Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
Mục lục
Lời mở đầu 4
Phần 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5
1.Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5
1.1.Khái niệm cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5
1.2.Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp 5
1.3.1.Xu hướng phát triển của nền kinh tế 5
1.3.2.Hình thức sở hữu của doanh nghiệp 6
1.3.3.Quy mô hoạt động của doanh nghiệp 6
1.3.4.Đặc điểm cấu trúc tài sản của doanh nghiệp 6
1.3.5.Các nhân tố khác 6
2.ý nghĩa phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 7
2.1.Đối với bản thân doanh nghiệp 7
2.2.Đối với chủ thể kinh tế khác 7
3.Phân tích cấu trúc tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp 8
3.1.Phân tích cấu trúc tài sản của doanh nghiệp 8
3.1.1.Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài sản 9
3.1.1.1.Tư trọng tài sản cố định 9
3.1.1.2.Tư trọng đầu tư tài chính 10
3.1.1.3.Tư trọng hàng tồn kho 12
3.1.1.4.Tư trọng các khoản phải thu khách hàng 13
3.1.2.Phân tích biến động tài sản của doanh nghiệp 14
3.2.Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp 15
3.2.1.Phân tích tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp 16
3.2.1.1.Tư suất nợ 16
3.2.1.2.Tư suất tự tài trợ 17
3.2.1.3.Tư suất nợ trên vốn chủ sở hữu 17
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
3.2.2.Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ 18
4.Phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp 19
4.1.Vốn lưu động ròng 21
4.1.1.Khái niệm vốn lưu động ròng 21
4.1.2.Các trường hợp của vốn lưu động ròng và ảnh hưởng của nó đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp 22
4.2.Nhu cầu vốn lưu động ròng và phân tích nhu cầu tài chính 23
4.3.Ngân quỹ ròng 24
Phần 2: Phân tích cấu trúc tài chính tại khách sạn Fortuna 26
1.Giới thiệu chung về khách sạn 26
1.1.Quá trình hình thành và phát triển 26
1.2.Chức năng, nhiệm vụ 27
1.3.Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 28
1.4.Đặc điểm bộ máy quản lý tài chính tại khách sạn 30
1.5.Tổ chức công tác kế toán tại khách sạn 33
1.5.1.Tổ chức bộ máy kế toán tại khách sạn 33
1.5.2.Hình thức tổ chức sổ sách kế toán 36
2.Phân tích cấu trúc tài chính tại khách sạn Fortuna 37
2.1.Phân tích cấu trúc tài sản tại khách sạn 37
2.1.1.Các chỉ tiêu phản ánh tài sản tại khách sạn 37
2.1.1.1.Tư trọng tài sản ngắn hạn tại khách sạn 38
2.1.1.2.Tư trọng phải thu khách hàng 39
2.1.1.3.Tư trọng hàng tồn kho 39
2.1.1.4.Tư trọng tài sản dài hạn 39
2.1.1.5.Tư trọng tài sản cố định 39
2.1.2.Biến động tài sản tại khách sạn 40
2.2.Phân tích cÂu nguồn vốn tại khách sạn 43
2.2.1.Phân tích tính tự chủ về tài chính tại khách sạn 43
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
2.2.1.1.Tư suất nợ 45
2.2.1.2.Tư suất tự tài trợ 45
2.2.1.3.Tư suất nợ trên vốn chủ sở hữu 46
2.2.2.Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ tại khách sạn 46
2.2.2.1.Tư trọng nguồn vốn thường xuyên 47
2.2.2.2.Tư trọng nguồn vốn tạm thời 48
2.2.2.3.Tư trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn thường xuyên 48
2.3.Phân tích tính cân bằng tài chính tại khách sạn Fortuna 49
2.3.1.Vốn lưu động ròng tại khách sạn 49
2.3.2.Nhu cầu vốn lưu động ròng tại khách sạn 50
2.3.3.Ngân quỹ ròng tại khách sạn 50
Phần 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện cấu trúc tài chính tại
khách sạn Fortuna 51
1.Nhận xét về cấu trúc tài chính tại khách sạn Fortuna 51
1.1.Ưu điểm 51
1.2.Nhược điểm 53
2.Mục tiêu của khách sạn trong những năm tới 53
3.Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện cấu trúc tài chính tại khách sạn 55
Kết luận 57
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
lời mở đầu
Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, sơ
cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng trở nên gay gắt. Để đứng vững trên thị
trường, để có được các quyết định kinh doanh đúng đắn, bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng đều quan tâm đến tình hình tài chính, nó được đặt lên hàng đầu vì ổn định
tình hình tài chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu quản lý kinh tế ngày càng cao, các doanh nghiệp đã có
sự quan tâm thích đáng đến công tác phân tích tình hình tài chính. Việc phân tích
tình hình tài chính giúp cho thông tin cung cấp trên các Báo cáo tài chính thực sự
có ý nghĩa với người sử dụng. Qua phân tích họ có căn cứ để đánh gi tốt hơn tình
hình sử dụng vốn cũng như thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác định được
các nhân tố ảnh hưởng, mức độ cũng như xu hướng tác động của từng nhân tố đến
kết quả kinh doanh, từ đó các đối tượng quan tâm có thể ra quyết định tối ưu nhất.
