CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
2
LỜI NÓI ĐẦU
Luật Phá sản được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ tư thông qua ngày 15-6-
2004 và có hiệu lực từ ngày 15-10-2004. Luật Phá sản năm 2004 quy định điều kiện
và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện
pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách
nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, của doanh nghiệp, hợp tác xã
bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản.
Qua năm năm thi hành Luật Phá sản năm 2004 cho thấy tình hình thụ lý và
giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Toà án nhân dân đã được cải thiện nhưng
vẫn còn gặp nhiều khó khăn; hiệu quả giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản ở các
cấp Toà án vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Thực hiện yêu cầu tại Thông
báo số 1977/VPCP-XDPL ngày 27-3-2008 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp
phối hợp với Toà án nhân dân tối cao thực hiện việc đánh giá thực tiễn thi hành Luật
Phá sản năm 2004 với mục đích nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành
Luật Phá sản năm 2004 để làm rõ thực trạng giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản
trong thời gian qua, phát hiện những tồn tại, hạn chế của Luật Phá sản năm 2004 và
các văn bản có liên quan cũng như các yếu tố khác làm ảnh hưởng đến việc giải
quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; đưa ra những kiến nghị
nhằm tháo gỡ, nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản…
Với các lý do trên, Viện khoa học xét xử đã nghiên cứu chuyên đề tìm hiểu
pháp luật phá sản và xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc!
Rất mong nhận được ý kiến góp ý, trao đổi của bạn đọc.
Hà Nội, tháng 4/2010
VIỆN KHOA HỌC XÉT XỬ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
CHUYấN KHOA HC XẫT X
3
PH SN V PHP LUT PH SN VIT NAM
Khut Th Thu Hin
Hin tng phỏ sn hay v n
ó cú t lõu, nhng vi t cỏch l mt
hin tng ph bin thỡ nú ch xut hin
trong nn kinh t th trng. Do ú,
nhng nc cú nn kinh t th trng
phỏt trin, ch nh lut v n hay
phỏ sn luụn l mt b phn khụng
th thiu trong h thng phỏp lut v
kinh doanh.
Trong nn kinh t th trng, cựng
vi cỏc quyn c bn khỏc ca cụng
dõn, quyn t do kinh doanh c Nh
nc tụn trng, cao v bo v. Trong
nn kinh t ny, bờn cnh nhng doanh
nghip do kinh doanh cú hiu qu nờn
ó tn ti v phỏt trin thỡ cú mt b
phn khụng nh nhng doanh nghip
do lm n kộm hiu qu, khụng th
thanh toỏn c cỏc ngha v ti chớnh
n hn nờn buc phi chm dt s tn
ti ca mỡnh và rút khỏi thị tr-ờng.
Trong điều kiện nh- vậy, n nh xã
hi v li ích chính tr, Nhà n-ớc phải
quan tâm và tạo điều kiện để nhng
doanh nghiệp thua l, không có kh
nng phc hi này rút khỏi thơng trờng
một cách hp pháp và ít gây ra hậu quả
xấu cho các chủ thể có liên quan nói
riêng và cho xã hội nói chung.
Vic Tòa án tuyên bố phá sn mt
ch th không còn t cách kinh
doanh trong thng trng không ch
có ý ngha l bo v quyn li ca các
ch n v s an ton cho bn thân ngời
mắc n m còn góp phn bo m s
n nh ca xã hi v kích thích u t.
thc hin c cỏc mc tiờu ny,
Nh nc phi ban hnh phỏp lut
x lý cỏc vn liờn quan n doanh
nghip mc n, gii quyt mt cỏch
thu ỏo, hp tỡnh, hp lý. Tng hp
nhng vn bn phỏp lut ny to thnh
mt lnh vc phỏp lut c gi l phỏp
lut v phỏ sn m xng sng ca nú
l Lut Phỏ sn.
I. PH SN
1. Khỏi nim phỏ sn
chõu u, khi núi n phỏ sn
doanh nghip, ngi ta thng dựng t
"Bankrupcy" hoc "Banqueroute". Hai
danh t ny bt ngun t ch "Banca
Rotta" ca La Mó - cú ngha l "chic
gh b góy".
T thi La Mó c i, cỏc thng
gia ca mt thnh ph thng hp nhau
li gi l i hi thng gia v trong
quan h giao lu thng mi gia cỏc
thng gia vi nhau, ngi no khụng
tr c n thng b bt lm nụ l v
mt luụn quyn tham gia i hi
thng gia v ng thi chic gh ngi
ca ngi ú cng b em ra khi hi
trng, nhiu ngi mc n khụng tr
c n thỡ b trn, gõy mt n nh
trt t xó hi.
gii quyt tỡnh trng ny, Nh
nc La Mó phi ng ra cng ch ti
sn ca ngi mc n tr cho ch
n, song cỏch lm ny cng ch thớch
hp i vi trng hp ngi mc n
ch mc n mt ngi. Trong trng
hp cựng mt lỳc ngi mc n phi
tr cho nhiu ch n thỡ rt d xy ra
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
4
tranh chấp, nhất là khi người mắc nợ
không còn đủ tài sản để trả nợ, đối với
trường hợp này Toà án địa phương nơi
cư trú của người mắc nợ thường được
yêu cầu đứng ra quản lý số tài sản của
người mắc nợ, rồi phân chia tài sản này
cho các chủ nợ tuỳ theo vốn và lãi của
mỗi chủ nợ. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, chế định này được hoàn
chỉnh và đã được nâng lên thành Luật
Phá sản của Nhà nước La Mã cổ đại
1
. Ở
thời kỳ này, thuật ngữ phá sản đã được
hình thành, bắt nguồn từ chữ “ruin”
trong tiếng Latinh - có nghĩa là sự
khánh tận - tức là mất khả năng thanh
toán.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “phá sản”
được biết đến từ thời kỳ Pháp thuộc do
người Pháp mang sang Việt Nam cùng
với quá trình thực dân hóa. Theo cách
nói thông thường, phá sản là tình trạng
của một người bị vỡ nợ không còn bất
cứ tài sản nào để trả các khoản nợ đến
hạn. Theo Từ điển tiếng Việt, “phá
sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng
còn gì và thường là vỡ nợ, do kinh
doanh bị thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ” là
lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại
liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết
tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ
2
.
Dưới góc độ pháp lý, phá sản là hiện
tượng người mắc nợ lâm vào tình trạng
mất khả năng thanh toán các khoản nợ
đến hạn và bị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền (thường là Toà án) tuyên
bố phá sản và phân chia tài sản còn lại
của người mắc nợ cho các chủ nợ theo
thủ tục pháp luật quy định. Trong nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật
1
Ths Hồ Thúy Ngọc “Lịch sử Luật Phá sản”
- www.dddn.com.vn
2
Từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học
năm 2003, tr.762.
ngữ này dường như không được biết
đến. Pháp luật phá sản và thuật ngữ phá
sản chỉ thực sự được sử dụng trở lại kể
từ khi có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế
kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế
kinh tế thị trường. Theo đó, hiện tượng
phá sản dưới tác động của cạnh tranh
đã trở thành hiện tượng bình thường và
tất yếu.
Phá sản doanh nghiệp là tình trạng
một doanh nghiệp do làm ăn thua lỗ
dẫn đến việc hoàn toàn mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn và bị Toà án,
theo thủ tục luật định, ra quyết định bắt
buộc doanh nghiệp thanh lý tài sản để
trả nợ cho các chủ nợ. Trong pháp luật
của nhiều nước, thuật ngữ “phá sản”
được sử dụng với nghĩa hẹp để chỉ một
số trường hợp cụ thể, khi người mắc nợ
thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật
hình sự gây thiệt hại cho các chủ nợ.
Pháp luật của các nước này thường sử
dụng thuật ngữ “insolvency” (không có
khả năng trả nợ hay khánh tận) để thay
thế cho thuật ngữ “bankruptcy” (phá
sản). Ở những nước có nền kinh tế thị
trường phát triển, chế định “vỡ nợ” hay
“phá sản” luôn là một bộ phận không
thể thiếu trong hệ thống pháp luật về
kinh doanh.
Pháp luật của các nước quy định
về đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản
rất khác nhau. Ở một số nước thủ tục
tuyên bố phá sản có thể được áp dụng
đối với tất cả những người mắc nợ mà
không phân biệt cá nhân hay pháp nhân
và cũng không phân biệt thương nhân
hay không là thương nhân, không phân
biệt nợ dân sự hay là nợ thương mại
(chẳng hạn Hoa Kỳ, Nhật Bản…). Một
số nước lại chỉ xem thương nhân với
các khoản nợ thương mại mới là đối
tượng có thể bị tuyên bố phá sản (Ví dụ
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
5
như pháp luật của Liên bang Nga trước
khi ban hành Luật mất khả năng thanh
toán năm 2002)
3
.
Thuật ngữ “phá sản” tuy được sử
dụng rộng rãi trong ngôn ngữ hàng
ngày và trong khoa học pháp lý song
cho đến nay vẫn chưa được chính thức
giải thích trong các văn bản pháp luật
về phá sản ở nước ta. Thay vào đó,
thuật ngữ “tình trạng phá sản” được sử
dụng và giải thích. Theo quy định tại
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993
thì doanh nghiệp đang lâm vào “tình
trạng phá sản” là doanh nghiệp gặp
khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt
động kinh doanh sau khi đã áp dụng
các biện pháp tài chính cần thiết mà
vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng
thì khái niệm nêu trên chưa sát với bản
chất của hiện tượng phá sản. Cho đến
Luật Phá sản năm 2004, khái niệm phá
sản đã được sửa đổi. Theo đó, doanh
nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào
tình trạng phá sản khi không có khả
năng thanh toán được các khoản nợ đến
hạn khi chủ nợ có yêu cầu (Điều 3).
