Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Hình thức 3 đoạn phức

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (785.17 KB, 21 trang )

1.Mở đầu:
Đầu thế kỷ XIX đánh dấu sự đi lên của phong trào âm nhạc Lãng mạn,
ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghệ thuật và làm phong phú thêm cho nền văn hóa
Châu Âu. Phong trào này nằm trong một cuộc nổi dậy chống lại tư tưởng cổ
điển và thời đại Ánh Sáng. Thuyết cổ điển chủ yếu bao gồm một hệ thống về
luật lệ trong nghệ thuật và tiêu chuẩn đi đôi với những điều luật về lẽ phải,
thứ bậc, và sự kiềm chế. Những nhà cổ điển tin rằng các bậc thầy La Mã và
Hy Lạp đã khám phá ra những quy tắc thẩm mỹ vững chắc, vì thế các kịch sĩ
và họa sĩ nên theo đó mà làm. Vào thế kỷ thứ XVIII, thuyết cổ điển được duy
trì dễ dàng vì tầng lớp này nắm vai trò lớn trong triều đình và trường học, nơi
mà các nghệ sĩ sinh sống và làm việc. Nhưng một điều cũng cần lưu ý ở đây:
phong trào âm nhạc Lãng mạn được là sự kế tục, sự tiếp nối truyền thống
sáng tạo nghệ thuật âm nhạc của trường phái âm nhạc cổ điển Viên. Hay nói
một cách khác, ngay trong sáng tác âm nhạc của các nhạc sĩ thuộc trường phái
âm nhạc cổ điển Viên cũng đã chứa đựng mầm mống, những nhân tố tiền đề
cho sự hình thành và phát triển của trường phái âm nhạc Lãng mạn.
Vào năm 1790 tại Anh và Đức thì tư tưởng lãng mạn đã phát huy, bộc lộ tình
cảm, tự do, và lòng hào hiệp, phát triển vững chắc nhất. Thêm vào đó là cuộc
cách mạng Tư sản Pháp 1789 với những tư tưởng cao cả về Tự do – Bình
đẳng – Bác ái làm nhen nhóm lên niềm tin lớn lao cho cả thế giới về một cuộc
xây dựng cấp tiến trong văn hóa và cuộc sống nghệ thuật. Nhưng ngay sau đó,
giai cấp tư sản phản động đã phản bội lại lợi ích của nhân dân, chống lại
những thành quả mà nhân dân đã giành lại được. Những thay đổi đó đã làm
cho cả châu Âu hoài nghi mất niềm tin vào tương lai tươi sáng của những ý
tưởng cao cả. Một không khí lo âu hoảng hốt bao trùm trong các tầng lớp
nhân dân, nhất là trong giới trí thức và nghệ sĩ. Khi mất niềm tin vào những tư
tưởng lớn lao mang tầm thời đại của trí tuệ, con người của thế kỷ XIX dường
như muốn tìm đến với những gì nhỏ nhắn, gần gũi, thân quen của thế giới tình
cảm. Khi mất niềm tin vào lý trí dường như con người ta lại muốn đặt niềm
tin vào tình cảm. Họ cho rằng: Trí tuệ có thể nhầm lẫn, còn con tim thì không
bao giờ.


