Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Đề tài giúp GVCN làm tốt công tác duy trì sĩ số (2008-2009)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (153.89 KB, 16 trang )


G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
I. MỞ ĐẦU

1) Lí do chọn đề tài
Đã là con người thì ai ai cũng cần phải biết lao động, mà muốn
lao động thì phải có kiến thức và kinh nghiệm, có những kỹ năng cơ bản,
muốn vậy thì phải được học. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX nêu rỏ: “… Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia
đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng Chủ Nghóa Xã Hội, lòng nhân ái, ý thức tôn
trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chòu
nghèo hèn. Đào tạo lớp người có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề
nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn
lên về khoa học và công nghệ…”. Xuất phát từ đó, những năm gần đây Đảng
và Nhà nước ta luôn xác đònh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, mọi
người ai ai cũng phải được học . Thế nhưng trong thời gian qua, tình trạng
học sinh lưu ban, bỏ học ở đơn vò chúng tôi là vấn đề đáng quan tâm, có
năm tỉ lệ học sinh bỏ học lên đến hơn 5% (năm học 2006-2007), cao nhất so
với các đơn vò bạn trong huyện. Và theo tôi, duy trì só số là một trong những
nhân tố quan trọng nhất góp phần quyết đònh chất lượng và hiệu quả đào
tạo của một trường, một lớp, một đòa phương. Thực tiễn cho thấy duy trì só
số là một việc làm không dễ chút nào đối với đòa phương chúng tôi nói
chung và ở đơn vò tôi nói riêng bởi lẽ nó phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh gia
đình học sinh (nhà nghèo, gặp khó khăn về kinh tế bắt con phải bỏ học để
phụ giúp gia đình: coi nhà, ẩm em, đi làm thuê kiếm tiền phụ cha mẹ, hoặc
cha mẹ đi là ăn xa thiếu sự quản lí bỏ con ở nhà ăn chơi lêu lỏng…), phụ
thuộc vào đặc điểm tâm sinh lí của các em (các em đang ở độ tuổi tập làm
người lớn, thường hành động theo suy nghó riêng, không thích bò rầy la,
mắng nhiếc…), ngoài ra còn phụ thuộc vào môi trường xã hội và bạn bè
xung quanh các em,…


Duy trì só số học sinh tạo điều kiện cho mọi người được học là
một việc làm không chỉ của riêng ai nhưng trong đó không thể thiếu vai trò
của giáo viên chủ nhiệm-người trực tiếp theo dõi và quản lí học sinh.
Phương pháp làm việc của giáo viên chủ nhiệm lớp hiện nay chủ yếu chỉ
dựa vào kinh nghiệm cá nhân của bản thân giáo viên chứ chưa được học tập
và nghiên cứu bài bản qua trường lớp. Một khi công tác duy trì só số không
thành công thì hiệu quả đào tạo sẽ giảm sút, uy tín đơn vò không cao, làm
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
1

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
ảnh hưởng đến tâm lí học sinh, gây nên dư luận xã hội,… Vì vậy, sau gần 4
năm được Ban giám hiệu nhà trường phân công làm công tác chủ nhiệm
lớp, với lí do nêu trên tôi đã quyết tâm đầu tư nghiên cứu để tìm ra những
giải pháp hợp lí cho công tác duy trì só số-chống học sinh bỏ học ở lớp tôi
chủ nhiệm nói riêng và các lớp còn lại trong đơn vò tôi nói chung. Với giải
pháp này, tôi mong muốn sự đầu tư nghiên cứu của mình sẽ góp phần giúp
đơn vò kéo giảm tỉ lệ học sinh bỏ học mà trước hết là việc duy trì só số của
lớp tôi chủ nhiệm phải đạt tỉ lệ 100%, không có học sinh nào phải bỏ học
giữa chừng.

2) Đối tượng nghiên cứu
- Các giải pháp hợp lí giúp giáo viên chủ nhiệm thực hiện việc
duy trì só số đạt tỉ lệ 100%
- Học sinh lớp 7/4 năm học 2006-2007, học sinh lớp 7/5 năm học
2007-2008 và học sinh lớp 7/5 năm học 2008-2009 của trường THCS An
Hòa.
- Phương pháp làm việc của các giáo viên chủ nhiệm lâu năm,

có nhiều kinh nghiệm về công tác duy trì só số-chống học sinh bỏ học.
3) Phạm vi nghiên cứu
Năm học 2006-2007, năm học 2007-2008 và năm học 2008-2009 ở
trường THCS An Hòa
4) Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng chủ yếu các phương pháp
sau:
1. Phương pháp quan sát
2. Phương pháp điều tra giáo dục: trưng cầu ý kiến
3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
II. NỘI DUNG

1) Cơ sở lý luận
Giáo dục là quốc sách hàng đầu, duy trì só số chống học sinh bỏ
học là vấn đề có ý nghóa quan trọng, là giải pháp tích cự để đáp ứng nhu
cầu của xã hội về nguồn nhân lực để thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên đònh
mục tiêu là phải làm sao cho mọi người được học; học để trước hết là phục
vụ cho bản thân, sau là giúp ích cho xã hội, cho nước nhà. Trong thư gửi
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
2