Bên cạch đó việc phân tích cấu trúc tài chính còn cho ta biết được nguồn vốn
đơn vị đang sử dụng được hình thành từ những nguồn tài trợ nào? Trong điều kiện
nh thế nào thì doanh nghiệp cần huy động thêm nguồn vốn cho hoạt động của
mình? Đồng thời, phân tích cấu trúc tài chính sẽ giúp ta đánh giá được hiệu quả
hoạt động cũng nh mức rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên và để hiểu sâu hơn trong thực
tiễn, trong thời gian thực tập tại Khách sạn Fortuna em mạnh dạn chọn đề tài:
“Phân tích cấu trúc tài chính tại khách sạn Fortuna” làm đề tài chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
Chuyên đề gồm ba phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
Phần 2: Phân tích cấu trúc tài chính tại khách sạn Fortuna
Phần 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện cấu trúc tài chính tại
khách sạn Fortuna
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
PHẦN 1
Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
1. Khái niệm phần tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
1.1.Khái niệm cấu trúc tài chính doanh nghiệp
Cấu trúc tài chính phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và cả mối
quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Cấu trúc tài sản là quan hệ tỉ lệ giữa các loại tài sản của doanh nghiệp.
Cấu trúc nguồn vốn thể hiện quan hệ tỉ lệ giữa các loại nguồn vốn.
1.2.Khái niệm phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
Phân tích cấu trúc tài chính là phân tích khái quát tình hình đầu tư và huy động
vốn của doanh nghiệp, chỉ ra các phương thức tài trợ tài sản để làm rõ những dấu
hiệu về cân bằng tài chính.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp
1.3.1.Xu hướng phát triển của nền kinh tế, ngành
Xu hướng phát triển của nền kinh tế, ngành mà doanh nghiệp hoạt động có tác
động lớn đến định hướng phát triển của doanh nghiệp. Nền kinh tế ở trạng thái ổn
định với xu hướng phát triển tích cực thúc đẩy nhanh các doanh nghiệp thực hiện
chiến lược đầu tư mở rộng hoặc nâng cao chất lượng hƯ thống cơ sở vật chất kĩ
thuật nhằm nâng cao cạnh tranh, tăng cường năng lực hoạt động, mở rộng thị
trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động các nguồn vốn thích hợp
phục vụ cho quá trình hoạt động.
Ngược lại, nếu nền kinh tế đang rơi vào trường hợp tiêu cực như các doanh
nghiệp bị ràng buộc điều kiện nào đó mà khả năng tăng vốn chủ sở hữu là khó
khăn. Đứng trước những cơ hội phát triển sẽ thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm các
nguồn vay nợ từ bên ngoài để đầu tư khai thác cơ hội kinh doanh thuận lợi. Lúc
này, hiệu ứng đòn bẩy nợ sẽ phát huy tác dụng làm tăng giá trị doanh nghiệp. Vì
vậy, quá trình này sẽ tác động đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
1.3.2.Hình thức sở hữu của doanh nghiệp
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì bị ràng buộc bởi những quy định có
tính pháp lý về tư cách pháp nhân, điều kiện hoạt động cũng như cơ chế vận hành
và các mục tiêu hoạt đông khác nhau. Do đó, điều kiện và khả năng tiếp cận các
nguồn tài trợ từ bên ngoài cũng khác nhau.
Đứng trước một cơ hội phát triển, thì các công ty cổ phần, công ty niêm yết sẽ
dễ dàng huy động nguồn vốn từ bên ngoài như từ thị trường chứng khoán hay gia
tăng NVCSH bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc gia tăng vốn góp của
các thành viên, cổ đông. Nhưng đối với những doanh nghiệp tư nhân thì việc gia
tăng VCSH rất khó khăn, họ phải tự mình đi vay nợ bên ngoài để đầu tư. Nh vậy
ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có cách duy trì một cấu trúc tài chính hợp
lÝ.
1.3.3.Quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Những doanh nghiệp đạt quy mô lớn là kết quả của một quá trình hoạt động
lâu dài, được nhiều người biết đến và tạo được uy tín trên thị trường. Đồng thời
tương ứng với quy mô lớn thì những doanh nghiệp này có một tiềm lực tài chính
mạnh và dồi dào. Nên họ có khả năng huy động được nhiều nguồn vốn trên thị
trường tài chính và gặp nhiều thuận lợi hơn so với các doanh nghiệp khác trong
việc vay nợ.
1.3.4.Đặc điểm cấu trúc tài sản của doanh nghiệp
Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp có hai bộ phận: TSNH và TSDH. Doanh
nghiệp nào có nhiều TSDH thì rủi ro xảy ra càng nhiều vì có đòn bẩy kinh doanh
lớn. Mặt khác, TSDH thường được dùng làm vật thế chấp khi đi vay nợ nhằm đảm
bảo độ an toàn cho các chủ nợ khi xảy ra rủi ro. Do đó, để giảm bớt rủi ro thì các
doanh nghiệp có tư trọng TSDH cao thì nên duy trì tư suất nợ thấp, đảm bảo tính ổn
định của cấu trúc tài chính.
1.3.5.Các nhân tố khác
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
Ngoài ra còn có các nhân tố khác ảnh hưởng tới cấu trúc tài chính như thuế
thu nhập doanh nghiệp, điều kiện kinh doanh, quy mô kinh doanh, sự linh hoạt của
hoạt động tài chính.
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Doanh nghiệp chịu thuế thu nhập thì lãi vay trị
ra khỏi lợi nhuận khi tính thuế, do đó nó kích thích doanh nghiệp vay ngân hàng
hơn. Khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tăng thì tư trọng vốn vay trên tổng
nguồn vốn tăng, doanh nghiệp vay ngân hàng có lợi hơn là không vay.
Điều kiện kinh doanh thuận lợi thì để nâng cao hiệu ứng đòn bẩy tài chính
doanh nghiệp tăng cường vay ngân hàng.
Quy mô kinh doanh phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp thì các tài sản
phân bổ hợp lÝ hơn. Doanh nghiệp thường có tỉ trọng từng loại tài sản ước tính sao
cho phù hợp với doanh nghiệp mình để có kế hoạch phân bổ vốn cho từng loại tài
sản. Khi quy mô kinh doanh được coi là đủ về số lượng và chất lượng thì sự phân
bổ vốn cho từng loại tài sản sẽ đúng theo dự tính, không gặp phải trường hợp đầu
tư đủ ở tài sản này nhưng lại thiếu ở tài sản khác hoặc thừa ở tài sản này thiếu ở tài
sản khác.