Với chủ nghĩa âm nhạc Lãng mạn thì người nghệ sĩ bao giờ cũng cảm thấy
mình cô đơn giữa thế giới đầy biến động phức tạp của thời đại. Đó cũng là
mâu thuẫn đầy tính bi kịch giữa người anh hùng thời đại với thế giới xung
quanh. Chính vì vậy, trong sáng tác nghệ thuật âm nhạc của trường phái Lãng
1
mạn chúng ta thường gặp đề tài về sự cô đơn, về tình yêu, sự thất vọng về
những hoài bão không đạt được v.v…
Chú trọng đến tính dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật âm nhạc cũng là một đặc
điểm nổi bật đối với các nhạc sĩ của trường phái âm nhạc Lãng mạn. Các nhạc
sĩ thuộc trường phái âm nhạc Lãng mạn coi âm nhạc dân gian là nguồn chất
liệu vô cùng phong phú cho sáng tạo nghệ thuật. Thậm chí họ còn cho rằng
người nghệ sĩ sáng tác chỉ là người lắng nghe và ghi chép lại những sáng tạo
nghệ thuật của các nghệ sĩ dân gian, chính nhân dân mới là người sáng tạo ra
nghệ thuật âm nhạc. Di sản âm nhạc dân gian được các nhạc sĩ âm nhạc Lãng
mạn khai thác trên nhiều phương diện.
Nếu như cái nhà soạn nhạc ở thế kỷ thứ XVIII duy trì hệ thống trong âm nhạc
qua các bài nhạc giao hướng cổ điển, thì các thiên tài thời kỳ này đã sử dụng
một phạm vi hình thể rộng lớn để toại ra hàng ngàn phong cảnh âm nhạc và
gợi lên nhiều sự xúc động lớn. Những nhà soạn nhạc theo trường phái lãng
mạn làm tăng gấp ba lần số lượng nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng bằng
cách sử dụng các đàn gió (wind), trống (percussion), và thêm kèn (brass) và
đàn giây(string).
Các nhạc sĩ thuộc trường phái lãng mạn còn có chung một đặc điểm là tính
tiêu đề trong sáng tác khí nhạc. Rất nhiều tác phẩm khí nhạc được các nhạc
sĩ sáng tác đặt cho những tên gọi riêng, kể cả các tác phẩm thuộc thể loại giao
hưởng.
Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật khác của chủ nghĩa Lãng mạn trong âm nhạc
là tính trữ tình trong sáng tạo nghệ thuật. Thế giới nội tâm đầy suy tư của con
người được khai thác dưới nhiều góc cạnh. Và do vậy, các chủ đề âm nhạc
của các nhạc sĩ thuộc trường phái Lãng mạn thường mang tính ca xướng, giai

điệu dường như luôn có thể hát lên được. Đây cũng là giai đoạn thể loại ca
khúc hay các tiểu phẩm cho piano giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong
sáng tác của nhiều nhà soạn nhạc nổi tiếng như: F. Schubert, R. Schumann, F.
Chopin v.v và nhạc sĩ lãng mạn người Đức Felix Meldensohn là một trong
những nhạc sĩ tiêu biểu ở thời kỳ này.
2
2.Thân thế và sự nghiệp của Felix Meldensohn:
Felix Meldensohn (tên đầy đủ
là Jakob Ludwig Felix Mendelssohn
Bartholdy) sinh ngày 3/2/1809 ở
Hambuar trong một gia đình trí thức
giàu có. Ông nội là một triết gia nổi
tiếng, cha ông là một chủ ngân hàng
giàu có của người Do Thái. Bố mẹ
của F. Mendelssohn là những trí
thức có học vấn cao và lòng yêu
thích nghệ thuật. Chính vì vậy, từ
nhỏ F. Mendelssohn đã được tiếp thu
một nền học vấn đa dạng và có tính
chất hệ thống. Ông được học toán
học, văn học, hội hoạ, các ngôn ngữ
cổ đại và đương thời. Ông cũng
nhiều lần được tham gia các khoá
học của Trường Đại học tổng hợp.
Chính không gian trí thức cao mà F. Mendelssohn đã đắm mình từ thời thơ ấu
giữ vai trò quyết định trong việc hình thành thế giới quan của ông. Ngoài ra,
ông còn có mối quan hệ với nhiều đại diện nổi tiếng nhất của giới trí thức khoa
học và nghệ thuật – những người thường xuyên viếng thăm phòng khách của
gia đình ông ở Berlin như: Heghen, Iacov Grim, Hainơ, Veber, Spor, Paganini.
Và đấy là một trong những thuận lợi cho các hoạt động nghệ thuật trong suốt

