Tải bản đầy đủ (.doc) (57 trang)

luận văn tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính tại công ty Cổ Phần Thủ Đô Vàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (318.88 KB, 57 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
MỤC LỤC
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
BẢNG
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức của công ty Error: Reference source not
found
Sơ đồ 2: Phòng kế toán – tài chính Error: Reference source not found
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Phân tích tài chính là một bộ phận quan trọng của doanh nghiệp. Tất cả các
hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp,
ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm
quá trình kinh doanh. Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh
doanh có hiệu quả các nhà quản trị cần phải thường xuyên tổ chức phân tích tình
hình tài chính cho tương lai. Bởi vì thông qua việc tính toán, phân tích tài chính
cho ta biết những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp cũng nh những tiềm năng cần phát huy và những nhược điểm cần khắc
phục. Qua đó các nhà quản lý tài chính có thể xác định được nguyên nhân gây ra
và đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt
động kinh doanh của đơn vị mình trong thời gian tới.
Xuất phát từ đó, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ Phần Thủ Đô
Vàng, em đã cố gắng tìm hiểu thực tiễn hoạt động kinh doanh của Công ty


thông qua phân tích tình hình tài chính Công ty trong vài năm gần đây nhằm
mục đích tự nâng cao hiểu biết của mình về vấn đề tài chính doanh nghiệp nói
chung, phân tích tài chính nói riêng. Vì vậy, em chọn đề tài “Phân tích tài
chính tại công ty Cổ Phần Thủ Đô Vàng” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Vai trò và mục tiêu nghiên cứu: Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu
phân tích tình hình tài chính tại doanh nghiệp để thấy rõ xu hướng, tốc độ tăng
trưởng và thực trạng tài chính tại doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất những
giải pháp và kiến nghị giúp cải thiện tình hình tài chính cũng như giúp doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
Chuyên đề của em được chia làm 3 chương:
Chương 1: Lý thuyết chung về phân tích tài chính
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần thủ đô vàng
Chương 3: Một số kiến nghị và định hướng phát triển
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
1.1. Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp
chủ yếu bao gồm:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: Đây là quan hệ phát sinh
khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, khi nhà nước góp
vốn vào doanh nghiệp.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị truờng tài chính: quan hệ này được
biểu hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm các nguồn tài trợ. Trên thị trường

tài chính doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn,
có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược
lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài
trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán
bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: trong nền kinh tế,
doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp khác trên thị trường hàng
hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là những thị trường mà tại đó doanh
nghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động…
Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được
nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp
hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãn nhu
cầu thị trường.
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận
sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ,
giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể
hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức
( phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
2
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
v.v…
1.1.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp
- Huy động vốn, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiêp thường nảy sinh các nhu
cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như
cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp
trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt

động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, và tiếp đó, lựa chọn các phương
pháp và hình thức thích hợp để huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài,
đáp ứn kịp thời các nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Ngày nay, cùng với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các
doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài. Tài chính doanh nghiệp phải chủ
động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho
doanh nghiệp hoạt động thuận lợi với chi phí huy động vốn ở mức thấp.
- Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc tổ
chức sử dụng vốn. Vai trò của tài chính doanh nghiệp là định giá và lựa chọn
dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án.
Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp chớp được các cơ hội kinh doanh. Mặt khác, việc huy động
tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh có thể tránh
được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt nhu cầu vay
vốn, từ đó giảm được khoản tiền lãi vay. Việc hình thành và sử dụng tốt các
quỹ của doanh nghiệp, việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất một
cách hợp lý góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ nhân viên gắn bó với doanh
nghiệp, nâng cao năng suất lao động, cải tiến sản xuất kinh doanh, qua đó,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Là công cụ quan trọng để kiểm soát, chỉ đạo hoạt động kinh
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
3
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
doanh của doanh nghiệp

Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và các chỉ
tiêu tài chính, nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá và kiểm soát được các

mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại, vướng mắc
trong kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định thích hợp.
1.2. Phân tích tài chính
1.2.1. Mục tiêu và chức năng của phân tích tài chính
1.2.1.1. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh
giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được
quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp
những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của
doanh nghiệp; qua đó cú quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ. Có rất
nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh
nghiệp. Mỗi đối tượng lại quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau.
Do nhu cầu về thông tin tài chính doanh nghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích
tài chính phải được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau để từ đó đáp
ứng được nhu cầu của các đối tượng quan tâm. Chính điều đó tạo điều kiện
thuận lợi cho phân tích tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện và phát triển,
đồng thời cũng tạo ra sự phức tạp của phân tích tài chính.
Các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể
tập hợp thành các đối tượng chính sau đây:
- Các nhà quản lý
- Các cổ đông hiện tại và người đang muốn trở thành cổ đông của doanh
nghiệp; CBVC của doanh nghiệp
- Những người tham gia vào “đời sống” của doanh nghiệp
- Những người cho doanh nghiệp vay tiền như: ngân hang, các tổ chức tài
chính, người mua trái phiếu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp khác…
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
4
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân

- Nhà nước
- Nhà phân tích tài chính
- V.v…
Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết
định
với mục đích khác nhau.
Vì vậy, đối với mỗi đối tượng khác nhau phân tích tài chính sẽ đáp ứng
các vấn đề chuyên môn khác nhau:
- Phân tích tài chính đối với nhà quản lý:
+ Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn
đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp…
+ Hướng các quyết định của ban giám đốc theo chiều hướng phù hợp với tình
hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi
nhuận…
+ Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính.
+ Phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt
động quản lý trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp làm nổi bật điều quan trọng của dự
đoán tài chính, mà dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ
không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung trong
doanh nghiệp.
- Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư: Để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán
giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu báo biểu tài chính, khả năng sinh lời,
phân
tích rủi ro trong kinh doanh…
- Phân tích đối với người cho vay: Là xác định khả năng hoàn trả nợ của
khách hang. Tuy nhiên, phân tích với những khoản cho vay dài hạn và những
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41

GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
5
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau.
+ Đối với những khoản cho vay ngắn hạn: người cho vay đặc biệt quan
tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp. Nói khác đi là khả năng
ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn trả.
+ Đối với các khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả
năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và
lãi lại tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
+ Phân tích tài chính đối với những người hưởng lương trong doanh
nghiệp: giúp họ định hướng việc làm ổn định của mình, trên cơ sở đó yên tâm
dốc sức vào hoạt động sản xuất kin doanh của doanh nghiệp tuỳ theo công việc
được phân công đảm nhiệm.
Từ những vấn đề đã nêu ở trên, cho thấy: Phân tích tài chính doanh
nghiệp là công cụ hữu ích được dung để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá
các mặt mạnh, các mặt yếu của một doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách
quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những
quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
1.2.1.2. Chức năng của phân tích tài chính
1.2.1.2.1. Chức năng đánh giá
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, các luồn
vận động của những nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử
dụng các quỹ tiền tệ hoặc vốn hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục
tiêu kinh tế trong khuân khổ của pháp luật. Các luồng chuyển dịch giá trị, sự vận
động của các nguồn tài chính nảy sinh và diễn ra như thế nào, nó tác động ra sao
đến quá trình kinh doanh, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, có yếu tố
mang tính môi trường, có yếu tố bên trong, có yếu tố bên ngoài nhưng cụ thể là
những yếu tố nào, tác động đến sự vận động và chuyển dịch ra sao, gần với mục
tiêu hay ngày càng xa rời mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, có phù hợp với

cơ chế chính sách và pháp luật hay không là những vấn đề mà Phân tích tài chính
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
6
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
doanh nghiệp phải đưa ra câu trả lời. Quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn
hoạt dộng và các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp diễn ra như thế nào, tác động ra sao
đến kết quả hoạt động… là những vấn đề Phân tích tài chính doanh nghiệp phải
làm rõ. Thực hiện trả lời và làm rõ những vấn đề nêu trên là thực hiện chức năng
đánh giá tài chính doanh nghiệp.
1.2.1.2.2. Chức năng dự đoán
Mọi quyết định của con người đều hướng vào thực hiện những mục tiêu
nhất định. Mục tiêu là đích hướng tới bằng những hành động cụ thể trong
tương lai. Những mục tiêu này có thể là ngắn hạn có thể là mục tiêu dài hạn.
Nhưng nếu liên quan đến đời sống kinh tế của doanh nghiệp thì cần nhận thấy
tiềm lực tài chính, diễn biến luồng chuyển dịch giá trị, sự vận động của vốn
hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp. Những quyết định và hành động
trong tương lai phụ thuộc vào diễn biến kinh tế xã hội và hoạt động của doanh
nghiệp sẽ diễn ra trong tương lai. Bản thân doanh nghiệp cho dù đang ở giai
đoạn nào trong chu kỳ phát triển thì các hoạt động cũng đều hướng tới những
mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này được hình thành từ nhận thức về điều
kiện, năng lực của bản thân cũng như diễn biến của tình hình kinh tế quốc tế,
trong nước, ngành nghề và các doanh nghiệp khác cùng loại, sự tác động của
các yếu tố kinh tế xã hội trong tương lai. Vì vậy, để có những quyết định phù
hợp và tổ chức thực hiện hợp lý, đáp ứng được mục tiêu mong muốn của các
đối tượng quan tâm cần thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương
lai. Đó chính là chức năng dự đoán tài chính doanh nghiệp.
1.2.1.2.3. Chức năng điều chỉnh
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế tài chính dưới

hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động. Hệ thống các
quan hệ đó bao gồm nhiều loại khác nhau, rất đa dạng, phong phú và phức tạp,
chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân và nhân tố cả bên trong lẫn bên ngoài
doanh nghiệp. Hệ thống các quan hệ kinh tế tài chính đó sẽ là bình thường nếu
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
7
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
tất cả các mắt xích trong hệ thống đều diễn ra bình thường và đó là sự kết hợp
hài hồ các mối quan hệ. Tuy nhiên, những mối quan hệ kinh tế ngoại sinh, bản
thân doanh nghiệp cũng như các đối tượng quan tâm không thể kiểm soát và
chi phối toàn bộ. Vì thế, để kết hợp hài hồ các mối quan hệ, doanh nghiệp, các
đối tượng có liên quan phải điều chỉnh các mối quan hệ và nghiệp vụ kinh tế
nội sinh. Muốn vậy, cần nhận thức rõ nội dung, tính chất, hình thức và xu
hướng phát triển của các quan hệ kinh tế tài chính có liên quan. Phân tích tài
chính giúp doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm nhận thức được điều này.
Đó là chức năng điều chỉnh của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.2. Đối tượng nghiên cứu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế, sự phong phú đa dạng của
các doanh nghiệp trong nền kinh tế, phân tích tài chính doanh nghiệp đã phát
triển và trở thành một khoa học kinh tế độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng.
Nói chung lĩnh vực phân tích tài chính doanh nghiệp nghiên cứu không ngoài
các hiện tượng và sự kiện kinh tế tài chính trong doanh nghiệp. Song, để phân
chia tổng hợp, đánh giá và dự đoán đúng đắn tài chính doanh nghiệp cần xác
định rõ đối tượng nghiên cứu cụ thể của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị
gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá
trình kinh doanh. Về hình thức, tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động
và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập

và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Quá trình vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong tiến
trình phân phối để tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính
của doanh nghiệp diễn ra như thế nào, kết quả kinh tế tài chính của sự vận
động và chuyển hoá ra sao, có phù hợp với mục tiêu mong muốn của các đối
tượng quan tâm đến tài chính doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu cụ thể của
phân tích tài chính doanh nghiệp.
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
8
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Kết quả kinh tế tài chính thuộc đối tượng nghiên cứu của phân tích tài
chính doanh nghiệp có thể là kết quả của từng khâu, từng bộ phận, từng quan hệ
kinh tế, từng quyết định kinh tế như mua vào, bán ra, bộ phận A, B, quan hệ kinh
tế nội sinh, ngoại sinh, quyết định sử dụng vốn chủ, vốn vay… cũng có thể là kết
quả tổng hợp của cả quá trình vận động và chuyển hoá các nguồn lực tài chính
của doanh nghiệp.
Thông thường mọi hoạt động kinh tế của mọi đối tượng đều có mục
tiêu, kế hoạch cụ thể. Vì vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp hướng vào việc
kết quả thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đặt ra hoặc là kết quả đã đạt được ở
các thời kỳ trước đồng thời xác định kết quả có thể đạt được trong tương lai.
Quá trình vận động và chuyển hoá các nguồn lực tài chính trong tiến
trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp luôn
chịu sự tác
động của các nguyên nhân và nhân tố kinh tế xã hội. Phân tích tài chính doanh
nghiệp cần nghiên cứu mối quan hệ biện chứng, khách quan giữa các hiện
tượng và sự kiện kinh tế để quá trình tổ chức thực hiện các quyết định đặt ra
không xa với mục tiêu đã định hướng.
Quá trình và kết quả tổ chức vận động và chuyển hoá các nguồn lực tài