Sự linh hoạt của hoạt động tài chính: Nếu thị trường tài chính quốc gia nơi
doanh nghiệp hoạt động phát triển mạnh thì cấu trúc tài chính của doanh nghiệp dễ
được thay đổi một cách phù hợp.
2.ý nghĩa phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp giúp cho các nhà phân tích thấy
được xu hướng, bản chất của chỉ tiêu tài chính mà nhà phân tích cần tìm hiểu. Từ
đó nhà quản trị có thể ra quyết định đúng đắn về việc hoàn thiện cấu trúc tài chính
hoặc đầu tư và huy động vốn.
Tuỳ theo mỗi chủ thể kinh tế mà phân tích cấu trúc tài chính có ý nghĩa khác
nhau.
2.1. Đối với bản thân doanh nghiệp
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
Đối với bản thân doanh nghiệp thì việc phân tích cÂu trúc tài chính nhằm giúp
doanh nghiệp thấy được tình hình đầu tư và huy động vốn từ đó có thể dự đoán
được hiệu quả hoặc rủi ro tài chính có thể xảy ra. Vì vậy doanh nghiệp có thể giữ
nguyên cấu trúc nh cũ hoặc thay đổi cho phù hợp với chiến lược phát triển của
mình.
Khi phân tích cấu trúc tài sản nhà quản lý có thể điều chỉnh tư trọng từng loại
tài sản. Tuỳ theo doanh nghiệp, tuỳ theo chính sách phát triển của doanh nghiệp mà
có thể tăng hay cắt giảm hàng tồn kho, nên đầu tư vào loại tài sản nào, thời điểm
nào là hợp lý,
Phân tích cấu trúc nguồn vốn, nhà quản trị có thể thấy được tình hình tài chính
của doanh nghiệp ổn định, tự chủ và cân bằng không từ đó có thể điều chỉnh cấu
trúc nguồn vốn theo mong muốn của mình. Trong điều kiện kinh doanh thuận lợi
nếu nh doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả tài chính cao thì tư suất nợ cao nhưng hiệu
quả cao luôn gắn với rủi ro cao. Ngược lại doanh nghiệp muốn đảm bảo an toàn thì
tỉ suất nợ thấp. Khi tư suất nợ cao doanh nghiệp có hai cái lợi đó là: thuế thu nhập
doanh nghiệp đánh trên lợi nhuận sau khi trị chi phí lãi vay va thường thì chi phí lãi
vay doanh nghiệp phải trả cho các tổ chức tín dụng nhỏ hơn cổ tức phải chia cho
các cổ đông.
2.2. Đối với chủ thể kinh tế khác
Một ngân hàng trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay hay không thì ngân
hàng xem khả năng thang toán của doang nghiệp. Cụ thể là các tư số của các chỉ
tiêu tư suất nợ, đòn bẩy tài chính, hệ số khả năng thanh toán. Do đó một doanh
nghiệp muốn huy động được vốn vay từ các tổ chức khác thì phải đảm bảo các yêu
cầu về khả năng thang toán.
Cũng nh ngân hàng, các nhà đầu tư trước khi quyết định đầu tư vào doang
nghiệp cũng xem tình hình tài chính của doanh nghiệp có đảm bảo an toàn cho vốn
đầu tư và có khả năng đem lại lợi nhuận không. Vì vậy các chỉ số của các chỉ tiêu
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
nh tư suất nîm đòn bẩy tài chính, hệ số khả năng thanh toán, tư suất sinh lời của tài
sản, được các nhà đầu tư xem xét và so sánh trước khi có quyết định đầu tư.
3.Phân tích cấu trúc tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
3.1.Phân tích cấu trúc tài sản của doanh nghiệp
Phân tích cấu trúc tài sản nhằm đánh giá sự phân bổ vốn trong cơ cÂu tài sản
của doanh nghiệp xem có hợp lý không. Có nghĩa là tư trọng các loại tài sản trong
tổng tài sản có phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, qui mô kinh
doanh, chính sách đầu tư và huy động vốn của doanh nghiệp. Sự hợp lý trong đầu
tư vốn cho từng khoản mục tài sản đem lại hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
3.1.1.Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài sản
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài sản tủ thuộc vào mục tiêu của nhà phân
tích. Tuy nhiên chúng ta chỉ nghiên cứu một số chỉ tiêu cơ bản như: tư trọng đầu tư
tài chính, tư trọng khoản phải thu khách hàng, tư trọng hàng tồn kho và tư trọng tài
sản cố định, bởi vì dựa vào sự biến động của các chỉ tiêu này nhà phân tích có thể
hình dung được tình hình phân bổ vốn của doanh nghiệp và sự ảnh hưởng của cÂu
trúc tài chính hiện tại đối với hiệu quả tài chính.
Công thức tổng quát phản ánh cấu trúc tài sản:
Giá trị tài sản loại i
Tư trọng tài sản loại i = * 100%
Tổng tài sản
Giá trị tài sản loại i là giá trị thuần của các khoản mục tài sản trên Bảng cân
đối kế toán: Khoản phải thu, TSC§, đầu tư tài chính,
Tổng tài sản là số tổng cộng phần tài sản trên Bảng cân đối kế toán.
Ta có thể nghiên cứu một số chỉ tiêu cơ bản sau:
3.1.1.1. Tư trọng tài sản cố định
Công thức tư trọng TSC§ được thiết lập nh sau:
Giá trị còn lại TSC§
Tư trọng TSC§ = * 100%
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
Tổng tài sản
Chỉ tiêu trên thể hiện cơ cấu giá trị tài sản cố định trong tổng tài sản, phản ánh
mức độ tập trung vốn hoạt động của doanh nghiệp. Giá trị của chỉ tiêu này tuỳ
thuộc vào đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh. Do đó để đánh giá tính hợp lý trong
đầu tư TSC§ cần xem số liệu bình quân ngành.
