Mục lục
Lời mở đầu
I. Phép biện chứng duy vật- phương pháp luận nhận thức khoa học
và thực tiễn.
1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Phép biện chứng chất phác
- Phép biện chứng duy tâm khách quan
- Phép biện chứng duy vật
1. 2. Bản chất của phép biện chứng duy vật
1. 2.1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
- Nguyên lý về sự phát triển
1.2.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật
II. Quan hệ biện chứng giữa đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
môi trường sinh thái.
2.1.Đường lối tăng trưởng kinh tế
2.1.1. Khái niệm
2.1.2 Đặc điểm đường lối phát triển kinh tế theo các thời kỳ
2.1.3. Vai trò của đường lối tăng trưởng kinh tế/ phát triển bền vững với
bảo vệ môi trường
2.2. Bảo vệ môi trường sinh thái
1
2.2.1. Khái niệm môi trường sinh thái, vai trò của môi trường và tại sao
phải bảo vệ môi trường sinh thái?
2.2.2. Vai trò của bảo vệ môi trường sinh thái với sự phát triển của xã hội,
đặc biệt thể hiện trong đường lối phát triển kinh tế
2. 3. Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
- Cần làm rõ mối quan hệ biện chứng theo Quy luật thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập của phép biện chứng duy vật: (đường lối tăng trưởng
đi kèm với bảo vệ môi trường tuy nhiên đấu tranh là đường lối tăng
trưởng như thế nào để đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường?)
- Sự tác động qua lại giữa yếu tố tự nhiên (môi trường sinh thái) và yếu tố
xã hội (đường lối phát triển kinh tế theo từng giai đoạn, thời kỳ của xã
hội)
2.3.1.Mối quan hệ biện chứng giữa đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái
2.3.2 Tác động qua lại của đường lối tăng trưởng kinh tế đến bảo vệ môi trường
sinh thái và ngược lại
2.3.2. Những vấn đề đặt ra giữa mục tiêu/chiến lược tăng trưởng kinh tế đến bảo
vệ môi trường sinh thái và ngược lại
III.Thực trạng và giải pháp cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo
vệ môi trường sinh thái.
3. 1. Đường lối tăng trưởng kinh tế VN qua các thời kỳ (mốc là từ 1986). Nên
chia theo giai đoạn 5 năm hoặc có thể theo giai đoạn phát triển kinh tế
3.2 Hiện trạng biến đổi môi trường sinh thái ở Việt Nam
Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong
bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí
2
85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines
đạt 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia
45 điểm, Còn theo kết quả nghiên cứu khác vừa qua tại Diễn đàn Kinh tế thế
giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và
ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe.
Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia
của Mỹ thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia. Kết quả nghiên
cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ
123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đếnsức khỏe đứng vị
trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80. Tính theo chỉ số chung
EPI, Việt Nam xếp thứ 79. Đó là những đánh giá chung, còn nếu xem xét cụ thể
trên từng khía cạnh thì sẽ càng thấy rõ hơn bức tranh chung của môi trường Việt
Nam hiện nay.
Rừng tiếp tục bị thu hẹp
Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên
của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay
chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%). Độ che phủ của rừng nước ta
đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ
xuống mức quá thấp. Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh.
40 năm trước đây, 400.000 ha đất ven biển nước ta được bao phủ bởi rừng ngập
mặn, nhưng chỉ trong 5 năm, 2006 - 2011, 124.000 ha rừng ngập mặn ven biển
đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá - tương đương diện tích bị mất
trong 63 năm trước đó. Rừng ngập mặn trưởng thành rộng lớn ở vùng châu thổ
sông Hồng hầu như đã bị tàn phá. Hệ lụy kéo theo là sự giảm sút mạnh của năng
suất nuôi trồng thủy sản ven biển và sự mất cân bằng môi trường sinh thái.
Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho
thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử dụng vào
nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được
hơn 700 ha.
Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm
cao nhất thế giới. Với các điều tra đã công bố, Việt Nam có 21.000 loài động
3
vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm. Tổ chức vi sinh
vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít loài vi sinh vật mới đối với thế
giới.
Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt
chủng và 120 loài thú bị diệt vong. Có một thực tế là các trang trại gây nuôi
động vật hoang dã như nuôi những loài rắn, rùa, cá sấu, khỉ và các loài quý hiếm
khác vì mục đích thương mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại không hề
làm giảm bớt tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà thậm chí
còn làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên quan tới
các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã.
Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn
cho môi trường sinh thái, như: ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại
dừa, đặc biệt là việc nhập khẩu 40 tấn rùa tai đỏ - một loài đã được quốc tế cảnh
báo là một trong những loài xâm hại nguy hiểm.
Ô nhiễm sông ngòi
Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ
Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy qua thực tế,
cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên,
sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm
nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải
từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống.
Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là:
sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu
ở Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Những con sông này đã trở nên độc
hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống,
sức khoẻ của cộng đồng.
Bãi rác công nghệ và chất thải
Hiện các doanh nghiệp ở Việt Nam là chủ sở hữu của hơn một nghìn con
tàu biển trọng tải lớn, cũ nát. Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều không cho
phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại không bảo đảm
an toàn hàng hải. Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó vẫn đang được
neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp” thành phế liệu mà
4
việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại làm ô nhiễm môi
trường sống.
Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam
trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ biến Việt
Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải. Bài học “xương máu” này
đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có khả năng lặp lại nếu
những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung Quốc được đưa về lắp đặt
ở Việt Nam.
Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy,
nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia
tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao. Trong đó, lo ngại nhất là
chất thải từ chăn nuôi. Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung
chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn
gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm. Theo tính toán của Vụ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tổng
khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu
tấn/năm.
Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự. Việc đẩy mạnh
các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập trung, trong
đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước. Cùng với đó, tình
trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn
lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước. Hiện nay, lượng
thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng, quá hạn sử dụng còn
tồn đọng cần tiêu hủy là hơn 700 kg (dạng rắn) và hơn 3.400 lít (dạng lỏng).
Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, khu vực nông thôn thải ra khoảng 10
triệu tấn/năm chất thải rắn sinh hoạt, nhưng đến năm 2010 tăng lên tới 13,5 triệu
tấn/năm. Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã
khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên
đáng lo ngại.
Ô nhiễm ở các làng nghề
Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học
Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước
5
thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Riêng
Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các
hoạt động sản xuất.
Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý đã thải trực tiếp vào không
khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt quá
2.600 lần tiêu chuẩn cho phép. Nghề thuộc da, làm miến dong ở Hà Tây cũng
thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô
nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề.
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần
đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan
đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần
kinh chiếm 9,72%. Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc
bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng
65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4%. Còn tại làng nghề sản xuất
rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh
về đường ruột là 58,8%.
Khai thác khoáng sản
Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản
dưới lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh. Theo thống kê của Tổng
cục Hải quan, từ năm 2009 - 2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 - 2,6 triệu
tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung
Quốc, nhưng chỉ mang lại giá trị 130 - 230 triệu USD. Riêng năm 2012, lượng
khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 800.000 tấn thông qua đường chính ngạch. Nếu
cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng xuất khẩu còn lớn hơn
nữa (vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng ti-tan ước tính đã lên đến 200.000
tấn).
Hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng
sản đã quá rõ ràng. Qua điều tra, cứ 4.000 người dân Quảng Ninh có 2.500
người mắc bệnh, chủ yếu là mắc bệnh bụi phổi, hen phế quản, tai mũi họng
(80%). Kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn cho thấy nồng độ bụi ở
khu vực Cẩm Phả vượt từ 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, gần 0,3 mg/m3 trong 24
giờ (gồm bụi lơ lửng, bụi Pb, Hg, SiO2, khí thải CO, CO2, NO2). Mỏ Đèo Nai
phải xử lý lượng đổ thải chất cao thành núi trong mấy chục năm qua. Mỏ Cọc
6
Sáu với biển nước thải sâu 200m chứa 5 triệu m3có nồng độ a-xít cao và độ PH
4 - 4,5mgđl/l sẽ phải tìm công nghệ phù hợp để xử lý.
Ô nhiễm không khí
Việt Nam cũng đang bị coi là nước có ô nhiễm không khí cao tới mức báo động.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí khu vực
ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và bụi PM10 (tức
bụi có kích thước bé hơn 10μ) tăng 1,07 lần. Kênh rạch ở khu vực nội thành bị ô
nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức độ cao. Phần lớn nước thải sinh hoạt chỉ mới
được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại gia đình. Nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất chưa có
hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có trang bị thì không vận hành thường
xuyên.
3.3. Một số quan điểm giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
môi trường
Phát triển bền vững là một quá trình tiến bộ của xã hội loài người dựa trên
cơ sơ kết hợp chặt chẽ các yếu tố kinh tế, nhân văn, môi trường và công nghệ.
Như vậy vừa để phát triển kinh tế vừa để bảo vệ môi trường sinh thái cần phải
biết khai thác và sử dụng một cách hợp lý, tối ưu nguồn lực, khoa học và công
nghệ. Con người, khoa học, công nghệ là động lực để đạt đến mục tiêu kinh tế
và mục tiêu sinh thái.
Nước ta tuy là một nước nông nghiệp còn lạc hậu và đang bắt đầu Công
nghiệp hóa- Hiện đại hóa song tình hình môi trường sinh thái của chúng ta đã
bộc lộ nhiều vấn đề giống như các nước kinh tế phát triển đang gặp phải. Vì vậy
kết hợp hai mục tiêu giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái là
việc cần thiết của Đảng và Nhà nước.
Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái là hai hoạt động đối lập
nhau. Để phát triển kinh tế không thể không khai thác tài nguyên thiên nhiên,
không thải các chất thải công nghiệp vào môi trường
7
3.4 Giải pháp cân bằng khi đề xuất mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường ở nước ta:
Trên cơ sơ kết hợp giữa hai mục tiêu: phát triển kinh tế và bảo vệ Môi
trường sinh thái Đảng và Nhà nước đã có những giải pháp thiết thực nhằm giải
quyết vấn đề trên.
a. Tăng cường quản lý nhà nước
Luật bảo vệ môi trường mới được ban hành năm 2014 thay thế luật bảo vệ
môi trường cũ năm 2005. Trong luật môi trường mới có những điểm mới
hơn như quy hoạch về môi trường làm nền cho quy khác. Thêm nữa luật
môi trường mới giúp cho chủ động trong việc triển khai bảo vệ môi
trường, phát triển kinh tế và an sinh, xã hội… Cạnh đó luật môi trường có
những quy định riêng về ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường
biển và hải đảo.