Theo hướng dẫn tại mục 2 Phần I Nghị
quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-
4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
một số quy định của Luật Phá sản, thì
doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm
vào tình trạng phá sản khi có đầy đủ
các điều kiện sau đây:
- Có các khoản nợ đến hạn: Các
khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ
không có bảo đảm hoặc có bảo đảm
một phần (chỉ tính phần không có bảo
3
Từ điển Luật học - Viện khoa học pháp lý,
Bộ Tư pháp - Nhà xuất bản Từ điển Bách
khoa và Nhà xuất bản Tư pháp năm 2006,
tr.597 - 598.
đảm); đã rõ ràng; được các bên xác
nhận, có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu để
chứng minh và không có tranh chấp;
- Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán
các khoản nợ đến hạn, nhưng doanh
nghiệp, hợp tác xã không có khả năng
thanh toán. Chủ nợ yêu cầu phải có căn
cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu,
nhưng không được doanh nghiệp, hợp
tác xã thanh toán (như văn bản đòi nợ
của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh
nghiệp, hợp tác xã…).
Do vậy, đối với chủ nợ, doanh
nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào
tình trạng phá sản khi:
+ Có khoản nợ đến hạn;
+ Chủ nợ đã yêu cầu;
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mắc
nợ không có khả năng thanh toán.
Như vậy, chủ nợ chỉ cần chứng
minh được là mình có khoản nợ đến
hạn, đã có yêu cầu thanh toán nhưng
doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả
năng thanh toán, doanh nghiệp đã khất
nợ nhiều lần nhưng vẫn không thanh
toán được. Chủ nợ không cần phải
chứng minh lý do doanh nghiệp, hợp
tác xã mắc nợ không thanh toán. Doanh
nghiệp, hợp tác xã mắc nợ là doanh
nghiệp có các khoản nợ đến hạn mà
không thanh toán được (hay nói cách
khác là mất khả năng thanh toán). Điều
đó có nghĩa là doanh nghiệp, hợp tác xã
phải tự chứng minh có hay không việc
lâm vào tình trạng phá sản.
Cũng xuất phát từ những dấu hiệu
xác định doanh nghiệp, hợp tác xã bị
lâm vào tình trạng phá sản, trong khoa
học pháp lý, trong luật pháp các nước
có đưa ra khái niệm mất khả năng
thanh toán tạm thời (hay còn gọi là mất
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
6
khả năng thanh toán tương đối) và mất
khả năng thanh toán vĩnh viễn (hay mất
khả năng thanh toán tuyệt đối).
Mất khả năng thanh toán nợ tạm
thời là tình trạng tổng toàn bộ tài sản có
của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ
lớn hơn tổng số nợ phải trả của doanh
nghiệp, hợp tác xã mắc nợ nhưng tại
một thời điểm xác định doanh nghiệp,
hợp tác xã mắc nợ không có ngay các
khoản tiền để trả cho các chủ nợ khi họ
yêu cầu.
Mất khả năng thanh toán vĩnh viễn
là tổng toàn bộ tài sản có của doanh
nghiệp, hợp tác xã mắc nợ không đủ để
thanh toán các khoản nợ của doanh
nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.
Tuy nhiên, dù có phân biệt như thế
nào đi chăng nữa thì tình trạng thực tế
của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ
trước khi mở thủ tục phá sản chỉ có
chính doanh nghiệp, hợp tác xã đó biết.
Do vậy, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản của chủ nợ phát sinh khi có
khoản nợ đến hạn đã yêu cầu nhưng
doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ không
thanh toán. Doanh nghiệp, hợp tác xã
mắc nợ có lâm vào tình trạng phá sản
hay không thì phải tự chứng minh.
Luật Phá sản năm 2004 tiếp tục
quy định đối tượng có thể bị tuyên bố
phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã được thành lập và
hoạt động theo quy định của pháp luật
khi lâm vào tình trạng phá sản. Riêng
đối với các doanh nghiệp đặc biệt trực
tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh,
doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động
trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm và trong các lĩnh vực khác thường
xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm,
dịch vụ công thiết yếu, việc áp dụng
Luật Phá sản sẽ do Chính phủ quy định
cụ thể. Quy định này hàm ý rằng do vai
trò và tầm quan trọng đặc biệt của các
doanh nghiệp này, việc áp dụng Luật
Phá sản cần được điều chỉnh bằng
những quy tắc có tính ngoại lệ, phù hợp
với đặc thù của các doanh nghiệp ấy
4
.
2. Vai trò của pháp luật phá sản
đối với nền kinh tế thị trƣờng
Pháp luật phá sản điều chỉnh việc
bên mắc nợ mất khả năng thanh toán tất
cả các nghĩa vụ, thông thường được
hiểu là số nợ lớn hơn giá trị tài sản. Ban
đầu, thủ tục phá sản chỉ giới hạn áp
dụng với đối tượng là các thương nhân.
Hiện nay, một số nước vẫn tiếp tục duy
trì giới hạn áp dụng này, song tại nhiều
nước khác pháp luật phá sản đã trở
thành một giải pháp quan trọng cho
người tiêu dùng bị mắc nợ quá nhiều.
Luật Phá sản trở nên quan trọng trong
nền kinh tế thị trường vì nó quy định
thủ tục, trình tự buộc chấm dứt các
công ty mất khả năng thanh toán và
thực hiện các quyền của chủ nợ ở mức
độ cho phép. Do đó, việc ra đời Luật
Phá sản sẽ khuyến khích chủ nợ cho
vay tiền do cảm thấy yên tâm vì pháp
luật sẽ bảo vệ quyền được thanh toán
của họ và họ có thể ước tính chính xác
mức độ rủi ro xảy ra.
Luật Phá sản thường là một giải
pháp khác cho việc thanh lý bên mắc
nợ bằng cách tạo điều kiện thuận lợi
cho việc đạt được một thoả thuận thoả
hiệp giữa bên mắc nợ và các chủ nợ.
Những thỏa thuận như vậy có thể là kéo
dài thời hạn thanh toán nợ, xoá một
4
Từ điển Luật học - Viện khoa học pháp lý,
Bộ Tư pháp - Nhà xuất bản Tư pháp và Nhà
xuất bản Từ điển Bách khoa, năm 2006,
tr.598.
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
7
phần nợ, chuyển đổi nợ thành cổ phần
hay các quy định khác về tài chính mà
chủ nợ hi vọng sẽ thu hồi nợ tốt hơn so
với khi tiến hành thanh lý ngay lập tức.
Một số Luật Phá sản hiện đại không chỉ
cho phép các thoả hiệp như vậy mà còn
tích cực khuyến khích bằng cách cho
phép một khoảng thời gian để bên mắc
nợ tiến hành thương lượng trước khi
thanh lý, cho phép các thoả thuận ràng
buộc không cần sự đồng thuận hoặc
đình hoãn quyền thu giữ tài sản thế
chấp của chủ nợ. Các luật như vậy
nhằm bảo đảm giá trị sản xuất của các
doanh nghiệp để bồi hoàn tốt hơn cho
các chủ nợ và bảo vệ người lao động,
cộng đồng chống lại việc sa thải lao
động không cần thiết.
Ở Việt Nam, sự tồn tại tất yếu của
hiện tượng phá sản đòi hỏi phải có sự
điều chỉnh của Nhà nước, do đó, pháp
luật phá sản với tư cách là một công cụ
quan trọng để Nhà nước điều chỉnh vấn
đề phá sản đã ra đời. Pháp luật phá sản
có vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế thị trường, vai trò đó thể hiện ở
những nội dung chủ yếu sau
5
:
a. Bảo vệ một cách có hiệu quả
nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ nợ
Trong kinh doanh, việc nợ lẫn
nhau là hiện tượng bình thường, ít
doanh nghiệp nào có thể tránh khỏi.
Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên có
quyền đòi nợ thông qua nhiều hình
thức, biện pháp khác nhau, trong đó có
5
PGS.TS Dương Đăng Huệ, ThS Nguyễn
Thanh Tịnh và nhóm biên soạn Vụ Pháp luật
Dân sự - Kinh tế Bộ Tư pháp, Đề tài “Thực
trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn
thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại
Việt Nam”; tháng 11 - 2008, tr.12 -16.
biện pháp khởi kiện ra Toà án. Tính ưu
việt của cơ chế đòi nợ thông qua thủ tục
phá sản là ở chỗ, việc đòi nợ được bảo
đảm bằng việc Toà án có thể tuyên bố
chấm dứt sự tồn tại của người mắc nợ
và đồng thời qua đó toàn bộ tài sản của
người mắc nợ được bán để trả cho các
chủ nợ.
Kh¸c với thủ tục đòi nợ thông
thường, việc thanh toán nợ cho các chủ
nợ theo thủ tục phá sản mang tính tập
thể, tất cả c¸c khoản nợ được Toà ¸n
phân loại và thực hiện việc thanh toán
theo một thứ tự nhất định, trên cơ sở
bảo đảm sự công bằng, theo quy định
của pháp luật phá sản. Sau khi tuyên bố
phá sản, người mắc nợ sẽ chấm dứt sự
tồn tại, tất cả các khoản nợ chưa được
thanh toán do tài sản của người mắc nợ
không đủ thì cũng được coi là đã thanh
toán. Vai trò của các chủ nợ được pháp
luật phá sản Việt Nam coi trọng thể
hiện qua hàng loạt các quy định về
quyền năng của chủ nợ trong Luật Phá
sản năm 2004 như quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản; quyền khiếu
nại danh sách chủ nợ; quyền có đại diện
trong Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh
toán tài sản; quyền được khiếu nại
quyết định tuyên bố phá sản…
b. Bảo vệ lợi ích của người mắc
nợ, tạo cơ hội để người mắc nợ rút khỏi
thương trường một cách trật tự
Hoạt động kinh doanh là một hoạt
động chứa đựng nhiều rủi ro. Do sự
biến động khó lường của thị trường và
các yếu tố khách quan khác nên tình
trạng kinh doanh thua lỗ, không trả
được nợ đến hạn đều có thể xảy ra bất
cứ lúc nào đối với bất kỳ nhà kinh
doanh nào. Mặt khác, một doanh
nghiệp bị phá sản thì có thể kéo theo
nhiều hậu quả xấu đối với xã hội, mà
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
8
trước hết là đối với người lao động và
các chủ nợ. Chính vì vậy khi các doanh
nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản thì
vấn đề đầu tiên mà Nhà nước quan tâm
giải quyết không phải là việc tuyên bố
doanh nghiệp phá sản ngay và phân
chia tài sản của doanh nghiệp cho các
chủ nợ mà là việc phải tìm mọi cách để
giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tình
trạng khó khăn này.
