ trốn để không trả lại tài
sản. Tội phạm này và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều có hành vi gian dối, nhưng
hành vi gian dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ xảy ra sau khi
đã nhận được tài sản hợp pháp, ngay thẳng từ chủ sở hữu và nhằm mục đích che
giấu hành vi chiếm đoạt chứ không phải là phương thức để chiếm đoạt. Thời điểm
hoàn thành tội phạm này là khi người phạm tội có hành vi chiếm đoạt.
Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong mặt khách quan của tội phạm này bao
gồm hai hành vi là gian dối và chiếm đoạt. Khi thực hiện tội phạm người phạm tội
có ý thức chiếm đoạt ngay từ đầu, có hành vi gian dối để nhằm mục đích chiếm đoạt
tài sản một cách bất hợp pháp từ chủ sở hữu tài sản. Hành vi gian dối diễn ra trước
hành vi chiếm đoạt về mặt thời gian, hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như tạo ra các thông tin không
đúng sự thật làm cho chủ sở hữu tin và thông tin giả dối đó và giao tài sản…Thời
điểm hoàn thành tội phạm này sớm hơn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Ngay sau khi nhận được tài sản từ chủ sở hữu là tội phạm đã hoàn thành. Một điểm
lưu ý nữa là trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không nhất thiết phải thông qua hợp
đồng để có được tài sản của chủ sở hữu.
Phân biệt với tội tham ô tài sản:
Tội tham ô tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giống nhau là
đều có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người phạm tội sau khi
đã nhận được tài sản từ chủ sở hữu. Điểm khác nhau cơ bản để phân biệt hai tội này
là về mặt chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội tham ô tài sản là chủ thể đặc biệt, cụ
thể là người có chức vụ, quyền hạn đang quản lý tài sản, người này đã lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý hợp pháp của mình mà
việc quản lý tài sản này là trách nhiệm công việc của người phạm tội. Còn chủ thể
trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chủ thể bất kỳ.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú

2.4 Đường lối xử lý
Nhà nước ta khi ban hành quy định pháp luật về tội phạm cũng đồng thời quy
định về đường lối xử lý đối với người phạm tội. Đường lối xử lý gồm nhiều biện
pháp mang tính cưỡng chế, bắt buộc của Nhà nước. Các biện pháp xử lý hình sự
cũng rất đa dạng nhưng phổ biến nhất là hình phạt, Điều 26 BLHS định nghĩa:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội…”
Đường lối xử lý đối với tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tại
Điều 140 BLHS đã quy định gồm bốn khung hình phạt: Khung cơ bản và khung
tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo đó, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản được xử lý như sau:
Khung cơ bản: Khung hình phạt này được quy định tại Khoản 1 Điều 140
BLHS, có mức phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến
ba năm. Biện pháp xử lý này được áp dụng đối với trường hợp phạm tội thông
thường, tội phạm mang tính chất ít nghiêm trọng và không có tình tiết tăng nặng, đã
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi
triệu đồng. Và trường hợp chiếm đoạt tài sản dưới bốn triệu nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được
xóa án tích mà còn vi phạm.
10
Tình tiết này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên
tịch số 02/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BCA – BTP ngày 25 tháng 12
năm 2001, thông tư đã hướng dẫn cụ thể để xác định các tình tiết trên. Vì giới hạn
của đề tài nên sẽ không nghiên cứu cụ thể các tình tiết trên trong bài báo cáo này.
Khung tăng nặng thứ nhất: Đây là biện pháp xử lý đối với những tội phạm
có tính chất nghiêm trọng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được quy
định tại Khoản 2 Điều 140 BLHS, có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Áp dụng
10 Đọc: Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BCA – BTP ngày 25 tháng 12 năm
2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật
Hình sự năm 1999.

SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
khi có một trong các tình tiết sau: Phạm tội có tổ chức
11
; lợi dụng chức vụ quyền
hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt; chiếm
đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; tái
phạm nguy hiểm
12
; gây hậu quả nghiêm trọng.
Khung tăng nặng thứ hai: Đây là những biện pháp xử lý đối với tội phạm
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có tính chất rất nghiêm trọng, có mức hình
phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, được quy định tại Khoản 3 Điều 140 BLHS,
áp dụng cho các trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết sau: Chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; gây hậu quả rất
nghiêm trọng.
Khung tăng nặng thứ ba: Đây là biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất, có mức
hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, quy định tại
Khoản 4 Điều 140 BLHS, áp dụng cho những trường hợp phạm tội có các tình tiết
sau: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng.
Hình phạt bổ sung: Ngoài những biện pháp xử lý bằng các hình phạt chính
đã nêu ở trên thì trong một số trường hợp người phạm tội còn có thể bị áp dụng một
số biện pháp xử lý bằng các hình phạt bổ sung. Các hình phạt bổ sung đối với tội
phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Khoản 5 Điều 140
BLHS gồm: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một
trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
hoặc một trong hai hình phạt này”.
Đường lối xử lý đối với người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản đã thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật khi hình phạt tù là biện pháp xử
11 Đọc: Khoản 3 Điều 20 Bộ luật Hình sự nước CHXHCNVN
12 Đọc: Khoản 2 Điều 49 Bộ luật Hình sự nước CHXHCNVN
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
lý được áp dụng chủ yếu. Bên cạnh đó pháp luật cũng đã có quy định thêm các hình
phạt bổ sung đối với tội phạm này, việc áp dụng thêm hình phạt bổ sung đã góp
phần làm tăng hiệu quả của hình phạt chính, hoàn thiện đường lối xử lý và nâng cao
hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản.
PHẦN 3: THỰC TRẠNG VỀ TỘI PHẠM LẠM DỤNG TÍN
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
3.1 Diễn biến của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trong những năm qua, tình hình tội phạm hình sự nói chung và tội phạm lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng diễn ra khá phức tạp, nhiều biến tướng
với những thủ đoạn tinh vi gây nguy hiểm cho xã hội, khiến cho công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm gặp nhiều khó khăn.
Trong giai đoạn 2010 – 2012, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản diễn ra khá phổ biến, có chiều hướng tăng, giảm không đồng đều, có giảm
nhưng không đáng kể. Cụ thể, theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao
(sau đây gọi tắt là TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là
VKSNDTC) có thể thấy diễn biến tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản từ năm 2010 – 2012 diễn ra như sau:
Bảng 3.1: Số vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và số bị cáo
Năm
Tổng số vụ án
phạm tội lạm dụng
Tổng số bị cáo
phạm tội lạm dụng
Tỷ lệ (%)

bị cáo/vụ án
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
2010 955 1146 1,2
2011 971 1036 1,06
2012 932 1005 1,08
Nguồn: TANDTC, số liệu thống kê án hình sự các năm 2010, 2011, 2012.
Từ số liệu trên ta có thể thấy động thái của tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản trong 03 năm từ 2010 – 2012 diễn ra như sau:
Bảng 3.2: Động thái diễn biến các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
từ năm 2010 - 2012 (lấy năm 2010 làm gốc so sánh).
Năm
Tổng số vụ án phạm tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
Tỷ lệ (%)
2010 955 100
2011 971 101,7
2012 932 97,6
Nguồn: TANDTC, số liệu thống kê án hình sự các năm 2010, 2011, 2012.
Qua số liệu thống kê về tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản giai đoạn 2010 - 2012 có thể nhận thấy, số vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản từ 955 vụ năm 2010 đã tăng lên 971 vụ năm 2011, tỷ lệ tăng 1,7%. Số bị cáo
phạm tội có giảm nhưng không đáng kể, việc số bị cáo còn nhiều so với số vụ án
cho thấy mức độ phức tạp của tội phạm này và đi cùng với đó là thiệt hại về tài sản
gây ra là rất lớn. Năm 2012 số vụ án chỉ giảm được 4,1% so với năm trước, điều này

cho thấy công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm lạm dụng tín nhiệm trong thời
gian này không hiệu quả. Tuy nhiên, năm 2012 số vụ án đã có xu hướng giảm xuống
và số liệu 06 tháng đầu năm 2013 cho thấy cả nước chỉ xảy ra 124 vụ lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản, điều này thể hiện hiệu quả tích cực trong công tác đấu
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang

×