Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Quản lý tài chính bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 91 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM





PHẠM MINH THÀNH




QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

BẢO HIỂM XÃ HỘI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI







LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ











TP. Hồ Chí Minh - Năm 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM





PHẠM MINH THÀNH





QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

BẢO HIỂM XÃ HỘI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI






Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng

Mã số : 60.31.12


LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. Nguyễn Ngọc Hùng





TP. Hồ Chí Minh - Năm 2010






Lời cam đoan


Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tự nghiên
cứu và thực hiện, các kết quả nêu trong luận văn này là
trung thực và không sao chép của bất cứ ai.




TÁC GIẢ LUẬN VĂN




PHẠM MINH THÀNH























Mục lục

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục những từ viết tắt

Danh mục những bảng số liệu, hình, đồ thò

Danh mục các bảng phụ lục

Lời mở đầu: 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BHXH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH: 5

1.1. Khái quát về BHXH: 5

1.1.1. Khái niệm về BHXH: 5

1.1.2. Sự cần thiết khách quan của BHXH: 6

1.1.3. Bản chất BHXH: 7

1.1.4. Các chủ thể liên quan đến BHXH: 8

1.1.5. Mục tiêu và phương thức hoạt động của BHXH: 11


1.2. Quản lý tài chính BHXH: 11

1.2.1. Khái niệm: 11

1.2.2. Nội dung: 12

1.2.3. Nguyên tắc: 13

1.2.4. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính BHXH: 13

1.2.5. Quản lý quỹ BHXH và mục đích sử dụng quỹ BHXH: 16

1.3. Kinh nghiệm về quản lý tài chính BHXH của một số nước trên thế giới: 19

1.3.1. Tổ chức thu BHXH: 19

1.3.2. Quản lý chi BHXH: 20

1.3.3. Mô hình cân đối quỹ BHXH: 20
Kết luận chương: 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH
Ở ĐỒNG NAI: 22

2.1. Quá trình hình thành và phát triển nguồn tài chính BHXH ở Việt Nam:22

2.2. Điều kiện tự nhiên; kinh tế, xã hội nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài
chính BHXH ở tỉnh Đồng Nai: 24


2.2.1. Điều kiện tự nhiên: 24

2.2.2. Điều kiện kinh tế, xã hội: 25

2.3. Thực trạng quản lý thu BHXH từ năm 2005 đến nay: 27

2.3.1. Quản lý đối tượng tham gia BHXH: 29

2.3.2. Quản lý quỹ lương trích nộp BHXH: 33

2.3.3. Quản lý nguồn thu BHXH: 36

2.4 Thực trạng quản lý chi BHXH từ năm 2005 đến nay: 41

2.4.1. Quản lý đối tượng hưởng BHXH: 43

2.4.2. Quy trình thực hiện chi trả BHXH: 48

2.4.3. Phương thức chi trả BHXH: 51

2.4.4. Đánh giá thực trạng tổ chức chi trả BHXH ở tỉnh Đồng Nai: 51

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý tài chính BHXH ở Đồng Nai: 52

2.5.1. Những kết quả đạt được: 52

2.5.2. Những tồn tại và nguyên nhân tồn tại: 53
Kết luận chương 2: 55

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH Ở TỈNH ĐỒNG NAI: 57

3.1. Đònh hướng hoàn thiện công tác quản lý tài chính BHXH ở Đồng Nai: 57

3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách BHXH: 57

3.1.2. Đònh hướng hoàn thiện công tác quản lý tài chính BHXH ở Đồng Nai: 58

3.2. Những nhóm giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài
chính BHXH ở tỉnh Đồng Nai: 59

3.2.1 Nhóm giải pháp tăng cường khai thác thu và quản lý thu BHXH: 59

3.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường quản lý chi BHXH: 60

3.2.3. Nhóm giải pháp về cải cách thủ tục hành chính: 61

3.2.4. Giải pháp dự báo tài chính BHXH (dự báo cân đối quỹ BHXH): 62

3.2.5. Nhóm giải pháp điều kiện cần thiết tăng cường công tác quản lý tài chính
BHXH ở tỉnh Đồng Nai: 66

3.3. Một số kiến nghò: 68

3.3.1. Kiến nghò với y ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai: 68

3.3.2. Kiến nghò với Bộ Chính trò: 69

3.3.3. Kiến nghò với Quốc hội: 70


3.3.4. Kiến nghò với Chính phủ: 70

3.3.5. Kiến nghò với Tòa án nhân dân tối cao: 70

3.3.6. Kiến nghò đối với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: 71

Kế luận chương 3: 71
Kết luận: 71
Tài liệu tham khảo
Phụ lục


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

BHXH : Bảo hiểm xã hội.