Mặt khác khi phân tích cần chú ý tới một số vấn đề sau:
- Đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh
- Chính sách và chu kì hoạt động của doanh nghiệp. Trong giai đoạn
đầu tư phát triển thì tư trọng TSC§ cao, ngược lại trong giai đoạn suy
thoái phải thanh lý tài sản thì tư số chỉ tiêu này thấp.
- Do được tính theo giá trị còn lại của TSC§ nên phương pháp khấu hao
có thể ảnh hưởng đến giá trị của chỉ tiêu này.
- TSC§ được phản ánh theo giá gốc và việc đánh giá lại TSC§ thường
phải theo quy định của nhà nước, nên chỉ tiêu này có thể không phản
ánh đúng giá trị thực của TSC§.
- Ta có thể tách biệt từng loại TSC§ để tính tư trọng giúp cho việc đánh
giá chính xác hơn.
3.1.1.2. Tư trọng đầu tư tài chính
Giá trị các khoản đầu tư tài chính
Tư trọng đầu tư tài chính = * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản đầu tư tài chính chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này đánh giá được tình hình đầu
tư của doanh nghiệp như thế nào, đồng thời so sánh giữa hiệu quả đầu tư và đầu tư
tài chính của doanh nghiệp. Có hai loại đầu tư tài chính:
- Chỉ tiêu đầu tư tài chính ngắn hạn: Là các khoản đầu tư có thời hạn
thu hồi vốn dưới một năm hoặc trong một chu kì kinh doanh, không
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn
không quá ba tháng kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo
cáo. Bao gồm: tiền gửi ngân hàng có kì hạn, đầu tư chứng khoán ngắn
hạn, cho vay ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác. chỉ tiêu này phản ánh
khả năng tạo ra nguồn lợi tức trước mắt cho công ty. Bởi vậy chỉ tiêu
này càng cao thì khả năng tạo ra nguồn lợi tức cho công ty trong thời
gian trước mắt càng lớn.
- Chỉ tiêu đầu tư tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư có thời hạn thu
hồi vốn lớn hơn một năm hoặc quá một chu kì kinh doanh. Bao gồm:
đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh, đầu tư
dài hạn khác. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra nguồn lợi tức lâu
dài cho công ty. Bởi vậy chỉ tiêu này càng cao thì khả năng tạo ra
nguồn lợi tức lâu dài cho công ty càng nhiều.
Đầu tư tài chính là một hình thức để khơi thông nguồn vốn dôi thừa, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế
nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với các chính sách khuyến khích
đầu tư trong và ngoài nước cũng như việc hình thành thị trường chứng khoán ở
Việt Nam đã tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư tài chính có khuynh hướng gia
tăng và ngày càng phổ biến.
Với một doanh nghiệp có tư trọng đầu tư tài chính cao chứng tỏ tình hình tình
hình tài chính của doanh nghiệp đó tốt, đồng thời nó còn thể hiện mức độ liên kết
tài chính giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp và tổ chức khác, nhất là cơ hội
của các hoạt động tăng trưởng bên ngoài. Những doanh nghiệp có quy mô lớn thì
giá trị của chỉ tiêu này thường cao.
Việc đầu tư tài chính ở các doanh nghiệp phải theo đúng quy định về tài chính
áp dụng cho loại hình doanh nghiệp đó. Khi đánh giá tư trọng đầu tư tài chính cần
phải căn cứ vào mục tiêu và hình thức đầu tư cũng như xác định các nguồn vốn hợp
lý tham gia vào quá trình đầu tư của doanh nghiệp. Tư trọng loại tài sản này còn
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
phụ thuộc vào nhu cầu đầu tư cũng nh khả năng sinh lời và rủi ro các hình thức đầu
tư.
Đầu tư tài chính bao gồm: Đầu tư chứng khoán, đầu tư góp vốn liên doanh,
đầu tư bất động sản và các khoản đầu tư khác. Ta có thể tách đầu tư tài chính thành
đầu tư tài chính ngắn hạn và đầu tư tài chính dài hạn hoặc tách theo tư cách chủ sở
hữu và đầu tư với tư cách chủ nợ.
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
3.1.1.3.Tư trọng hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một bộ phận tài trợ cho quá trình sản xuất và tiêu thụ của
doanh nghiệp được tiến hành liên tục. Dự trữ hàng tồn kho hợp lý là mục tiêu của
nhiều doanh nghiệp, vì dự trữ quá nhiều sẽ gây ø đọng vốn, gia tăng chi phí bảo
quản và dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp, ngược lại dự trữ quá ít sẽ gây ảnh
hưởng tới tiến độ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.
Ta có công thức tư trọng hàng tồn kho:
Giá trị hàng tồn kho
Tư trọng hàng tồn kho = * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết giá trị hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm trong
tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ giá trị hàng tồn kho
của doanh nghiệp càng lớn. Doanh nghiệp cần chi tiết từng loại mặt hàng tồn kho,
xác định rõ những nguyên nhân và tìm biện pháp giải quyết dứt điểm các mặt hàng
tồn đọng, nhằm thu hồi vốn, góp phần sử dụng vốn có hiệu quả. Khi phân tích cần
xét những nhân tố mà chỉ tiêu này phụ thuộc:
- Chính sách dự trữ và tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp.
Nếu nh sản phẩm kinh doanh theo mùa vụ thì tư trọng hàng tồn kho sẽ cao trong
thời kì mà nhu cầu sản phẩm này lớn. Doanh nghiệp nào thực hiện tốt phương thức
quản trị kịp thời trong cung ứng, sản xuất và tiêu thụ sẽ dẫn đến giá trị chỉ tiêu này
thấp.