Dựa trên luật bảo vệ môi trường này, các cơ quan quản lý có thêm
cơ sở pháp lý để ban hành những nghị định, thông tư liên quan để bảo vệ
môi trường.
b. Biện pháp giáo dục
c. Hợp tác quốc tế
d. Áp dụng khoa học công nghệ
Kết Luận
Tài liệu tham khảo
1. Bài giảng môn triết học Mác – Lênin, Biên soạn: Nguyễn Thị Hồng Vân,
Đỗ Minh Sơn, Trần Thảo Nguyên
2. Thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam. Báo cáo quốc gia tại Hội nghị
cấp cao của Liên hợp quốc về phát triển bền vững (RIO + 20), 5/2012
8
3. Phát triển kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa, gắn với tiến bộ và công
bằng xã hội - đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam Đoàn Thị Bích Hiền - Tạp chí Cộng sản
4. Bài 4: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI - QUỐC
PHÒNG - AN NINH />option=com_content&view=article&id=478:bai-4-ng-li-phat-
trin-kinh-t-xa-hi&catid=75:sau-bai-ly-lun-chinh-
tr&Itemid=110
5. />qua-va-ben-vung-tang-truong-kinh-te-di-doi-voi-thuc-hien-tien-bo-va-56440/
6. />7. />diem-duong-loi-chien-luoc-cua-Dang-Cong-san-Viet-Nam.aspx
8. />9. />dong-a87789.html
10. />Mục lục 1
MỞ ĐẦU 11
NỘI DUNG 13
1. Phép biện chứng duy vật- phương pháp luận nhận thức khoa học và thực
tiễn 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.Bản chất của phép biện chứng duy vật 14
1.3 Tính tất yếu phải phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường 18
2. Quan hệ biện chứng giữa đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái 19
2.1 Đường lối tăng trưởng kinh tế 19
9
2.2 Bảo vệ môi trường sinh thái 23
2.3 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 26
3. Một số quan điểm giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ
môi trường 32
3.2 Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
33
3.3 Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể,
nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển 33
3.4 Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày
càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa 33
3.5 Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng 34
4. Giải pháp cân bằng khi đề xuất mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường ở nước ta: 34
4.1 Các tiêu chí đề xuất giải pháp 34
4.2 Các giải pháp: 36
KẾT LUẬN 39
10
MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường hiện nay đang trở thành vấn đề vô
cùng bức xúc và được sự quan tâm của tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt trong bối
cảnh môi trường đã và đang bị tàn phá, ảnh hưởng nặng nề bởi một giai đoạn khá dài
các nước chạy theo mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, không quan tâm tới bảo vệ và
giữ gìn môi trường. Trong bất kỳ một quốc gia nào, đặc biệt các quốc gia đang phát
triển, do vận dụng theo mô hình kinh tế thị trường dù hoàn toàn hay một phần, với quy
luật giá trị được đặt lên hàng đầu đã làm cho đại bộ phận các nền kinh tế và các chủ
thể kinh tế chạy theo mục tiêu tăng trưởng, lợi nhuận mà bỏ qua yếu tố gìn giữ môi
trường sinh thái nên đã gây ra hàng loạt những hệ lụy như: khai thác tài nguyên nghèo
kiệt, xả thải gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí; mất cân bằng đa dạng sinh
học… Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra các hệ quả như hiện tượng
thủng tầng ozone, khí thải nhà kính, trái đất nóng lên, biến động các thảm họa thiên
nhiên như mưa, bão, hạn hán, cháy rừng….diễn ra với cường độ nhanh, mạnh, tần suất
dày đặc và mức độ nguy hiểm ngày càng tăng cao đe dọa cuộc sống của hàng tỷ người
trên trái đất. Đứng trước những vấn đề trên, tất cả các nước dù đang phát triển hay
phát triển, dù giàu hay nghèo, đều đã nhận thức lại và đưa vấn đề bảo vệ môi trường
thành chương trình hành động chiến lược trong các chiến lược phát triển, tăng trưởng
kinh tế hàng năm hoặc qua các thời kỳ, giai đoạn. Thực tế hiện nay, rất nhiều nước
trên thế giới đã coi bảo vệ môi trường là nội dung vô cùng quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế của họ và các tổ chức liên kết trên thế giới giữa các quốc gia và toàn
thể giới đang ngày càng phát triển với mục tiêu bảo vệ môi trường sống chung của
cộng đồng và chung tay vì sự phát triển của nhân loại. Ví dụ như
Hiện nay, Việt Nam cũng đã và đang rất tích cực tham gia vào các tổ chức, hiệp
hội, ký các công ước với các nước trên thế giới để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh
tế phải đi đôi với bảo vệ, giữ gìn môi trường sinh thái cho các thế hệ sau. Việt Nam
vẫn là một nước đang phát triển, chủ yếu sản xuất dựa vào nông nghiệp với trình độ
canh tác chưa cao, chưa coi trọng yếu tố bảo vệ môi trường, ngành công nghiệp và
thương mại dịch vụ phát triển chưa gắn liền với đảm bảo môi trường bền vững. Việt
Nam thời gian gần đây đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi hệ lụy của một thời gian dài phát
triển mà không chú trọng tới đảm bảo tính bền vững của môi trường như môi trường
đất và nước bị ô nhiễm nghiêm trọng do sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực
vật quá nhiều, xả thải thẳng ra môi trường ở các khu công nghiệp, làng nghề; tình
trạng chặt phá rừng vì mục đích kinh tế làm cho tình trạng lũ quét, sạt lở đất diễn ra vô
11
cùng nghiêm trọng… Đảng và Nhà nước ta đã xác định môi trường bền vững là nhân
tố ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế thời gian tới.