BHYT : Bảo hiểm y tế

TNLĐ : Tai nạn lao động

BNN : Bệnh nghề nghiệp

HT : Hưu trí

TC BHXH : Trợ cấp Bảo hiểm xã hội

DN : Doanh nghiệp

DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước


DN NQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

ĐĐT : Đảng đoàn thể

HCSN : Hành chính sự nghiệp

CBCC : Cán bộ công chức

NLĐ : Người lao động

ĐVSDLĐ : Đơn vò sử dụng lao động

LĐTB&XH : Lao động Thương binh và xã hội

LĐLĐ : Liên đoàn lao động

ILO : Tổ chức lao động quốc tế

NĐ : Nghò đònh

NN : Nhà nước

VN : Việt Nam

QL : Quản lý



DANH MỤC NHỮNG BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH, ĐỒ THỊ


Bảng số liệu:

Bảng 2.1: Số lao động chưa tham gia BHXH tại các đơn vò được kiểm tra: 32

Bảng 2.2: Tình hình quỹ tiền lương trích nộp BHXH: 33

Bảng 2.3: Kết quả kiểm tra tổng quỹ tiền lương tại các đơn vò: 35

Bảng 2.4: Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH: 36

Bảng 2.5: Tình hình nợ tiền thu BHXH: 38

Bảng 2.6: Tổng hợp chi BHXH: 41

Bảng 2.7: Tổng hợp đối tượng hưởng BHXH (nguồn NSNN): 43

Bảng 2.8: Tổng hợp đối tượng hưởng BHXH (nguồn quỹ BHXH): 44

Bảng 2.9: Tổng hợp số liệu chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức: 47

Hình:

Hình 2.1: Thu nhập bình quân đầu người qua các năm: 27

Hình 2.2: Kết quả thu BHXH ở Đồng Nai qua các năm: 28

Hình 2.3: Sự gia tăng số người tham gia BHXH qua các năm: 29

Hình 2.4: Đối tượng tham gia BHXH phân theo loại hình quản lý: 30


Hình 2.5: Số lao động chưa được tham gia BHXH: 31

Hình 2.6: Số lao động và số thu BHXH qua các năm: 37

Hình 2.7: Tỷ lệ nợ đọng BHXH qua các năm: 39

Hình 2.8: Tỷ lệ cân đối giữa hai nguồn chi BHXH: 42

Hình 2.9: Số người thụ hưởng BHXH qua các năm: 46

Đồ thò:

Đồ thò 3.1: Biểu diễn mối quan hệ giữa mức đóng và thời gian đóng BHXH: 63

Đồ thò 3.2: Biểu diễn mối quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng lương hưu: 64























DANH MỤC CÁC BẢNG PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết quả thu BHXH trên toàn quốc qua các năm.

Phụ lục 2: Kết quả thực hiện chi BHXH trên toàn quốc qua các năm.

Phụ lục 3: Đối tượng tham gia BHXH của toàn tỉnh Đồng Nai.

Phụ lục 4: Kết quả thu BHXH phân theo loại hình quản lý.

Phụ lục 5: Tổng hợp đối tượng và kinh phí chi trả BHXH toàn tỉnh.








1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:



Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động lao
động sản xuất - kinh doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính
toán khoa học và dự báo trước, còn rất nhiều biến cố rủi ro bất ngờ khác
có thể xảy ra như : thiên tai (động đất, bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn), tai nạn
giao thông, tai nạn lao động, ốm đau, dòch bệnh … mà con người luôn luôn
phải đối mặt với những bất trắc và rủi ro này.


Để có nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần cho người
lao động khi họ gặp rủi ro, tai nạn, ốm đau … và khi về già, đòi hỏi trong
quảng đời lao động họ cần trích ra một khoản thu nhập nhất đònh để dành
bù đắp cho nhu cầu vật chất khi bò thiếu hụt hoặc giảm sút. Khoản thu
nhập đó được tập trung trong một quỹ để sử dụng chung cho tất cả các
thành viên là những người tham gia đóng góp theo nguyên tắc xác đònh
trước về mức bồi thường kinh tế, san sẻ rủi ro, cộng đồng lấy số đông bù
số ít. Quỹ này được ILO – Tổ chức lao động Quốc tế (International
Labour Organization) gọi là Quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH).