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
học sinh nhân ngày khai trường tháng 9 năm 1945, Bác Hồ kính yêu của
chúng ta có căn dặn: “…Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không,
dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được
hay không, chính là nhờ phần lớn ở công học tập của các cháu,…”. Như vậy
muốn thực hiện được lời căn dặn của Bác thì mọi người cần phải được học,

vì vậy việc duy trì só số trong nhà trường là một việc làm cần thiết.
Gần đây, ngành giáo dục của chúng ta đã và đang phát động phong
trào “Xây dựng trường học thân thiện-Học sinh tích cực” mà một trong
những tiêu chí ắt phải có để thực hiện thành công phong trào này là việc
duy trì só số.
Mỗi em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường có thể ví như một
mầm xanh tương lai của môi trường, là một tế bào của xã hội. Vì thế nếu
như có một học sinh phải bỏ học giữa chừng thì xem như môi trường mất đi
một mầm xanh, xã hội phải chòu một tổn thất, cơ thể xã hội bò mất đi một tế
bào mà chỗ bò mất đi tế bào này sẽ trở thành một vết thương trên chính xã
hội. Công tác duy trì só số trong một trường học phần lớn được thực hiện bởi
giáo viên chủ nhiệm; làm tốt công tác này là giáo viên chủ nhiệm đã phần
nào thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ không kém phần quan trọng
của mình.
Trong nhà trường, nếu không quan tâm đến công tác duy trì só số thì tỉ
lệ học sinh bỏ học sẽ ngày càng cao, nó sẽ trở thành một gánh nặng cho xã
hội về nhiều mặt, ở nhiều khía cạnh. Hơn thế nữa, Nhà nước phải tốn thêm
những khoảng tiền không nhỏ cho việc đầu tư mở ra các lớp phổ cập, thầy
cô giáo phải mất thêm thời gian để giảng dạy thay vì được nghỉ ngơi, học
sinh thì mất thêm nhiều thời gian và công sức… mà kết quả mang lại ở
người học chất lượng (nếu xét đến cùng) thì hoàn toàn không bằng chất
lượng của các lớp chính khóa phổ thông.

2) Cơ sở thực tiễn
Học sinh trường THCS An Hòa phần lớn thuộc diện con của gia
đình nông dân nghèo, hoàn cảnh kinh tế gia đình còn gặp nhiều khó khăn,
còn một bộ phận phụ huynh chưa ý thức cao trong vấn đề xem trọng việc
học của con em mình: họ buộc con em mình phải ở nhà phụ giúp họ một số
việc lặt vặt như coi nhà, trông chừng em, nấu cơm,…để họ đi là kiếm tiền
trang trãi cuộc sống hoặc một số gia đình bắt con mình phải nghỉ học để

Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
3

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
vào làm công cho các xưởng mây tre lá trong đòa bàn xã để hy vọng kiếm
thêm chút ít tiền; có gia đình thì muốn con mình phải bỏ học để theo họ đi
làm xa,…
Một vài học sinh cá biệt thì kết bè phái bên ngoài nhà trường để đánh
nhau, lôi kéo nhau đi chơi game dần dần dẫn đến nguy cơ bỏ học. Một số
em thì có sức học yếu do mất căn bản từ các lớp dưới nên ớn học, nhiều lần
vắng không phép, hoặc tự làm đơn xin nghỉ học,… Một số em thuộc dạng
gia đình giàu có nên quan niệm con em mình dù có được đi học hay không
thì sau này cũng vẫn có cơ ngơi sẳn sàng, không sợ thất nghiệp cần gì phải
đăng kí đi học để tốn nhiều thời gian và tiền của…
Tỉ lệ duy trì só số của một vài lớp nói riêng và của toàn trường nói
chung hiện nay vẫn còn thấp. Một vài giáo viên do ít làm công tác chủ
nhiệm nên chưa có kinh nghiệm hoặc chưa thật sự quan tâm nhiều đến việc
duy trì só số mà lại quan niệm rằng “mấy đứa đó nếu nghỉ bớt thì lớp mình
sẽ tiến bộ hơn, dễ quản lí hơn”, hoặc quan niệm “thời buổi văn minh hiện
đại rồi, cần học thì ta dạy, không cần thì thôi chứ mắc gì ta phải “đi năn nỉ”
tụi nó vào học; biết đâu năn nỉ vào rồi thì không những không giúp nó tốt
hơn mà trái lại nó còn “quậy” làm lớp mình bò ảnh hưởng thi đua thì sao?”
Như vậy người giáo viên chủ nhiệm phải làm như thế nào để giải
quyết tốt các vấn đề trên nhằm thực hiện tốt công tác duy trì só số góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của đơn vò. Đó là vấn đề rất cần
thiết và rất cấp bách.
III. NỘI DUNG
Qua hơn 4 năm làm công tác chủ nhiệm lớp và qua 2 năm đầu tư để

tìm ra các giải pháp hữu hiệu giúp giáo viên chủ nhiệm duy trì só số-chống
học sinh bỏ học, tôi đã áp dụng thành công trong năm học 2007-2008 và
hiện đang áp dụng thành công trong học kì 1 năm học 2008-2009 với tỉ lệ
duy trì só số là hiện tại là 100% mặc dù lớp tôi có nhiều học sinh có hoàn
cảnh gia đình khó khăn (4 em thuộc diện gia đình nghèo, 3 em được xét
lãnh trợ cấp học bổng theo từng học kì) và nhiều học sinh cá biệt của năm
học trước được xét lên vào học lớp tôi chủ nhiệm. Tôi xin trình bày ra sau
đây những giải pháp đã giúp tôi thực hiện công tác duy trì só số đạt tỉ lệ
100%:

1) Giải pháp thứ nhất:
Tiến hành ngay từ khi nhận lớp:
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
4