- Giai đoạn tăng trưởng của doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp đang ở trong giai
đoạn tăng trưởng, doanh thu tăng liên tục thì sẽ gia tăng dự trữ để đáp ứng nhu cầu
thị trường. Ngược lại, nếu đang trong giai đoạn suy thoái thì tư trọng hàng tồn kho
có khuynh hướng giảm.
Hàng tồn kho là bộ phận tài sản đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ của
doanh nghiệp được tiến hành liên tục. Dự trữ hàng tồn kho hợp lý là mục tiêu của
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
nhiều doanh nghiệp vì dự trữ quá nhiều sẽ gây ø đọng vốn, gia tăng chi phí bảo
quản và dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn thấp; ngược lại dự trữ quá ít sẽ gây ảnh
hưởng tới tiến độ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Do đó, phân tích tư trọng
hàng tồn kho qua nhiều kì sẽ đánh giá tính hợp lý trong công tác dự trữ.
Tuy nhiên khi phân tích chỉ tiêu này cần chú ý tới các đặc thù sau:
- Giá trị chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của
từng loại hình doanh nghiệp.
- Giá trị chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào chính sách dự trữ và tính thời vụ trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tư trọng hàng tồn kho còn phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng của doanh nghiệp.
3.1.1.4. Tư trọng khoản phải thu khách hàng
Giá trị các khoản phải thu khách hàng
Tư trọng khoản phải thu KH = * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết giá trị khoản phải thu khách hàng chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các khoản phải thu của doanh nghiệp càng lớn,
điều đó chứng tỏ khách hàng mua chịu sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp càng
nhiều hay vốn của doanh nghiệp đang bị khách hàng chiếm dụng.
Hầu hết các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ tiêu này càng thấp càng tốt.
Bởi vậy doanh nghiệp cần có biên pháp thúc đẩy quá trình thu hồi các khoản nợ của
khách hàng. Để đánh giá mức độ hợp lý của chỉ tiêu này người ta thường dựa vào
các căn cứ sau:
- Quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: quy mô càng lớn thì
khoản phải thu càng cao.
- Phương thức bán hàng của doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp bán lẻ,
bán hàng thu tiền ngay thì tư trọng khoản khoản phải thu khách hàng
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
thấp, ngược lại nếu doanh nghiệp bán buôn thì tư trọng khoản phải thu
sẽ cao.
- Chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp: được thể hiện qua
thời hạn tín dụng và mức tín dụng cho phép đối với từng khách hàng.
Nếu doanh nghiệp có kỳ hạn tín dông dài, số dư nợ định mức cho
khách hàng cao thì khoản phải thu chiếm tư trọng cao. Do tín dụng
bán hàng là phương thức kích thích tiêu thụ nên cần phải đặt trong mối
quan hệ với doanh thu tiêu thụ.
- Hiệu quả của công tác thu hồi nợ: nếu chỉ tiêu này quá cao mà nguyên
nhân không xuất phát từ phương thức bán hàng hay chính sách tín
dụng thì điều này thể hiện khả năng quản lý nợ của doanh nghiệp chưa
được tổ chức tốt. Doanh nghiệp cần tìm hiểu các nguyên nhân để có
biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp như: giảm mức dư nợ định mức cho các khách hàng
thanh toán chậm, ngưng cung cấp hàng hoá dịch vụ, bán các khoản nợ
cho các công ty quản lý nợ, nhờ pháp luật can thiệp,
Để đánh giá hiệu quả hơn nữa người ta thường chi tiết chỉ tiêu này cho từng
khoản nợ: nợ trong hạn, nợ quá hạn, nợ khó đòi.
3.1.2.Phân tích biến động tài sản của doanh nghiệp
Phân tích cấu trúc tài sản bằng các tư số nh trên gọi là phân tích dọc, cho phép
đánh giá khái quát tình hình phân bổ tài sản của doanh nghiệp. Cách phân tích trên
chưa thấy rõ yếu tố nào ảnh hưởng đến sự thay đổi các tư số qua các kỳ. Phân tích
biến động tài sản hay gọi là phân tích ngang sẽ cho thấy nguyên nhân ảnh hưởng
tới sự thay đổi các tư số qua các kỳ. Khi phân tích biến động tài sản ta tính được
chênh lệch về số tuyệt đối và số tương đối giữa các năm của cùng một loại tài sản.
Ta có thể thấy m«t loại tài sản nào đó có sự thay đổi đột ngột so với các năm trước,
ta có thể tìm nguyên nhân biến động đó và có thể kết luận là nó có ảnh hưởng như
thỊ nào đến cÂu trúc tài chính theo hướng tích cực hay tiêu cực.
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
3.2.Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc nguồn vốn thể hiện cấu trúc tài trợ của doanh nghiệp, liên quan tới
nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài chính. Việc huy động vốn
một mặt vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo sự an toàn
trong tài chính, mặt khác liên quan đến hiệu quả và rộng hơn là rủi ro của doanh
nghiệp.
Phân biệt các nguồn tài trợ
a) Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
- Đối với nợ phải trả: đây là nguồn vốn do doanh nghiệp đi vay, doanh
nghiệp phải cam kết với các chủ nợ số nợ gốc và các khoản chi phí sử
dụng vốn theo thời hạn đã quy định. Khi doanh nghiệp bị giải thể các
chủ nợ có quyền ưu tiên nhận tài sản trước.
- Đối với nguồn vốn chủ sở hữu: thể hiện phần tài trợ của người chủ sở
hữu đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không
phải cam kết thanh toán đối với chủ sở hữu.
b) Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn doanh nghiệp được sử dụng
thường xuyên, lâu dài để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, có thời
gian sử dụng trên một năm. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn
chủ sở hữu và nợ dài hạn.
- Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn được sử dụng tạm thời trong năm
báo cáo để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, loại nguồn vốn này
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
thường được sử dụng vào các mục đích ngắn hạn. Nguồn vốn này bao
gồm các loại: nợ dài hạn đến hạn trả, vay ngắn hạn, phải trả người bán,
phải trả công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
3.2.1. Phân tích tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp
3.2.1.1. Tư suất nợ
Nợ phải trả
Tư suất nợ = *100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết phần trăm tổng tài sản của công ty được tài trợ bằng các
khoản nợ là bao nhiêu. Tư suất nợ thấp có thể cho thấy việc sử dụng nợ không hiệu
quả, còn tư suất nợ cao thể hiện gánh nặng về nợ lớn, như vậy một tư suất nợ/tổng
tài sản là hợp lý sẽ tuỳ thuộc vào nhu cầu và khả năng tự tài trợ của công ty.
Khi tư lệ nợ cao, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
và sẽ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp nhận thêm các khoản tín dụng bên
ngoài.
Đối với các chủ nợ, họ mong muốn đầu tư vào doanh nghiệp có tư suất nợ
càng thấp càng tốt vì khả năng thu hồi vốn vay và lãi cao. Đây là một trong các chỉ
tiêu để các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản
nợ. Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác. Ta có thể chia thành
tư suất nợ ngắn hạn và tư suất nợ dài hạn. Tư suất nợ càng cao thể hiện mức độ phụ
thuộc của doanh nghiệp vào các chủ nợ càng lớn, tính tự chủ của doanh nghiệp
càng thấp và khả năng tiếp nhận các khoản nợ vay càng khó một khi doanh nghiệp
không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt động kém. Tư suất nợ
ngắn hạn càng cao thì áp lực thanh toán của doanh nghiệp trong năm càng cao, rủi
ro càng lớn. Tư suất nợ dài hạn ít chịu áp lực thanh toán hơn so với tư suất nợ ngắn
hạn nhưng chi phí sử dụng vốn cao hơn.
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
3.2.1.2. Tư suất tự tài trợ
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tư suất tự tài trợ = * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Vì vốn
chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của doanh
nghiệp, nguồn vốn này thể hiện năng lực vốn có của chủ sở hữu trong tài trợ hoạt
động kinh doanh. Tư suất tự tài trợ càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập
cao về tài chính và ít bị sức ép của các chủ nợ, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp
nhận các khoản tín dụng từ bên ngoài.
3.2.1.3. Tư suất nợ trên vốn chủ sở hữu
Nợ phải trả
Tư suất nợ trên vốn CSH = * 100%
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tư suất nợ trên vốn chủ sở hữu hay còn gọi là đòn bẩy nợ (đòn bẩy tài chính).
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu gánh được bao nhiêu đồng nợ, chỉ
tiêu này càng cao thì tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp nhưng đem lại hiệu
quả sử dụng vốn cao, ngược lại chỉ tiêu này càng thấp thì ít có khả năng bị rủi ro
nhưng chi phí sử dụng vốn lớn nên hiệu quả tài chính thấp.
Khi phân tích tính tự chủ về tài chính cần sử dụng số liệu trung bình ngành
hoặc số liệu định mức mà ngân hàng quy định đối với doanh nghiệp. Nên gia tăng
các khoản vay nợ hay vốn chủ sở hữu và mức gia tăng là bao nhiêu có thể được giải
quyết khi dựa vào các số liệu trên. Khi tư suất nợ đã vượt quá mức cho phép có thể
doanh nghiệp không nhận được các khoản tín dụng từ bên ngoài.
Tuy nhiên cũng có thể được giải quyết nếu thị trường tài chính tại quốc gia mà
doanh nghiệp đang hoạt động hoặc tuỳ vào loại hình doanh nghiệp. Công ty cổ
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
phần và loại hình doanh nghiệp khác với đa dạng hình thức sơ hữu cùng thị trường
chứng khoán thì cấu trúc tài chính có thể được cải thiện một cách uyển chuyển.
3.2.2. Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ
Khi phân tích cấu trúc nguồn vốn, sự ổn định về nguồn tài trợ luôn là vấn đề
được chú trọng hàng đầu của mọi doanh nghiệp, nó quyết định đến hiệu quả và
phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong lâu dài. Căn cứ vào thời hạn sử
dụng vốn và chi phí sử dụng vốn, nguồn vốn của doanh nghiệp được chia làm hai
loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. Để đánh giá nội dung này
người ta thường xây dựng và tính các chỉ tiêu sau:
Nguồn vốn thường xuyên
Tư trọng NVTX = * 100%
Tổng nguồn vốn
Nguồn vốn tạm thời
Tư trọng NVTT = * 100%
Tổng nguồn vốn
Tư trọng NVTX càng cao thì có sự ổn định tương đối trong một thời gian nhất
định (trên 1 năm) đối với nguồn vốn đang sử dụng và doanh nghiệp chưa chịu áp
lực thanh toán nguồn tài trợ này trong ngắn hạn. Nguîc lại khi chỉ tiêu này thấp cho
thấy nguồn tài trợ của doanh nghiệp phần lớn là nợ ngắn hạn, áp lực thanh toán các
khoản nợ vay rất lớn. Để đánh giá chính xác hơn ta cần xem tư suất
NVCSH/NVTX, tư suất này càng cao thì áp lực thanh toán càng thấp, tính ổn định
cao. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp có
tư lệ NVTX và NXTT khác nhau. Đối với doanh nghiệp có yêu cầu đầu tư về tài
sản cố định lớn nhất là doanh nghÞªp sản xuất thì tư trọng NVTX cao.
