BÀI BÁO CÁO NHÓM 4
Hiệp định SPS của WTO
(Về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh động vật và thực
vật hay nói một cách khác là các quy định về an toàn thực
phẩm và về thú y và bảo vệ thực vật.)
Danh sách thành viên nhóm 4
•
Phạm Quốc Thịnh (B1207414)
•
Huỳnh Việt Khánh (B1207365)
•
Lê Hữu Triết (B1207429)
•
Lê Trung Quân (B1207401)
•
Nguyễn Duy Thắng (B1207412)
•
Lại Thanh Nguyên (4105662)
I. Sự ra đời Hiệp định
•
Hiệp định SPS, được ban hành và có hiệu lực cùng với sự
ra đời của Tổ chức WTO vào ngày 01/01/1995.
•
Hiện tại ngoài 151 thành viên chính thức, WTO còn có 30
đối tác đang đàm phán gia nhập.
Sơ lược về Hiệp định
•
Hiệp định này quan tâm đến việc áp dụng các biện pháp
vệ sinh động vật và thực vật hay nói một cách khác là các
quy định về an toàn thực phẩm, về thú y và bảo vệ thực
vật.
•
Nhằm mục đích hài hoà hoá các biện pháp vệ sinh và an
toàn thực phẩm trên một diện rộng nhất có thể, các thành
viên được khuyến khích căn cứ các biện pháp của mình
trên các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế
nếu chúng đã ban hành.
Sơ lược về Hiệp định
•
Hiệp định SPS về việc áp dụng các biện pháp VSATTP
và kiểm dịch động thực vật.
Bảo vệ động thực vật khỏi sâu
hại và dịch bệnh
Bảo vệ con người khỏi dịch
bệnh từ thực phẩm
Bảo vệ con người khỏi sâu
bệnh và lây từ động thực vật
Tránh thiệt hại do sâu gây ra
Sơ lược về Hiệp định
•
Hiệp định SPS chủ yếu nói về sức khỏe và thương mại quốc tế.
•
Du lịch và thương mại quốc tế đã phát triển không ngừng trong 50
năm qua. Chính nó đã làm tăng sự lưu thông hàng hoá có khả năng
ẩn chứa các rủi ro tới sức khỏe.
•
Hiệp định SPS ghi nhận nhu cầu tự bảo vệ mình của các nước thành
viên WTO trước các rủi ro qua xâm nhập của sâu hại và dịch bệnh,
nhưng đồng thời cũng tìm cách giảm thiểu bất kỳ tác động tiêu cực
nào của các biện pháp SPS tới thương mại.
Mục đích cơ bản của Hiệp định
•
Mục đích cơ bản của Hiệp định SPS là duy trì quyền lợi
tối cao của tất cả các nước thành viên, đó là xây dựng
mức bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người, động
thực vật thích hợp, nhưng phải đảm bảo rằng các quyền
lợi này không bị lạm dụng với mục đích bảo hộ và không
được tạo ra các rào cản thương mại quốc tế trá hình.
Những tổ chức đưa ra tiêu chuẩn
•
Các tổ chức đã đưa ra tiêu chuẩn về SPS:
Tổ chức Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế
Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc tế
Tổ chức Thú y Quốc tế
Điều khoản Hiệp định
•
Hiệp định SPS gồm 14 Điều khoản, bao hàm các quyền
lợi và nghĩa vụ mà các thành viên WTO đều chấp thuận.
Hiệp định cũng bao gồm 3 phụ lục giải thích các thuật
ngữ cũng như làm sáng tỏ một số nghĩa vụ trong nội dung
của Hiệp định SPS.
Điều khoản Hiệp định
- Phụ lục A: Các Định nghĩa
- Phụ lục B: Tính minh bạch ( Công bố, Hỏi đáp, Thông báo.)
- Phụ lục C: Quy trình Đánh giá, Kiểm tra và Chấp nhận
Các nguyên tắc
chính của Hiệp định SPS
Các nước thành viên WTO được khuyến khích xây dựng các biện
pháp SPS riêng của mình dựa trên những hướng dẫn, khuyến nghị
và tiêu chuẩn quốc tế hiện có.
Nước xuất khẩu chứng minh được một cách khách quan cho nước
nhập khẩu thấy rằng những biện pháp đó đạt được mức độ bảo vệ
phù hợp (ALOP) của nước nhập khẩu.