cuộc đời ông sau đó. Mối giao thiệp trong nhiều năm với Goethe từ khi
Mendelssohn mới 12 tuổi có ý nghĩa quan trọng trong sự trưởng thành của nhà
soạn nhạc.
Từ những năm còn rất trẻ Mendelssohn đã có mối liên hệ chặt chẽ và hữu cơ
với văn hóa dân gian Đức. Ông hiểu rõ sinh hoạt của các nước châu Âu, nắm
vững được nhiều ngoại ngữ khác nhau, có mối quan hệ cá nhân và nghề nghiệp
ở Pháp, Italia và Anh, nhưng không khi nào, dù là những năm tháng tuổi trẻ
hay đã trưởng thành ông xa rời truyền thống âm nhạc cổ điển Đức.
Giữ vai trò quan trọng trong cuộc đời Mendelssohn là thầy giáo hòa âm Selter
– người nâng đỡ niềm tin vào tư tưởng của nghệ thuật kinh điển. Ngoài ra,
người chỉ đạo của Dàn hợp xướng không nhạc đệm Selter cũng chỉ cho người
3
nhạc sĩ trẻ tuổi sự phong phú và đa dạng của âm nhạc hợp xướng dân gian
truyền thống Đức. Sau này Mendelssohn đã chỉ huy dàn dựng thành công nhiều
tác phẩm của các nhà soạn nhạc thiên tài thế kỷ XVIII
Mendelssohn sớm nắm được chắc tri thức nghệ thuật âm nhạc. Từ 10 tuổi ông
đã bắt đầu sáng tác âm nhạc. Cho đến 17 tuổi, các sáng tác của cậu còn chịu
ảnh hưởng nhiều từ các nhà soạn nhạc vĩ đại như Mozart, Beethoven, Veber và
nhiều người khác. Bát tấu cho đàn dây (String Octet op.20, 1825) và Uverture
Giấc mộng đêm hè (Midsummer Night's Dream) (1826) là bắt đầu của một giai
đoạn chín muồi trong lao động sáng tạo nghệ thuật của Mendelssohn.
Vào cuối những năm 20 - đầu những năm 30 của thế kỷ XIX, Mendelssohn đã
sáng tác hàng loạt các tác phẩm xuất sắc của mình như: overture Nàng
Melusine xinh đẹp (The Lovely Melusine), Tập I của tập Bài ca không lời
(Lieder ohne Worte), Giao hưởng Italia (Italian Symphony), Concerto số 1
cho piano và dàn nhạc, phương án đầu tiên cho âm nhạc vở Đêm
Vanpurghieva đầu tiên của Goethe.
Trong 3 năm từ 1829 đến 1832, Mendelssohn đã có nhiều chuyến đi tới các
thành phố của các quốc gia khác nhau ở châu Âu như: Anh, Scotlan, miền nam
nước Đức, Áo, Italia, Thụy Sĩ và Pháp. Mendelssohn không hài lòng với tình

trạng văn hóa âm nhạc đương đại ở các nước này. Không chỉ ở Italia hay là
Pháp, mà ngay tại Vienna người ta cũng đã ít biểu diễn các tác phẩm của
Beethoven và Mozart.
Ngay khi trở về Đức và cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời,
Mendelssohn đã cống hiến nhiều sức lực, trí tuệ và tài năng cho các hoạt động
khai sáng. Ông đã nhận nhiều chức vụ, đã đi khắp đất nước để tuyên truyền cho
nghệ thuật vĩ đại của các nhạc sĩ cổ điển. Trong các buổi hòa nhạc do ông đứng
ra tổ chức thường vang lên âm nhạc viết cho hợp xướng của Palestrin, Laslo,
Handen, Bach; Bản giao hưởng số 8, Bản giao hưởng số 9, Egmon, Uverture
cho vở Leonora và nhiều tác phẩm khác của L.V. Beethoven; Đông Joăng,
Phigaro của W.A. Mozart; và nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ cổ điển khác.
Là một nghệ sĩ biểu diễn xuất sắc trong thời đại của mình, trong các chương
trình biểu diễn piano và organ, Mendelssohn thường tích cực tuyên truyền cho
loại hình âm nhạc nghiêm túc. Chính từ những đêm diễn này, rất nhiều thính
giả lần đầu tiên được làm quen với các sonata và concerto của Beethoven,
các concerto của Bach.
4
Một trong những hoạt động khai sáng có thể được coi là nổi bật nhất của
Mendelssohn là việc thành lập Nhạc viện đầu tiên của nước Đức tại Leipzig
(the Leipzig Conservatory ) vào năm 1843. Nhạc viện chính là nơi đào tạo
những người làm công tác âm nhạc ở trình độ cao của các chuyên ngành: sư
phạm, các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, hoà tấu thính phòng, chỉ huy
hợp xướng, chỉ huy dàn nhạc. Không có các chuyên gia ở trình độ cao thì
không thể có sự phát triển, không thể có những thành tựu lớn về phát triển
nghệ thuật của đất nước.
Trong số các nhà sư phạm của Nhạc viện Leipzig có nhiều nghệ sĩ biểu diễn và
sáng tác xuất sắc của nước Đức thời bấy giờ như R. Schumann. Hệ thống giáo
dục âm nhạc được tạo bởi Mendelssohn đã nhanh chóng được coi là cơ sở cho
sự hình thành các trường âm nhạc ở bậc cao của nước Đức và các vùng lân cận.
Các sáng tác của Mendelssohn giai đoạn từ giữa những năm 30 đến giữa những

