Tải bản đầy đủ (.doc) (126 trang)

Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (541.45 KB, 126 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa
học độc lập của tác giả. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
NGUYỄN THỊ CHINH
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, Viện đào tạo Sau đại học, các Thầy giáo, Cô giáo của trường
đã đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức lý luận và phương pháp nghiên cứu để tôi
thực hiện luận văn này.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Quý Liên,
người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo trong Hội đồng
bảo vệ luận văn đã chỉ dẫn, bổ sung những ý kiến quý báu giúp tôi nhận thức sâu
sắc hơn về nội dung nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà quản lý, các cán bộ nhân viên Công ty Liên
doanh TNHH Flexcon Việt Nam đã tạo điều kiện cung cấp cho tôi những số liệu và
thông tin hữu ích để thực hiện luận văn.
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người bạn, những đồng nghiệp và
gia đình đã dành cho tôi sự động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và thực hiện luận văn.
Một lần nữa, tôi xin phép được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc của mình.
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Chinh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BHXH
BHYT


CCDC
CNSX
CPSX
CPSXC
CPDDCK
CPSXKD
DĐK
GDP
GTGT
GTSP
KCS- QA
KKTX
KKĐK
KPCĐ
LD
NCTT
NVL
NVLTT
SME
SPDD
SPHNĐM:
SX
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Công cụ dụng cụ
Công nhân sản xuất
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Chi phí sản xuất kinh doanh

Dư đầu kỳ
Tổng sản phẩm quốc nội
(Gross Domestic Product)
Giá trị gia tăng
Giá thành sản phẩm
Kiểm tra chất lượng sản phẩm
Kê khai thường xuyên
Kiểm kê định kỳ
Kinh phí công đoàn
Liên doanh
Nhân công trực tiếp
Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu trực tiếp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
(Small and medium enterprise)
Sản phẩm dở dang
Sản phẩm hỏng ngoài định mức
Sản xuất
SXKD
TK
TNHH
THNSX
VND
XDCB
Sản xuất kinh doanh
Tài khoản
Trách nhiệm hữu hạn
Thiệt hại ngừng sản xuất
Việt nam đồng
Xây dựng cơ bản

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn là vấn đề trọng
tâm và cốt lõi đối với mọi doanh nghiệp sản xuất nói riêng và các doanh nghiệp
nói chung.
Kế toán là một trong những công cụ quản lý sản xuất kinh doanh rất có hiệu
quả. Thông tin kế toán có thể cho nhà quản lý thấy được bức tranh toàn cảnh về
tình hình tài chính của công ty cũng như tình hình cụ thể từng mặt tài chính
trong doanh nghiệp.
Công tác hạch toán kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan
trọng trong việc quản lý chi phí có hiệu quả và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng
sức cạnh tranh trên thị trường.
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề trên, do đó Đề tài: “Hoàn thiện kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty
Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kế toán tài chính tại Công ty Liên doanh
TNHH Flexcon Việt Nam.
Trong đề tài này, tác giả đã sử dụng những kiến thức chung về kế toán như:
đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tác động đến kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm; phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm; nội dung, nguyên tắc và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm, đồng thời đưa ra những đánh giá về thực trạng công tác kế toán tại
doanh nghiệp,
Qua đó tác giả đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hơn công tác quản lý chi
phí sản xuất giá thành sản phẩm tại Công ty.
Đề tài nghiên cứu được trình bày thành bốn chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty LD TNHH Flexcon
Việt Nam”

i
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp.
Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
hàng may mặc gia công tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam
Chương 4: Đánh giá thực trạng và các giải pháp đề xuất hoàn thiện kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên
doanh TNHH Flexcon Việt Nam”.
Trong Chương 1, Tác giả trình bày các vấn đề bao gồm: Tính cấp thiết của đề
tài, Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu; Mục
tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên
cứu; Ý nghĩa của việc nghiên cứu; Kết cấu và nội dung đề tài.
Trong Chương 2, Tác giả trình bày cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu các khái niệm, sự phân loại chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm cũng như mối quan hệ của chúng được tác giả đưa ra nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau nhằm thấy được tác dụng của chúng trong việc quản lý
hoạt động sản xuất kinh doanh và đem lại hiệu quả cao đối với doanh nghiệp.
Trong Chương 3, Tác giả trình bày khái quát quá trình hình thành và phát
triển, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty Liên doanh
TNHH Flexcon Việt Nam. Tác giả tập trung khảo sát thực trạng kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Cuối chương 3, tác giả đánh giá và
khái quát lại thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành của Công ty.
Chương 4, Tác giả đưa ra một số vấn đề để thảo luận kết quả nghiên cứu, các
giải pháp đề xuất và kết luận về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam.
Tác giả khái quát những ưu điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam như sau:
Thứ nhất, xét về cơ bản, doanh nghiệp đã chấp hành tương đối nghiêm chỉnh
chế độ kế toán và Luật kế toán do nhà nước ban hành.