Là mức độ bảo vệ đời sống hay sức khỏe con người cũng như động
thực vật một cách phù hợp trong phạm vi lãnh thổ của mình
Là để quyết định các biện pháp SPS cần áp dụng cho một mặt hàng
nhập khẩu nhằm đạt được mức độ bảo vệ phù hợp của mình
- Điều kiện khu vực có thể ẩn chứa các rủi ro cho đời sống hay sức khỏe
con người và động thực vật.
- Hiệp định SPS yêu cầu các nước thành viên WTO phải áp dụng các biện
pháp SPS phù hợp với điều kiện khu vực, nơi xuất xứ của các sản phẩm
(Nước xuất khẩu) và với điều kiện khu vưc nơi các sản phẩm được chuyển
đến (Nước nhập khẩu)
Hiệp định SPS là yêu cầu các nước thành viên WTO phải cung cấp
thông tin về các biện pháp SPS và thông báo những thay đổi về các
biện pháp SPS của mình
Tính hài hòa
Tính tương
đương
Mức độ bảo vệ phù
hợp (ALOP)
Mức đánh
giá rủi ro
Điều kiện
của vùng
Tính minh
bạch
Ai giám sát Hiệp định SPS?
•
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia, sẽ chịu
trách nhiệm giám sát Hiệp định SPS => được gọi là Ủy
ban SPS.
•
Ủy ban SPS là một diễn đàn tư vấn, nơi các thành viên
WTO nhóm họp thường xuyên đề thảo luận về các biện
pháp SPS cũng như ảnh hưởng của chúng tới thương mại,
xem xét việc thực thi Hiệp định SPS và tìm cách hạn chế
các tranh chấp có thể xảy ra.
Hàng hóa và Rủi ro
•
Nguồn gốc các rủi ro tới đời sống hay sức khỏe động vật:
- Sự xâm nhập, hình thành hay lan truyền của sâu hại (gồm cả cỏ
dại), bệnh hại, sinh vật truyền bệnh hoặc gây bệnh.
- Các chất phụ gia, chất gây ô nhiễm (gồm dư lượng thuốc trừ sâu,
thuốc thú y và chất ngoại dư), các độc tố, hay sinh vật gây bệnh
trong thức ăn chăn nuôi.
•
Nguồn gốc các rủi ro tới đời sống hay sức khoẻ thực vật:
- Sự xâm nhập, hình thành hay lan truyền của sâu hại (gồm cả cỏ
dại), bệnh hại, sinh vật truyền bệnh hoặc gây bệnh.
Hàng hóa và Rủi ro
•
Nguồn gốc của các rủi ro tới đời sống và sức khỏe con người:
- Từ các chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, độc tố hay sinh vật gây
bệnh trong thức ăn hay đồ uống.
- Các bệnh lan truyền qua động vật, thực vật hoặc các sản phẩm của
chúng.
- Sự xâm nhập, hình thành hay lan truyền của sâu hại.
Việc nhập khẩu thực phẩm, thực vật (gồm các sản phẩm thực vật)
và động vật (gồm các sản phẩm động vật) là ba con đường chính
dẫn đến rủi ro đối với các mặt hàng nông sản và thực phẩm.
Nguồn lực cần thiết
và người hưởng lợi
•
Nguồn lực cần thiết để thực thi Hiệp định SPS:
- Cơ quan của Chính phủ
- Các cơ quan chuyên ngành của quốc gia
•
Ai là người hưởng lợi?
- Các nước phát triển và đang phát triển là thành viên
của WTO.
- Hiệp định này là tạo nên một nền thương mại tự do
và bình đẳng.
Phân biệt các biện pháp kỹ thuật
(TBT) với các biện pháp SPS như thế
nào?
•
Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy
trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các biện pháp SPS,
các nước còn duy trì nhóm các biện pháp kỹ thuật (TBT).
Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm
biện pháp này. Tuy nhiên, WTO lại có quy định riêng về
hai nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau (với các
nguyên tắc khác nhau).
Phân biệt các biện pháp kỹ thuật
(TBT) với các biện pháp SPS như thế
nào?
•
Tiêu chí phân biệt hai nhóm này là mục tiêu áp dụng của
chúng:
- SPS: Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể
là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con người, vật nuôi, động
thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và
ngăn chặn các dịch bệnh.
- TBT: Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu
chính sách khác nhau (an ninh quốc gia, môi trường, cạnh
tranh lành mạnh, …).
II. Tình hình thế giới
•
Theo tổ chức WTO, hiện có hơn 400 các bệnh lây truyền
qua thực phẩm không an toàn.
•
VSATTP đã được đặt lên hàng đầu nhưng tình hình gần
như không được cải thiện bao nhiêu.
•
Mỗi năm tại Mỹ có 76.000.000 người bị ngộ độc thực
phẩm.