chính của doanh nghiệp có thê được biểu hiện bằng những chỉ tiêu kinh tế cụ
thể nhưng cũng có thể được thể hiện thông qua miêu tả cuộc sống kinh tế tài
chính đang và sẽ diễn ra. Sự miêu tả cùng với nghiên cứu xem xét các chỉ tiêu
kinh tế cụ thể, những nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến các quan hệ phân
phối dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh chính là đối tượng nghiên cứu
của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.3. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1. Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
9
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
chính là phương pháp tỷ số. Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các
tỷ số được sử dụng để phân tích. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với
các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện bởi lẽ:
Thứ nhất: Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được
cung cấp đầy đủ hơn đó là cơ sở hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho
việc đánh giá một tỷ số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
Thứ hai: Việc áp dụng công nghệ thông tin cho phép tích lũy dữ liệu và
thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
Thứ ba: Giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả các số liệu và phân
tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc
theo từng giai đoạn.
1.2.3.2. Phương Pháp so sánh
Là phương pháp luôn được sử dụng kết hợp với các phương pháp phân
tích tài chính khác. Khi phân tích nhà phân tích thường so sánh theo thời gian
(so sánh kỳ này với kỳ trước) để nhận biết xu hướng thay đổi tình hình tài

chính của doanh nghiệp.
1.2.3.3. Phương pháp phân tích tài chính DUPONT
Phương pháp này các nhà phân tích sẽ nhận biết được nguyên nhân dẫn
đến các hiện tượng tụt xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của
phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lời của doanh
nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu
(ROE) thành tích số các chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau,
điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với tỷ số tổng hợp.
1.2.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính
Trong phân tích tài chính để đánh giá khái quát tình hình tài chính của
doanh nghiệp, cần sử dụng các chỉ tiêu cơ bản sau:
Tỷ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
10
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn
Trong đó: Tài sản lưu động bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn và dễ
chuyển nhượng (tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ ( tồn kho),
còn nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và
các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả
phải nộp khác…vv…
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động – Dữ trữ/ Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với
nợ ngắn hạn, tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng
chuyển đổi thành tiền bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải
thu. Tài sản dự trữ ( tồn kho) là các tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong

tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu không bán được. Do vậy tỷ số thanh
toán nhanh cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không phụ
thuộc vào việc bán tài sản dự trữ
Tỷ số về khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn: Nhóm chỉ tiêu này
phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng
vốn vay của doanh nghiệp.
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (hệ số nợ) được sử dụng để xác định nghĩa vụ
của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn
Khả năng thanh toán lãi vay hoặc số lần có thể trả lãi, thể hiện tỷ số
giữa lợi nhuận trước thuế và lãi trên lãi vay. Nó cho biết mức độ lợi nhuận đảm
bảo khả năng trả lãi hàng năm như thế nào, việc không trả được các khoản nợ
này thể hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản
Tỷ số về khả năng hoạt động: Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh việc sử
dụng tài nguyên, nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
Vòng quay tiền được xác định bằng cách chia doanh thu trong năm cho
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
11
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
tổng số tiền và các loại tài sản tương đương tiền bình quân
Vòng quay dự trữ (Tồn kho) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vòng quay dự trữ được xác định
bằng tỷ số giữa doanh thu trong năm và giá trị dự trữ ( nguyên vật liệu, vật liệu
phụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm) bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu *360/ Doanh thu
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Hiệu suất này cho biết một đồng tài sản cố
định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm.
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu/ Tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn bộ

tài sản, nó được đo bằng tỷ số giữa doanh thu và tổng tài sản, cho biết một
đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu/ Tài sản
Tỷ số về khả năng sinh lãi: Phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh tổng hợp nhất của một doanh nghiệp
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Thu nhập sau thuế/ Doanh thu
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế ( lợi nhuận
sau thuế) cho doanh thu. Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong một trăm đồng
doanh thu.
Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ROE
ROE = Thu nhập sau thuế/ Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu được xác định bằng cách chia thu nhập sau
thuế cho vốn chủ sở hữu, nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và
được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào
doanh nghiệp
Doanh lợi tài sản: ROA
ROA = Thu nhập sau thuế/ Tài sản
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dựng để đánh giá khả năng sinh lời của một
đồng vốn đầu tư.
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
12
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Tùy theo mục tiêu phân tích tài chính mà nhà phân tích tài chính chú
trọng nhiều hơn tới nhóm tỷ số này hay tỷ số khác. Chẳng hạn, các chủ nợ
ngắn hạn đặc biệt quan tâm tới tình hình thanh toán của người vay. Trong khi
đó các nhà đầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơn tới kha năng hoạt động và hiệu
quả sản xuất – kinh doanh. Họ cũng cần nghiên cứu ình hình về khả năng
thanh toán để đnh giá khả năng của doanh n giệp đáp ứng nhu cầu thanh ton

hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự ính khả năng trả nợ cuối cng của doanha
nghiệp. Bên cạnh đó họ cũng chú trọng tới tỷ số về cơ cấu vốn vì sự thay đổi tỷ
số này sẽ làm ảnh hưởng đág kể tới lợi ích của họ. Tuy nhiên việc phân tích tài
chíh sẽ có ý nghĩa hơn nếu sử dụng số liệu trong các báo cáo tài chín để minh
họa bản chất, cách tính oan và ý nghĩa của các tỷ số.
Bảng
ân đối kế toán: Là báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là báo cáo có ý nghĩa rất
quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan
hệ quản lý với doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng
cân đối số dư các tài khoản kế toán. Một bên phản ánh về tài sản, một bên phản
ánh về nguồn vốn. Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo
khả năng chuyển hóa thành tiền giảm dần từ trên xuống.
B
tài sản bao gồm: Tài sản lưu động (tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán, các
khoản phải thu, dự trữ), tài sản tài chính, tài sản cố định, hữu hình và vô hình.
B
nguồn vốn: Nợ ngắn hạn (nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải
nộp, phải trả, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác), nợ dài hạn (n vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu) , ốn chủ sở hữu (bao gồm vốn góp
ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới)
B
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
13
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
cáo kết quả kinh doanh: Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch
chuyển của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho

phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai, ngoài ra
cũng úp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán
hàng hóa dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ để
vận hành doanh nghiệp. Như vậy báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản
ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về
tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình
độ quả lý sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp .
1
.4 .2 Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản và nguồn vốn
1
.4 .21. Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản
P
n tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra
và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của
từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản. Tỷ trọng của từng bộ phận tài
sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau:
V
Tỷ trọng của từng bộ phận tài
sản chiếm trong tổng số tài sản
= Giá trị của từng bộ phận tài sản
Tổng số tài sản
c xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản
chiếm trong tổng số tài sản giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dầu cho phép
các nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn
nhưng lại không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu tài sản
của doanh nghiệp. Vì vậy, để biết được chính xác tình hình sử dụng vốn, nắm
được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến
động về cơ cấu tài sản, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang,
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –

K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
14
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và
số tương đối) trên tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản.
1
.4 .22. Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn
T
trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được
xác định như sau:
V
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn
vốn chiếm trong tổng số nguồn
vốn
=
Giá trị của từng bộ phận nguồn
vốn
x 100
Tổng số nguồn vốn
c xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn
chiếm trong tổng số nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dầu cho
phép các nhà quản lý đánh giá được cơ cấu vốn huy động nhưng lại không cho
biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp
huy động. Vì vậy, để biết được chính xác tình hình huy động vốn, nắm được
các nhân tố ảnh
h
ng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu nguồn
vốn, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự
biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và số tương đối)

trên tổng số nguồn vốn cũng như theo từng loại nguồn vốn.
B
ncạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số nguồn vốn cũng như từng
loại nguồn vốn (vốn chủ sở hữu, nợ phải trả) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các
nhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số
và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý và
an ninh tài chính của doanh nghiệp trong việc huy động vốn. Chỉ tiêu được dựng
để phân tích là “chi phí sử dụng vốn bình quân”. Chỉ tiêu này được xác định bằng
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
15
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
công thức:
= =
Trong đó: nvi: Mức huy động của nguồn vốn i
NV: Tổng nhu cầu tài trợ (Tổng số vốn dự kiến huy động)
Cfi: Chi phí sử dụng nguồn vốn i
Tti: Tỷ trọng nguồn vốn i
1.2.4.2.3. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích
thường tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:
- Hệ số nợ trên tài sản:
Hệ số nợ trên tài sản = Nợ phải trả
Tài sản
Hệ số nợ trên tài sản còn có thể được biến đổi bằng cách thay tử số (nợ phải
trả = Nguồn vốn - Vốn chủ sở hữu = Tài sản - Vốn chủ sở hữu) vào công thức như
sau:
Hệ số nợ
trên tài sản