NVCSH
Tư trọng NVCSH trên NVTX = * 100%
NVTX
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng NVTX có bao nhiêu đồng được tài trợ bằng
NVCSH. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ năng lực tự chủ về tài chính của doanh
nghiệp rất lớn, phần lớn nguồn vốn sử dụng trong kinh doanh có tính ổn định lâu
dài do được tài trợ bởi NVCSH, do đó áp lực trong thanh toán được hạn chế rất
nhiều. Nh vậy, thông qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá khả năng độc lập về tài
chính và mức độ ổn định của nguồn tài trợ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Nh vậy bằng các chỉ tiêu phản ánh tính tự chủ và tính ổn định của nguồn vốn,
việc phân tích cấu trúc nguồn vốn sẽ cung cấp rất nhiều thông tin cho nhà quản trị
và nhà tài trợ:
- Về phía nhà tài trợ: các chỉ tiêu trên là cơ sở cho các quyết định trong
việc có nên tiếp tục đảm bảo tín dụng cho khách hàng nhưng vẫn giảm
thiểu các rủi ro phát sinh do không thanh toán được nợ.
- Về phía nhà quản trị: việc đối chiếu các tư suất liên quan đến nợ của
khách hàng với các hạn mức của ngân hàng cho phép doanh nghiệp
ước tính khả năng nợ của mình để có quyết định huy động vốn hợp lý.
Qua đó doanh nghiệp có cơ sở xây dựng một cấu trúc nguồn vốn hợp
lý, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn tới mức thấp nhất có thể, tối đa hoá
giá trị doanh nghiệp.
4.Phân tích cân bằng tài chính doanh nghiệp
Cân bằng tài chính là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của những tài
sản xác định các luồng thu về trong tương lai và tín tới hạn của những khoản nợ
xác định các luồng chi ra trong tương lai. Nói cách khác, cân bằng tài chính được
định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hoà giữa thời
gian biến đổi tài sản thành tiền va nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn.
Việc nắm giữ các TSDH có tính thanh khoản thấp đòi hỏi nắm giữ các nguồn
vốn lâu dài. Chính từ nhận định này mà nguyên tắc truyền thống của cân bằng tài
chính là các TSC§ phải được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sở hữu và
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
vốn vay dài hạn). Theo nguyên tắc này cân bằng được duy trì bằng sự bù đắp các
luồng tiền (tương ứng với khấu hao TCS§) với các khoản trả nợ (vốn và lãi) hàng
năm. Tính ổn định của tài sản cũng như nguồn vốn không những đảm bảo sự cân
bằng nhất thời mà còn duy trì được sự cân bằng về dài hạn.
Tuy nhiên, khả năng tài trợ của TSDH chưa đủ để đảm bảo cân bằng tài chính.
Các TSNH khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng làm một phần
nguồn vốn trở nên bất động nằm trong giá trị tồn kho và các khoản phải thu. Chênh
lệch giữa tổng các khoản này với tổng các khoản phải trả tạo thành nhu cầu về vốn
lưu động luôn thay đổi theo nhịp độ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có
được cân bằng tài chính khi vốn lưu động đủ khả năng bù đắp cho nhu cầu này.
Nh vậy, nội dung chính của cân bằng tài chính là thể hiện mối quan hệ giữa tài
sản và nguồn vốn thông qua các phương thức, chính sách tài trợ TSDH và TSNH,
khả năng thanh toán của doanh nghiệp với các chủ nợ. Việc nghiên cứu cân bằng
tài chính sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện những nguyên nhân của sự mất cân bằng
tài chính từ đó có những biện pháp khắc phục và duy trì một trạng thái cân bằng tốt
để việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo một khả năng thanh toán
an toàn. Ngoài ra việc phân tích cân bằng tài chính còn là cơ sở để doanh nghiệp
lựa chọn chính sách tài chính cho phù hợp.
Tuỳ theo thời gian luân chuyển mà tài sản của doanh nghiệp chia thành hai bộ
phận là TSL§ và TSC§. Do vậy tuỳ theo từng loại tài sản mà có nguồn vốn đầu tư
hợp lý sao cho vừa đảm bảo an toàn mà có hiệu quả. TSC§ có thời gian luân
chuyển lâu, có giá trị lớn thường được đầu tư bằng NVTX có thời gian sử dụng dài,
chi phí lớn. TSL§ có thời gian luân chuyển nhanh, giá trị thấp thường được đầu tư
bằng NVTT có thời gian sử dụng vốn ngắn, chi phí thấp.
Khi phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp không chỉ xem xét sự cân
bằng giữa tài sản và nguồn tài trợ tương ứng mà còn xem xét sự cân bằng giữa
TSL§ và các khoản nợ vì TSL§ dễ hoán chuyển thành tiền làm tăng khả năng thanh
toán của doanh nghiệp. Các chủ nợ thường xuyên xem xét mối tương quan giữa
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
TSL§ và nợ với mức quy định nhằm đảm bảo cho khả năng thu hồi nợ. Nh vậy việc
phân tích cân bằng tài chính nhằm giúp cho doanh nghiệp có khả năng thanh toán
an toàn và có sự lựu chọn chính sách tài trợ thích hợp để việc huy động và sử dụng
vốn có hiệu quả, an toàn.
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
4.1. Vốn lưu động ròng
4.1.1. Khái niệm vốn lưu động ròng
Vốn lưu động ròng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSNH tại thời điểm lập
báo cáo tài chính.
V ốn lưu động ròng là phần còn lại của TSNH sau khi trừ đi nợ ngắn hạn:
VL§R = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Chỉ số cân bằng này thể hiện tình hình sử dụng VL§R: vốn lưu động được
phân bổ vào các khoản phải thu, hàng tồn kho hay các khoản có tính thanh khoản
cao. Nó nhấn mạnh đến tính linh hoạt trong việc sử dụng vốn lưu động ở doanh
nghiệp. Chính vì vậy, phân tích cân bằng tài chính qua chỉ tiêu và cách tính này
nhấn mạnh đến phân tích bên trong, giúp nhà phân tích có thể dự đoán được những
nhu cầu về vốn lưu động. Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố của TSNH với nợ
ngắn hạn còn thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Ngoài cách tính trên, VL§R còn được xác định là phần chênh lệch giữa NVTX
và TSDH. Thể hiện phương thức tài trợ TSDH bằng nguồn vốn dài hạn. Đảm bảo
sự phù hợp giữa thời gian sử dụng của TSDH và nguồn hình thành nó nhằm tránh
áp lực trong thanh toán.