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
Qua danh sách lớp, tôi tìm gặp giáo viên chủ nhiệm của các em
trong năm học trước để tìm hiểu thêm về hoàn cảnh gia đình các em, đặc
điểm tâm sinh lí của từng em, nhất là các em học sinh cá biệt rồi ghi vào sổ
tay những gì cơ bản nhất để có phương pháp giáo dục thích hợp cho từng
em.
Do đặc điểm tâm lí của lứa tuổi này là thường hay sợ thầy cô, một
số em thì “ghét” cái tính khó của thầy cô, nếu như giáo viên không nắm
được đặc điểm này thì những hành động của giáo viên có thể làm ảnh
hưởng đến hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy ngay từ buổi đầu gặp
lớp, tôi cố gắng “mở ý” để các em cảm thấy gần gũi hơn với thầy, có thể
mạnh dạn trình bày, bày tỏ hay đề đạt các ý kiến của mình. Điều này sẽ tạo
cho học sinh một tâm thế thoải mái khi tiếp chuyện với thầy, việc làm này

sẽ có tác dụng khi sau này giáo viên cần thu thập một số thông tin từ lớp.
Dó nhiên trong vấn đề tế nhò này, tôi chỉ tạo điều kiện cho các em ở mức độ
cho phép, không để các em đánh giá rằng thầy chủ nhiệm của mình dễ dãi
rồi muốn làm gì cũng được hoặc xem thường giáo viên chủ nhiệm dẫn đến
hậu quả cuối cùng là công tác quản lí học sinh sau này của giáo viên chủ
nhiệm sẽ gặp khó khăn. Còn ngược lại nếu như giáo viên chủ nhiệm thấy
được và giải quyết dung hòa hai vấn đề đó thì chắc chắn giáo viên sẽ dễ
dàng tiếp xúc và vận động các em có nguy cơ bỏ học quay trở lại với bạn
bè, thầy cô, trường lớp.
2) Giải pháp thứ hai:
Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp.
Cán bộ lớp là những em “đứng mũi, chòu sào” trong hầu hết các
hoạt động của lớp. Giáo viên chủ nhiệm có thành công trong công tác chủ
nhiệm của mình hay không là một phần lớn ở đội ngũ cán bộ lớp bởi vì cán
bộ lớp chính là những hạt nhân nòng cốt của lớp lãnh lớp thực hiện nhiệm
vụ mà nhà trường giao cho lớp thông qua giáo viên chủ nhiệm. Cán bộ lớp
là những người gần gũi, thân cận và tiếp xúc nhiều nhất với các thành viên
trong lớp từ đó các em hiểu được hoàn cảnh của bạn mình nhiều nhất. Do
đó nếu giáo viên chủ nhiệm tìm và xây dựng được đội ngũ cán bộ lớp có
năng lực, có uy tín với bạn bè, được bạn bè tín nhiệm là một việc làm rất
quan trọng. Có đôi lúc do đặc điểm tâm sinh lí, học sinh thường tâm sự với
bạn và nghe lời khuyên của bạn nhiều hơn là gia đình và giáo viên chủ
nhiệm. Cụ thể là ở năm học 2008-2009, ngay lớp tôi chủ nhiệm có một học
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
5

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
sinh tên Thái thường xuyên vi phạm nội quy học sinh như cúp tiết, vắng

không phép, tụ tập bạn bè để đánh nhau với các em khác,… tôi tiến hành
gặp gia đình của Thái và em bò cha mẹ la rầy nên bỏ nhà đi luôn trong 2
ngày; cả nhà đi tìm không gặp nên mới hỏi thăm tôi, tôi hỏi Đô-bạn thân
của Thái thì Đô nói là biết bạn mình đang ở đâu, tôi kết hợp với gia đình
nhờ em Đô nhắn lại với Thái là hãy về nhà xin lỗi ba mẹ rồi ba mẹ sẽ tha
lỗi cho đồng thời phải vào trường để xin lỗi thầy cô để được tiếp tục đi học.
Theo lời, Đô nói chuyện với Thái thì Thái đồng ý về nhà nhưng không chòu
đi học. Tôi bảo với Đô là em hãy cố gắng giúp gia đình bạn cũng như em
đã giúp cho tương lai bạn. Đô hứa với tôi là sẽ “bảo lãnh” và giúp Thái có
bài vở đầy đủ trước khi quay lại trường. Quả thật, Đô đã làm được điều đó.
Vì vậy để có được đội ngũ cán bộ lớp tốt thì trước hết tôi cho các em
tự bầu chọn, chọn những bạn mà các em thấy có năng lực, những bạn mà
các em cho rằng họ là những người “thủ lónh” dìu dắt mình trong học tập,
trong việc truyền đạt những ý kiến và những nguyện vọng chính đáng của
mình đến giáo viên chủ nhiệm. Trong quá trình bầu chọn, tôi luôn cố gắng
bao quát lớp để xem sự tín nhiệm của từng em đối với học sinh được bầu
chọn đồng thời nếu kết quả mà các em bầu chọn tôi thấy hợp lí thì tôi sẽ
nêu quyết đònh công nhận và phát biểu dặn dò tập thể lớp nói chung và cán
bộ lớp nói riêng, trao cho cán bộ lớp một số quyền hạn nhất đònh để các
em thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc phục vụ cho lớp.
3) Giải pháp thứ ba:
Tiến hành các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là một hình thức giáo dục góp phần
phát triển nhân cách học sinh về nhiều mặt như biết được cội nguồn dân
tộc, biết được quá trình đấu tranh hào hùng chống giặc ngoại xâm trong lòch
sử của ông cha, các em được giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, rèn
luyện kỹ năng nói và phát biểu trước đám đông,… Ngoài ra, nếu các hoạt
động ngoài giờ lên lớp được tổ chức tốt thì nó sẽ còn có một tác dụng cực kì
quan trong trong việc chống học sinh bỏ học là bởi vì qua các hoạt động,
học sinh sẽ thấy mình đoàn kết hơn, gần gũi hơn, với bạn bè, thầy cô,

trường lớp; các em sẽ phấn chấn hơn, tinh thần thoải mái hơn, vui vẻ hơn
trong việc học tập của mình. Vì vậy tôi đã chuẩn bò và xây dựng các buổi
hoạt động ngoài giờ trong năm học theo các tiêu chí cơ bản sau:
- Chia học sinh lớp theo từng đội nhỏ để trong các buổi hoạt động các
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
6