Pháp luật phá sản không chỉ bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
nợ mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho cả doanh nghiệp mắc nợ và
đặc biệt là đã không coi phá sản là một
tội phạm như quan niệm của một số
nước trên thế giới. Điều này có thể thấy
qua việc pháp luật quy định nhiều
quyền cho doanh nghiệp mắc nợ trong
quá trình giải quyết phá sản. Chẳng
hạn, kể từ thời điểm Toà án ra quyết
định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp,
tất cả quyền đòi nợ đều được đình chỉ
và giải quyết theo một thủ tục chung
duy nhất do Toà án tiến hành, đồng thời
nghiêm cấm việc đòi nợ một cách riêng
lẻ. Toà án chỉ ra quyết định mở thủ tục
thanh lý khi Hội nghị chủ nợ không
thông qua phương án tổ chức lại hoạt
động sản xuất, kinh doanh, hay trong
trường hợp doanh nghiệp không thực
hiện hoặc thực hiện không thành công
phương án tổ chức lại hoạt động sản
xuất, kinh doanh đã được Hội nghị chủ
nợ thông qua.
Ngoài ra, người mắc nợ còn có
quyền cử người đại diện tham gia Tổ
quản lý và thanh lý tài sản, quyền được
yêu cầu Toà án ra quyết định đình chỉ
thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực;
quyền được khiếu nại Danh sách chủ
nợ, khiếu nại quyết định tuyên bố phá
sản Khi có quyết định mở thủ tục
thanh lý, tài sản còn lại của doanh
nghiệp sẽ được thanh toán cho các chủ
nợ theo thứ tự nhất định. Sau khi thanh
toán, mọi khoản nợ của doanh nghiệp,
cho dù chưa được thanh toán đầy đủ
cũng được coi là đã thanh toán và các
chủ nợ không có quyền đòi nợ nữa.
c. Góp phần vào việc bảo vệ lợi ích
của người lao động
Phá sản không chỉ gây ra hậu quả
xấu cho các chủ nợ, người mắc nợ mà
còn cho cả người lao động. Điều này
trước hết thể hiện ở chỗ, chính vì doanh
nghiệp phá sản mà người lao động phải
mất việc làm, lâm vào tình cảnh thất
nghiệp. Do vậy, muốn bảo vệ người lao
động, trước hết là phải làm sao để
doanh nghiệp không bị phá sản. Cơ chế
phục hồi doanh nghiệp được pháp luật
đề ra chính là để thực hiện chủ trương
này vì trên thực tế, cứu được doanh
nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản
cũng chính là cứu được người lao động
thoát khỏi tình trạng thất nghiệp.
Nhưng mặt khác, khi người lao động
làm việc mà không được trả đủ lương
trong một thời gian dài thì Nhà nước
cũng cần phải tạo ra một phương thức
nào đó để họ có thể đòi được số tiền
lương mà doanh nghiệp nợ.
Để thực hiện được mục tiêu này,
pháp luật phá sản phải quy định cho họ
một số quyền như quyền được nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền
được tham gia quá trình giải quyết vụ
việc phá sản, quyền được ưu tiên thanh
toán nợ lương và các khoản tiền hợp
pháp khác mà họ được hưởng trước các
khoản nợ thông thường của doanh
nghiệp
d. Góp phần bảo đảm trật tự, an
toàn xã hội
CHUYấN KHOA HC XẫT X
9
Theo lẽ thờng, khi mà con nợ có
quá nhiều chủ nợ nh-ng lại có quá ít tài
sản để thanh toán nợ thì việc các chủ nợ
tranh giành nhau tài sản của con nợ là
điều rất có thể xảy ra. Căn cứ vào pháp
luật phá sản, To án thay mt Nh nc
đứng ra giải quyết một cách công bằng,
khách quan mối xung đột về lợi ích
giữa các chủ nợ và ngi mc nợ và
điều đó sẽ góp phần đảm bảo trật tự, an
toàn trong xã hội.
. Gúp phn lm lnh mnh húa
nn kinh t, thỳc y hot ng sn
xut, kinh doanh cú hiu qu hn
Vic phỏ sn v gii quyt phỏ sn
luụn tỏc ng v cú ý ngha tớch cc i
vi nn kinh t. iu ny c th
hin nhng im nh sau:
- Phỏp lut phỏ sn l cụng c rn
e cỏc nh kinh doanh, buc h phi
nng ng, sỏng to nhng cng phi
thn trng trong khi hnh ngh. Mt
thỏi hnh ngh, trong ú cú s kt
hp gia tớnh nng ng, sỏng to v
tớnh cn trng l ht sc cn thit vỡ nú
giỳp cỏc nh kinh doanh a ra c
nhng quyt nh hp lý - tin cho
s lm n cú hiu qu ca tng doanh
nghip. S lm n cú hiu qu ca cỏc
doanh nghip riờng l ng nhiờn s
kộo theo s lm n cú hiu qu ca c
nn kinh t núi chung.
- Phỏp lut phỏ sn khụng ch l
cụng c rn e, buc cỏc doanh nghip
phi luụn t hon thin mỡnh tn ti
v phỏt trin m cũn l c s phỏp lý
xoỏ b cỏc doanh nghip kinh doanh
kộm hiu qu, to ra mụi trng kinh
doanh lnh mnh cho cỏc nh u t.
Thụng qua th tc phỏ sn, nhng
doanh nghip thua l trin miờn, n nn
chng cht u phi c x lý, a ra
khi thng trng. iu ú cho thy,
th tc phỏ sn cũn nhm mc ớch ng
dng cho cỏc s c ca nn kinh t.
Nú khụng ch nhm mc ớch o thi
cỏc doanh nghip kinh doanh yu kộm
m cũn nhm mc ớch khụi phc li s
cõn bng v cỏn cõn thanh toỏn ca th
trng. Nh vy, th tc phỏ sn ó
gúp phn to ra mụi trng phỏp lý an
ton, lnh mnh - mt yu t khụng th
thiu c cho s phỏt trin bn vng
ca nn kinh t.
II. PHP LUT PH SN
VIT NAM
1. Hon cnh ra i ca ch nh
phỏ sn Vit Nam
Vit Nam phỏp lut phỏ sn ó
cú t thi k Thc dõn Phỏp ụ h,
nhng Lut ny phn ln c ỏp dng
nin Nam v trờn thc t dng nh
rt ớt c ỏp dng. Cng nh cỏc
nc thuc a khỏc, phỏp lut Vit
Nam chu nh hng ca h thng
phỏp lut thc dõn. Nhng quy nh v
khỏnh tn, thanh toỏn t phỏp phỏ sn
cng ó cú trong B lut Thng mi
Si Gũn
6
. Hai o lut iu chnh phỏ
sn ó c ban hnh l Lut Phỏ sn
trong Lut Thng mi Trung phn ti
min Trung Vit Nam ngy 02-6-1942
v Lut Phỏ sn trong Lut Thng mi
min Nam Vit Nam nm 1973.
T sau gii phúng min Nam cho
n trc i hi ng ln VI, chỳng
ta i theo mụ hỡnh kinh t k hoch húa
6
PGS.TS Dng ng Hu - V phỏp lut
Dõn s - Kinh t B T phỏp, Bỏo cỏo phỳc
trỡnh ti: ỏnh giỏ thc trng, thc hin
nghiờn cu, phõn tớch khuyn ngh hon
thin Lut Phỏ sn doanh nghip v cỏc quy
nh phỏp lut khỏc cú liờn quan; nm
2002, tr.3 - 6.
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
10
tập trung, không khuyến khích cạnh
tranh nên khái niệm phá sản hầu như
không có. Hoàn cảnh nước ta trong 10
năm sau khi giải phóng miền Nam do
hậu quả của cuộc chiến tranh để lại hết
sức nặng nề, đời sống của nhân dân gặp
nhiều khó khăn, kẻ thù lại ra sức bao
vây cấm vận nền kinh tế, thiên tai, lũ
lụt lại xảy ra nhiều, tình hình kinh tế xã
hội ở thời kỳ hậu chiến rất phức tạp.
Nền kinh tế đất nước không phát triển,
nhất là trong những năm 1979 - 1980,
đời sống của nhân dân ngày càng giảm
sút, đất nước bước vào một thời kỳ
khủng hoảng về kinh tế xã hội. Trong
thời kỳ này, chúng ta không có pháp
luật phá sản, nền kinh tế nước nhà là
nền kinh tế bao cấp, mệnh lệnh, khép
kín…, các đơn vị kinh doanh không có
động lực để cạnh tranh, sự tồn tại của
chúng được duy trì theo ý chí của Nhà
nước. Chính trong nền kinh tế bao cấp
đó, dưới sự “bảo hộ” của Nhà nước,
Luật Phá sản chưa được hướng tới.
Pháp luật phá sản chỉ thực sự trở nên
cần thiết khi Việt Nam bước vào công
cuộc đổi mới toàn diện, xây dựng nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 15
đến ngày 18-12-1986) kết thúc thành
công, đánh dấu bước chuyển mình của
nền kinh tế nước nhà, từ nền kinh tế
quản lý hành chính quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đường lối đổi mới đó đã
được thể chế hóa và ghi nhận tại Điều
15 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà
nước phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”.
Cùng với những thời cơ, nền kinh
tế thị trường đồng thời đã tạo ra những
thách thức mới, đòi hỏi Nhà nước ta
phải nhanh chóng xây dựng và ban hành
pháp luật, hình thành một hệ thống pháp
luật đồng bộ, hoàn chỉnh để đáp ứng
công cuộc đổi mới, trong đó có khung
pháp luật kinh tế nói chung và pháp
Luật Phá sản nói riêng.