năm 40 xuất hiện nhân tố anh hùng ca và tính chất hoành tráng. Còn trong các
tác phẩm viết cho dàn nhạc những năm 40 như Uverture Riu Blaz, Giao hưởng
Xcotland, Concerto violon lại xuất hiện tính kịch vốn không phải là bản chất
trong các sáng tác trước đây của Mendelssohn. Nhưng những khuynh hướng
kịch tính mới này không kịp có sự phát triển xa hơn trong sáng tác của
Mendelssohn. Từ năm 1846, Mendelssohn đã buộc phải hạn chế các hoạt động
sư phạm và chỉ huy dàn nhạc của mình. Ông mất ngày 4 tháng 11 năm 1847 tại
Leipzig (Đức) khi chưa đầy 39 tuổi.
2.1.Đặc điểm sáng tác và nội dung tác phẩm của Felix
Mendelssohn:
Có thể nói sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật âm nhạc của Felix Mendelssohn
là một trong những hiện tượng có ý nghĩa lớn lao nhất trong nền văn hoá Đức
thế kỷ XIX. Hàng loạt sáng tác của người nghệ sĩ này, cũng như của Hainơ,
Schumann, Vagner đã phản ánh cao trào nghệ thuật và những bước tiến xã hội
xảy ra giữa hai cuộc cách mạng 1830 và 1848.
Sinh hoạt văn hoá của nước Đức những năm 30 - 40 là không gian gắn với các
hoạt động nghệ thuật của F. Mendelssohn. Trong các hoạt động nghệ thuật của
mình ông luôn hướng tới ý nghĩa lớn lao làm thức tỉnh những tư tưởng cao cả
của các nhà soạn nhạc kinh điển. F. Mendelssohn hoạt động ở rất nhiều lĩnh
vực khác nhau: sáng tác âm nhạc, chỉ huy dàn nhạc, biểu diễn đàn piano, tổ
chức biểu diễn, sư phạm âm nhạc. F. Mendelssohn nhìn thấy trong nghệ thuật
5
của Beethoven, Handel, Bach, Gluck sự thể hiện ở đỉnh cao của văn hoá tinh
thần và nhiệt tình đấu tranh để khẳng định những nguyên tắc trong sinh hoạt
âm nhạc đương thời nước Đức.
Chính khát khao hướng tới sự tiến bộ đã xác định cá tính trong sáng tạo nghệ
thuật của F. Mendelssohn. F. Mendelssohn cũng là người rất chú ý đến nền âm
nhạc dân gian truyền thống của nước Đức. Trong nhiều tác phẩm, đặc biệt ở
các romance, chúng ta có thể gặp rất nhiều đường nét giai điệu gần gũi với âm
điệu dân gian.

Đặc điểm chính trong sáng tác của Felix là ông thích viết theo hình thức cổ
điển cân đối, rõ ràng nên người ta thường gọi ông là nhạc sỹ cổ điển lạc vào
thế giới lãng mạn. Cảm xúc trữ tình của ông khác với những nhạc sĩ khác ở
chổ nó êm dịu ôn hòa khác với Schuman trữ tình xáo động, Schubert trữ tình
triết lý. Còn nội dung tác phẩm của ông thường miêu tả thiên nhiên chung
chung mà không diễn tả con người. Ông có công lớn trong việc phát triển một
số thể loại mới như khúc mở màn ( Uvertuyar) biến thành thể loại riêng biệt và
độc lập.
2.2. Một số tác phẩm của Felix Mendelssohn:
* Các tác phẩm giao hưởng (tất cả có 14):
- Giao hưởng c-moll op.1 (1824).
- Uverture Giấc mộng đêm hè op.21 (1826).
- Giao hưởng Italia, A-dur, op.90 (1833).
- Giao hưởng Scotland, a-moll, op.56 (1830-1842)
* Tác phẩm cho piano và dàn nhạc:
- Cappriccio brillant cho piano và dàn nhạc giọng h-moll, op.25 (1832).
- Concerto số 1 cho piano và dàn nhạc, g-moll, op.25 (1831).
- Concerto số 2 cho piano và dàn nhạc, d-moll, op.40 (1837).
* Tác phẩm cho violon và dàn nhạc:
- Concerto cho violon và dàn nhạc, e-moll, op.64 (1844)
* Tác phẩm cho piano(gồm 30 tập):
6
- 8 tập Bài ca không lời, (1832-1845).
- "Các biến tấu nghiêm khắc", d-moll, op.54 (1841).
- Rondo capriccioso e-moll, op.14 (1824).
- 6 Prelude và fuga op.35 (1832-1837).