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
em có sự thi đua lẫn nhau giữa các đội gây ra không khí sôi nổi, hào hứng,
kích thích học sinh. Thường thì tôi chia mỗi đội khoảng từ 8-10 học sinh.
Mỗi đội phải tự bình chọn ra một đội trưởng có đủ năng lực điều khiển,
phân chia các bạn thực hiện giải quyết nhiệm vụ của nhóm.
- Tôi tự quyết đònh để chọn MC cho lớp. Điều này rất quan trọng vì
trong bất kì chương trình nào thì vai trò của người dẫn chương trình là vô
cùng quan trọng, chương trình có thành công mó mãn hay không là phần lớn
phụ thuộc vào vai trò của MC. MC phải thật sự vui tươi, năng nổ và đặc
biệt là phải có năng khiếu về các phong trào, được tập thể lớp đồng tình
ủng hộ, được tôi tập dợt, rèn luyện cho một số kỷ năng “quản trò” cơ bản.
- Trong các buổi hoạt động, học sinh thích nhất là được đóng các vở
kòch nhỏ xoay quanh các chủ đề nên tôi thường cho các đội tự xây dựng các
vở kòch để thi với các nhóm khác. Trong một vở kòch, nếu thiếu một học
sinh là đội mất đi một vai diễn và sẽ bò thua đội khác vì vậy các em thường
lôi kéo bạn mình cùng chơi. Theo tôi, đâây là nhân tố hạn chế tình trạng học
sinh bỏ học.
* Những việc nhỏ cần lưu ý trong việc tổ chức các buổi hoạt động
ngoài giờ là phải có các phần quà tuyên dương khen thưởng cho các đội đạt
thành tích xuất sắc nhưng đồng thời không nên nặng nề chê trách các đội
chưa đạt yêu cầu mà phải động viên các em cố gắng trong lần sau. Đồng

thời qua từng buổi hoạt động tôi tuyên truyền giáo dục học sinh để các em
thấy được tầm quan trọng của việc học đối với tương lai của bản thân, gia
đình và với xã hội để các em cố gắng theo học tới nơi, tới chốn, không bỏ
học giữa chừng.
Ngoài ra, tổ chức những chuyến đi thăm và tặng quà cho các gia
đình học sinh nghèo, gặp khó khăn cũng là một trong những việc làm ngoài
giờ lên lớp hết sức quan trọng vì qua đó các em sẽ thấy được tình thương
mà giáo viên chủ nhiệm nói riêng, bạn bè mình nói chung dành cho mình
như thế nào. “của ít – lòng nhiều”, qua đó tôi nhẹ nhàng “đánh khẽ” vào
tâm lí các em, đặc biệt là các em đứng trước nguy cơ bỏ học. Lớp tôi có
một em tên là Trung, là một học sinh có sức học yếu, phải chòu lưu ban ở
năm học trước, nay được xếp vào lớp tôi chủ nhiệm, gia đình em này hiện
đang gặp khó khăn về kinh tế có ý đònh bỏ học nên tôi đã họp cán bộ lớp
để quyên góp ủng hộ cho Trung, học sinh lớp vận động nhau được hơn
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
7

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
100.000 đồng, tôi thì thấy sợi dây thắt lưng của Trung bò sứt móc, phải cột
bằng chỉ nên tặng em một sợi dây thắt lưng khác, tặng thêm cho em một số
viết và một máy tính bỏ túi cũ mà tôi ít dùng đến. Đến nhà Trung, tôi chỉ
cho cán bộ lớp cách khuyên bạn, tôi thì tiếp chuyện với ba mẹ em và nhẹ
nhàng “đánh đòn tâm lí” với em. Kết quả là Trung và gia đình chấp nhận
cho em đi học trở lại.
4) Giải pháp thứ tư:
Xử lí học sinh vi phạm
Một bộ phận học sinh THCS nói chung và học sinh lớp 7 nói riêng
vi phạm nội quy học sinh là chuyện bình thường vì ở lứa tuổi đang tập làm

người lớn này các em chưa thật sự chính chắn trong suy nghó và hành động,
thích làm những việc theo suy nghó riêng mà các em tự cho là đúng,… Vì
vậy theo tôi mỗi khi các em có vi phạm thì việc xử lí là một nghệ thuật của
giáo viên chủ nhiệm vì nếu xử lí không khéo thì dễ dàng dẫn đến sự chán
nãn rồi bỏ học ở các em. Trong vấn đề này, tôi phân chia ra các trường hợp
cụ thể như sau:
- Đối với học sinh chỉ mới vi phạm 1-2 lần đầu: trước lớp, tôi phân tích
và chỉ ra trong số các việc làm của các em việc nào đúng, việc nào sai để
các em tự nhận xét và hứa trước lớp tự khắc phục sửa chữa.
- Đối với học sinh vi phạm từ 3-10 lần: tôi mời em cùng tôi đến gặp
Tổng phụ trách để kết hợp với Tổng phụ trách làm việc với các em này,
cho phạt lao động từ 1-2 buổi tùy theo mức độ vi phạm, nếu không sửa đổi
khắc phục đưa lên sân cờ cảnh cáo toàn trường.
- Đối với các em vi phạm từ 10 lần trở lên hoặc vi phạm thường xuyên
thì tôi xử lí theo quy trình sau:
+Cấp độ 1: Mời PHHS đến nhà trường cho làm cam kết sẽ cùng
nhà trường giáo dục con em mình tốt hơn, học sinh vi phạm lần này chủ yếu
xử lí bằng phương pháp giáo dục thuyết phục
+ Cấp độ 2: Xử lí ở cấp độ 1 không thành công, tôi lại tiếp tục mời
PHHS đến để làm việc lần 2, lần này thì phạt học sinh lao động sân trường
3 buổi, nếu còn tái phạm thì xử lí theo cấp độ 3.
+ Cấp độ 3: Mời PHHS đến để tiến hành đình chỉ học tập 7 ngày
gửi về gia đình quản lí và giáo dục thêm. Ở cấp độ này, tôi phân công học
sinh là bạn thân của các em vi phạm thường xuyên đến nhà gặp gỡ riêng để
khuyên bạn, giúp đỡ bạn.
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
8