ii
- Công tác tổ chức và ghi chép sổ sách kế toán: công tác này được các kế toán
viên tiến hành ghi chép tương đối đầy đủ và hợp lý.
- Hệ thống tài khoản kế toán: doanh nghiệp đã vận dụng và chi tiết hóa hệ
thống tài khoản kế toán dựa trên Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006
phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh của đơn vị nhưng vẫn phù hợp với nội
dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của các tài khoản kế toán tổng hợp. Ngoài
ra doanh nghiệp còn mở thêm các tài khoản cấp 2, cấp 3 để tiện cho việc theo dõi và
quản lý chi phí một cách chi tiết và chặt chẽ nhất.
Thứ hai, việc phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí và
theo mục đích, công dụng của chi phí giúp doanh nghiệp biết được tỷ trọng, kết cấu
của từng yếu tố chi phí sản xuất, qua đó đánh giá được tình hình thực hiện và quản
lý chi phí, cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác lập dự toán chi phí sản xuất, lập
kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương và tính toán nhu cầu vốn lưu động
cho kỳ sau cũng như việc cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, lập
kế hoạch giá thành cho kỳ sau của doanh nghiệp.
Thứ ba, công ty tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng nên tương đối
dễ dàng trong việc tính toán cũng như ghi nhận chi phí.
Thứ tư, việc ghi nhận toàn bộ chi phí trả trước vào tài khoản 242 “chi phí trả
trước dài hạn” mà không ghi nhận chi phí trả trước ngắn hạn vào tài khoản 142 giúp
kế toán dễ dàng tổng hợp được chi phí trả trước cũng như dễ dàng theo dõi loại chi
phí này.
Thứ năm, việc áp dụng phần mềm kế toán doanh nghiệp (FTS Accounting
phiên bản 2010 ) giúp doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng trong công tác xử lý các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh, từ đó việc tổng hợp các báo cáo được tiến hành nhanh
gọn, chính xác và kịp thời.
Tuy nhiên công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam vẫn còn những tồn tại cần phải xem xét.
• Dưới góc độ kế toán tài chính, một số nhược điểm như:
Thứ nhất, về mặt tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty

iii
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức bộ máy kế toán tập
trung, toàn bộ công tác kế toán đều do Trưởng phòng TCKT điều hành, hiện nay
Phòng kế toán gồm 5 kế toán viên, các phần hành kế toán được thực hiện và tự kiểm
tra bởi các kế toán viên. Công ty không có kế toán trưởng và kế toán tổng hợp, mọi
nhiệm vụ của kế toán trưởng và kế toán tổng hợp được thực hiện bởi Trưởng phòng
TCKT. Có một tồn tại đó là, Trưởng phòng TCKT là người nước ngoài do đó chưa
hiểu hết được chế độ kế toán cũng như luật kế toán Việt Nam, Điều này là một
trong những bất cập mà hiện Công ty vẫn chưa giải quyết được và cấp quản lý cũng
không coi đó là một nhược điểm.
Thứ hai, về mặt tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại Công ty,
- Hệ thống tài khoản đang sử dụng: mặc dù công ty đã xây dựng một hệ thống
các tài khoản kế toán riêng tương đối phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình dựa trên Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 , tuy
nhiên Công ty lại không sử dụng các tài khoản kế toán như tài khoản 151 – Hàng
mua đang đi đường, TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu; TK 153 – Công cụ, dụng cụ;
TK 156 – Hàng hóa; TK 157 – Hàng gửi bán; TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng
tồn kho; TK 142 – Chi phí trả trước ngắn hạn; TK 531 – Hàng bán bị trả lại; TK
532 - Giảm giá hàng bán; Tk 611 – Mua hàng; TK 631 – Giá thành sản xuất; TK
002 - Vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công. Đặc biệt những tài khoản này
liên quan và có ảnh hưởng rất lớn trong công tác chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp.
- Phương pháp kế toán hàng toán hàng tồn kho: là doanh nghiệp sản xuất
nhưng công ty không áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho nào trong số hai
phương pháp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ. Đây là một trong những
nhược điểm rất lớn trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty. Trong quá trình tổng hợp chi phí sản xuất, phế liệu thu hồi được
nhập vào kho nhưng sẽ không được ghi giảm chi phí.
Thứ ba là việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ:
Khi đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, phần chi phí chế biến tính cho sản

iv
phẩm dở dang cuối kỳ được tính theo công thức sau:
Chi phí chế biến
nằm trong SPDD
cuối kỳ
=
Chi phí chế biến
đầu kỳ
+
Chi phí chế biến
PS trong kỳ
x
Số lượng SPDDCK
quy đổi
Số lượng SPHT +
Số lượng sản phẩm dở
dang trong kỳ quy đổi
Trong đó tiêu chí “số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ quy đổi” được thay
bằng “số lượng sản phẩm dở dang trong kỳ quy đổi”, điều này dẫn đến việc tính
toán chi phí chế biến trong SPDDCK không được chính xác.
• Dưới góc độ kế toán quản trị, một số nhược điểm được bộc lộ rõ như:
Thứ nhất, những tồn tại của tổ chức bộ máy kế toán như sự trùng lắp và xen
lẫn về nhiệm vụ của các kế toán viên cũng như sự hiểu biết về Luật kế toán và Chế
độ kế toán Việt Nam, tồn tại của tổ chức hệ thống thông tin kế toán như công tác tổ
chức và lưu chuyển chứng từ vừa là hạn chế của kế toán tài chính nhưng cũng là
hạn chế của kế toán quản trị.
Thứ hai, Công tác tổ chức và lưu chuyển chứng từ còn nhiều bất cập. Do là
doanh nghiệp sản xuất nên khối lượng chứng từ phát sinh hàng ngày rất lớn, mặt
khác do sự phân bố không phù hợp về mặt vị trí địa lý của các phòng ban trong
công ty với phòng kế toán (Nhà máy sản xuất và các phòng ban được bố trí trên địa