= Tài sản - Vốn chủ sở hữu = 1 - Vốn chủ sở hữu
Tài sản Nguồn vốn
= 1 - Hệ số tài trợ
Cách tính này cho thấy, để giảm “Hệ số nợ trên tài sản”, doanh nghiệp
phải tìm mọi biện pháp để tăng “Hệ số tài trợ”.
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
- Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hệ số tài sản trên
vốn chủ sở hữu
= Tài sản
Vốn chủ sở hữu
Có thể viết lại chỉ tiêu này theo cách khác như sau:
Hệ số tài sản trên
vốn chủ sở hữu
= Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả = 1 + Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
16
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Như vậy, để giảm “Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu”, các nhà quản lý
phải tìm mọi biện pháp để giảm tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu. Có như
vậy mới tăng cường được tính tự chủ về tài chính.
1.2.4.3. Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh.
Để đảm bảo đủ tài sản cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
cần phải sử dụng các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động, hình
thành vốn. Nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành trước hết từ nguồn
vốn của bản thân chủ sở hữu ( vốn góp ban đầu được bổ sung trong quá trình

kinh doanh, các quỹ doanh nghiệp có nguồn gốc từ lợi nhuận, lợi nhuận chưa
phân phối, các nguồn kinh phí, nguồn vốn xây dựng cơ bản ) Sau nữa được
hình thành từ nguồn vốn vay và nợ hợp pháp ( vay ngắn hạn, dài hạn ở ngân
hàng và vay các đối tượng khác; nợ người cung cấp, nợ công nhân viên chức,
nợ ngân sách nhà nước ) Cuối cùng, nguồn vốn được hình thành từ nguồn
khác như: nợ quá hạn, chiếm dụng bất hợp pháp của người mua, người bán,
của công nhân viên chức
Tất cả các nguồn hình thành đó được phân bổ vào hai nhóm là nguồn tài
trợ thường xuyên và nguồn tài trợ tạm thời. Có thể khái quát nguồn tài trợ của
doanh nghiệp qua sơ đồ sau:
Bảng 1: Các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn
Tài
Sản
Tài sản
dài hạn
- Tài sản cố định
Vốn chủ sở hữu
Thường
xuyên
Nguồn
Tài
Trợ
- Vay và nợ dài hạn
- Phải trả dài hạn
người bán
-
Tài sản
ngắn
hạn
- Tiền và các khoản tương

đương tiền
- Các khoản phải thu ngắn hạn
- Các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn
- Vay và nợ ngắn
hạn
- Phải trả người
bán
-
Tạm thời
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
17
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
- Hàng tồn kho
-
- Nguồn tài trợ thường xuyên:
Nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử
dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Thuộc nguồn vốn tài
trợ thường xuyên trong doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay –
nợ dài hạn (trừ vay - nợ quá hạn)
Nguồn vốn tài trợ thường xuyên trước hết được dùng cho đầu tư tài sản
dài hạn, phần dư được đầu tư hình thành tài sản ngắn hạn. Chênh lệch giữa
nguồn tài trợ thường xuyên với tài sản dài hạn hay giữa tài sản ngắn hạn với
nguồn tài trợ tạm thời được gọi là vốn lưu động thường xuyên.
- Nguồn vốn tài trợ tạm thời:
Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng vào hoạt
động kinh doanh trong một thời gian ngắn. Thuộc nhóm này bao gồm các
khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn; các khoản vay nợ quá hạn( kể cả vay – nợ

dài hạn quá hạn); các khoản chiếm dụng của người bán, người mua, công nhân
viên chức
Nội dung phân tích tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh tập
trung vào phân tích cân bằng tài chính, đó là sự cân bằng giữa tài sản và nguồn
tài trợ tương ứng của nó. Mối quan hệ trong trường hợp này thể hiện qua các
phương thức, chính sách tài trợ tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn. Chỉ tiêu
phân tích gồm:
Vốn lưu động
ròng
=
Tài sản ngắn
hạn
- Nợ ngắn hạn
=
Nguồn vốn
thường xuyên
-
Tài sản dài
hạn
Nhu cầu vốn
lưu động
ròng
=
Hàng tồn
kho
+
Nợ phải thu
khách hàng
+
Nợ ngắn