Chiếc lược phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường không những là ưu tiên
mà còn là đòi hỏi mang tính sống còn với sự phát triển của con người, các quốc gia
trên thế giới trong đó có cả Việt Nam. Do đó, đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa
đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường” có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan
trọng đối với các quốc gia và Việt Nam trong việc đề ta chiến lược phát triển kinh tế
đúng đắn trong thời gian tới.
12
NỘI DUNG
1. Phép biện chứng duy vật- phương pháp luận nhận thức khoa học và thực tiễn
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Trên thế giới tồn tại rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, tuy nhiên
các cách định nghĩa này đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau, trong đó coi
triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chính thể, tìm ra những quy luật chung
nhất chi phối sự vẫn động của chính thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con
người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới
dạng duy lý. Chính vì vậy, có thể hiểu chung lại rằng “triết học là hệ thống tri thức lý
luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế
giới ấy”Phép biện chứng hay tư tưởng biện chứng được hình thành ngay từ tri triết học
ra đời và tồn tại, phát triển không ngừng qua các thời kỳ của lịch sử. Trong quá trình
phát triển, phép biện chứng có ba hình thức cơ bản đó là phép biện chứng chất phác,
phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng chất phác: tồn tại ở thời cổ đại, khi mà trình độ tư duy của
loài người chưa phát triển cao, khoa học chưa phát triển, do đó các nhà khoa học thời
đó chỉ dựa vào những quan sát trực tiếp bằng mắt thường, mang tính trực quan, cảm
tính để từ đó đưa ra những khái quát về bức tranh chung của thế giới quan. Điều này
được thể hiện rõ rệt trong nội dung của “thuyết Âm – Dương”, “thuyết Ngũ – Hành”
của triết học Trung Hoa cổ hay trong triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Ý nghĩa
lớn nhất của biện chứng chất phác là ở ý nghĩa vô thần, chống lại những quan điểm tôn
giáo cực đoan, mê tín thời bấy giờ. Mặc dù vậy, do không có căn cứ khoa học vững
chắc nên đã bị phép siêu hình xuất hiện từ nửa cuối của thế kỷ XV thay thế.
Phép biện chứng duy tâm khách quan: xuất hiện trong triết học cổ điển
Đức cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu của thế kỷ XIX. Trong thời kỳ này, khoa học đã đạt
được cô vàn những thành tựu xuất sắc trên rất nhiều các lĩnh vực khác nhau, từ đó đưa
ra cái nhìn mới, khách quan và có căn cư về nội dung phép biện chứng. Đại điện tiêu
biểu cho phép biện chứng duy tâm là Heghen, người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh
phép biện chứng duy tâm với một hệ thống các khái niệm, phạm trù và quy luật cơ
bản. Tính chất duy tâm được thể hiện trong phép biện chứng của Heghen ở chỗ: ông
coi “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước, trong quá trình vận động phát triển của mình mà
“ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội; cuối cùng trở lại chính mình
13
trong tinh thần tuyệt đối. Sai lầm của Heghen chính là cho rằng biện chứng của ý niệm
sản sinh ra biện chứng của sự vật.