2. Luật Phá sản doanh nghiệp
năm 1993
Sau Đại hội lần thứ VI, nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường thì
các loại hình doanh nghiệp khác nhau
thuộc mọi thành phần kinh tế được
thành lập và được Nhà nước khuyến
khích tạo điều kiện hoạt động một cách
bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn
khổ pháp luật. Nhưng cũng chính trong
nền kinh tế đó bắt đầu xuất hiện hiện
tượng cạnh tranh, đào thải, chọn lọc tự
nhiên những doanh nghiệp do nhiều
nguyên nhân khác nhau kinh doanh kém
hiệu quả, thua lỗ, không thể thanh toán
được các khoản nợ đến hạn bên cạnh
những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả và ngày một phát triển. Một vấn đề
đặt ra trong giai đoạn này là chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường thì cũng có
nghĩa là phải chấp nhận các thuộc tính
vốn có của nó, trong đó có phá sản và
giải quyết phá sản.
Trước yêu cầu thực tiễn đó, pháp
luật về phá sản Việt Nam được hình
thành là một xu hướng tất yếu. Mốc
đánh dấu quan trọng cho sự hình thành
pháp luật phá sản ở Việt Nam là Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Đây là
văn bản đầu tiên có giá trị pháp lý cao
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
11
nhất điều chỉnh toàn diện, đầy đủ các
vấn đề về phá sản. Luật được Quốc hội
khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-12-
1993, có hiệu lực từ ngày 01-7-1994.
Luật Phá sản doanh nghiệp có 6 chương
và 52 điều, bao gồm:
Chương I gồm 6 điều, từ Điều 1
đến Điều 6 quy định chung về Luật Phá
sản doanh nghiệp.
Chương II gồm 8 điều, từ Điều 7
đến Điều 14 quy định về thủ tục nộp
đơn và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp.
Chương III gồm 3 mục và 27 điều:
Mục 1 từ Điều 15 đến Điều 23 quy định
về quyết định mở thủ tục giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
Mục 2 từ Điều 22 đến Điều 35 quy định
về Hội nghị chủ nợ; Mục 3 từ Điều 36
đến Điều 41 quy định về tuyên bố phá
sản doanh nghiệp.
Chương IV gồm 7 điều, từ Điều 42
đến Điều 48 quy định về thi hành Quyết
định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Chương V gồm 2 điều, Điều 49 và
Điều 50 quy định về xử lý vi phạm.
Chương VI gồm 2 điều, Điều 51 và
Điều 52 quy định về điều khoản thi
hành.
Cùng với việc ra đời của Luật Phá
sản doanh nghiệp thì hệ thống các văn
bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này
được ban hành khá đầy đủ, đồng bộ,
gồm các văn bản sau đây:
- Nghị định số 189/CP ngày 23-12-
1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993;
- Nghị định số 92/CP ngày 19-12-
1995 của Chính phủ về giải quyết quyền
lợi của người lao động ở doanh nghiệp
bị tuyên bố phá sản;
- Quyết định số 528/QĐBT ngày
13-6-1995 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
ban hành Quy chế làm việc của Tổ quản
lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản;
- Quyết định số 426/QĐ ngày 01-7-
1994 của Toà án nhân dân tối cao về
Quy chế làm việc của tập thể Thẩm
phán phụ trách việc giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
- Công văn số 457/KHXX ngày 21-
7-1994 của Toà án nhân dân tối cao về
việc áp dụng một số quy định của Luật
Phá sản doanh nghiệp.
Pháp luật phá sản ở nước ta tuy
được hình thành khá muộn so với các
nước trên thế giới và trong khu vực,
nhưng đã góp phần quan trọng vào việc
hình thành một cơ chế pháp lý đồng bộ
cho hoạt động xử lý nợ của các doanh
nghiệp, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong
lĩnh vực tài chính, làm cho môi trường
kinh doanh trở nên lành mạnh hơn, đồng
thời cũng góp phần thực hiện mục tiêu
xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ
thống pháp luật kinh tế thời kỳ đổi mới
của nước ta.
3. Luật Phá sản năm 2004
Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 đã phát huy được vai trò nhất định
trong việc thúc đẩy hoạt động kinh
doanh có hiệu quả và bảo vệ trật tự, kỷ
cương xã hội. Tuy nhiên, Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993 được xây dựng
trong điều kiện nước ta mới chuyển
sang cơ chế quản lý kinh tế mới, việc
phá sản và giải quyết phá sản hầu như
chưa xảy ra, do đó, nhiều quy định của
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã
bộc lộ những điểm yếu, bất cập, làm cản
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
12
trở việc giải quyết phá sản, không đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn giải
quyết phá sản đặt ra, do đó cần phải
được sửa đổi, bổ sung.
Sau hơn 9 năm thi hành Luật Phá
sản doanh nghiệp năm 1993, toàn ngành
Toà án chỉ thụ lý có 151 đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong đó
chỉ tuyên bố được 46 doanh nghiệp bị
phá sản.
Số liệu này không phải do doanh
nghiệp lâm vào tình trạng bị phá sản ở
nước ta ít, các doanh nghiệp đều hoạt
động kinh doanh lành mạnh, có lãi mà
thực tế số lượng doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản lớn hơn gấp nhiều lần
con số này nhưng không thể tuyên bố
phá sản được đối với các doanh nghiệp
đó vì lý do nhiều vấn đề liên quan đến
phá sản chưa được Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993 quy định.
Nhiều quy định của Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993 còn bất cập,
không phù hợp với thực tế khách quan.
Nguyên nhân là do Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993 được xây dựng từ đầu
những năm 90, là những năm đầu của
tiến trình đổi mới, hiểu biết của chúng ta
về nền kinh tế thị trường còn ít, điều
kiện tham khảo các quy định của pháp
luật nước ngoài về phá sản còn bị hạn
chế, chúng ta còn thiếu kinh nghiệm cho
nên chưa lường trước được nhiều vấn đề
cần quy định trong Luật Phá sản.
Trong giai đoạn này Đảng đã chỉ
rõ:
“Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn
thiện khung pháp luật phù hợp với kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung
pháp luật hiện hành phù hợp với yêu
cầu thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội
và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế,
nhất là các luật: Luật Thương mại, Luật
Phá sản doanh nghiệp…”
7
Thực hiện chủ trương này, Chính
phủ đã để nghị Quốc hội sửa đổi cơ bản
toàn diện Luật Phá sản doanh nghiệp
năm 1993 để ban hành Luật Phá sản mới
thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Toà
án nhân dân tối cao được giao là cơ
quan chủ trì soạn thảo Luật Phá sản,
Luật Phá sản được soạn thảo mới toàn
diện, thay thế Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993, với quan điểm chỉ
đạo cụ thể như sau:
Một là, thể chế hóa các quan điểm
và nội dung phương hướng, nhiệm vụ kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
(2001- 2005) nêu trong Nghị quyết Đại
hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban
chấp hành Trung ương (khóa IX) về sắp
xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp
nhà nước, Nghị quyết Hội nghị lần thứ
năm Ban chấp hành Trung ương (khóa
IX) về phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác
xã, kinh tế tư nhân; theo đó phải quán
triệt những định hướng quan trọng nêu
trong các nghị quyết của Đảng là:
- Xúc tiến việc hình thành đồng bộ
các loại thị trường đi đôi với việc tạo lập
khung pháp luật bảo đảm sự quản lý và
giám sát của Nhà nước. Coi trọng công
tác tiếp thị và tổ chức thị trường. Tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp và cá nhân tiếp cận thị trường,
ký kết hợp đồng, tự chủ và tự chịu trách
7
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX về
phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm (2001-2005).
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
13
nhiệm kinh doanh; giảm đến mức tối đa
sự can thiệp hành chính của các cơ quan
nhà nước vào hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp; thực hiện nguyên tắc
công khai, minh bạch trong kinh doanh;
- Chủ sở hữu đối với doanh nghiệp
nhà nước có quyền thành lập, sáp nhập,
chia tách, chuyển đổi sở hữu, giải thể,
yêu cầu phá sản doanh nghiệp;
- Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong lựa chọn ngành, nghề kinh
doanh. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do kinh doanh theo pháp luật,
quản lý sự phát triển của kinh tế tư nhân
theo pháp luật, bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế.
Hai là, với tư cách là một bộ phận
cấu thành trong việc thực hiện chính
sách kinh tế của Nhà nước, Luật Phá sản
(sửa đổi) cần phải:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp, hợp tác xã đang trong
tình trạng kinh doanh khó khăn thua lỗ
có cơ hội để rút ra khỏi thương trường
một cách trật tự;
- Chuyển quyền kiểm soát tài sản
sang các chủ nợ và góp phần tái phân
phối tài sản nhằm mục đích sử dụng có
hiệu quả hơn các tài sản đó, trên cơ sở
kết hợp giữa việc tổ chức lại hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác
xã và thanh toán tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp
không có khả năng phục hồi hoạt động
kinh doanh;
- Thúc đẩy sự lưu thông vốn trong
nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của các chủ nợ và đóng vai
trò là một trong những công cụ quan
trọng để thu hồi nợ.
Ba là, khắc phục những tồn tại,
vướng mắc được phát hiện trên cơ sở
tổng kết thực tiễn hơn 9 năm thi hành
Luật Phá sản doanh nghiệp.
Bốn là, nghiên cứu, tham khảo một
cách có chọn lọc pháp luật về phá sản
của một số nước trên thế giới.