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó

s o á
+ Cấp độ 4: Mời PHHS đến dẫn con mình về tiếp tục quản lí giáo
dục trong 30 ngày. Nhờ học sinh là bạn thân của các em này thường xuyên
đến nhà bạn mình chơi để xem sự chuyển biến của bạn mình như thế nào
rồi báo cho tôi biết để xử lí.
Trong giải pháp này tôi đặc biệt lưu ý đến tâm lí của HS và phụ
huynh, tránh trường hợp dùng lời lẽ nặng nề gây mặc cảm, tự ái cho họ.
Phải làm cho họ thấy được sự cần thiết của việc học của con em họ. Phải
biết nêu gương tốt cho các em noi theo. Khi học sinh vi phạm thì cho tự học
sinh đưa ra biện pháp khắc phục, nếu thấy hợp lí thì cho tiến hành. Khi xử
phạt lao động, nếu thấy học sinh có biểu hiện ăn năn hối cải, tích cực thực
hiện nhiệm vụ được phân công thì tôi gia giảm cho học sinh này bớt đi số
ngày phạt. Và lớp tôi trong năm học 2008-2009 này, có hai trường hợp cá
biệt, tôi phải xử lí đến cấp độ 4. Ở cấp độ này, học sinh hoàn toàn có
chuyển biến theo chiều hướng tốt sau khi gửi về gia đình quản lí. Như vậy,
kết hợp chặt chẽ với PHHS là một giải pháp hữu hiệu chống học sinh bỏ
học.
5) Giải pháp thứ năm:
Làm việc với phụ huynh học sinh (PHHS)
Liên lạc thường xuyên với PHHS sẽ giúp cho gia đình các em hiểu
thêm hơn về quá trình học tập và rèn luyện của con em mình ở trường, qua
đó cùng giáo viên chủ nhiệm có những giải pháp kòp thời ngăn chặn tình
trạng con em mình trốn học, bỏ học giữa chừng. Tôi cho rằng đây là giải
pháp không kém phần quan trọng trong việc giúp giáo viên chủ nhiệm thực
hiện công tác duy trì só số đạt hiệu quả cao. Tôi làm việc với PHHS chủ
yếu bằng các con đường sau:
- Sổ liên lạc: gửi cho PHHS theo đònh kỳ mà Ban giám hiệu quy đònh,
gửi theo yêu cầu của phụ huynh học sinh, nhất là các em cá biệt tôi thường
xuyên ghi các nhận xét cụ thể về hai mặt giáo dục để gửi về cho PHHS,
nếu họ có ý kiến đề xuất để kết hợp giáo dục con em mình thì cũng ghi vào

sổ và gửi lại cho tôi để tôi xem xét xử lí.
- Điện thoại: đây là hình thức liên lạc mà tôi thường sử dụng để
truyền đạt thông tin nhanh nhất giữa tôi và PHHS vì hiện nay khoảng 75%
PHHS đều có điện thoại. Qua Đại hội PHHS đầu năm, tôi lập sẳn danh sách
lớp để gửi đến từng phụ huynh và nhờ họ ghi cho số điện thoại để tiện liên
lạc. Hầu như 100% PHHS đều đồng ý cách làm này của tôi, ngay cả những
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
9

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
PHHS chưa có điện thoại cũng cho số của những người thân quen gần nhà;
còn tôi thì ghi ngay số điện thoại của mình vào trang đầu của sổ liên lạc sau
khi nhận sổ từ nhà trường để PHHS biết. Để tiết kiệm thời gian cho từng
PHHS, khi họ có nhu cầu xin phép cho con mình nghỉ học thì có thể gọi
điện thoại vào số máy của nhà trường (có in ở trang bìa của sổ liên lạc)
hoặc gọi trực tiếp cho tôi theo số điện thoại tôi ghi ở trang đầu tiên của sổ.
Ở đây, tôi chỉ thống nhất với phụ huynh cách xin phép này và đề nghò
họ không cho con em mình biết vì có thể các em nhờ người khác mà không
phải là PHHS của các em để gọi xin phép cho các em nghỉ học để đi chơi
lêu lỏng ở đâu đó hoặc để thực hiện một hành vi nào đó không được phép
làm.
Qua điện thoại tôi có thể biết ngay nếu có một học sinh nào nghỉ
không lí do bằng cách gọi cho cha mẹ các em để tìm hiểu và xác đònh
nguyên nhân chính, cùng họ giải quyết và ngăn chặn kòp thời hành vi không
đúng này; qua điện thoại, tôi cũng có thể gọi PHHS đến gặp ngay khi con
em họ bò bệnh hoặc xảy ra một sự cố nào khác ngoài ý muốn để cùng nhà
trường giải quyết kòp thời, qua đó học sinh sẽ thấy được lòng thương yêu
của tôi dành cho các em, sẽ tin tưởng vào tôi và nghe theo lời khuyên của

tôi. Mặc khác, khi PHHS có nhu cầu biết về quá trình rèn luyện của con em
mình trong một khoảng thời gian nào đó để có biệt pháp quản lí giáo dục
kòp thời thì họ cũng có thể liên hệ với tôi qua điện thoại.
- Mời PHHS đến trường qua thư mời: tôi thường áp dụng giải pháp này
đối với PHHS chưa có điện thoại. Qua trình bày, phân tích, trao đổi, tôi nhẹ
nhàng chỉ ra cho họ thấy những việc làm sai trái của con em mình và nhờ
họ đề xuất hướng khắc phục thích hợp, nếu thấy hợp lí thì tôi đồng ý
(thường thì hợp lí) còn nếu không thì tôi gợi ý cho PHHS rồi xin ý kiến họ.
Tôi cũng đặc biệt lưu ý là không phải mỗi việc nhỏ nào cũng mời PHHS
đến để “máng vốn” vì theo kinh nghiệm của tôi thì phụ huynh có con em
thường xuyên vi phạm nội quy thì rất dễ mặc cảm khi phải đến trường để
gặp tôi, sau đó họ có thể họ sẽ bỏ mặc con em mình học được thì học còn
không thì thôi. Tuy nhiên cũng có một số phụ huynh không ngại với điều đó
mà họ còn cảm ơn nhà trường đã quan tâm và cùng họ giáo dục con em
mình. Vì vậy, khi muốn mời phụ huynh của em nào thì tôi phải lưu ý đến
vấn đề này.
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
10