Phép biện chứng duy vật: được xây dựng từ việc kế thừa có chọn lọc những
thành tựu của các nhà khoa học trước, dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu khoa
học mới nhất thế kỷ XIX cũng như thực tiễn lịch sử loài và thực tiễn xã hội, C. Mác và
Ph.Ăngghen đã sáng lập nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy
vật. Sau này, V.I. Lênin đã tiếp tục phát triển vào đầu thế kỷ XX, phát triển phép biện
chứng lên hình thức mới về chất là phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và
phương pháp luận biện chứng (hay giữa lý luận và phương pháp). Hệ thống các quy
luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn những quy luật cơ bản chung nhất
của sự vận động và phát triển của thế giới. Phép biện chứng duy vật được xây dựng
trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ
biến nhằm phản ánh đúng đắn hiện thực thế giới khách quan đồng thời chỉ ra những
cách thức để định hướng cho con người trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Vì
thế Ph.Ăngghen đã đưa ra định nghĩa “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa
học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã
hội loài người và của tư duy”
1.2.Bản chất của phép biện chứng duy vật
1.2.1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông
qua sự vận động liên tục và sự tác động qua lại không ngững lẫn nhau. Bản chất tính
quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lọ thông qua sự tác động qua lại giữa các
mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng đối với các sự vật, hiện tượng khác
trong thực tế. Do đó, để đánh giá sự tồn tại, bản chất của một con người hay một sự
vật hiện tượng tự nhiên, chúng ta phải thông qua mối liên hệ, sự tác động của con
người, sự vật đó với người khác, với sự vật khác, với xã hội và tự nhiên thông qua các
hoạt động khác nhau. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được thể hiện rõ rệt thông
qua:
i) Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác,
không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ;
14
ii) Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt tùy theo điều kiện nhất
định tuy nhiên nó đều chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất dưới
những hình thức liên hệ riêng rẽ, cụ thể, được các nhà khoa học nghiên cứu;
iii) Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới sẽ thấy rõ
được tính đa dạng, nhiều vẻ, nhiều chiều, nhiều khía cạnh của các sự vật, hiện tượng
đó.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đưa ra khái quát bức tranh toàn cảnh những
mối liên hệ của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). Phép duy vật biện chứng phân
chia các mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, tuy nhiên sự phân chia này lại vô cùng
cần thiết bởi mỗi loại mối liên hệ có vị trí, vai trò xác định trong sự vận động và phát
triển của sự vật. Con người sẽ dựa vào đó để có cách tác động phù hợp, nhằm đưa lại
hiệu quả cao nhất trong các hoạt động của mình.
Nguyên lý về sự phát triển:
Sự phát triển, trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ là hiện tượng diễn ra
không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội, trong bản thân con người và trong tư duy.
Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực tùy theo hình thức tồn tại cụ thể
của từng dạng vật chất. Sự phát triển của giới vô cơ được thể hiện dưới dạng biến đổi
các yếu tố và hệ thống vật chất, sự tác động qua lại giữa chúng và trong các điều kiện
nhất định sẽ làm nảy sinh các hợp chất phức tạp – các hợp chất hữu cơ ban đầu, tiền đề
của sự sống. Tuy nhiên, sự phát triển trong giới hữu cơ thể hiện ở khả năng thích nghi
của sinh vật với sự biến đổi phức tạp của môi trường, sự hoàn thiện thường xuyên quá
trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với
trình độ ngày càng cao hơn, từ đó làm xuất hiện ngày càng nhiều các giống loài mới
phù hợp với môi trường sống. Như vậy, sự phát triển trong đó sự vật mới ra đời thay
thế sự vật cũ có thể là vận động đi lên, vận động tuần hoàn thậm chí là vận động đi
xuống. Tuy nhiên, xét cả quá trình vận động với không gian rộng và thời gian dài thì
quá trình vận động đi lên luôn là xu hướng chung của mọi sự vật.
Phép duy vật biện chứng khẳng định sự phát triển luôn mang tính khách quan,
không phụ thuộc ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người mà nằm ngay
trong bản thân sự vật. Sự phát triển mang tính phổ biến vì nó diễn ra ở mọi lĩnh vực
của tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan.
Bên cạnh đó, phát triển còn mang tính đa dạng phong phú khi mà mỗi sự vật hiện
tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồn tại ở những không gian khác
nhau, thời gian khác nhau.
15
1.2.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận
chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm
phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực,
cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Đó
là ba quy luật:
+ Quy luật chuyển hoá: từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và
ngược lại: gọi là quy luật lượng - chất. Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của
quá trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để nhận thức và thúc đẩy quá
trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:
Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi
về chất. Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn.
Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy
vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ.
Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển.
+ Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập: còn được gọi là quy
luật mâu thuẫn. Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, Nó vạch ra nguồn gốc,
động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên
trong sự vật. Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu cơ bản của nó là
phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu
thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn.
Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa
dạng, linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
+ Quy luật phủ định của phủ định: Quy luật này khái quát khuynh hướng phát
triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát
triển. Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi
phương pháp suy nghĩ và hành động của con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải
tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế
thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ. Nguyên
tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên
đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai.
16
- Các cặp phạm trù không cơ bản
Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn bao gồm các
cặp phạm trù không cơ bản:
+ Cặp phạm trù cái riêng - cái chung và cái đơn nhất
+ Tất nhiên - ngẫu nhiên
+ Nguyên nhân - kết quả
+ Bản chất - hiện tượng
+ Khả năng - hiện thực
+ Nội dung - hình thức.
Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý
nghĩa phương pháp luận quan trọng. Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng hợp trong
nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng.
Ý nghĩa của phương pháp luận của phép biện chứng duy vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của phép biện
chứng duy vật là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và
nguyên tắc phát triển.
a) Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả
các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt,
từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định.
Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:
- Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện
trong phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra
và sử dụng sức mạnh tổng hợp.
- Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng
thời phải xác định khâu then chốt. Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi
mới chính trị và đổi mới tư duy.
Đối lập với nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng, quan điểm siêu hình
xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt, các
mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách
rời sự vật khác.Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết
17
hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với
nhau. Thuật nguỵ biện thì cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu
làm mặt chủ yếu.
b) Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá
trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua những giai
đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào?
c) Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy
khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái
mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.