Nếu nghiên cứu ở khía cạnh chính sách tài chính quốc gia, thì BHXH
tập trung được nguồn tài chính nhàn rỗi rất lớn đầu tư lại cho nền kinh tế,
góp phần thực hiện những mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của
quốc gia, qua đó góp phần bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH.


Ở Việt Nam, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng
hòa, nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm thực hiện chính sách
BHXH: Sắc lệnh số 54/SL ngày 3/11/1945 ấn đònh những điều kiện cho

công chức về hưu; Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946 ấn đònh việc cấp
hưu bổng cho công chức; Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ấn đònh cụ thể
hơn các chế độ trợ cấp hưu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất
đối với công chức; Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 và Sắc lệnh số
77/SL ngày 22/5/1950 ấn đònh các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân sản xuất.


Để góp phần thực hiện tốt công cuộc đổi mới nền kinh tế và xã hội
của Đảng và Nhà nước ta, mà vấn đề bảo vệ quyền lợi kinh tế và xã hội
cho người lao động được coi là một trong những chính sách kinh tế vó mô
quan trọng. Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ luật lao động
2
ngày 23 tháng 06 năm 1994 và Chính phủ đã ban hành một số Nghò đònh
để triển khai thực hiện bộ luật này, trong đó có Nghò đònh số 12/CP ngày
26 tháng 01 năm 1995 về việc ban hành Điều lệ BHXH, mở đầu cho cuộc
cải cách mạnh mẽ, sâu rộng, toàn diện BHXH nhằm vào mục đích xóa sự
bao cấp của Ngân sách nhà nước đối với BHXH, mở rộng diện bắt buộc
không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nùc như trước đây mà với tất
cả người lao động làm công ăn lương trong các doanh nghiệp thuộc tất cả
các thành phần kinh tế, quy đònh lại nguồn thu chi, cơ cấu nguồn thu dùng
cho mỗi chế độ. Ngày 29 tháng 06 năm 2006 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội
khóa X đã thông qua Luật BHXH số 71/2006/QH11 bao gồm BHXH bắt
buộc với 5 chế độ (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp,
hưu trí và tử tuất), BHXH tự nguyện với 2 chế độ (hưu trí, tử tuất), Bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN), độ bao phủ của Luật BHXH rộng khắp đến
mọi người lao động.


Như vậy, Chính sách BHXH qua các thời kỳ đã góp phần thực hiện

công bằng xã hội ở Việt Nam, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế; gắn mối quan hệ tương tác giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội cả về lý luận, nhận thức và thực tiễn. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều mặt hạn chế, khó khăn cả về
phía người lao động, doanh nghiệp và cơ quan quản lý BHXH, trong đó
nổi lên vấn đề tài chính BHXH.


Để thực thi những chính sách BHXH ngày càng tốt hơn nữa, cần phải
nắm bắt được tình hình thực tế của hoạt động BHXH hiện nay mà đặc biệt
là công tác quản lý tài chính để phân tích đánh giá một cách chính xác
nguồn hình thành tài chính, khả năng thu và khả năng bù đắp chi BHXH,
thay dần nguồn chi từ ngân sách nhà nước (NSNN), quản lý chặt chẽ quỹ
BHXH. Đồng thời xuất phát từ tình hình thực tế công tác quản lý tài chính
BHXH trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua còn nhiều vấn đề
bức xúc cần thiết phải có các giải pháp khắc phục nhằm tăng cường quản
lý tài chính BHXH ở Đồng Nai nói riêng và các đơn vò dự toán cấp 2 nói
chung; đó chính là lý do dẫn đến việc nghiên cứu đề tài
“ Quản lý tài
chính Bảo hiểm xã hội trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai”.


Hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ
thể hóa về cơ chế quản lý tài chính BHXH trong mối quan hệ với tổng thể
nền kinh tế và xã hội trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai. Tác giả đề tài hy vọng
với kết quả nghiên cứu này sẽ có thể được ứng dụng trong thực tế, nhằm
3
đạt được mục tiêu quốc gia có một nền An sinh xã hội tốt, thúc đẩy người
lao động tích cực tham gia vào thò trường lao động, tìm kiếm việc làm có
thu nhập cao nhằm ổn đònh cuộc sống, góp phần ổn đònh tình hình chính

trò, trật tự, an toàn xã hội và phát triển kinh tế bền vững trên đòa bàn.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Đề tài nghiên cứu nhằm hướng đến các mục tiêu sau :
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận về hoạt động BHXH
và quản lý tài chính BHXH trong tiến trình phát triển nền kinh tế quốc
dân.
- Phân tích làm rõ những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai có ảnh hưởng đến BHXH và
quản lý tài chính BHXH.