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
- Đến nhà gặp PHHS: đây cũng là một biện pháp giáo dục học sinh
có hiệu quả, nhưng nó mất nhiều thời gian của tôi vì tôi ở xã khác đến công
tác, phải hỏi thăm từ từ mới đến được nhà cần đến hoặc phải nhờ học sinh
gần đó dẫn đi. Tuy nhiên vì nhiệm vụ thiêng liêng của mình nên tôi không
ngại khó trong vấn đề này. Đến nhà thì có khi được phụ huynh niềm nở đón
tiếp, có phụ huynh thì tỏ vẽ không cần sự quan tâm của tôi vì họ cho rằng
không học được phổ thông thì đi học phổ cập; học phổ thông phải tốn nhiều
khoản tiền còn học phổ cập thì “được lo từ A tới Z”. Khi đó, tôi sẳn sàng

giải thích cho họ hiểu mọi vấn đề để cùng tôi góp phần thực hiện mục tiêu
giáo dục của Đảng và Nhà nước.
6) Giải pháp thứ 6:
Kết hợp chặt chẽ với Chi Đoàn, Liên Đội và các tổ
chức Đoàn thể khác trong và ngoài nhà trường để giáo dục học sinh
Song song với việc học tập bài vở, tính toán thì nhu cầu vui chơi
giải trí của các em là không thể thiếu và rất cần thiết giúp cho học sinh
không ớn học.
Kết hợp được với các tổ chức khác, cụ thể là tổ chức từ thiện trong
xã và các nơi khác phát học bổng giúp học sinh nghèo vượt khó. Điều này
là một niềm động viên to lớn của xã hội dành cho các em và gia đình các
em, giúp cho các gia đình này dù không nhiều nhưng cũng giải quyết được
phần nào việc học của con em họ. Liên tục hai năm liên, theo đề nghò của
giáo viên chủ nhiệm, lớp tôi có 3 học sinh được Ban giám hiệu xét cho
nhận học bổng với mức bình quân từ 350000 đồng đến 500000 đồng ở từng
học kì. Những phụ huynh của các em này cam kết sẽ cho con em mình được
đi học đến nơi đến chốn. Nhân dòp Tết Nguyên Đán, thân nhân của hai giáo
viên trong trường tôi có lòng hảo tâm tặng cho nhà trường 500kg gạo để
phát tặng cho học sinh nghèo của trường, trường xét cho mỗi em được 10kg.
Với phần quà không lớn này, tôi cùng cán bộ lớp đến nhà tặng cho Trúc-
một học sinh nghèo của lớp tôi được các bạn cùng lớp bình chọn, cha mẹ
em chạnh lòng cảm ơn đến rơi nước mắt. Họ cho biết có nhiều lúc tính dự
đònh cho bé Trúc nghỉ học ở nhà để coi nhà và trông chừng em để họ đi làm
mướn kiếm tiền trang trải cuộc sống; nhưng qua lời kể của bé Trúc về sự
động viên an ủi của tôi, bé Trúc xin cha mẹ tiếp tục cho em được đi học. Vì
lo cho tương lai con mình, họ đã từ bỏ ý đònh đó.
7) Giải pháp thứ 7:
Vận động học sinh đã bỏ học quay trở lại trường lớp:
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa

11

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
Đây là một việc làm rất khó khăn vì một khi các em đã rời khỏi
trường do một nguyên nhân nhất đònh nào đó mà lại được sự đồng ý của cha
mẹ các em. Vì vậy, tôi luôn tìm mọi biện pháp để ngăn chặn không cho
tình trạng này xãy ra, phải cố gắng giữ lấy các em ngay từ khi các em còn
đang ngồi trên ghế nhà trường. Trong hơn 1 năm học qua, lớp tôi không có
trường hợp nào bỏ học giữa chừng nhưng nếu giả sử có xảy ra thì tôi dự
đònh giải quyết như sau:
- Nếu học sinh đã nghỉ học là con em của gia đình giàu có, khá giả:
Tôi chủ yếu dùng lời lẽ thuyết phục cha mẹ các em thấy được tầm quan
trọng của việc học các em trong xã hội ngày càng văn minh này bởi vì gia
đình đã giàu có rồi thì cho dù các em có nghỉ học ở nhà đi nữa thì cũng
không giải quyết được gì mà ngược lại các em thiếu đi môi trường giáo dục
cho sự phát triển trí nảo.
- Nếu học sinh đã nghỉ học là con em của gia đình chỉ đủ cơm ăn, áo
mặc: Qua lời khuyên động viên gia đình, tôi giải thích cho họ hiểu về tầm
quan trọng của việc học đối với tương lai các em. Bên cạnh đó tôi động
viên học sinh, chỉ ra cho các em thấy việc hiện tại các em nghỉ học là chưa
cần thiết.
- Nếu học sinh đã nghỉ học là con của gia đình nghèo khó: Chỉ ra cho
gia đình các emï thấy sự cần thiết việc học đối với tương lai các em, động
viên gia đình cố gắng tạo điều kiện cho các em được đi học để tương lai các
em sau này được tươi sáng hơn, học để cải thiện cuộc sống, học để giúp ích
cho chính bản thân các em và cho chính xã hội. Đồng thời, tôi hứa với gia
đình là trong điều kiện cho phép, tôi sẽ cố gắng vận động sự quyên góp của
Công Đoàn, Chi Đoàn, Liên Đội, và Hội PHHS hoặc các tổ chức từ thiện
ủng hộ phần nào kình phí cho các em được tiếp tục đi học.