1.3 Tính tất yếu phải phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một tất yếu khách quan vừa là
yêu cầu bức thiết đối với mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt khi các tác động của con
người lên môi trường tự nhiên ngày càng nghiêm trọng gây nên những hậu quả không
lường đe dọa trực tiếp tới sức khỏe, đời sống và sự tồn tại của con người. Các nhà
máy, xí nghiệp mọc lên như nấm, lượng khí thải, chất thải đổ ra môi trường ngày càng
nhiều; lượng rác thải của con người tăng lên hàng ngày, hàng giờ và chưa được thu
gom, xử lý đúng cách làm ô nhiềm nguồn nước, không khí sống; sự phát triển của các
phương tiện giao thông vận tải làm tăng lượng xả khí thải ra môi trường; rác công
nghiệp …
Việt Nam đang đối mặt với vô vàn thách thức do phát triển kinh tế không chú
trọng tới bảo vệ môi trường trong thời gian trước như ô nhiềm nguồn nước, ô nhiễm
đất, ô nhiễm không khí do sản xuất nông nghiệp sử dụng các phương tiện thô sơ, các
phương thức canh tác cũ, trình độ thấp; ô nhiễm môi trường nước, tiếng ồn, do phát
triển các làng nghề chưa theo quy hoạch…Do đó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận
định “môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt, rừng bị tàn phá, đất bị xói mòn và
tình trạng sa mạc hóa, biến đổi khí hậu, nguy cơ nước biển dâng….làm thu hẹp không
gian sinh tồn của con người chẳng những tác động tiêu cực đến cuộc sống hiện tại mà
còn đe dọa sự phát triển của các thế hệ tương lai” là thách thức to lớn trên con đường
phát triển của Việt Nam trong thời gian tới. Vì vậy, phát triển kinh tế phải gắn chặt với
bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động đối phó với hiểm họa nước biển dâng, sử
dụng công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, nang lượng, phát triển kinh tế xanh cần được
18
thể hiện trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước cũng như trong
từng lĩnh vực ở từng địa phương, đơn vị.
2. Quan hệ biện chứng giữa đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái
2.1 Đường lối tăng trưởng kinh tế
2.1.1. Khái niệm
* Phát triển kinh tế :
- Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể
chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội.
-Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng không
phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế đòi
hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau :
+Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và
tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người.
+ Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theohướng tiến bộ, thể hiện ở các ngành dịch vụ và công
nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng nông nghiệp ngày càng
giảm xuống.
+ Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu
nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng.
Như vậy, phát triển kinh tế là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong mọi thời
đại.
* Môi trường sinh thái – kinh tế môi trường:
- Môi trường là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và phát triển
cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riêng, của nền kinh tế - xã hội và
nhận thức của loài người nói chung.
- Kinh tế môi trường là một ngành khoa học đa ngành và mới mẻ, lấy các vấn đề
môi trường làm đối tượng nghiên cứu chính của mình và tiếp cận chủ yếu chúng dưới
góc độ kinh tế.
- Môi trường là toàn bộ các vùng địa - vật lí và sinh học, các điều kiện về vật chất -
tự nhiên, bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất, ánh sáng…) và hệ sinh thái với tư
cách là sản phẩm của tạo hoá, có trước con người, tương tác lẫn nhau, và cùng tác
19
động đến sự hình thành và phát triển của con người cùng các hoạt động xã hội của họ.
Bản thân các hoạt động sinh tồn của con người cũng đang ngày càng làm thay đổi môi
trường một cách mạnh mẽ.
* Phát triển bền vững
- Nguồn gốc chủ yếu của sự thay đổi về môi trường sinh thái hiện nay là các hoạt
động phát triển kinh tế - xã hội của con người.
- Phát triển là quy luật tất yêú của tiến hoá đã và đang diễn ra trên hành tinh của
chúng ta từ khi nó được hình thành.
2.1.2 Đặc điểm đường lối phát triển kinh tế theo các thời kỳ
Kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đến nay) trải qua
hai giai đoạn:
- Giai đoạn I: từ năm 1975 đến năm 1986, giai đoạn nền kinh tế chỉ huy mang tính
chất tập trung quan liêu, bao cấp.
Trong giai đoạn này, cơ cấu quản lý kinh tế của nước ta là tập trung quan liêu
bao cấp, theo đó nền kinh tế tồn tại là nền kinh tế mệnh lệnh chỉ huy. Đảng và Nhà
nước chỉ công nhận duy nhất hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế Nhà nước và
thành phần kinh tế tập thể. Các thành phần kinh tế tư nhân không được phép tồn tại và
hoạt động.
Nền kinh tế của một nước phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất. Sự phát triển của nền kinh tế cũng phản ánh sự phù hợp của hai yếu tố
trên. Ở nước ta giai đoạn này, trong khi lực lượng sản xuất còn chưa phát triển và mức
độ phát triển không đồng đều, sản xuất nhỏ thủ công là phổ biến, trình độ phân công
lao động và xã hội hóa rất thấp thì chúng ta lại xây dựng nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ
huy. Nhà nước chỉ ưu tiên, chú trọng bảo hộ cho kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể,
coi hai thành phần kinh tế là kinh tế XHCN, còn các thành phần kinh tế khách bị coi là
mầm mống của CNTB nên bị xóa bỏ hoàn toàn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV của Đảng năm 1976, Đảng ta đã xác định đường lối kinh tế dựa trên đường lối phát
triển chung của đất nước, trong đó có một vài điểm đáng lưu ý sau: “Đẩy mạnh công
nghiệp hóa XHCN, xây dựng vật chất kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN. Ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ…”. Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu chặng đường đầu tiên của thời kỳ
quá độ của Đảng là chưa rõ ràng, hơn nữa Đảng đã phạm sai lầm trong việc xác định
20
bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về cải tạo XHCN, về việc áp dụng cơ cấu
quản lý kinh tế… trong hoàn cảnh nước tacơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém, công
nghệ lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính.