- Nghiên cứu thực tiễn của hoạt động BHXH và quản lý tài chính BHXH
trên đòa bàn Đồng Nai nhằm rút ra những thành quả và tồn tại cần hoàn
thiện.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
công tác quản lý tài chính BHXH ở tỉnh Đồng Nai, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững trên đòa bàn tỉnh, cũng
như đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong điều kiện hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:


Đối tượng nghiên cứu là hoạt động BHXH và công tác quản lý tài
chính BHXH ở tỉnh Đồng Nai. Kết quả hoạt động và số liệu phục vụ cho
công tác nghiên cứu của đề tài được xác đònh từ năm 2005 đến nay.

4. Phương pháp nghiên cứu:



Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghóa Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng đề ra trong các kỳ Đại
hội VI, VII, VIII, IX và X về lónh vực kinh tế – xã hội. Đề tài còn được
nghiên cứu trên cơ sở các số liệu báo cáo, điều tra khảo sát về tình hình
kinh tế – xã hội và hoạt động BHXH trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai.

4

Tác giả đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, trừu tượng
hóa, kết hợp logic và lòch sử, hệ thống và khái quát hóa, phương pháp
minh họa, đối chiếu so sánh. Đồng thời đề tài cũng vận dụng tổng hợp các
phương pháp thống kê, toán học để đánh giá và để làm sáng tỏ các vấn đề
cần quan tâm.

5. Ý nghóa thực tiễn của đề tài:


Đề tài nghiên cứu một lónh vực hoạt động cụ thể về BHXH và quản lý
tài chính BHXH trên một đòa bàn cụ thể cho nên nó có ý nghóa thực tiễn ,
trước hết đối với đòa phương tỉnh Đồng Nai. Với kết quả đề tài đạt được,
sẽ góp phần làm sáng tỏ luận cứ hoạt động tài chính BHXH trong quá
trình hoạch đònh chủ trương, chính sách; trên cơ sở đó tổ chức thực hiện tốt
nhiệm vụ BHXH và xây dựng các biện pháp hoàn thiện công tác quản lý
tài chính BHXH có hiệu quả trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai; góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn đònh tình hình chính trò và tiến bộ xã hội của
tỉnh Đồng Nai cũng như việc áp dụng cho những đòa phương có đặc điểm
và điều kiện kinh tế – xã hội tương tự như Đồng Nai.

6. Kết cấu của đề tài:



Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về Bảo hiểm xã hội và quản lý tài
chính Bảo hiểm xã hội.

Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính Bảo hiểm xã hội ở
tỉnh Đồng Nai.

Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công
tác quản lý tài chính BHXH ở tỉnh Đồng Nai.





5
Chương 1

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1.KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI:

1.1.1.Khái niệm Bảo hiểm xã hội:



Đứng trên mỗi góc độ khác nhau, các nhà kinh điển đưa ra một số đònh
nghóa về BHXH khác nhau. Song có thể hiểu một cách khái quát nhất
theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bò mất
hoặc giảm thu nhập do bò ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài
chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo trợ của Nhà
nước theo pháp luật nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động
và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” [29].


Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006: “Bảo hiểm xã
hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao
động khi họ bò giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [23].


Như vậy, BHXH chiếm một vò trí quan trọng nhất và là thành phần
chính của hệ thống bảo đảm xã hội ở Việt Nam nói riêng và các nước trên
thế giới nói chung. Nhiều nước hiện nay, các nguồn thu về đóng góp
BHXH chiếm khoản 10% GDP và chi cho các chế độ BHXH chiếm tỷ
trọng từ 60 – 70% tổng chi tiêu cho các hoạt động bảo đảm xã hội của
toàn quốc gia.