7
3.Phân tích tiểu phẩm “Hunting Song” trong tuyển

tập “Bài ca không lời” của Felix Mendelssohn:
Tuyển tập Bài ca không lời viết cho piano giữ vai trò trung tâm trong toàn
bộ di sản sáng tạo nghệ thuật của Mendelssohn. Ý nghĩa của nó trong sự
nghiệp sáng tác của Mendelssohn có thể so sánh với ý nghĩa của các bài tình
ca trong sáng tác âm nhạc của F. Schubert. Mendelssohn đã hướng tới thể loại
âm nhạc này hầu như trong suốt cuộc đời lao động sáng tạo nghệ thuật của
mình. Đặc điểm nổi bật nhất, thống nhất các bài khác nhau của Bài ca không
lời là sự gần gũi của chúng với bài hát dân gian sinh hoạt thời đó.
Mendelssohn cũng là người viết nhiều cho các giọng hát. Ông đã sáng tác hơn
80 ca khúc trên lời thơ của các nhà thơ Đức như: Hainơ, Imperman,
Aixendor, Lenau. Mendelssohn đã mang vào âm nhạc cho piano những giai
điệu trữ tình, đằm thắm của thể loại thanh nhạc. Trong phần lớn các bài tiểu
phẩm Bài ca không lời mang đặc điểm tình ca thính phòng cùng phần đệm
piano. Một đặc điểm nổi bật của phắc tuya âm nhạc trong tập Bài ca không
lời là giai điệu mang tính ca xướng dàn trải có âm điệu gần gũi với những âm
điệu trữ tình sinh hoạt và phần đệm ẩn chứa các tiến hành giai điệu trong việc
sử dụng những thủ pháp màu sắc mới của cây đàn piano.
Tiểu phẩm Hunting Song được viết ở hình thức ba đoạn phức, giọng A dur,
với nhịp 6/8 có cấu trúc sơ đồ như sau:
Mở
đầu
A B A’
5
Nhịp
a b a b a b
C1
5
nhịp
C2
6

nhịp
C1
7
nhịp
C2
7
nhịp
C1
13
nhịp
C2
13
nhịp
C1
6
nhịp
C2
6
nhịp
C3
9
nhịp
C1
4
nhịp
C2
4
nhịp
C1
7

nhịp
C2
10
nhịp
A dur A dur A dur
‘‘Hunting song’_ ‘‘Bài ca đi săn’’ như đưa chúng ta vào quang cảnh của cuộc
đi săn đầy thú vị, sôi nổi, mà những người thợ săn như là một phần của thiên
nhiên hoang dã. Họ đã sẵn sang để đi hết cuộc hành trình săn bắt những con
thú trong rừng. Mà trong cuộc đi săn ấy, thì những kẻ nhanh nhẹn mới sống sót
trước những thú dữ và thiên nhiên rộng lớn. Khi đã săn được con mồi, họ hân
hoan và cười vang với chiến thắng mình vất vả đạt được mà đi săn ấy còn ý
nghĩa nhiều hơn là chỉ giết vì thức ăn. Cuộc hành trình tiềm kiếm ấy vẫn tiếp
diễn, họ tiếp tục ở trong rừng đến khi nào mang về thật là nhiều chiến lợi
phẩm, họ nghĩ rằng chúng chẳng thể nào trốn thoát những con vật bốn chân vì
chúng không phải là thông minh nhất. Chúng ta sống trong rừng và nơi đây chỉ
có những kẻ nhanh mới sống sót và chỉ có kẻ mạnh nhất mới tồn tại. Kết thúc
chuyến đi săn họ trở về nhà với niềm vui sướng, và những người thân yêu của
8
họ càng vui mừng hơn khi thấy những người thợ săn đầy hùng mãnh trở về
bình an.
Với sắc thái cảm xúc (molto allegro vivace) thì tiết tấu của bài rất nhanh, đầy
sôi nổi sống động và vui tươi.
Đoạn mở đầu: gồm 5 nhịp với tiết tấu nhanh, mạnh, lối tiến hành giai điệu đi
lên quãng 3 như tạo nên cảm giác sinh động về không khí nhộn nhịp của những
người thợ săn đang hao hức trong chuyến đi săn của mình.
Phần A:phần trình bày trần thuật chủ đề, viết ở dạng 2 đoạn đơn phát triển(a-b).
Đoạn a, gồm 2 câu nhạc:
Câu 1: gồm 5 nhịp, kết bậc V giọng Adur, giai điệu của ô nhịp đầu giữ nguyên
quãng 4, sau đi lên chồng âm của điệu thức Adur - thể hiện từng bước đi đầy
mạnh mẽ khí thế tiến vào khu rừng của những người thợ săn, mà nơi họ sẽ chiến