- Nếu học sinh đã nghỉ học là con của gia đình ít có truyền thống về
học tập: Thường thì các gia đình này có tâm lí an phận thủ thường, học tập
là vấn đề không được họ quan tâm lắm vì vậy việc động viên con em họ đã
bỏ học được đi học lại là việc làm rất khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì của giáo
viên chủ nhiệm. Nếu đến nhà vận động một lần mà họ chưa đồng ý thì tôi
phải kiên trì đến lần thứ hai, thứ ba,… để giải thích và thuyết phục họ; làm
cho họ thấy được việc cho con em mình nghỉ học hiện tại chỉ giúp được
phần nào nhu cầu cuộc sống hiện tại nhưng song song đó nó lại làm mờ dần
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
12

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
tương lai tươi sáng của các em ở phía trước.
8)
Giải pháp thứ 8:
Một số biện pháp khác:
Bên cạnh 6 giải pháp cơ bản trên, một số biện pháp nhỏ sau đây
cũng góp phần không nhỏ trong việc giúp tôi duy trì só số lớp được 100%:
- Thực hiện tốt các chỉ đạo của ngành, của đòa phương, của đơn vò; tích
cực tham gia nhiệm vụ phổ cập THCS.
- Tham khảo, học hỏi ý kiến của Ban Giám Hiệu và các giáo viên chủ
nhiệm khác có nhiều kinh nghiệm. Nắm chắc tình hình lớp, từng đối tượng
học sinh, nhất là học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh ớn học thường
xuyên báo cáo với Ban giám hiệu để xin ý kiến và nhận được sự hổ trợ và
giúp đỡ kòp thời ngăn chặn tình trạng học sinh có ý đònh sẽ nghỉ học.
- Hổ trợ giáo viên bộ môn (theo đề nghò của họ, xếp chỗ học sinh ngồi
theo vò trí họ yêu cầu, làm việc riêng với học sinh cá biệt để giáo dục tư
tưởng các em,…) để họ có được các tiết giảng sinh động, có chất lượng và

lôi kéo học sinh. Đề nghò họ tạo điều kiện cho các em học yếu kém có điều
kiện gỡ điểm khi bò điểm thấp.
- Lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng chính đáng của học sinh, đề
nghò của PHHS để có biện pháp xử lí phù hợp, kòp thời. Thường xuyên quan
tâm đến học sinh, nhất là học sinh nghèo và học sinh cá biệt: mượn sách
giáo khoa cho các em mượn, vận động bạn bè tặng tập trắng cho các em,…
Tổ chức phong trào “Nuôi heo đất” và thành lập “Hội khuyến học” ở ngay
tại lớp, các em học giỏi thì làm Hội trưởng, Hội phó, y viên có trách
nhiệm giúp đỡ cho các bạn học yếu kém; trong quá trình hoạt động, nếu có
gặp khó khăn thì báo cho tôi xem xét giải quyết.
- Lập hộp thư “Điều em muốn nói” đặt tại lớp để qua đó học sinh có
điều kiện đề đạt các ý kiến của mình trong việc xây dựng tập thể lớp; mỗi
tuần tôi mở một lần để giải trình cho các em. Với cách làm này, năm học
vừa qua tôi nhận được thông tin về hai em học sinh (một là con của gia đình
nghèo ớn học, một học sinh mồ côi cha, thường xuyên cúp tiết, vắng không
phép, đi chơi lêu lỏng) và đã xử lí kòp thời cho các em tiếp tục được học
đến cuối năm, bảo đảm được việc duy trì só số 100%.
- Qua Đại hội PHHS đầu năm, qua Sổ liên lạc, tôi cho PHHS các thời
khóa biểu của lớp để họ tiện theo dõi việc học của con em mình. Riêng nếu
em nào có đi học phụ đạo thì tôi đề nghò giáo viên bộ môn chòu khó kí tên
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
13

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
vào tập học sinh ở mội buổi cho PHHS theo dõi, tránh tình trạng các em
báo với gia đình là đi học nhưng thực chất là các em đi chơi lêu lỏng bên
ngoài.
- Khi có học sinh nghỉ học, tôi kết hợp với Ban quản lí ấp đến gia đình

để vận động các em đi học lại. Khi các em hòa nhập trở lại với trường lớp
thì tôi không khắc khe cứng nhắc lắm với các em mà phải “uốn nắn” từ từ,
tránh tình trạng “phản tác dụng” làm cho các em lại tiếp tục bỏ học. Đồng
thời tham mưu và đề nghò giáo viên bộ môn hơi linh hoạt, hơi thoáng cho
các em trong việc kiểm tra bài vở.
- Đề xuất và kiến nghò Ban Giám hiệu kết hợp với chính quyền đòa
phương giải quyết dứt điểm những tụ điểm buôn bán không đúng quy đònh
xung quanh vòng rào trường, làm việc với các cơ quan chức năng tăng
cường kiểm tra, giám sát và có biện pháp phù hợp với các công ty, xí
nghiệp trong đòa bàn thu nhận công nhân là người chưa đủ tuổi và trình độ.
Cùng Ban giám hiệu kêu gọi sự hổ trợ, giúp đỡ của Hội PHHS và các
mạnh thường quân trong việc quyên góp tiền bạc, vật chất giúp cho học
sinh nghèo đến trường, không nhất thiết là các em học khá giỏi mới được
chọn để các em thấy được sự quan tâm, lòng thương yêu và sự không phân
biệt đối xử của thầy cô đối với mình mà cố gắng học tập cho tốt.
- Yêu cầu học sinh nếu phát hiện bạn bè mình kéo bè, kéo cánh, rũ rê
nhau lập băng nhóm, bè phái thì phải báo ngay cho Ban giám hiệu, Tổng
phụ trách, giáo viên chủ nhiệm hoặc các thầy cô khác. Qua các buổi hoạt
động ngoài giờ, cho các em có điều kiện phát biểu cảm nghó và nêu lên các
ước mơ, hoài bão của mình để qua đó tuyên dương động viên các em có ý
tưởng tốt để làm gương cho các em khác trong việc khắc phục khó khăn nổ
lực học tập.
- Kiến nghò Ban giám hiệu tổ chức một Hội thảo chuyên đề về công
tác chủ nhiệm để giáo viên có điều kiện học hỏi lẫn nhau, cử giáo viên có
nhiều kinh nghiệm hơn làm công tác chủ nhiệm lớp 6 để tìm hiểu hoàn
cảnh, đặc điểm tâm lý từng em mà giáo dục tư tưởng đạo đức, uốn nắn cho
các em ngay từ đầu, nhất là đối với các em có những biểu hiện lơ là trong
học tập, tụ tập, bè phái,… làm nền móng cho các năm sau.