Thực hiện Nghị quyết số
12/2002/QH11 ngày 16-12-2002 của
Quốc hội về Chương trình xây dựng
Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ
khóa XI và năm 2003, Nghị quyết số
222/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 10-02-
2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
việc triển khai thực hiện Nghị quyết nói
trên của Quốc hội, Toà án nhân dân tối
cao đã phối hợp với các cơ quan hữu
quan tổng kết thực tiễn thi hành Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và xây
dựng Dự thảo Luật Phá sản mới. Trải
qua nhiều dự thảo, hội nghị, hội thảo và
tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Luật
Phá sản mới với nhiều điểm tiến bộ đã
được Quốc hội thông qua ngày 15-6-
2004 thay thế Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993, có hiệu lực thi hành
từ ngày 15-10-2004.
- Phạm vi điều chỉnh của Luật Phá
sản năm 2004: Luật Phá sản quy định
điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài
sản và các biện pháp bảo toàn tài sản
trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục
phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục
thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản;
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của
người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản, của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu
cầu tuyên bố phá sản và của người tham
gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
14
- Bố cục và nội dung cơ bản của
Luật Phá sản năm 2004: Luật Phá sản
gồm 9 chương và 95 điều.
Chương I: Những quy định chung
gồm 12 điều (từ Điều 1 đến Điều 12)
quy định về: Phạm vi điều chỉnh (Điều
1); Đối tượng áp dụng (Điều 2); Doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản (Điều 3); Hiệu lực của Luật Phá
sản (Điều 4); Thủ tục phá sản (Điều 5);
Giải thích từ ngữ (Điều 6); Thẩm quyền
của Toà án (Điều 7); Nhiệm vụ và
quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ
tục phá sản (Điều 8); Tổ quản lý, thanh
lý tài sản (Điều 9); Nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của Tổ quản lý,
thanh lý tài sản (Điều 10); Nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm của Tổ trưởng
Tổ quản lý, thanh lý tài sản (Điều 11);
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
quá trình tiến hành thủ tục phá sản (Điều
12).
Chương II: Nộp đơn và thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản gồm 20 điều
(từ Điều 13 đến Điều 32), quy định về:
Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản của chủ nợ (Điều 13); Quyền nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của
người lao động (Điều 14); Nghĩa vụ nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản (Điều 15); Quyền nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở
hữu doanh nghiệp nhà nước (Điều 16) ;
Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản của các cổ đông công ty cổ phần
(Điều 17) ; Quyền nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản của thành viên hợp danh
(Điều 18); Nghĩa vụ, trách nhiệm của
người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản (Điều 19); Thông báo doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
(Điều 20); Phí phá sản và tạm ứng phí
phá sản (Điều 21); Thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản (Điều 22); Thông
báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản (Điều 23); Trả lại đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản (Điều 24); Khiếu nại
việc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản (Điều 25); Chuyển việc giải quyết
phá sản cho Toà án khác; giải quyết
tranh chấp về thẩm quyền (Điều 26);
Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản
(Điều 27); Quyết định mở hoặc không
mở thủ tục phá sản (Điều 28); Thông
báo quyết định mở thủ tục phá sản (Điều
29); Hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định
mở thủ tục phá sản (Điều 30); Các hoạt
động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị
cấm hoặc bị hạn chế (Điều 31); Khiếu
nại quyết định không mở thủ tục phá sản
(Điều 32).
Chương III: Nghĩa vụ về tài sản
gồm 10 điều từ Điều 33 đến Điều 42,
quy định về Xác định nghĩa vụ về tài
sản (Điều 33); Xử lý các khoản nợ chưa
đến hạn (Điều 34); Xử lý các khoản nợ
được bảo đảm bằng tài sản thế chấp
hoặc cầm cố (Điều 35); Hoàn trả lại tài
sản cho Nhà nước (Điều 36); Thứ tự
phân chia tài sản (Điều 37); Xác định
giá trị của nghĩa vụ không phải là
tiền (Điều 38); Nghĩa vụ về tài sản trong
trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo
lãnh (Điều 39); Trả lại tài sản thuê hoặc
mượn khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị
áp dụng thủ tục thanh lý (Điều 40); Cấm
đòi lại tài sản (Điều 41); Nhận lại hàng
hoá đã bán (Điều 42).
Chương IV: Các biện pháp bảo toàn
tài sản gồm 18 điều từ Điều 43 đến Điều
60, quy định về: Các giao dịch bị coi là
vô hiệu (Điều 43); Quyền yêu cầu Toà
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
15
án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 44);
Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có
hiệu lực (Điều 45); Văn bản yêu cầu
đình chỉ thực hiện hợp đồng (Điều 46);
Thanh toán, bồi thường thiệt hại khi hợp
đồng bị đình chỉ thực hiện (Điều 47); Bù
trừ nghĩa vụ (Điều 48); Tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản (Điều 49); Kiểm kê tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản (Điều 50); Gửi giấy
đòi nợ (Điều 51); Lập danh sách chủ nợ
(Điều 52); Lập danh sách người mắc nợ
(Điều 53); Đăng ký giao dịch bảo đảm
của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản (Điều 54); Áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55);
Khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời (Điều 56); Đình chỉ
thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án
(Điều 57); Giải quyết vụ án bị đình chỉ
trong thủ tục phá sản (Điều 58); Nghĩa
vụ của ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp
tác xã có tài khoản (Điều 59); Nghĩa vụ
của nhân viên và người lao động (Điều
60).
Chương V: Hội nghị chủ nợ, gồm 7
điều từ Điều 61 đến Điều 67, quy định
về: Triệu tập Hội nghị chủ nợ (Điều 61);
Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ (Điều
62); Nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ
(Điều 63); Nội dung Hội nghị chủ nợ
lần thứ nhất (Điều 64); Điều kiện hợp lệ
của Hội nghị chủ nợ (Điều 65); Hoãn
Hội nghị chủ nợ (Điều 66); Đình chỉ
tiến hành thủ tục phá sản khi có người
tham gia Hội nghị chủ nợ vắng mặt
(Điều 67).
Chương VI: Thủ tục phục hồi, thủ
tục thanh lý, gồm 2 Mục và 18 điều từ
Điều 68 đến Điều 85. Mục 1 về Thủ tục
phục hồi hoạt động kinh doanh, quy
định về Điều kiện áp dụng thủ tục phục
hồi hoạt động kinh doanh (Điều 68);
Nội dung phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh (Điều 69); Xem xét phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh trước
khi đưa ra Hội nghị chủ nợ (Điều 70);
Xem xét, thông qua phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh (Điều 71); Công
nhận Nghị quyết về phương án phục hồi
hoạt động kinh doanh (Điều 72); Giám
sát thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh (Điều 73); Thời hạn
thực hiện phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh (Điều 74); Sửa đổi, bổ sung
phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh (Điều 75); Đình chỉ thủ tục phục
hồi hoạt động kinh doanh (Điều 76);
Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thủ
tục phục hồi hoạt động kinh doanh
(Điều 77). Mục 2 về Thủ tục thanh lý tài
sản, quy định về Quyết định mở thủ tục
thanh lý tài sản trong trường hợp đặc
biệt (Điều 78); Quyết định mở thủ tục
thanh lý tài sản khi Hội nghị chủ nợ
không thành (Điều 79); Quyết định mở
thủ tục thanh lý tài sản sau khi có Nghị
quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất
(Điều 80); Nội dung quyết định mở thủ
tục thanh lý tài sản (Điều 81); Hoạt
động của doanh nghiệp, hợp tác xã trong
quá trình thanh lý tài sản (Điều 82);
Khiếu nại, kháng nghị quyết định mở
thủ tục thanh lý tài sản (Điều 83); Giải
quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định
mở thủ tục thanh lý tài sản (Điều 84);
Đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều
85).
Chương VII: Tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, gồm 7
điều từ Điều 86 đến Điều 92, quy định
về Quyết định tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã bị phá sản (Điều 86); Quyết
định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
bị phá sản trong trường hợp đặc biệt
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
16
(Điều 87); Nội dung của quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị
phá sản (Điều 88); Thông báo quyết
định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
bị phá sản (Điều 89); Nghĩa vụ về tài
sản sau khi có quyết định tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
(Điều 90); Khiếu nại, kháng nghị quyết
định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
bị phá sản (Điều 91); Giải quyết khiếu
nại, kháng nghị quyết định tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
(Điều 92).
Chương VIII: Xử lý vi phạm, gồm
2 điều Điều 93 và Điều 94, quy định về:
Trách nhiệm do vi phạm pháp luật trong
quá trình tiến hành thủ tục phá sản (Điều
93); Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi
doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố
phá sản (Điều 94).
Chương IX: Điều khoản thi hành
quy định về: Hiệu lực thi hành (Điều
95).
4. Những điểm mới của Luật Phá
sản năm 2004 so với Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993
- Luật đã đơn giản hoá khái niệm
“tình trạng phá sản” nhằm tạo thuận lợi
cho việc mở thủ tục phá sản. Doanh
nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình
trạng phá sản khi “không có khả năng
thanh toán được các khoản nợ đến hạn
khi chủ nợ có yêu cầu”. Như vậy, tiêu
chí xác định tình trạng phá sản đã được
quy định theo hướng ngắn gọn, đơn giản
mà không căn cứ vào thời gian thua lỗ,
nguyên nhân của tình trạng thua lỗ cũng
như không đòi hỏi doanh nghiệp, hợp
tác xã người mắc nợ đã áp dụng các biện
pháp để tự cứu mình mà không đạt kết
quả hay chưa như Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993 đã từng quy định.
- Luật đã quy định rõ, đầy đủ và
hợp lý hơn về các đối tượng có quyền,
nghĩa vụ nộp đơn cũng như thủ tục,
trình tự và hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá
sản, cụ thể là:
Đơn giản hoá các điều kiện mà chủ
nợ phải đáp ứng khi nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, không bắt buộc chủ
nợ phải cung cấp cho Toà án các giấy
tờ, tài liệu để chứng minh rằng doanh
nghiệp mắc nợ đã mất khả năng thanh
toán nợ đến hạn, chỉ cần chứng minh
chủ nợ đã đòi nợ nhưng không được
doanh nghiệp mắc nợ thanh toán nợ đến
hạn.