bàn Tỉnh Bắc Giang, Phòng kế toán và Phòng XNK được bố trí tại Hà Nội), do đó
việc lưu chuyển chứng từ còn gặp nhiều khó khăn.
Hơn nữa công ty lại không hề có một quy định nào về việc thu nạp chứng từ
sau bao nhiêu ngày kể từ ngày phát sinh nghiệp vụ kinh tế dẫn đến một số bất cập
tiêu biểu như: chứng từ phát sinh của tháng này nhưng đến tháng sau nhân viên kinh
tế ở các bộ phận mới gửi về phòng kế toán, trong quá trình lưu chuyển chứng từ
thường xuyên xảy ra tình trạng mất mát, nhàu nát, bẩn chứng từ,…những bất cấp
này ảnh hưởng đến việc ghi nhận chi phí sản xuất kinh doanh không được đúng kỳ,
do đó ảnh hưởng đến tính chính xác của các báo cáo chi phí.
Thứ ba, việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp hiện nay mới chỉ dừng ở
mức tổng hợp và so sánh mà chưa xây dựng thành hệ thống. Doanh nghiệp cũng
chưa lập được dự toán chi phí và dự toán giá thành định kỳ nên quá sản xuất sản
v
phẩm của Công ty vẫn được tiến hành ngoài tầm kiểm soát chi phí.
Công ty yêu cầu các bộ phận cắt giảm giảm chi phí nhưng chính công tác quản
lý kho nguyên vật liệu và thành phẩm của doanh nghiệp còn nhiều tồn tại, dẫn đến
khi tập hợp chi phí NVL trực tiếp luôn không có phần cắt giảm chi phí cho phế liệu,
nguyên vật liệu thu hồi sau quá trình sản xuất sản phẩm.
Thứ tư, khi tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh kế toán gặp khó khăn trong
việc xác định chi phí NVLTT, chi phí sản xuất chung phát sinh cho các đơn hàng,
mã hàng do các nhân viên kinh tế ở các bộ phận sản xuất không diễn giải chi tiết
trong các chứng từ kế toán dẫn đến sự thiếu chính xác trong việc tổng hợp chi phí
sản xuất cho từng mã hàng và đơn hàng. Do đó doanh nghiệp cần thiết lập hệ thống
quản lý và kiểm soát chi phí ngay từ khi các nguyên vật liệu nhập kho đi vào sản
xuất.
Qua việc nêu lên sự cần thiết và yêu cầu của hoàn thiện kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam cũng
như mục tiêu phát triển sản xuất kinh của doanh nghiệp, tác giả đưa ra một số giải
pháp hoàn thiện như sau:
• Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty

Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cần phải được thiết lập lại, loại bỏ bớt số
nhân viên không đáp ứng được yêu cầu của kế toán viên tương ứng với các phần
hành kế toán, bổ sung kế toán tổng hợp và kế toán trưởng, sắp xếp lại công việc của
các kế toán viên một cách phù hợp. Trưởng phòng TCKT sẽ chịu trách nhiệm trước
Ban Giám đốc về việc điều hành và kiểm soát hoạt động tài chính của Công ty. Có
như vậy thì mới góp phần hoàn thiện tốt được công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm của công ty.
• Hoàn thiện hệ thống tài khoản đang sử dụng
Kế toán cần bổ sung sử dụng các tài khoản kế toán như tài khoản 151 – Hàng
mua đang đi đường, TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu; TK 153 – Công cụ, dụng cụ;
TK 156 – Hàng hóa; TK 157 – Hàng gửi bán; TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng
tồn kho; TK 142 – Chi phí trả trước ngắn hạn; TK 531 – Hàng bán bị trả lại; TK
vi
532 - Giảm giá hàng bán; Tk 611 – Mua hàng; TK 631 – Giá thành sản xuất; TK
002 - Vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công. Việc bổ sung sử dụng tài khoản
nào trong số các tài khoản trên phụ thuộc vào phương pháp kế toán hàng tồn kho
mà doanh nghiệp lựa chọn
• Hoàn thiện phương pháp hạch toán tổng hợp hàng tồn kho
Ngoài việc hoàn thiện kế toán hàng tồn kho theo chuẩn mực kế toán 02 thì khi
hạch toán tổng hợp hàng tồn kho, kế toán nên sử dụng phương pháp kê khai thường
xuyên.
• Hoàn thiện phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Khi đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, phần chi phí chế biến tính cho sản
phẩm dở dang cuối kỳ được kế toán tính dựa trên số lượng sản phẩm hoàn thành và
số lượng sản phẩm dở dang trong kỳ, do đó kế toán cần phải thay đối lại cách tính
theo công thức sau:
Chi phí chế biến
nằm trong SPDD
cuối kỳ
=