đấu không mệt mỏi với những thú dữ.

9
Câu 2: nhắc lại môtip chủ đề và phát triển thêm, gồm 6 nhịp, và ly điệu sang
giọng Fa thăng thứ (fis moll) và chùm âm bậc VII ở bè tay trái – những người
thợ săn đang tiến vào khu rừng bao la hung vĩ mà cảm giác như họ quá nhỏ bé.

Đoạn b, gồm 2 câu:
Câu 1: gồm 7 nhịp, với lối tiến hành giai điệu và tiết tấu tương tự như đoạn a,
và ở đây cũng ly điệu sang giọng Đô thăng thứ (cis moll) – sắc thái mạnh ở 2 ô
nhịp đầu, sau đó nhỏ lại như họ đã lấy lại tinh thần rằng họ sẽ không sợ trước
thiên nhiên rộng lớn đó.


10
Câu 2: gồm 7 ô nhịp , có 2 ô nhịp đi lên quãng 8, tính chất dồn dập tiến lên, tiết
tấu nhanh hoạt bát, giai điệu cùng với những nốt chấm giật để tạo nên khí thế
hào hùng như lúc ban đầu.


Phần B: phần phát triển tự do viết ở hình thức 2 đoạn đơn (a-b).
Đoạn a, gồm 2 câu: phát triển mới về giai điệu, tạo tính căng thẳng và kịch tính.
Câu 1: gồm 13 ô nhịp, kết bậc I giọng Adur, ô nhịp đầu bắt đầu bằng âm VII, ở
bè giai điệu tác giả đã sử dụng nhiều nốt đen chấm dôi tạo nên không khí căng
thẳng bao trùm lên những người thợ săn, họ đang bước vào cuộc săn đuổi đầy
nguy hiểm, nhưng họ luôn tỏ ra khôn ngoan mưu trí nhanh nhẹn hơn bao giờ
hết.

11
Câu 2: cũng gồm 13 ô nhịp, kết âm chủ của giọng Adur, giai điệu đi lên đầy

kịch tính, bè tay phải có trường độ nốt đơn là âm chủ cách nhau 1 quãng 8 tạo
nên khí thế vững chắc. Lối tiến hành hòa thanh đơn giản, cùng sắc thái mạnh,
tiết tấu nhanh – như cuộc săn vẫn đang tiếp diễn trong tinh thần không mệt mỏi,
không sợ sệt.