Xoá bỏ thời hạn nợ lương của
doanh nghiệp, hợp tác xã đối với người
lao động như một điều kiện để nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản. Người lao
động có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã khi họ không được trả lương cũng
như các khoản nợ khác và trên cơ sở đó,
họ cho rằng doanh nghiệp, hợp tác xã đã
thực sự lâm vào tình trạng phá sản.
Quy định thời hạn mà chủ doanh
nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp, hợp tác xã phải nộp đơn
yêu cầu Toà án giải quyết phá sản đối
với chính doanh nghiệp, hợp tác xã đó
(trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày nhận
thấy doanh nghiệp, hợp tác xã đã lâm
vào tình trạng phá sản) và nếu vi phạm
nghĩa vụ này thì phải chịu trách nhiệm
theo quy định của pháp luật.
Mở rộng quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản cho một số đối
tượng khác (chủ sở hữu doanh nghiệp
nhà nước, cổ đông công ty cổ phần và
thành viên hợp danh trong công ty hợp
danh) nhằm tạo thêm các kênh mới để
thúc đẩy việc nộp đơn yêu cầu giải
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
17
quyết phá sản, góp phần chấm dứt tình
trạng có doanh nghiệp thực chất đã
không thể hoạt động trên thực tế nhưng
vẫn tồn tại về mặt pháp lý.
- Luật đã quy định một nghĩa vụ
pháp lý mới đối với các cơ quan (Toà
án, Viện Kiểm sát, Thanh tra Nhà nước,
cơ quan quản lý vốn, tổ chức kiểm toán
hoặc cơ quan quyết định thành lập
doanh nghiệp mà không phải là chủ sở
hữu nhà nước của doanh nghiệp). Theo
đó, trong quá trình thực thi công việc
thuộc thẩm quyền, nếu phát hiện rằng
các doanh nghiệp, hợp tác xã đã lâm
vào tình trạng phá sản thì các cơ quan,
tổ chức này có trách nhiệm thông báo
về việc này nhằm tạo điều kiện cho các
chủ nợ biết mà thực hiện quyền yêu cầu
mở thủ tục phá sản.
- Luật đã đa dạng hoá các loại thủ
tục áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản, bao
gồm: (1) thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh, (2) thủ tục thanh lý tài sản,
(3) thủ tục tuyên bố phá sản. Sau khi thụ
lý đơn yêu cầu và ra quyết định mở thủ
tục phá sản, Toà án sẽ xem xét, phân
tích tình trạng tài chính và khả năng
phục hồi hoạt động của doanh nghiệp,
hợp tác xã để quyết định áp dụng thủ tục
nào cho phù hợp với tình hình cụ thể của
doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Luật đã tăng cường các biện pháp
bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản nhằm
tạo khả năng phục hồi cho doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản. Cụ thể là:
Quy định các biện pháp nhằm ngăn
chặn doanh nghiệp mắc nợ làm thất thoát
tài sản sau khi có quyết định mở thủ tục
phá sản của Toà án: nghiêm cấm doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản thực hiện một số hoạt động nhất định
kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ
tục phá sản; quy định một số hoạt động
của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi
nhận được quyết định mở thủ tục phá sản
phải được sự đồng ý bằng văn bản của
Thẩm phán thì mới được thực hiện (Điều
31). Các giao dịch do doanh nghiệp, hợp
tác xã cố tình thực hiện có thể bị Toà án
tuyên bố vô hiệu và tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã chuyển giao trong các
giao dịch vi phạm này sẽ bị thu hồi.
Tuyên bố vô hiệu đối với một số giao
dịch mà doanh nghiệp, hợp tác xã thực
hiện trong khoảng thời gian 3 tháng
(Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993
quy định là 6 tháng) trước ngày Toà án
thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
với mục đích cất giấu, tẩu tán tài sản, gây
thiệt hại cho các chủ nợ (Điều 43, 44).
Tài sản thu hồi được từ việc tuyên bố các
giao dịch nói trên phải được nhập vào
khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã.
Bổ sung quy định xử lý các hợp
đồng đang có hiệu lực của doanh nghiệp,
hợp tác xã (Điều 45, 46 và 47). Trong
quá trình tiến hành thủ tục phá sản, nếu
xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp đồng
đang được thực hiện hoặc chưa được
thực hiện sẽ có lợi hơn cho doanh nghiệp
thì chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản, Tổ trưởng Tổ
quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu
cầu Toà án đình chỉ thực hiện hợp đồng
đó (Điều 45).
Trường hợp tài sản mà doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản nhận được từ hợp đồng vẫn còn tồn
tại trong khối tài sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã đó thì phía bên kia của hợp
đồng có quyền đòi lại. Nếu tài sản đó
không còn thì bên kia của hợp đồng có
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
18
quyền như một chủ nợ không có bảo
đảm. Trường hợp việc đình chỉ thực hiện
hợp đồng đã gây ra thiệt hại cho bên đối
tác của hợp đồng thì bên đó có quyền
như một chủ nợ không có bảo đảm đối
với khoản thiệt hại do việc đình chỉ thực
hiện hợp đồng gây ra (Điều 47).
Bổ sung quy định bù trừ nghĩa vụ
giữa các chủ nợ với doanh nghiệp, hợp
tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Theo
quy định tại Điều 48, chủ nợ và doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản được thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ
đối với những giao dịch được xác lập
trước khi có quyết định mở thủ tục phá
sản. Quy định trách nhiệm của Tổ trưởng
Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong việc
thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đối
với các giao dịch của doanh nghiệp, hợp
tác xã (Điều 54).
Quy định áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời nhằm bảo toàn tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã. Tổ quản
lý, thanh lý tài sản có quyền đề nghị
Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục
phá sản ra quyết định áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài
sản của người mắc nợ theo quy định của
pháp luật về thi hành án dân sự.
Bổ sung trách nhiệm của ngân hàng,
nhân viên và người lao động trong doanh
nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản.
Xử lý rõ mối quan hệ giữa thủ tục phá
sản và các thủ tục khác có liên quan. Về
quan hệ giữa thủ tục phá sản và thủ tục tố
tụng hình sự, trong quá trình tiến hành
thủ tục phá sản, nếu phát hiện có dấu
hiệu tội phạm thì Thẩm phán cung cấp tài
liệu (bản sao) cho Viện Kiểm sát nhân
dân cùng cấp để xem xét việc khởi tố về
hình sự và vẫn tiến hành thủ tục phá sản
theo quy định của Luật Phá sản (Điều 8).
Về quan hệ giữa thủ tục phá sản và
thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự,
kinh tế: Kể từ ngày Toà án ra quyết định
mở thủ tục phá sản, việc giải quyết các
vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản
mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản là một bên đương sự
trong vụ án đó sẽ bị đình chỉ và giao cho
Toà án đang tiến hành thủ tục phá sản
giải quyết luôn (Điều 57). Toà án đang
tiến hành thủ tục phá sản phải xem xét,
quyết định nghĩa vụ tài sản mà doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá
sản phải thực hiện hoặc nghĩa vụ tài sản
mà bên đương sự phải thực hiện đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều
58).
Về quan hệ giữa thủ tục phá sản và
thủ tục thi hành án dân sự cũng được
Luật Phá sản năm 2004 quy định đầy đủ
và rõ ràng hơn. Theo cơ chế của Luật
Phá sản mới thì thủ tục thi hành các bản
án, quyết định dân sự, kinh tế đã có hiệu
lực pháp luật sẽ bị tạm đình chỉ kể từ
ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản (Điều 27) và bị đình chỉ kể từ ngày
Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản
(Điều 57). Người được thi hành án có
quyền nộp đơn cho Toà án yêu cầu được
thanh toán trong khối tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã như một chủ nợ
không có bảo đảm hoặc như một chủ nợ
có bảo đảm, nếu có bản án, quyết định
của Toà án đã có hiệu lực pháp luật kê
biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
để bảo đảm thi hành án (Điều 57).
Sau khi Luật Phá sản được ban
hành, các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đã ban hành một số văn bản
hướng dẫn thi hành, cụ thể là:
- Nghị quyết số 03/2005/NQ-
TANDTC ngày 28-4-2005 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
19
hướng dẫn thi hành một số quy định của
Luật Phá sản;
- Quyết định số 01/2005/QĐ-
TANDTC ngày 27-4-2005 của Chánh án
Toà án nhân dân tối cao về Quy chế làm
việc của Thẩm phán phụ trách tiến hành
thủ tục phá sản;
- Nghị định số 94/2005/NĐ-CP
ngày 15-7-2005 của Chính phủ về giải
quyết quyền lợi của người lao động ở
doanh nghiệp và hợp tác xã bị phá sản;
- Nghị định số 67/2006/NĐ-CP
ngày 11-7-2006 của Chính phủ hướng
dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với
doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt
động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản;
- Nghị định số 10/2009/NĐ-CP
ngày 06-02-2009 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong
quá trình tiến hành thủ tục phá sản.
Việc xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Phá
sản năm 2004 đang được các cơ quan
chức năng tiếp tục soạn thảo trình Chính
phủ ban hành, cụ thể là Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam chủ trì soạn thảo Nghị
định quy định việc áp dụng Luật Phá sản
đối với các tổ chức tín dụng và Bộ Tài
chính chủ trì soạn thảo Nghị định hướng
dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và
tài chính khác.
5. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật
phá sản và các quy định pháp luật có
liên quan
Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh
tế nói chung và pháp luật phá sản nói
riêng là đòi hỏi khách quan của nền kinh
tế, phù hợp với đường lối phát triển đất
nước của Đảng và Nhà nước ta. Luật Phá
sản năm 2004 đã có nhiều điểm tiến bộ
so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 nhưng qua 5 năm thi hành đã cho
thấy còn nhiều khiếm khuyết, bất cập.
Do đó, hoàn thiện pháp luật phá sản
trong thời điểm hiện nay là cần thiết.