Chi phí chế biến
đầu kỳ
+
Chi phí chế biến
PS trong kỳ
x
Số lượng SPDDCK
quy đổi
Số lượng SPHT +
Số lượng sản phẩm dở
dang cu kỳ quy đổi
• Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Công ty nên xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị theo loại mô hình kết hợp.
Theo mô hình này, kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác kế toán
trong doanh nghiệp, từ việc tổ chức xây dựng bộ máy kế toán, lưu chuyển chứng từ,
vận dụng tài khoản, hệ thống báo cáo…nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị. Các
bộ phận kế toán có chức năng thu thập và cung cấp thông tin kế toán, vừa tổng hợp vừa
chi tiết…đồng thời lập dự toán tổng hợp và chi tiết theo yêu cầu quản lý.
• Hoàn thiện việc phân loại chi phí phục vụ kế toán quản trị
Để nâng cao giá trị của thông tin cung cấp cho các đối tượng có nhu cầu, kế
toán cần tiến hành phân loại chi phí trên khía cạnh kế toán quản trị, cụ thể là theo
cách ứng xử của chi phí hay mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động.
• Xây dựng hệ thống chi phí sản xuất định mức và giá thành định mức
vii
Chi phí sản xuất định mức (hay chi phí tiêu chuẩn) là số tiền tối thiểu để hoàn
thành một đơn vị sản phẩm, dịch vụ hay công việc. Ngoài ra chi phí sản xuất định
mức còn được xác định bằng cách tổng cộng của chi phí NVLTT định mức, chi phí
NCTT định mức và chi phí SXC định mức để sản xuất một đơn vị sản phẩm.
Giá thành định mức của sản phẩm là giá thành được tính trên cơ sở các định
mức chi phí sản xuất hiện hành tính cho một đơn vị sản phẩm.

Cả chi phí sản xuất định mức và giá thành định mức đều được tính trước khi
tiến hành sản xuất.
• Xây dựng các dự toán chi phí
Dự toán là một kế hoạch định lượng sử dụng nguồn lực trong một kỳ nhất
định, bản chất của dự toán chính là các số liệu tổng kết những phân tích về triển
vọng của doanh nghiệp.
Dự toán được sử dụng cho hai mục đích đó là lập kế hoạch và kiểm soát.
Theo mối liên hệ với mức độ hoạt động, dự toán được phân loại thành dự toán
tĩnh và dự toán linh hoạt. Dự toán tĩnh là dự toán lập cho một mức độ hoạt động cụ
thể, do mức độ hoạt động thực tế thường khác với dự kiên nên so sánh dự toán tĩnh
với kết quả thực tế thường có ý nghĩa kém trong việc đánh giá hiệu quả kiểm soát
chi phí. Dự toán linh hoạt được lập cho một loạt các mức độ hoạt động. Dự toán
linh hoạt có thể xác định chi phí dự kiến cho mức độ hoạt động thực tế nên sẽ rất có
ích trong việc so sánh với chi phí thực tế phát sinh.
• Xây dựng hệ thống báo cáo phục vụ kế toán quản trị
Hệ thống báo cáo phục vụ cho kế toán quản trị cần đạt được các yêu cầu phù
hợp với yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản lý nội bộ của công ty; cung cấp
đầy đủvà đảm bảo tính so sánh được của các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý,
điều hành và ra các quyết định kinh tế của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu trong báo cáo
kế toán quản trị cần phải được thiết kế phù hợpvới các chỉ tiêu của kế hoạch, dự
toán và báo cáo tài chính nhưng có thể thay đổi theo yêu cầu quản lý của các cấp.
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chủ yếu của một doanh nghiệp thường bao
viii
gồm báo cáo tình hình thực hiện và báo cáo phân tích
Để thực hiện được các giải pháp trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị như
Thứ nhất, về phía Nhà nước:
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện để có một hành lang pháp lý ổn định về tài
chính kế toán cũng như việc sửa đổi và ban hành các quy định phù hợp với đặc thù
của từng doanh nghiệp sản xuất.
- Tiếp tục ban hành các quy chuẩn phù hợp để hướng dẫn doanh nghiệp trong