Ở Việt Nam, BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta
mang trong nó tính nhân văn sâu sắc, vì cuộc sống an lành của con người,
vì dân sinh hạnh phúc, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chính phủ đã quan

tâm đến chính sách BHXH và được thể chế hóa bằng các Sắc lệnh của
Chính phủ. Chính sách này đã giúp cho đội ngũ công nhân viên chức và
những người làm việc trong lực lượng vũ trang yên tâm công tác, góp
phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

6

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, chính sách BHXH được cũng
cố hoàn thiện phù hợp với nền kinh tế thò trường dưới sự quản lý của
Nhà nước phát triển theo đònh hướng xã hội chủ nghóa. Đó là một
quỹ BHXH được tập trung thống nhất trên toàn quốc, được bảo toàn tăng
trưởng và dùng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động tham gia
BHXH ở các thành phần kinh tế được ổn đònh, có hiệu quả.

1.1.2.Sự cần thiết khách quan của BHXH:


Trong đời sống xã hội các mối quan hệ giữa con người với con người,
giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng đa
dạng và phức tạp. Khi của cải ngày càng nhiều thì mức độ thỏa mãn nhu
cầu ngày càng tăng, điều này cho thấy việc thỏa mãn nhu cầu của cuộc
sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong
suốt cuộc đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra
thu nhập, trái lại có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bò giảm
hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp,
nghèo đói, chết … Đồng thời con người còn phụ thuộc rất nhiều vào điều
kiện tự nhiên, môi trường xã hội. Những điều kiện này không phải lúc nào
và ở đâu cũng thuận lợi, may mắn. Những rủi ro này là khó có thể tránh
khỏi và dự báo trước được. Để có thu nhập nhằm duy trì, ổn đònh cuộc
sống của bản thân và gia đình họ trong thời gian gặp những biến cố nêu

trên, tất yếu phải lập quỹ dự trữ bảo hiểm thích hợp để thực hiện các mục
đích đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho các thành viên. Mặt khác, do quy
luật bảo tồn nòi giống, duy trì lực lượng lao động trong tương lai cho xã
hội, những người lao động nữ trong quá trình làm việc, lao động sản xuất
còn phải làm mẹ, sinh con và nuôi con, nghỉ chăm sóc lúc con ốm, tất yếu
cũng cần phải có bảo hiểm. Vì vậy, để đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội
bình thường, đời sống của người lao động ổn đònh cần thiết là phải có quỹ
bảo hiểm đảm bảo. Như vậy, việc tạo lập quỹ dự trữ bảo hiểm (quỹ
BHXH và bảo hiểm rủi ro) là một yếu tố, một yêu cầu khách quan không
thể thiếu được để đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội bền vững.


Thực tế, trong nhiều thập kỷ qua BHXH được Chính phủ nhiều nước
coi là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất nhằm huy động
các nguồn lực mà thực chất là một phần của GDP để bảo vệ lợi ích của
người lao động khi họ gặp rủi ro bất khả kháng và qua đó góp phần thực
hiện công bằng xã hội. Vì thế, hiện nay trên thế giới đã có trên 182 nước
có Luật về hoạt động BHXH, đặt quỹ BHXH trong hệ thống tài chính
quốc gia. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua công ước số 102
7
(28/06/1952) của Tổ chức lao động Quốc tế về BHXH. Công ước đã
khuyến khích các nước thành viên thực hiện ít nhất 3 chế độ trong 9 chế
độ BHXH. Cụ thể như sau [30]:

1.
Chăm sóc y tế,

2.
Trợ cấp ốm đau,


3.
Trợ cấp thất nghiệp,

4.
Trợ cấp tuổi già,

5.
Trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp,

6.
Trợ cấp gia đình,

7.
Trợ cấp thai sản,

8.
Trợ cấp tàn tật,

9.
Trợ cấp tiền tuất,

1.1.3. Bản chất BHXH:


BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan cùng với
sự phát triển của xã hội loài người, bởi vậy nó vừa mang bản chất kinh tế
vừa mang bản chất xã hội:


1.1.3.1. Bản chất kinh tế của BHXH:



Bản chất kinh tế của BHXH thể hiện ở chỗ những người tham gia
cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này
không ảnh hưởng lớn đến đời sống của từng cá nhân và hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp) để lập một quỹ dự trữ. Các khoản
đóng góp vào quỹ BHXH bao gồm: đóng góp của người lao động, chủ sử
dụng lao động và Nhà nước. Mục đích của việc hình thành quỹ này là để
trợ cấp cho những người khi gặp rủi ro, tránh được những hụt hẫng về thu
nhập cho họ. Sự hỗ trợ này được lấy từ quỹ BHXH nên giảm bớt gánh
nặng cho nguồn chi ngân sách Nhà nước. Bản chất kinh tế được thể hiện ở
chỗ, người lao động chỉ đóng góp một phần nhỏ trong thu nhập của mình,
nhưng do nhiều nguồn hình thành khác, nên quỹ BHXH có khoản tiền lớn
đảm bảo đủ chi trả tài chính cho họ khi phát sinh nhu cầu được thanh toán.
Quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít người rủi ro”,
việc thực hiện thu và giải quyết các chế độ BHXH cho người lao động
trong suốt quá trình làm việc và tham gia BHXH. Chính vì vậy trong
khoảng thời gian người lao động tham gia BHXH chưa đến độ tuổi nghỉ
hưu, quỹ BHXH tạm thời có những khoản tiền nhàn rỗi do chưa phải trả
các chế độ dài hạn cho người lao động. Việc sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi
8
để đầu tư vào các lónh vực kinh tế xã hội đã góp phần làm tăng trưởng quỹ
BHXH và làm tăng nguồn vốn đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước.


Từ những luận cứ trên đã chứng minh rằng bên cạnh mục tiêu hoạt
động BHXH là an toàn xã hội về kinh tế cho mọi người trong cộng đồng,
thì BHXH còn là một hình thức huy động vốn. Và với sức mạnh về tài
chính của mình cùng với sự quản lý của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần ổn
đònh chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia.



Tóm lại, BHXH được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài
chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH nhằm góp phần ổn
đònh cuộc sống của người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro làm giảm
hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động. BHXH phản ánh các quan hệ
kinh tế trong quá trình phân phối lại các nguồn lực giữa các chủ thể tham
gia tạo lập và sử dụng quỹ BHXH.


1.1.3.2. Bản chất xã hội của BHXH:


Bản chất xã hội của BHXH được thể hiện ở chỗ quỹ BHXH là một bộ
phận của tổng sản phẩm trong nước được xã hội tổ chức, quản lý, bảo tồn
và phân phối lại cho người lao động. Thực chất quỹ BHXH là một phần
tổng sản phẩm trong nước, trong đó người lao động chỉ phải đóng góp một
khoản nhỏ, nhưng khi gặp rủi ro được cả cộng đồng trợ giúp để giúp đỡ
vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra được
sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Điều
đặc biệt là góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao
động tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạo được thêm nhiều
công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dòch vụ
xã hội phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hóa … BHXH là hoạt
động mang tính nhân đạo, nhân văn, khoản tiền đóng góp khi còn trẻ, còn
khỏe để dùng vào lúc tuổi già, lúc ốm đau. [24].


Tóm lại, hoạt động BHXH không vì mục đích lợi nhuận thuần tuý mà
hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp

phần ổn đònh và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

1.1.4. Các chủ thể liên quan đến BHXH:


Hiện nay tất cả các hệ thống BHXH trên thế giới điều được tổ chức với
sự tham gia của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.

9

1.1.4.1. Người lao động:


Người lao động tham gia đóng BHXH trước hết là do nhu cầu cuộc
sống và lao động đòi hỏi. “Sinh – Lão – Bệnh – Tử” là quy luật tự nhiên
của đời người. Ai sinh ra cũng phải có lúc ốm đau, hoặc trong lao động
cũng có khi bò rủi ro tai nạn lao động. Vì thế để đảm bảo cuộc sống những
khi bò rủi ro hoặc khi “trái gió, trở trời” người lao động phải tiết kiệm một
phần thu nhập để đóng BHXH. Người lao động đóng BHXH khi khỏe là
để hưởng chế độ BHXH khi ốm đau, khi bò tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp hoặc đóng BHXH khi còn trẻ, còn độ tuổi lao động để khi hết tuổi
lao động về già được hưởng chế độ hưu trí. Mức đóng BHXH của người
lao động tăng dần từ thấp đến cao. hầu hết các nước trên thế giới đều
điều chỉnh mức đóng từ thấp đến cao. Ở nước ta, Luật BHXH năm 2006
quy đònh mức đóng BHXH trên mức tiền lương, tiền công của người lao
động: từ năm 2007 đến năm 2009 là 5%; từ năm 2010 đến năm 2011 là
6%; từ năm 2012 đến năm 2013 là 8%; từ năm 2014 trở đi là 10%. Mức
đóng này so với các nước trên thế giới là thấp, nhưng trong điều kiện nước
ta hiện nay, tiền lương, tiền công của phần lớn người lao động còn rất
thấp, nếu tăng tỷ lệ đóng góp lên cao như các nước, sẽ ảnh hưởng đến đời

sống của người lao động.