Việc hoàn thiện pháp luật phá sản cần
đáp ứng được những nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, pháp luật phá sản cần thể
hiện được những quy luật vốn có của nền
kinh tế thị trường nhưng trên cơ sở thực
tiễn, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của
nước ta. Phải khắc phục được những
vướng mắc trong thực tiễn, khắc phục
được những hạn chế thiếu sót cũng như
duy trì những nhân tố hợp lý và kinh
nghiệm áp dụng hai Luật Phá sản đã có
và đã được thực tế kiểm nghiệm, chứng
minh.
Thứ hai, pháp luật phá sản phải
được hoàn thiện trong điều kiện hoàn
thiện pháp luật nói chung và hệ thống
pháp luật kinh tế nói riêng. Pháp luật phá
sản phải đồng bộ, thống nhất với các văn
bản pháp luật khác như Luật Doanh
nghiệp, Luật Thương mại, pháp luật về
thi hành án, pháp luật giải quyết tranh
chấp, pháp luật lao động, pháp luật đất
đai.
Thứ ba, Việt Nam đang là thành
viên của WTO, việc hoàn thiện pháp luật
phá sản phải phù hợp yêu cầu của pháp
luật về kinh tế quốc tế.
Thứ tư, hoàn thiện pháp luật phá sản
phải dựa vào thực tiễn nền kinh tế đất
nước, do đó, thủ tục giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản phải phù hợp, chặt chẽ
và linh hoạt.
Pháp luật phá sản của Việt Nam đã
phần nào đáp ứng được nền kinh tế thị
trường trong điều kiện, hoàn cảnh đất
nước hiện nay. Tuy nhiên, thực tiễn luôn
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
20
phát sinh những vấn đề hết sức phức tạp
và đa dạng. Bản thân Luật Phá sản năm
2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành
đã bộc lộ một số hạn chế cần sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp yêu cầu và tình hình
phát triển của xã hội. Từ thực trạng thi
hành pháp luật phá sản trong năm năm
qua, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, chúng
tôi đã nghiên cứu về thực trạng áp dụng
Luật Phá sản năm 2004, các chuyên đề
sau đây sẽ đề cập đến nội dung đó.
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
21
TÌM HIỂU CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004 VỀ
NỘP ĐƠN VÀ THỤ LÝ ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
Đặng Thành Vinh
Luật Phá sản doanh nghiệp được
Quốc hội ban hành ngày 30-12-1993
(có hiệu lực kể từ ngày 01-7-1994) đã
đánh dấu sự ra đời của hệ thống pháp
luật phá sản với tư cách là một bộ phận
quan trọng của hệ thống pháp luật kinh
doanh trong bối cảnh nước ta thực hiện
phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, do
được xây dựng trong điều kiện mới
chuyển đổi sang cơ chế quản lý kinh tế
mới nên Luật Phá sản doanh nghiệp
năm 1993 đã bộc lộ những hạn chế, bất
cập, làm cản trở việc giải quyết phá
sản doanh nghiệp nước ta, cần phải
được sửa đổi, bổ sung. Ngày 15-6-
2004 Quốc hội thông qua Luật Phá sản
(có hiệu lực từ ngày 15-10-2004) thay
thế cho Luật Phá sản doanh nghiệp
năm 1993.
Luật Phá sản năm 2004 có nhiều
quy định mới và tiến bộ so với Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Một
trong những điểm mới đó là thủ tục
phá sản. Điều 5 Luật Phá sản năm
2004 quy định về thủ tục phá sản, theo
quy định này, thủ tục phá sản được áp
dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:
- Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục
phá sản;
- Phục hồi hoạt động kinh doanh;
- Thanh lý tài sản, các khoản nợ;
- Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác
xã bị phá sản.
Sau đây là những nội dung cụ thể
về thủ tục phá sản theo Luật Phá sản
năm 2004.
I. NỘP ĐƠN YÊU CẦU MỞ
THỦ TỤC PHÁ SẢN
1. Thời điểm phát sinh quyền,
nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản
Thời điểm phát sinh quyền và
nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản sẽ xuất hiện khi doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Vậy khi nào doanh nghiệp, hợp tác xã
bị coi là lâm vào tình trạng phá sản
theo pháp luật Việt Nam? Theo quy
định tại khoản 1 các điều 13, 14, 15,
16, 17 và Điều 18 Luật Phá sản: “Khi
nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản…” chủ nợ
không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo
đảm một phần (Điều 13); Người lao
động (Điều 14); Đại diện chủ sở hữu
doanh nghiệp nhà nước (Điều 16); Các
cổ đông Công ty cổ phần (Điều 17);
Thành viên hợp danh Công ty hợp
danh đều có quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã đó; Chủ doanh
nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
22
Việc xác định chính xác thời điểm
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là
rất quan trọng, không chỉ đối với chính
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản, mà còn đối với các chủ
nợ, với người lao động và những người
có quyền nộp đơn khác. Nếu nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản sớm sẽ ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động của
doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu,
họ sẽ bị mất bạn hàng, giảm uy tín,
nếu không có sự can thiệp kịp thời có
thể do hậu quả đó mà dẫn họ đến tình
trạng phá sản thực sự. Nhưng nếu nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản muộn
sẽ dẫn đến tình trạng lẽ ra doanh
nghiệp, hợp tác xã có thể phục hồi
được lại không được hưởng lợi từ việc
áp dụng thủ tục phục hồi, doanh
nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản,
chủ nợ, những người liên quan không
còn khả năng thu hồi tốt nhất khoản nợ
của mình. Để xác định chính xác thời
điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản, theo chúng tôi cần thiết phải làm
rõ khái niệm tình trạng phá sản theo
pháp luật Việt Nam.
Theo quy định tại Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993 thì: “Doanh
nghiệp đang lâm vào tình trạng phá
sản là doanh nghiệp gặp khó khăn
hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh
doanh sau khi đã áp dụng các biện
pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất
khả năng thanh toán nợ đến hạn”. Với
những điều kiện này, theo chúng tôi,
thời điểm hội đủ dấu hiệu xác định
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản là quá muộn. Khi đủ điều kiện để
Toà án thụ lý đơn, giải quyết yêu cầu
của người nộp đơn thì chỉ còn mỗi việc
là thanh lý tài sản, các khoản nợ và
tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản.
Luật Phá sản năm 2004 đã quy
định một cách mềm dẻo, đủ điều kiện
xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản sớm hơn. Theo
đó, “Doanh nghiệp, hợp tác xã không
có khả năng thanh toán được các
khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu
cầu thì là lâm vào tình trạng phá sản”.
Theo quy định này, doanh nghiệp, hợp
tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá
sản chỉ cần có các dấu hiệu sau đây:
- Có khoản nợ đến hạn phải thanh
toán;
- Khi chủ nợ có yêu cầu;
- Không có khả năng thanh toán
được các khoản nợ này.
Tuy nhiên, quy định này cũng có
những cách hiểu khác nhau, gây tranh
cãi và mâu thuẫn với nhau, khiến cho
khó xác định chính xác và thống nhất
thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản.
a. Không có khả năng thanh toán
được các khoản nợ
Cách hiểu thứ nhất cho rằng,
không có khả năng thanh toán là điều
kiện bắt buộc và khi nộp đơn người
nộp đơn phải chứng minh được doanh
nghiệp, hợp tác xã không có khả năng
thanh toán, không còn tài sản, không
có nguồn tài chính cần thiết đủ để
thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Theo cách hiểu thứ hai thì doanh
nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào
tình trạng phá sản khi không thanh
toán khoản nợ đến hạn bất kể lý do gì.
Do vậy, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã
không thanh toán các khoản nợ đến
hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì chủ nợ
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
23
có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản. Nếu cho rằng doanh nghiệp,
hợp tác xã mình chưa lâm vào tình
trạng phá sản thì doanh nghiệp, hợp
tác xã phải chứng minh những lý do
chưa thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Hai cách hiểu theo hai dấu hiệu
khác nhau. Cách hiểu thứ nhất theo
dấu hiệu nội dung: phải có đủ cơ sở
chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã
đó lâm vào tình trạng phá sản. Cách
hiểu thứ hai theo dấu hiệu hình thức
doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh
toán các khoản nợ vì bất kể lý do gì và
nghĩa vụ chứng minh thuộc về chính
doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.
Cũng xuất phát từ những dấu hiệu
xác định doanh nghiệp, hợp tác xã bị
lâm vào tình trạng phá sản mà Luật
phá sản của các nước có đưa ra khái
niệm “mất khả năng thanh toán tạm
thời” (hay còn gọi là mất khả năng
thanh toán tương đối) và “mất khả
năng thanh toán vĩnh viễn” (hay mất
khả năng thanh toán tuyệt đối). Rất
tiếc pháp luật phá sản ở nước ta chưa
có khái niệm này.
- Mất khả năng thanh toán tạm
thời là tình trạng tổng toàn bộ tài sản
có của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc
nợ lớn hơn tổng số nợ phải trả của
doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ,
nhưng tại một thời điểm xác định
doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ
không có ngay các khoản tiền để trả
cho các chủ nợ khi họ yêu cầu.
- Mất khả năng thanh toán vĩnh
viễn là tổng toàn bộ tài sản có của
doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ
không đủ để thanh toán các khoản nợ
của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.
b. Thời hạn không thanh toán
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7
của Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 thì sau thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà
không được doanh nghiệp thanh toán
nợ, chủ nợ không có bảo đảm và chủ
nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp
đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính
của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết
việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Tuy nhiên, Luật Phá sản năm
2004 không quy định về thời hạn nộp
đơn mà chỉ quy định “khi nhận thấy
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản thì các chủ nợ không có
bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần
đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã đó” (khoản 1 Điều 13). Tương
tự, quyền và nghĩa vụ nộp đơn được
quy định tại các điều 14, 15, 16, 17 và
18 đều có chung một dấu hiệu là “khi
nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản ”.