công tác hạch toán kế toán, nhất là công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm một cách chi tiết và cụ thể giúp doanh nghiệp vận dụng một cách linh
hoạt và dễ dàng hơn.
Thứ hai, về phía doanh nghiệp:
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp
+ Các nhà quản trị doanh nghiệp cần nâng cao hơn nữa trình độ và khả năng
nhận thức của mình trong công tác kế toán để giúp doanh nghiệp tăng khả năng
cạnh tranh với các đối thủ trong nước và trên thế giới.
+ Việc bố trí các phòng ban như hiện tại: phòng Kế toán thuộc văn phòng trên
Hà Nội, còn các phòng ban khác cùng các phân xưởng sản xuất lại nằm trên địa bản
tỉnh Bắc Giang, do đó việc lưu chuyển chứng từ bị chậm trễ, đôi khi xảy ra sự mất
mát, gây khó khăn trong công tác ghi nhận chi phí của doanh nghiệp. Do đó nhà
quản trị cần có những đổi mới trong vấn đề trên giúp bộ phận kế toán có cái nhìn
thực tế và rõ nét hơn liên quan giữa vấn đề sản xuất và công tác kế toán.
+ Nhà quản trị cũng cần yêu cầu bộ phận kế toán tổng hợp các thông tin trong
lĩnh vực này để phân tích và rút ra những kết luận về bức tranh tài chính của công
ty, từ đó đưa ra những chính sách, chế độ kế toán phù hợp.
- Đối với nguồn nhân lực thực hiện công tác kế toán
+ Cần nắm vững luật kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán mới ban hành và
chế độ quản lý tài chính của công ty, đảm bảo hạch toán các nghiệp vụ đúng và đủ
theo nguyên tắc kế toán.
+ Chủ động đưa ra những sáng kiến liên quan đến công tác kế toán của doanh
ix
nghiệp.
+ Cần xây dựng các kế hoạch tài chính đảm bảo cho doanh nghiệp luôn chủ
động trong chi tiêu.
- Sự hỗ trợ về khoa học kỹ thuật và giáo dục đào tạo trong doanh nghiệp
+ Hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng phần mềm kế toán để hạch toán các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như: phần mềm này
không thể tính đúng và chính xác được giá thành sản phẩm, vì vậy việc tính toán giá

thành vẫn còn mang tính chất thủ công. Do đó doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ hơn
nữa để có được phần mềm kế toán với nhiều ứng dụng thiết thực, nhất là ứng dụng
để tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công.
+ Do là doanh nghiệp liên doanh, phần lớn bộ phận quản lý của Công ty đều là
các chuyên gia nước ngoài, vì vậy họ chưa thể nắm vững và hiểu hết được các
thông tư, nghị định hướng dẫn các doanh nghiệp trong công tác kế toán.
Mặt khác, lại có sự khác nhau về chuẩn mực kế toán Việt Nam so với các nước
khác trên thế giới nên đối với các quản lý, họ chưa nắm bắt kịp thời gây ra sự chậm
trễ cũng như lỗ thủng trong công tác kế toán của doanh nghiệp.
Vì vậy các nhà quản trị cần phải nhận thức được tầm quan trọng của công tác
kế toán doanh nghiệp mà tổ chức điều động nhân sự tham gia các lớp đào tạo, tập
huấn các thông tư, nghị định cũng như các chuẩn mực kế toán Việt Nam.
x
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU “HOÀN THIỆN KẾ TOÁN
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
HÀNG MAY MẶC GIA CÔNG TẠI CÔNG TY LIÊN DOANH
TNHH FLEXCON VIỆT NAM”
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh chung của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
cùng với những biến động về chính trị ở nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng
không thoát khỏi những ảnh hưởng to lớn đó, lạm phát luôn là bài toán nan giải, tái
cấu trúc nền kinh tế cũng như tái cấu trúc doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước,
ngân hàng…) diễn ra chậm chạp còn chưa có hình hài, thị trường bất động sản thì
gần như đóng băng, thị trường chứng khoán thì đi xuống, người dân hoang mang
với thị trường tài chính trong nước và thế giới.
Để đạt được mức tăng trưởng GDP 6% trong năm 2012, chúng ta phải điều
chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu tín dụng hướng vào doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và
các doanh nghiệp xuất khẩu bởi trong những năm qua, khu vực luôn có mức tăng
trưởng cao.

Một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu đóng góp cho sự tăng trưởng
GDP hàng năm là công nghiệp dệt may. Với ưu thế thị trường xuất khẩu rộng lớn
như Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Angola, New Zealand, Ấn Độ, Nga…
thị trường trong nước tiềm năng, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ đã góp
phần cho sự tăng trưởng của ngành. Tuy nhiên, ngành vẫn chưa tự sản xuất được
nguyên phụ liệu mà hầu như phải nhập khẩu.
Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam cũng là một trong những doanh nghiệp
thuộc ngành may mặc, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam
nói riêng đang gặp nhiều khó khăn do đó cũng không thoát khỏi những ảnh hưởng
tiêu cực.
Vì vậy doanh nghiệp cần xem khó khăn là cơ hội để cải cách, tái cơ cấu doanh
nghiệp, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả và vận dụng khoa học, công nghệ mới.
1
Doanh nghiệp thực hiện các điều chỉnh về sản phẩm, thị trường phù hợp với điều
kiện mới, liên doanh, liên kết để giảm chi phí sản xuất.
Mặt khác, chủ doanh nghiệp cần thẳng thắn thảo luận tình hình của doanh
nghiệp với toàn thể đội ngũ quản lý, thông báo đến từng người lao động để tranh
thủ sự thông cảm, đồng thuận, phát huy sáng kiến, giải pháp. Điều chỉnh kế hoạch
kinh doanh theo tín hiệu thị trường.
Việc tác giả đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên Doanh TNHH
Flexcon Việt Nam” nhằm góp phần tháo gỡ các vấn đề khó khăn giúp doanh nghiệp
có những bước đi vững chắc hơn trong thời gian tới.
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài
luận văn của các khóa trước như đề tài: “ Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần phát triển công trình và ứng
dụng công nghệ Bắc Hà” được thực hiện bởi học viên Đỗ Mai Anh do PGS.TS Trần
Quý Liên hướng dẫn hay công trình “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty cổ phần mía đường Sơn La” do học viên Lường Thị