VL§R = Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn
Cách tính này nhấn mạnh về nguồn gốc của vốn lưu động và về những biến số
quyết định đối với nó. Đó là sự phân tích bên ngoài của vốn lưu động.
Vốn lưu động ròng là một chỉ tiêu rất quan trọng cho việc đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết hai vấn đề cốt yếu là: TSDH của
doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc hay không? Doanh nghiệp có đủ
khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không?
Cụ thể VL§R có thể nhận những giá trị sau đây:
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
4.1.2. Các trường hợp của VL§R và ảnh hưởng của nó đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp
- Trường hợp 1: VL§R < 0
Trường hợp này có nghĩa là NVTX nhỏ hơn TSC§ và đầu tư dài hạn. Ta có
thể nhận xét cân bằng tài chính của doanh nghiệp kém, NVTX không đủ tài trợ cho
TSDH vì doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn tạm thời (nợ ngắn hạn). Trong khi
đó TSC§ có giá trị đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm mà nợ ngắn hạn chịu áp
lực thanh toán trong năm. Vì vậy, trường hợp này dễ dẫn đến rủi ro phá sản doanh
nghiệp. Do đó doanh nghiệp phải có những điều chỉnh để tạo ra một cân bằng mới
theo hướng bền vững.
Tuy nhiên để đánh giá chính xác tình hình cân bằng tài chính của doanh
nghiệp ta không thể dựa vào một năm mà phải nhiều năm liên tục, vì VL§R của
doanh nghiệp âm có thể do trong năm đó doanh nghiệp đầu tư mới cho tương lai,
tăng cường TSC§ để phát triển sản xuất.
- Trường hợp 2: VL§R = 0
Cân bằng tài chính tốt hơn trường hợp 1. NVTX vừa đủ cho nhu cầu tài trợ
TSDH, doanh nghiệp không phải sử dụng NVTT. Sự cân bằng này chỉ mang tính
chất tạm thời trong năm báo cáo, nó có nguy cơ bị phá vỡ khi doanh nghiệp ra tăng
đầu tư. Một khi tốc độ tăng của NVTX chậm hơn tốc độ tăng của TSDH thì cân
bằng tài chính rơi vào trường hợp 1.
- Trường hợp 3: VL§R > 0
Cân bằng tài chính trong trường hợp này được đánh giá tốt. NVTX không
những đủ tài trợ cho TSDH và đầu tư dài hạn mà còn tài trợ một phần cho TSL§ và
đầu tư ngắn hạn.
Theo nguyên tắc chung khi phân tích tài chính doanh nghiệp chúng ta phải
dựa vào số liệu của các chỉ tiêu qua nhiều kỳ thì mới thấy được bản chất và xu
hướng của doanh nghiệp, hoặc phải dựa vào số liệu trung bình ngành thì mới so
sánh được, mới có một cơ sở để kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp,
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Nam
cần phải kết hợp với việc đánh giá các nguyên nhân ảnh hưởng tới sự thay đổi của
chỉ tiêu. Do đó khi phân tích cân bằng tài chính nếu VL§R liên tục âm hoặc liên tục
dương qua nhiều năm thì có thể khẳng định cân bằng tài chính xấu hay tốt và
VL§R âm hay dương thì có thể trong năm đó doanh nghiệp tăng đầu tư mua sắm
TSC§ hoặc doanh nghiệp đang trong giai đoạn suy thoái, thanh lý TSC§. Để đánh
giá chính xác hơn ta có thể sử dụng chỉ tiêu tư suất tự tài trợ TSC§:
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tư suất tự tài trợ = * 100%
TSC§ và đầu tư dài hạn
Trị giá của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tính tự chủ động và ổn định trong
tài trợ TSC§ của doanh nghiệp rất cao.
Khi VL§R dương qua nhiều năm, để đánh giá chắc chắn hơn sự cân bằng tài
chính ta cần xem các bộ phận của NVTX. Nếu tăng VCSH thì gia tăng tính độc lập
tài chính, nhưng làm giảm đi hiệu ứng của đòn bẩy tài chính. Ngược lại, tăng nợ dài
hạn thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính sẽ phát huy tác dụng nhưng luôn gắn với những
rủi ro do sử dụng nợ.
4.2. Nhu cầu vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính
Nhu cầu VL§R là lượng vốn mà doanh nghiệp cần để tài trợ cho một phần của
TSNH gồm hàng tồn kho và các khoản phải thu.
Vốn lưu động có đặc điểm tuần hoàn liên tục (T-H SX H’-T’). Trong quá
trình chu chuyển vốn lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện từ vốn bằng tiền
ban đầu, chuyển sang vốn vật tư, hàng hoá sang sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, sang vốn thành phẩm, kết thúc vòng tuần hoàn quoay về hình thái ban đầu là
vốn bằng tiền. Trong chu trình đó khi hoạt động tiêu thụ gia tăng thì làm tăng dự
trữ hàng tồn kho, tăng số dư các khoản phải thu và hoạt động cung ứng đến lượt nó
sẽ làm tăng các khoản nợ và tín dụng từ nhà cung cấp. Do các nhân tố trên tác động
qua lại lẫn nhau nên trong chu kỳ kinh doanh sẽ phát sinh nhu cầu về dự trữ hàng
tồn kho, các khoản phải thu, các khoản nợ.
SVTH: Hoàng Quốc Huy Lớp: 29K6 HN
25