Như vậy, khác với Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản
năm 2004 chỉ quy định dấu hiệu doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng
phá sản mà không quy định một thời
hạn cụ thể. Nếu chỉ theo dấu hiệu xác
định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào
tình trạng phá sản như tiêu chí của
Luật Phá sản năm 2004 thì dấu hiệu đó
có thể sớm, có thể muộn và như vậy sẽ
dẫn đến việc áp dụng pháp luật tuỳ
tiện.
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
24
Theo chúng tôi, tuy Điều 3 Luật
Phá sản năm 2004 không quy định thời
hạn không có khả năng thanh toán là
bao lâu nhưng không nên máy móc áp
dụng ngay sau khi quá hạn và đã có
yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp, hợp
tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản.
Yêu cầu thanh toán của chủ nợ ở đây
cần được hiểu là yêu cầu này được đưa
ra sau khi hết hạn thanh toán và định
một thời hạn cho doanh nghiệp, hợp
tác xã mắc nợ thanh toán. Chỉ sau khi
hết thời hạn này thì mới phát sinh
quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản.
Nếu trong hợp đồng hoặc tại văn
bản xác nhận nợ, hai bên có thoả
thuận, định thời hạn được chậm thanh
toán thì chỉ qua thời hạn chậm này và
chủ nợ đã yêu cầu thanh toán nhưng
không được thanh toán thì mới phát
sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản.
c. Thời điểm nộp đơn và tổng số
chủ nợ, tổng số nợ
Vấn đề tiếp theo để xác định chính
xác thời điểm nộp đơn là có hay không
cần thiết việc xác định tổng số chủ nợ,
tổng số nợ.
Khái niệm về tình trạng phá sản
tại Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 chỉ
nêu đến các khoản nợ đến hạn, không
nói đến số nợ đó có giới hạn là bao
nhiêu và bao nhiêu chủ nợ. Quy định
này cũng gây không ít khó khăn trong
thực tiễn áp dụng, bởi khái niệm tình
trạng phá sản là khái niệm quan trọng
quyết định của một quá trình tiến hành
thủ tục phá sản. Theo pháp luật các
nước, tình trạng phá sản được quan
niệm rất khác nhau. Có nước căn cứ
vào dòng tiền mặt của doanh nghiệp
khi không có tiền để thanh toán được
một khoản nợ nhất định. Có nước xác
định tình trạng phá sản khi cân đối
giữa tổng các khoản nợ và tổng tài sản
của doanh nghiệp. Khi nào tổng số nợ
nhiều hơn tổng tài sản có của doanh
nghiệp thì doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản.
Vậy các khoản nợ đến hạn cần
được hiểu như thế nào. Xuất phát từ
đây có quan điểm cho rằng phải có ít
nhất là hai khoản nợ và phải có từ hai
chủ nợ trở lên thì Toà án mới nhận đơn
và xem xét khả năng có thụ lý đơn và
mở thủ tục phá sản hay không. Nếu chỉ
có một chủ nợ nộp đơn thì Toà án
không nhận đơn Toà án chỉ nhận đơn
khi có hai chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản trở lên và khi đó Toà
án không cần thiết phải xem xét mỗi
chủ nợ có số nợ là bao nhiêu. Quan
niệm này dẫn đến tình trạng các chủ
nợ phải “rủ nhau” hoặc “thông báo”
cho nhau, “liên kết” với nhau để chống
lại doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.
Đây cũng là nội dung cần xem xét
hướng dẫn thi hành hoặc có những quy
định chi tiết, cụ thể hơn. Nếu chỉ có
một chủ nợ thì chủ nợ đòi theo thủ tục
dân sự. Quan điểm thứ hai xuất phát từ
khái niệm tình trạng phá sản quy định
tại Điều 3 Luật Phá sản, luật không
yêu cầu số nợ là bao nhiêu và bao
nhiêu chủ nợ. Do vậy, khi chủ nợ có
khoản nợ đến hạn không được thanh
toán mặc dù đã có yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác xã mắc nợ thanh toán
thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản và Toà án phải
nhận đơn. Ủng hộ quan điểm này có ý
kiến cho rằng, dù chỉ có một khoản nợ
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
25
nhưng khi quá hạn không thanh toán
thì nợ gốc, lãi phát sinh và còn cả việc
bồi thường thiệt hại, cho nên được
hiểu đó là “các khoản nợ”.
Trên thực tế, không ai muốn đòi
nợ theo thủ tục phá sản bởi thủ tục vừa
kéo dài mà khoản nợ đòi được không
biết sẽ là bao nhiêu %. Nếu chỉ có một
chủ nợ thì chủ nợ đó sẽ đòi nợ theo thủ
tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự
(tại Toà kinh tế hoặc Toà dân sự).
Trường hợp các chủ nợ độc lập với
nhau thì các chủ nợ sẽ đòi nợ bằng các
vụ án dân sự. Do vậy, đây cũng là nội
dung cần được hướng dẫn và khi có
điều kiện thì quy định rõ và cụ thể
hơn.
Để hiểu chính xác hơn khi nào thì
khởi kiện vụ án dân sự và khi nào thì
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản,
chúng tôi cũng tập trung làm rõ hai
khái niệm “vụ án dân sự” và “việc giải
quyết phá sản”.
Về vụ án dân sự: Theo quy định
tại Bộ luật tố tụng dân sự, đặc biệt tại
các điều 25, 29 và Điều 31, khi có
tranh chấp, cá nhân, tổ chức, cơ quan
có quyền khởi kiện tại Toà án có thẩm
quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Như vậy, vụ
án dân sự nhằm giải quyết những tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ.
Việc giải quyết phá sản: Có khoản
nợ đến hạn, không có khả năng thanh
toán khoản nợ này. Như vậy, khoản nợ
được yêu cầu giải quyết theo thủ tục
phá sản phải là khoản nợ đã rõ ràng,
không có tranh chấp.
Kết luận đưa ra là: không thể khởi
kiện tại Toà án khoản nợ đến hạn, đã
rõ ràng, không còn tranh chấp nhưng
khi yêu cầu thì doanh nghiệp, hợp tác
xã mắc nợ không thanh toán.
Do vậy, trong tương lai, khi có sự
sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm
2004, chúng tôi kiến nghị cần định ra
với số nợ tối thiểu là bao nhiêu thì chủ
nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản.
d. Về thời điểm phát sinh nghĩa
vụ, nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản
Cũng như các quy định về quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
khoản 1 Điều 15 quy định: “1. Khi
nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản thì chủ
doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp
của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó”.
So với những đối tượng có quyền nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì chủ
doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp
của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ
hơn ai hết là người hiểu được tình
trạng thực của doanh nghiệp, hợp tác
xã mình. Do vậy, nếu ý thức được lợi
ích của việc nộp đơn xin tự nguyện
phá sản thì doanh nghiệp, hợp tác xã
sẽ sớm nộp đơn yêu cầu Toà án mở thủ
tục phá sản. Tuy nhiên, Luật không
định ra một thời hạn cụ thể thì còn rất
nhiều lý do để cho chủ doanh nghiệp
hoặc đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn
đúng thời hạn. Theo chúng tôi, khi quy
định nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản thì cần phải quy định thời
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC XÉT XỬ
———————————————————————————————————————
26
hạn phải thực hiện nghĩa vụ đó, như
vậy mới đảm bảo hiệu lực của điều
luật.
Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 cũng không định ra một thời hạn
cụ thể đối với doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản, mà chỉ quy định:
“Trong trường hợp đã thực hiện các
biện pháp khắc phục khó khăn về mặt
tài chính để thanh toán các khoản nợ
đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh
nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng
mất khả năng thanh toán các khoản nợ
đến hạn thì chủ doanh nghiệp hoặc đại
diện hợp pháp của doanh nghiệp phải
nộp đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở
chính của doanh nghiệp yêu cầu giải
quyết việc tuyên bố phá sản doanh
nghiệp” (Điều 9).
Theo chúng tôi, cần quy định thời
điểm phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản của chủ doanh
nghiệp, đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp, hợp tác xã đã lâm vào tình
trạng phá sản sớm hơn thời điểm phát
sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản. Ví dụ luật có thể quy
định: ngay sau khi đến hạn thanh toán
nợ nhưng xét thấy doanh nghiệp, hợp
tác xã không có khả năng thanh toán
khoản nợ đó, hoặc ngay sau khi chủ nợ
từ chối yêu cầu khất nợ, từ chối gia
hạn nợ theo đề nghị của doanh nghiệp,
hợp tác xã mắc nợ. Và cần “luật hoá”
thời điểm này tại Điều 15 Luật Phá
sản. Khoản 1 Điều 15 Luật Phá sản
cần quy định lại như sau: “Sau 15 ngày
kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản, chủ doanh
nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó”.
2. Ngƣời có quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản
Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 quy định 3 đối tượng có quyền
nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên bố phá
sản doanh nghiệp, đó là chủ nợ không
có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một
phần (Điều 7); người lao động (Điều
8) và chủ doanh nghiệp hoặc đại diện
hợp pháp của doanh nghiệp (Điều 9).
Theo Luật Phá sản năm 2004, quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
được quy định cho Chủ nợ; Người lao
động; Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã,
đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà
nước, Cổ đông công ty cổ phần, Thành
viên hợp danh công ty hợp danh;
Doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào
tình trạng phá sản thì có nghĩa vụ nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Như vậy, so với Luật Phá sản
doanh nghiệp năm 1993, Luật Phá sản
năm 2004 đã mở rộng thành phần (đối
tượng) nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản, ngoài chủ nợ, người lao động,
chủ doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đại
diện hợp pháp của họ còn có chủ sở
hữu doanh nghiệp nhà nước (Điều 16)
cổ đông Công ty cổ phần (Điều 17) và
thành viên hợp danh của Công ty hợp
danh.
a. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản của chủ nợ
Khoản 1 Điều 13 Luật Phá sản
năm 2004 quy định: “Khi nhận thấy
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình
trạng phá sản thì các chủ nợ không có
bảo đảm, hoặc có bảo đảm một phần