Phong Lan thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hữu Ánh hoặc một số các
công trình nghiên cứu khác, hầu hết các công trình nghiên cứu này đã nêu ra được
cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm tại mỗi doanh nghiệp cũng như đề ra những giải pháp để hoàn thiện công tác
kế toán chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm tại các công ty.
Tuy nhiên các đề tài vẫn chưa đưa ra được những giải pháp sát thực với thực
tiễn doanh nghiệp, các giải pháp chỉ dừng lại ở mức còn máy móc chưa áp dụng
linh hoạt trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Ở đề tài nghiên cứu này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu và giải quyết công tác
tập hợp chi phí sản xuất một cách khoa học nhất, rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi
phí để hạ giá thành sản phẩm ở mức thấp nhất, hợp lý nhất cho doanh nghiệp.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam, luận văn hướng đến những
2
mục đích cụ thể như sau:
- Làm rõ bản chất và vai trò của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam.
- Khảo sát thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công
ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam từ đó khẳng định được ưu, nhược điểm
trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty LD
TNHH Flexcon Việt Nam.
- Qua đó luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon
Việt Nam.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Khi nghiên cứu về “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên Doanh TNHH Flexcon Việt Nam”
một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như:
- Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của Công ty LD TNHH Flexcon Việt

Nam có ảnh hưởng đến công tác kế toán như thế nào?
- Nội dung kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Công ty LD
TNHH Flexcon Việt Nam?
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt
Nam ?
- Cách thức tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang
cuối kỳ tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam ?
- Ưu và nhược điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty?
- Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam ?
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam. Số liệu kế toán sử dụng
được lấy từ nguồn phòng kế toán của Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian, tác giả nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên Doanh TNHH
Flexcon Việt Nam”.
+ Về mặt thời gian, nguồn dữ liệu dùng để phân tích được phòng kế toán của
3
công ty tổng hợp trong các tháng của năm 2012.
+ Đề tài được tác giả xem xét trên hai khía cạnh kế toán tài chính và kế toán
quản trị.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học biện chứng, duy
vật lịch sử gắn với chế độ kinh tế và các phương pháp tổng hợp, phân tích.
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các môn khoa học
khác như: điều tra thực tế, thống kê,…
1.7. Ý nghĩa của nghiên cứu

- Ý nghĩa khoa học: Tác giả của luận văn đưa ra những cơ sở lý luận về kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho các doanh nghiệp sản xuất nói
chung và các doanh nghiệp thuộc ngành may gia công nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Tác giả của luận văn luận giải phương pháp kế toán chi
phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam từ đó đưa
ra những giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam.
1.8. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty LD TNHH Flexcon
Việt Nam”
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp.
Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
hàng may mặc gia công tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam
Chương 4: Đánh giá thực trạng và các giải pháp đề xuất hoàn thiện kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty
Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam”.
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn được tác giả trình bày tổng quan nghiên cứu kế toán
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Thông qua việc phân
tích tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, luận văn đã xác định vấn đề nghiên cứu
và tập trung nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
4
sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt
Nam”, xác định mục tiêu nghiên cứu thông qua các câu hỏi nghiên cứu, luận văn
cũng xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Những vấn đề
được nêu trong chương 1 sẽ là cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát và thực hiện
nghiên cứu đề tài nêu trong luận văn.
5

CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP
2.1. Vai trò, bản chất của chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
2.1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất
2.1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự
vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác,
quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối
tượng lao động và sức lao động. Đồng thời, quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính
là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy để tiến hành sản
xuất hàng hóa, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao
động và đối tượng lao động.
Do đó việc hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo nên giá trị sản phẩm sản
xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.
Để hiểu rõ bản chất của CPSX, cần phân biệt rõ khái niệm chi phí và chi tiêu.
Chi phí thực chất là sự dịch chuyển giá trị các yếu tố sản xuất vào đối tượng tính
giá. Như vậy, chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và
lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải
mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Ngược lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các
loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì.
Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung
cấp, chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh, chi tiêu cho quá trình tiêu thụ.
6
2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng

nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định.
Chi phí sản xuất kinh doanh có nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau cả về nội
dung lẫn tính chất, vai trò, công dụng và vị trí…trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Chi phí được phân loại theo các cách sau:
a) Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí (theo yếu tố chi phí):
Mỗi yếu tố chi phí gồm những chi phí có cùng nội dung kinh tế, không phân
biệt chúng phát sinh ở lĩnh vực nào với mục đích gì và ở đâu. Theo cách phân loại
này chi phí sản xuất trong kỳ được chia thành các yếu tố chi phí như sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế,…xuất sử dụng trong kỳ (loại trừ giá trị vật liệu dùng
không hết nhập kho và phế liệu thu hồi).
- Chi phí nhân công: bao gồm tiền lương và phụ cấp, trợ cấp lương và các
khoản trích theo lương của công nhân viên phục vụ sản xuất.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định
phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm toàn bộ số tiền chi trả cho các loại dịch vụ
mua ngoài như: điện, nước, phí internet, bưu chính…phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản
ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại này có tác dụng rất lớn trong quản lý chi phí, nó cho biết tỷ
trong, kết cấu từng yếu tố chi phí trong sản xuất để đánh giá tình hình thực hiện dự
toán chi phí sản xuất: cung cấp số liệu để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở
bàng thuyết minh báo cáo tài chính; cung cấp tài liệu tham khảu để lập dự toán chi
phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu
lưu động vốn cho kỳ sau, cung cấp tài liệu cho các cơ quan quản lý để tính toán thu
nhập quốc dân.
b) Phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí:
Dựa vào công dụng của chi phí mà chia ra các khoản mục chi phí khác nhau.
7

Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí nguyên vật liệu
chính, phụ, nhiên liệu…tham gia trực tiếp vào việc sản xuất và chế tạo sản phẩm
hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phự cấp lương và các khoản
trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: bao gồm những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực
tiếp), bao gồm các khoản chi phí sau:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm tiền lương và các khoản trích theo
lương của nhân viên quản lý, nhân viên kế toán, thống kê, thủ kho, tiếp liệu, vận
chuyển, sửa chữa máy móc, tài sản ở phân xưởng sản xuất.
+ Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí về vật liệu sử dụng chung như: dùng cho
sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng và những vật liệu dùng chung cho
nhu cầu quản lý chung của phân xưởng, đội sản xuất.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về CCDC xuất dùng cho nhu cầu
sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất như: khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng
cụ sửa chữa, dụng cụ bảo hộ lao động, dàn giáo trong XDCB.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tohàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng
ở các phân xưởng, đội sản xuất như: khấu hao máy móc thiết bị sản xuất, phương
tiện vận tải truyền dẫn, nhà xưởng, vườn cây lâu năm, sục vật sinh sản, súc vật làm
việc…
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí về lao vụ mua ngoài phục vụ
cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất như: chi phí điện, nước,
điện thoại, sửa chữa TSCĐ thuê ngoài…
+ Chi phí bằng tiền khác: phản ánh những chi phí khác ngoài chi phí kể trên
phục vụ cho nhu cầu SXC của phân xưởng, đội sản xuất.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất
theo định mức, cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực
8

hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức CPSX và lập kế
hoạch giá thành cho kỳ sau.
c) Theo khả năng quy nạp chi phí vào giá thành:
- Chi phí trong giá thành: là những chi phí có liên quan trực tiếp hoặc gián
tiếp vào việc sản xuất và chế tạo sản phẩm.
- Chi phí ngoài giá thành: là những khoản chi phí không tính được vào giá
thành sản phẩm như:
+ Các khoản thiệt hại do thiên tai, hỏa hoan, thiệt hại về vật tư, sản phẩm bị
mất cắp, ứ đọng, mất phẩm chất,…
+ Chi phí phục vụ cho đời sống người lao động như: chi phí xây dựng các
công trình phúc lợi, chi phí cho các hoạt động văn hóa, thể thao quần chúng được
trích ra từ quỹ phúc lợi hay kinh phí công đoàn…
d) Theo thời gian phát huy tác dụng của chi phí:
- Chi phí trả trước: là những chi phí thực tế phát sinh nhưng có liên quan
đến hoạt động SXKD của nhiều kỳ kế toán nên chưa thể tính hết vào chi phí SXKD
trong kỳ mà được tính phân bổ cho nhiều kỳ kế toán tiếp theo. Một số chi phí thuộc
loại này như: chi phí trả trước tiền thuê nhà, chi phí CCDC có giá trị lớn, chi phí cải
tiến kỹ thuật…
- Chi phí phải trả: là những chi phí thực tế phát sinh nhưng được tính vào chi
phí hoạt động SXKD kỳ này cho các đối tượng chịu chi phí để đảm bảo khi chi phí
phát sinh thực tế không gây đột biến cho chi phí SXKD. Chi phí này bao gồm:
+ Trích trước chi phí tiền lương của công nhân sản xuất trong thời gian nghỉ phép.
+ Trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ.
+ Trích trước chi phí trong thời gian sản xuất theo mùa vụ.
e) Theo cách ứng xử chi phí:
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành chi phí bất
biến, chi phí khả biến và chi phí hỗn hợp.
+ Chi phí bất biến (định phí): là những khoản chi phí không biến đổi hoặc biến
đổi không đáng kể khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của doanh nghiệp trong
phạm vi phù hợp – đó chính là phạm vi giữa mức độ hoạt động tối thiểu và mức độ