4) Kết quả:

Lúc đầu khi mới bước vào nghề nhưng lại được phân công làm
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
14

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
công tác chủ nhiệm, tôi rất lo lắng vì tôi đã cố hết sức nhưng vẫn không
thể nào thực hiện được việc duy trì só số đạt tỉ lệ 100%. Sau hơn hai năm
đầu tư nghiên cứu, giờ đây tôi đã tìm ra được giải pháp hữu hiệu giúp cho
giáo viên chủ nhiệm trong việc chống học sinh bỏ học, duy trì só số đạt tỉ lệ
cao. Tôi hoàn toàn tự tin vì đã áp dụng thành công với kết quả thực tế như
sau:
Giai đoạn Lớp TSHS Số HS nghỉ Tỉ lệ duy trì só số
Năm học: 2006-2007
7/4 42 2 95,2%
Năm học: 2007-2008
7/5 41 0 100%
Năm học: 2008-2009
(từ 9/2008-đến
2/2009)
7/5 38 0 100%
Nhận xét: Năm học 2006-2007, do tôi chưa có kinh nghiệm, chưa
xây dựng được hệ thống các phương pháp hữu hiệu chống học sinh bỏ học,
chưa biết dùng các biện pháp vận động và thuyết phục học sinh và cha mẹ
các em; vận động không thành công thì nãn chí, lơ là trong việc vận động
các lần sau; xử lí học sinh còn cứng nhắc, chưa linh hoạt, chưa quan tâm và
theo dõi chặt chẽ tình hình và diễn biến tâm lí của học sinh,…
III. KẾT LUẬN
1) Bài học kinh nghiệm

Trên đây là 8 giải pháp cơ bản giúp tôi thành công trong công
tác duy trì só số của lớp chủ nhiệm trong năm học 2007-2008 và hơn một
học kì của năm học 2008-2009. Tôi nhận thấy và tin rằng việc tìm ra giải
pháp này là việc rất cần thiết đối với công tác chủ nhiệm của mình. Bên
cạnh đó việc vận dụng giải pháp này vào thực tiễn đã giúp tôi tự rút ra một
số bài học kinh nghiệm sau:
1.1/ Lòng thương yêu học sinh và sự nhiệt tình công tác của tôi đã
giúp tôi thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
1.2/ Muốn thành công thì không nên ngại khó khăn, phải cố gắng sắp
xếp thời gian đến lớp thường xuyên để theo dõi tình hình lớp, nắm bắt và
xử lí thông tin kòp thời.
1.3/ Không nên nóng tính, nếu lỡ quá nóng thì phải biết kiềm chế bản
thân, xử lí học sinh chủ yếu phải bằng phương pháp giáo dục thuyết phục,
tránh sử dụng đòn, roi.
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
15

G i a û i p h a ù p g i u ù p G i a ù o v i e â n c h u û n h i e ä m l a ø m t o á t c o â n g t a ù c d u y t r ì s ó
s o á
1.4/ Phải biết tuyên dương kòp thời học sinh có tinh thần không ngại
khó khăn giúp bạn vượt khó cùng đến trường để các em từ đó phấn đấu hơn
nữa, các em khác thì lấy đó làm gương.
1.5/ Phải tìm hiểu và giúp đỡ kòp thời học sinh gặp khó khăn về tinh
thần và vật chất để các em có thể đến trường tiếp tục việc học.
1.6/ Qua tiếp xúc với lớp, giáo viên chủ nhiệm cần xây dựng được ở
học sinh lòng thương yêu, kính mến đối với mình, làm cho các em cảm thấy
vững tin và an tâm học tập khi được xếp vào lớp mình chủ nhiệm.
2) Hướng phổ biến và áp dụng của đề tài:
Sau khi hoàn thành đề tài này ở góc độ cá nhân tôi, tôi sẽ trình qua

Ban giám hiệu xem xét và đưa ra Hội đồng sư phạm nhà trường, nhất là các
giáo viên làm công tác chủ nhiệm nghiên cứu cho ý kiến đóng góp và chỉnh
sửa để áp dụng cho toàn đơn vò.
3) Hướng nghiên cứu tiếp đề tài:
Duy trì só số chỉ là một phần trong công tác chủ nhiệm lớp vì giáo
dục chỉ thật sự mang lại hiệu quả khi nó đảm bảo được hai yếu tố là số
lượng và chất lượng. Do đó, song song với việc duy trì só số đạt tỉ lệ cao thì
việc giáo dục đạo đức cho học sinh, giáo dục các em có tinh thần thái độ
học tập nghiêm túc là một việc có ý nghóa rất quan trọng và rất cần thiết,
nhất là trong giai đoạn đất nước đang mở cửa, xã hội ngày càng văn minh
và không ngừng chuyển biến phức tạp trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy
hướng nghiên cứu tiếp của tôi trong thời gian tới là tôi sẽ đầu tư để tìm ra
“Các giải pháp giúp giáo viên chủ nhiệm thành công trong việc giáo dục
đạo đức cho học sinh”.
Người thực hiện: Nguyễn Duy Tân Tra n g
Giáo viên trường THCS An Hòa
16

×