hạn( không kể vay
ngắn hạn
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
18
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Ngân quỹ
ròng
= Vốn lưu động ròng -
Nhu cầu vốn lưu động
ròng
Nếu vốn lưu động ròng âm liên tục qua các năm thì doanh nghiệp sẽ
mất cân bằng tài chính, tình hình và khả năng thanh toán sẽ gặp khó khăn. Sở
dĩ như vậy vì doanh nghiệp sử dụng một phần nợ ngắn hạn để trang trải tài sản
dài hạn, gây ra áp lực thanh toán lớn. Tuy nhiên, để có thể đánh giá đầy đủ hơn
cần thông qua các chỉ tiêu ngân quỹ ròng. Nếu ngân quỹ ròng âm, có nghĩa là
doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt về
nhu cầu vốn lưu động ròng và tài trợ cho tài sản dài hạn, cân bằng tài chính
kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp Nếu ngân quỹ ròng dương thể hiện
một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh nghiệp không vay để bù đắp cho
nhu cầu vốn lưu động ròng.
1.2.4.4. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán.
1.2.4.4.1. Phân tích tình hình thanh toán
- Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả (%): được
tính theo công thức sau:
Tỉ lệ các khoản nợ phải thu
so với các khoản nợ phải trả
= Nợ phải thu
Nợ phải trả

Nếu tỷ lệ này trả lớn hơn 100%, chứng tỏ số vốn của doanh nghiệp bị
chiếm dụng lớn hơn số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng. Ngược lại, nếu chỉ
tiêu này nhỏ hơn 100%, chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhỏ hơn số
vốn đi chiếm dụng. Thực tế cho thấy, số vốn đi chiếm dụng lớn hơn hay nhỏ hơn
số vốn bị chiếm dụng đều phản ánh tình hình tài chính không lành mạnh.
- Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn (vòng), được tính theo công
thức:
Số vòng quay các
khoản phải thu ngắn
hạn
=
Tổng số tiền hàng bán chịu (hoặc doanh thu
thuần)
Số dư bình quân các khoản phải thu ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu ngắn
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
19
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
hạn và hiệu quả của việc thu hồi nợ ngắn hạn
Trong công thức trên, số dư bình quân các khoản phải thu được tính như
sau:
Số dư bình quân các
khoản phải thu ngắn
hạn
=
Tổng số nợ phải thu ngắn hạn đầu năm và cuối
năm
2

- Thời gian thu tiền bình quân:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Thời gian thu
tiền bình quân
= Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn
Thời gian thu tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng
nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngược lại, thời gian thu tiền càng
dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị
chiếm dụng nhiều.
Đối với các doanh nghiệp mà nhịp điệu kinh doanh ổn định, ít bị ảnh
hưởng của tính thời vụ và chu kỳ kinh doanh, chỉ tiêu "Thời gian thu tiền" còn
có thể tính theo công thức sau:
Thời gian thu
tiền bình quân
= Số dư các khoản phải thu cuối năm
Mức tiền hàng bán chịu bình quân 1 ngày
Với cách tính này (tử số phản ánh số nợ phải thu tại thời điểm phân
tích), các nhà quản lý biết được khoảng thời gian cần thiết để doanh nghiệp có
thể thu hồi hết các khoản nợ hiện tại.
- Số vòng quay các khoản phải trả ngắn hạn (vòng):
Số vòng quay các
khoản phải trả ngắn hạn
= Tổng số tiền chậm trả
Số dư bình quân các khoản phải trả ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải trả người
bán và hiệu quả của việc thanh toán nợ. Nếu số vòng quay của các khoản phải
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng

20
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
trả lớn, chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng
vốn. Tuy nhiên, số vòng quay các khoản phải trả nếu quá cao có thể ảnh hưởng
đến kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, do doanh nghiệp phải huy
động mọi nguồn vốn để trả nợ (kể cả vay, bán rẻ hàng hoá, dịch vụ ).
Trong công thức trên, số dư bình quân các khoản phải trả được tính như
sau:
Số dư bình quân các
khoản phải trả ngắn
hạn
=
Tổng số nợ phải trả ngắn hạn đầu năm và cuối
năm
2
Ngoài cách tính trên, chỉ tiêu "Số vòng quay các khoản phải trả ngắn
hạn” có thể tính cho toàn bộ các khoản phải trả ngắn hạn hay từng khoản phải
trả cụ thể (phải trả người bán, phải trả khách hàng, phải trả nội bộ, phải nộp
Ngân sách ). Mỗi một cách tính sẽ cho phép các nhà quản lý đánh giá được
tình hình thanh toán theo từng đối tượng.
- Thời gian thanh toán: Thời gian thanh toán hay thời gian quay vòng
các khoản phải trả ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh thời gian bình quân mà doanh
nghiệp thanh toán tiền cho chủ nợ trong kỳ. Chỉ tiêu này được tính như sau:
Thời gian thanh
toán bình quân
= Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay các khoản phải trả ngắn hạn
Hay:
Thời gian thanh
toán bình quân