hoạt động tối đa mà doanh nghiệp dự tính thực hiện. Chi phí bất biến có hai đặc
điểm sau: Tổng chi phí bất biến không thay đổi khi mức độ hoạt động của doanh
nghiệp thay đổi trong phạm vi phù hợp và chi phí bất biến của 1 đơn vị sản phẩm sẽ
9
thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi.
+ Chi phí khả biến (biến phí): là những khoản chi phí biến đổi theo sự thay đổi
về mức hoạt động của doanh nghiệp. Biến phí thường rất đa dạng và phong phú có
thể là chi phí NVLTT, chi phí NCTT, tiền hoa hồng cho khách hàng…Biến phí
thường có những đặc điểm như: Tổng chi phí khả biến thay đổi khi mức đội hoạt
động của doanh nghiệp thay đổi và chi phí khả biến của một đơn vị sản phẩm sẽ
không thay đổi khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi.
+ Chi phí hỗn hợp: là những chi phí vừa mang tính bất biến vừa mang tính khả
biến. Chi phí hỗn hợp thường bao gồm chi phí SXC, chi phí sử dụng máy thi công,
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
Hầu hết các khoản mục chi phí phát sinh của doanh nghiệp thường mang tính
chất chi phí hỗn hợp là chủ yếu, các khoản chi phí này thường khó kiểm soát. Để
quản lý được thì các nhà quản trị doanh nghiệp thường phải tìm cách tách chúng ra
thành 2 bộ phận chi phí bất biến và chi phí khả biến.
f)Theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả kinh doanh:
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành chi phí thời kỳ
và chi phí sản phẩm (chi phí hàng hóa).
+ Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
nhuận của một thời kỳ, chi phí này không phải là một phần giá trị của sản phẩm
được sản xuất ra hoặc hàng hóa mua vào, chúng được tính trừ hết trong kỳ phát sinh
để xác định kết quả kinh doanh.
Nói cách khác thì chi phí thời kỳ trong một kỳ kinh doanh (theo thời gian), có
thể liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều sản phẩm khac nhau, hay đây chính là
những chi phí phát sinh được coi là phí tổn trong kỳ và phải tính đầy đủ trên báo
cáo thu nhập (chi phí bán hàng, quản lý).
+ Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với sản phẩm được sản xuất ra

hoặc hàng hóa mua vào, chúng chỉ được tính là chi phí để xác định kết quả kinh
doanh khi sản phẩm và hàng hóa được xác định là tiêu thụ.
g) Theo lĩnh vực hoạt động:
- Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh chính: gồm các chi phí liên quan
10
đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí tài chính: gồm các chi phí có liên quan đến hoạt động về vốn, cho
thuê tài sản…
- Chi phí khác: là những khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay nghiệp
vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp như: chi phí thanh lý
nhượng bán TSCĐ, bị phạt thuế, truy nộp thuế, phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế…
h) Các cách phân loại khác: ngoài các cách phân loại như trên, chi phí sản
xuất còn được phân loại theo một số tiêu thức sau đây:
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:
+ Chi phí trực tiếp: là chi phí có quan hệ trực tiếp đến một loại sản phẩm nào
đó; là loại chi phí có thể chuyển dịch ngay vào một đơn vị sản phẩm cụ thể.
+ Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, nhiều đối
tượng khác nhau cần phải được tập hợp và phân bổ theo các phương pháp cụ thể.
- Chi phí chênh lệch và chi phí chìm:
+ Chi phí chênh lệch: Các nhà quản trị thường thực hiện chức năng đưa ra
quyết định, do đó thường so sánh nhiều phương án kinh doanh khác nhau để thấy
được sự khác biệt giữa các phương án là cơ sở đưa ra quyết định.
Chi phí chênh lệch là các khoản chi phí có ở phương án này nhưng lại chỉ có
một phần hoặc không có ở phương án khác.
+ Chi phí chìm: là những khoản chi phí phát sinh luôn xuất hiện trong tất cả
các phương án SXKD, là loại chi phí mà doanh nghiệp bắt buộc phải chịu mặc dù
các nhà quản trị chọn bất kỳ một phương án kinh doanh nào. Chi phí này thường
không có thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh vì thông tin không có tính
chênh lệch. Một số chi phí loại này như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt
bằng sản xuất…

- Chi phí xác định và chi phí cơ hội:
+ Chi phí xác định: là những chi phí mà sự phát sinh của chúng đi cùng với sự
giảm đi của tài sản hay sự gia tăng nợ phải trả. Các chi phí nguyên liệu, nhân
công,bán hàng, quản lý…đều là những chi phí xác định. Chi phí khấu hao tuy
không chỉ tiền nhưng cũng là chi phí xác định.
+ Chi phí cơ hội: là lợi ích bị mất đi vì chọn phương án và hành động này thay
cho phương án và hành động khác.
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được:
+ Chi phí kiểm soát được: là những chi phí mà một cấp quản lý cụ thể có thể
11

×