•
Ở Nhật Bản cứ 10.000 người có 40 ca ngộ độc thực phẩm.
•
Tại Việt Nam từ 2005 – 2008 cả nước có 761 vụ ngộ độc,
đến 9/2009 có 111 vụ ngộ độc.
Làm thế nào để tiếp cận các thông tin
về biện pháp SPS của các nước?
•
Theo Hiệp định SPS, để đảm bảo tính minh bạch, mỗi
nước phải thiết lập một Điểm hỏi đáp về SPS (Entry Point
on SPS). Tại các Điểm hỏi đáp này, các doanh nghiệp có
thể có thông tin và đặt câu hỏi về:
1. Bất kỳ biện pháp SPS nào đã hoặc dự kiến áp dụng trên
lãnh thổ nước liên quan.
2. Các phân tích rủi ro về từng biện pháp SPS.
3. Các thủ tục kiểm soát, giám sát, kiểm dịch động thực vật,
thủ tục chấp thuận các chất phụ gia thực phẩm, …
III. Tình hình ở Việt Nam
•
SPS ở Việt Nam:
- Ngày 17/11/2008 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định
số 147/2008/QĐ-TTCP.
- Theo đó, Việt Nam triển khai các phương thức sản xuất tốt như
nông nghiệp tốt (GAPs), chăn nuôi tốt (GAHP), nuôi trồng thủy
sản tốt (GFPs), thực hành sản xuất tốt (GMP), phân tích và kiểm
soát chế biến (HACCP).
Việt Nam gia nhập SPS và Văn phòng
SPS chính thức tại Việt Nam
•
Cơ quan thông báo và điểm hỏi đáp quốc gia về Vệ sinh
Dịch tễ và kiểm dịch động thực vật Việt Nam (gọi tắt là
Văn phòng SPS Việt Nam) được chính thức thành lập
theo Quyết định 99/2005/QĐ-TTg ngày 9/5/2005 của Thủ
tướng Chính phủ.
•
Văn phòng SPS Việt Nam đặt tại trụ sở Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, số 02 Ngọc hà, quận Ba Đình,
thành phố Hà Nội.
Các yêu cầu và vụ kiện về Hiệp định
Năm 2002, Nhật Bản tăng yêu cầu về dư lượng thuốc sâu Chlorpyrifos
trong rau cải (spinach) từ 0,1 ppm xuống 0,01 ppm, khiến rau cải
Trung Quốc xuất khẩu sang Nhật giảm mạnh, từ mức kim ngạch
33,9 triệu USD năm 2001, xuống chỉ còn 14,3 triệu USD năm 2002,
và tụt dốc không phanh còn 3,9 triệu USD năm 2003.
Các yêu cầu và vụ kiện về Hiệp định
Mới đây, TheFishSite News Desk (Mỹ) cho hay trên thực tế, nhiều lô
hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam bị các nhà nhập khẩu từ chối vì
có dư lượng thuốc kháng sinh cao. Mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ
đạo của Việt Nam là lúa gạo cũng phải đối mặt với những rủi ro tương
tự (Nhật Bản đã từng cảnh báo gạo Việt Nam có chứa Acetarmiprid
vào năm 2007).
Các yêu cầu và vụ kiện về Hiệp định
Giai đoạn 1995 - 2006, các thành viên của WTO đã tiến hành 3.044 vụ
kiện chống bán phá giá, 191 vụ kiện chống trợ cấp, 158 vụ điều tra tự
vệ đối với hàng hóa nước ngoài. Hầu hết các biện pháp chống bán phá
giá mà các nước phát triển áp dụng là để chống lại các thành viên
thuộc các nước đang phát triển.
Liên minh châu Âu áp thuế chống bán phá
giá đối với giày mũ da của Việt Nam
Liên minh châu Âu áp thuế chống bán phá
giá đối với xe đạp xuất khẩu của Việt Nam
Các yêu cầu và vụ kiện về Hiệp định
Ngày 22/10/2013, tại trụ sở Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO-
Bruxelles, Vương quốc Bỉ), Tổng thư ký WCO, Tiến sỹ Kunio
Mikuriya và Giám đốc điều hành Mạng lưới Phân tích hồ sơ thương
mại về mua bán các loài động vật, thực vật hoang dã (TRAFFIC) đã
ký Biên bản ghi nhớ (MOU) về tăng cường năng lực cho các nhân
viên Hải quan trong việc chống lại nạn buôn lậu các loài hoang dã.
Buôn lậu sừng tê giác Buôn lậu ngà voi Buôn lâu Tê tê