Trong thời kỳ này, do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, chúng ra đã sao chép
rập khuôn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ cấu quản lý kinh tế của các nước
XHCN. Có thể nói, nền kinh tế mệnh lênh – chỉ huy mang tính chất tập trung, quan
liêu, bao cấp là phù hợp với hoàn cảnh có chiến tranh, bởi lúc đó mục tiêu chung và
lớn nhất của cả nước là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng
đất nước để tiếp tục tiến hành cách mạng XHCN. Vì thế, việc tập trung sức người sức
của cho cuộc chiến tranh chính nghĩa là hết sức cần thiết. Điều đó tạo nên sức mạnh to
lớn của toàn dân, nhanh chóng hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để tiến
tới cách mạng XHCN. Tuy nhiên, khi đất nước đã giành thống nhất, thời kỳ quá độ
được thực hiện trong phạm vi cả nước, nền kinh tế tập trung bao cấp này không còn
phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Kinh tế phát triển thụ động và thiếu linh hoạt, các
nguồn lực không được khai thác triệt để, sản xuất kém hiệu quả do cách làm việc cứng
nhắc…Và hậu quả tất yếu là năm 1979 và năm 1985-1986, nền kinh tế-xã hội nước ta
lâm vào cuộc khủng hoảng: tình trạng lạm phát trầm trọng (cao nhất là năm 1985 với tỉ
lệ lạm phát là 600%), sản xuất trì truệ, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống
người dân khó khăn…Điều này đã tạo áp lực lớn đối với sự phát triển của đất nước.
Do đó, sự nghiệp đổi mới được bắt đầu ngay từ áp lực này.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm
1991), Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của những sai lầm trong giai đoạn này: “Đảng đã
sai phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nóng vội trong cải
tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có mức đẩy mạnh quá mức việc
xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao
cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương…”. Đó là bài
học tổng kết những thời kỳ lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển của đất nước nói
chung và nền kinh tế nói riêng. Do điều kiện lịch sử, nhận thức bước đầu của Đảng về
con đường đi lên XHCN ở nước ta còn chưa đúng đắn. mặc dù vậy, điều này cũng tạo
điều kiện để Đảng từng bước bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh, làm cho con đường đó
ngày càng rõ ràng hơn trong những giai đoạn sau.
- Giai đoạn II: từ năm 1986 đến nay, Việt Nam xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước (gọi tắt là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN).
21
Chúng ra thực sự có chính sách đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) chủ
trương thực hiện thành công trong báo cáo chính trị thì có 5 nhiệm vụ liên quan đến
đổi mới kinh tế:
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực – thực phẩm, hàng
tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
+ Thực hiện nhiệm vụ cải tạo XHCN một cách thường xuyên với những hình thức và
bước đi thích hợp, làm cho QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, thúc
đẩy sự phát triển của LLSX.
+ Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
+ Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông.
+ Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động…
Tiếp đó, bên cạnh việc tổng kết thực tiễn, bài học kinh nghiệm sau một thời
gian quá độ lên CHXH, Đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng đã cụ thể hóa đường lối
phát triển, đề ra những phương hướng rõ ràng đối với đất nước ta trong thời kỳ quá độ
lên XHCN. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNHX
(1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “ Nước ta quá độ lên CNHX, bỏ qua
chế độ tư bản,…Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoạt chế độ xã hội và
nền độc lập của nhân dân ta.”. Đồng thời, phương hướng cơ bản về xây dựng nền kinh
tế ở nước ta được xác định là: “…Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế
quốc dân…”. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam cần có định hướng
XHCN của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước để tránh lệch hướng và hạn chế những
mặt trái tiêu cực của kinh tế thị trường.
Như vậy đặc trưng của thời kỳ quá độ lên XHCN ở nước ta là bỏ qua chế độ
TBCN, từ phong kiến lạc hậu tiến thẳng lên XHCN. Việc xác định được vấn đề “ bỏ
qua chế độ TBCN” chứ không phải “bỏ qua giai đoạn TBCN” là một bước tiến quan
trọng trong nhận thức của Đảng ta.
22
2.2 Bảo vệ môi trường sinh thái
2.2.1. Khái niệm môi trường sinh thái, vai trò của môi trường và tại sao phải
bảo vệ môi trường sinh thái?
Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với
nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu.
Vai trò của môi trường:
Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật. Trên
không gian do môi trường cung cấp, con người thực hiện các hoạt động sống của
mình, trong đó có quá trình sản xuất của cải vật chất. Nói một cách cụ thể, đối với quá
trình sản xuất, môi trường đã cung cấp mặt bằng và phông tự nhiên cho sản xuất nông
– lâm – ngư nghiệp.
Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và
sản xuất của con người. Xét về bản chất thì mọi hoạt động của con người để duy trì
cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của tự nhiên thông qua
lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ. Với sự hỗ trợ của các hệ thống sinh thái, con
người đã lấy từ tự nhiên những nguồn tài nguyên thiên nhiên cần thiết phục vụ cho
việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.Thiên nhiên là nguồn
cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết.Nó cung cấp nguồn vật liệu, năng lượng,
thông tin cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lý của con người. Nhu
cầu của con người và các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất
lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội. Các loại tài nguyên được
khai thác bao gồm:
Rừng tự nhiên: cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất,
nguồn gỗ, củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái…
Các thủy vực: cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các nguồn thủy hải
sản…
Động thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm…
Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: để con người hít thở, cung cấp
năng lượng cho sản xuất…
Các loại quặng, dầu mỏ: Cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản
xuất nông nghiệp…
23
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và hoạt động sản xuất. Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất, con
người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường.Thời kỳ sơ khai, khi dân số nhân
loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự nhiên làm cho chất thải sau một thời
gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên. Nhưng ngày nay,
do dân số thế giới tăng lên nhanh chóng cùng quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng khiến chức năng phân hủy tự nhiên của
môi trường quá tải, gây ô nhiễm môi trường. Nếu phân loại chi tiết, có thể chia chức
năng này ra thành các loại sau:
+ Chức năng biến đổi lý – hóa học
+ Chức năng biến đổi sinh hóa
+ Chức năng biến đổi sinh học
Môi trường còn lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người:
+ Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất
và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người.
+ Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo cáo
sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên Trái Đất như phản ứng sinh
lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự
nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa…
+ Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động
thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và sáng tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm
mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo văn hóa khác.
Bảo vệ môi trường sinh thái:
Như đã phân tích ở trên, môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời
sống con người cũng như các hoạt động sản xuất vật chất, chính vì vậy cần phải tích
cực, chủ động bảo vệ môi trường. Thực tế chứng minh rằng, con người đã, đang và sẽ
phải trả giá cho những hành vi phá hoại môi trường của mình.
Hàng loạt thách thức về môi trường đang đặt ra hiện nay trên thế giới bao gồm:
+ Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng
+ Sự suy giảm tầng ô zôn
+ Tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái
+ Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng
+ Sự gia tăng dân số
+ Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
24
Những hiện tượng trên đe dọa nghiêm trọng tới môi trường, ảnh hưởng lớn đến
sứckhỏe và các hoạt động sống của con người nhưng nguyên nhân chủ yếu lại xuất
phát từ chính con người. Nếu không có các biện pháp thích hợp để giảm sự hủy hoại
môi trường thì con người sẽ có lúc bị diệt vong. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là
vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay để con người cứu lấy môi trường cũng như tự cứu bản
thân mình. Theo điều 6 Luật môi trường Việt Nam: “ Bảo vệ môi trường là sự nghiệp
của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp
luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường”.Như vậy bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa
vụ của tất cả mọi người.
2.2.2 Vai trò của bảo vệ môi trường sinh thái với sự phát triển của xã hội,
đặc biệt thể hiện trong đường lối phát triển kinh tế
- Môi trường cung cấp các yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất:
+ Nền kinh tế nước ta vẫn còn dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên
(TNTN) riêng giá trị sản lượng nông nghiệp còn chiếm 23% tổng sản lượng giá trị
GDP. Nếu tính cả các lĩnh vực khác, thì có thể thấy TNTN đã đóng góp tới 50% tổng
giá trị GDP, 60-70% tổng giá trị hàng xuất khẩu, và mang lại việc làm cho hàng triệu
người lao động.
+ Các yếu tố rất quan trọng trong sản xuất như nước, không gian, nơi tiếp thu và
xử lý rác thải… đều do môi trường cung cấp. Thiếu hụt các yếu tố này sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến quá trình sản xuất, kìm hãm sự phát triển. Chẳng hạn nói về nước, nếu
thiếu nước sạch thì đời sống người lao động sẽ mất ổn định gây ảnh hưởng lớn đến
quá trình sản xuất xã hội, thiếu nước cho các hồ thủy điện sẽ dẫn tới tình trạng cắt điện
thường xuyên gây nhiều thiệt hại cho hoạt động kinh doanh, sản xuất
- Môi trường cung cấp các địa điểm du lịch, khu vui chơi, giải trí tự nhiên, đem lại về
nguồn lợi không nhỏ cho nền kinh tế.
- Thời tiết khí hậu ổn định là tiền đề quan trọng cho quá trình sản xuất.
Nhận thức rõ vai trò của bảo vệ môi trường sinh thái với sự phát triển của xã
hội, Đảng và nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo vệ và khai
thác tài nguyên một cách hợp lí. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng
sản Việt Nam đã khẳng định: “ Phát triển nhanh, bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi
với tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “ Phát triển kinh tế - Xã hội
gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giưa môi trường tự
nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. Chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của
thiên tai, của sự biến đổi khí hậu bất lợi và tiếp tục giải quyết hậu quả chiến tranh còn
25