= Số dư bình quân các khoản phải trả ngắn
Mức tiền chậm trả bình quân 1 ngày
Thời gian thanh toán tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền
càng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn. Ngược lại, thời gian thanh
toán tiền càng dài, tốc độ thanh toán tiền càng chậm, số vốn doanh nghiệp đi
chiếm dụng nhiều.
Cũng như chỉ tiêu "Thời gian thu tiền”, trong các doanh nghiệp mà nhịp
điệu kinh doanh ổn định, ít bị ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ kinh
doanh, chỉ tiêu "Thời gian thanh toán” còn có thể tính theo công thức sau:
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
21
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Thời gian thanh
toán bình quân
=
Số tiền hàng còn phải trả cuối năm
Mức tiền chậm trả bình quân 1 ngày
Với cách tính này (tử số phản ánh số nợ phải trả tại thời điểm phân
tích), các nhà quản lý biết được khoảng thời gian cần thiết để doanh nghiệp có
thể trả hết các khoản nợ hiện tại.
1.2.4.4.2. Phân tích khả năng thanh toán
Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ngoài việc tính
toán và so sánh một số chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán đã được đề cập ở
các nội dung trước (Hệ số thanh toán tổng quát, Hệ số thanh toán hiện hành,
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, Hệ số thanh toán nhanh ), các nhà phân tích
còn sử dụng chỉ tiêu "Hệ số khả năng thanh toán" sau đây:
Hệ số khả năng
thanh toán

= Khả năng thanh toán
Nhu cầu thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán được tính cho cả thời kỳ hoặc cho từng giai
đoạn (khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán dài hạn, khả năng
thanh toán tháng tới, khả năng thanh toán quớ tới ). Nếu trị số của chỉ tiêu >
1, chứng tỏ doanh nghiệp bảo đảm khả năng thanh toán và tình hình tài chính
là bình thường hoặc khả quan. Trị số của chỉ tiêu "Hệ số khả năng thanh toán"
càng lớn hơn 1 thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng dồi dào và an
ninh tài chính càng vững chắc. Ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này < 1, doanh
nghiệp sẽ không bảo đảm khả năng thanh toán. Trị số của chỉ tiêu càng nhỏ
hơn 1, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán. Khi "Hệ số khả năng
thanh toán" ≈ 0 thì doanh nghiệp bị phá sản không còn khả năng thanh toán.
1.2.4.5. Phân tích năng lực hoạt động.
Phân tích năng lực hoạt động thông qua các chỉ tiêu:
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
22
Chuyên đề tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân
(1) Số vòng quay hàng tồn kho.
Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp sử
dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào
Số vòng hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá bình quân luân chuyển trong kỳ.
Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh
nghiệp. Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh
giá càng tốt.
Công thức:
Số vòng quay hàng
tồn kho

= Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Hàng hoá tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,
thành phẩm, hàng hoá…
- Trong trưòng hợp không có thông tin về giá vốn hàng bán thì có thể
thay thế bằng doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó thông
tin về vòng quay hàng tồn kho sẽ kém chất lượng hơn
- Nếu số vòng quay dự trữ năm nay thấp hơn năm trước và thấp hơn
trung bình ngành. Điều này chứng tỏ sự bất hợp lý và kém hiệu quả trong hoạt
động quản lý dự trữ của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, khâu sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm cũng cần được xem xét nhằm đưa ra giải pháp xử lý đúng đắn và kịp
thời.
(2) Số ngày một vòng quay hàng tồn kho. Phản ánh số ngày trung bình một
vòng quay hàng tồn kho.
Số ngày một vòng quay
Hàng tồn kho
= Số ngày trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho
trong kỳ
Số ngày trong một năm thường là 360 ngày.
(3) Kỳ thu tiền bình quân.
SV: Lê Thị Mỹ Linh Lớp: Tài chính –
K41
GVHD: Th.S. Trần Đức Thắng
23

×