Đoạn b, gồm 3 câu:
Câu 1: 6 nhịp, mô phỏng gần như giống hoàn toàn câu1đoạn a của phần trình
bày, kết bậc IV giọng Adur.
12
Câu 2: gồm 6 nhịp, ở phần giai điệu cũng đã sử dụng những nốt chấm giật nối
qua nốt móc đơn, cùng với bè trái là chùm âm 3, 4 và kết bậc I6/Adur.
Câu 3: dài hơn câu1 và câu2, gồm 9 nhịp, kết bậc I6/Adur. Được phát triển
thêm, cũng nhắc lại phần trình bày bằng những âm hình ampe của gam Adur.
Từ đầu ô nhịp với sắc thái nhỏ nhẹ, sau đó từ từ mạnh dần lên đến ô gần cuối là
cực mạnh, đồng thời mang màu sắc dịu hơn ban đầu – đây cũng là thời điểm mà
những người thợ săn hùng dũng đã thu được thành quả lao động đầy nguy hiểm
của mình.
13
Phần A’: là phần tái hiện lại của phần A, gồm 2 đoạn
Đoạn a, gồm 2 câu:
Câu 1: 4 nhịp, nhắc lại chủ đề của phần phát triển đoạn b, đặc biệt là giai điệu
chính đã chuyển sang tay trái, còn bè tay phải là những âm rải đi xuống liền bậc
1 quãng 3 và kết bậc I/Adur.
Câu 2: 4 nhịp tương tự như câu1, nhưng kết bậc V giọng chính.
Đoạn b, gồm 2 câu: nhắc lại chủ đề ở tay trái.
Câu 1: 7 nhịp, bè giai điệu cũng sử dụng âm rãi như 2 câu trên, nhưng ô nhịp
thứ 2 âm rải đã được nâng lên quãng 8 – thể hiện niềm vui chiến thắng đầy vẻ
vang, mà họ hiểu rằng chỉ có họ, một phần của thiên nhiên vĩ đại này mới có thể
làm được điều đó.
14

Câu 2: 10 nhịp, âm hình tiết tấu tương tự như câu1, kết thúc toàn bài là một
chùm âm đơn và nốt đơn về âm chủ tạo nên sự ngắt hoàn hảo trong niềm hân
hoan vui sướng của con người.
15
4.Kết luận :
Felix Mendelssohn là một hiện tượng rất đặc biệt trong âm nhạc lãng mạn
thế kỷ XIX. Không phải chịu đựng cảnh nghèo khổ như Franz Schubert, cũng
không bị bệnh tật giày vò như Robert Schumann hay phải sống xa xứ như
Frederic Chopin, Mendelssohn có thể toàn tâm toàn ý cống hiến cho âm nhạc
mà không phải chịu bất kỳ sức ép hay những lo toan đời thường nào. Cuộc đời
ông cũng thanh bình như chính âm nhạc của ông vậy. Có thể nói toàn bộ sự
nghiệp sáng tác của Mendelssohn có nhiều nét tương đồng với Mozart trong đó
nổi bật lên là sự dịu dàng và trong sáng. Những miền đất ông đã đi qua, những
phong cảnh thiên nhiên mà ông yêu thích đều làm cảm xúc trong Mendelssohn
tuôn trào và hình thành nên những tác phẩm xuất sắc.
Không hề buông thả cho xúc cảm cá nhân như các nhạc sỹ lãng mạn đồng thời,
âm nhạc của Mendelssohn không ngừng nuôi dưỡng sự cảm thông và trở thành
một kiểu mẫu thẩm mỹ cho cuộc sống chính trực. Điều này thể hiện ngay cả
trong những ca khúc của ông viết cho đơn ca hay dàn hợp xướng và đặc biệt là
các tác phẩm viết cho piano rất gần gũi gắn liền với những bài hát dân gian
trong đời sống tinh thần, sinh hoạt, lao động của con người lúc bấy giờ; và vào
những ngày nghỉ hoặc kỉ niệm, các gia đình thường tổ chức những buổi tiệc nho
nhỏ, mọi người quây quần bên nhau cùng đàn hát, ấm cúng và đầy tình thân ái.
“Bài ca đi săn” - viết dựa trên âm điệu dân ca và dân vũ, đẹp như những vần
thơ, rất gần gũi với nét đẹp văn hóa trong sinh hoạt của dân tộc Đức – đó là
công việc những người thợ săn, mục đích của họ không những đi tìm nguồn
thức ăn để nuôi sống bản thân mà lấy đó là niềm vui, niềm thích thú, bởi họ
nghĩ rằng chính mình là một phần của thiên nhiên hoang dã. Và bài tiểu phẩm
với lối cấu trúc 3 đoạn phức đã thể hiện xuyên suốt , tái hiện lại rất sống động,
rộn ràng, đầy gay cấn căng thẳng, đã tạo cho người nghe mường tượng lại

chuyến đi săn ấy.
16
HUNTING SONG
From “Song without Words” – Opus 19 No 3
17
18
19
20
21

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×