Người lao động tham gia đóng BHXH còn là nghóa vụ và trách
nhiệm đối với xã hội, người lao động được hưởng các chế độ đó là quyền
lợi. Nhưng quyền lợi hưởng BHXH phải đi đôi với nghóa vụ đóng BHXH.
Nghóa là người lao động phải có nghóa vụ đóng BHXH để tự bảo hiểm cho
mình.


1.1.4.2. Người sử dụng lao động:


Ở các nước đã có pháp luật về BHXH, Người sử dụng lao động tham
gia BHXH mang tính bắt buộc là biện pháp hạn chế tổn thất trong quá
trình sản xuất do những suy giảm hoặc mất khả năng lao động của người
lao động khi gặp rủi ro, hạn chế những khoản chi phí bất thường có ảnh
hưởng không tốt đến tình hình tài chính của đơn vò. Bên cạnh những chế
tài quy đònh việc sử dụng lao động thì việc bắt buộc người sử dụng lao
động phải tham gia BHXH cũng là một biện pháp buộc người sử dụng lao
động phải có trách nhiệm đối với người lao động, bảo vệ quyền lợi của
người lao động, bởi lẽ người sử dụng lao động là các chủ doanh nghiệp
hoạt động với mục đích lợi nhuận, nếu coi mục đích lợi nhuận là trên hết
họ sẽ sẵn sàng cắt bỏ quyền lợi của người lao động, khi những quyền lợi
10
đó có ảnh hưởng không tốt đến tài chính của doanh nghiệp. Các khoản
đóng góp của người sử dụng lao động sẽ tạo điều kiện cho người lao động
được hưởng mức cao hơn khi chỉ có chính bản thân người lao động đóng
góp, góp phần ổn đònh đời sống cho những người hưởng chế độ BHXH.
Điều này có nghóa là việc tham gia BHXH thể hiện trách nhiệm của người

sử dụng lao động đối với xã hội, trách nhiệm của xã hội đối với mỗi thành
viên của mình. Mặc khác, khoản đóng góp của người sử dụng lao động
được tính vào giá thành sản phẩm và người tiêu dùng sản phẩm trong xã
hội đã trả phần chi phí này. Như vậy, khoản đóng góp của người sử dụng
lao động thực chất là đóng góp của xã hội, thông qua hoạt động của người
sử dụng lao động để huy động sự đóng góp của xã hội vào quỹ BHXH để
bảo đảm ổn đònh thu nhập cho người lao động khi họ gặp rủi ro.


Những luận cứ trên đây càng khẳng đònh BHXH mang tính cộng đồng
rất cao và vai trò của người sử dụng lao động đối với BHXH là biện
pháp để huy động sự đóng góp của toàn xã hội vì sự tiến bộ của con
người.


1.1.4.3. Nhà nước:


Nhà nước tham gia hoạt động BHXH với hai tư cách: tư cách là người
sử dụng lao động và tư cách Nhà nước.


- Với tư cách là người sử dụng lao động: Nhà nước trích kinh phí ngân
sách đóng BHXH cho Công chức, viên chức do nhà nước trả lương hoặc
nhà nước là chủ sở hữu các doanh nghiệp, công ty … thì cũng phải thực
hiện đóng BHXH cho người lao động làm việc trong các doanh nghiệp do
nhà nước sở hữu.


- Với tư cách Nhà nước, Nhà nước ban hành pháp luật và có các hỗ trợ

cần thiết nhằm thúc đẩy hoạt động BHXH để đạt được các mục tiêu đã đề
ra. Về mặt xã hội, BHXH là vấn đề chung của toàn xã hội chứ không đơn
thuần là quan hệ chủ – thợ như trước đây. Pháp luật về BHXH mà Nhà
nước ban hành cần hướng tới mục tiêu ổn đònh và thúc đẩy xã hội phát
triển. Ngoài việc ban hành một hệ thống pháp luật tốt nhằm thúc đẩy hoạt
động BHXH, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ nhà nước sẵn sàng
hỗ trợ cho hệ thống BHXH ở những thời kỳ khó khăn. Sự hỗ trợ này có thể
là về tài chính, về cơ chế quản lý, về phương tiện làm việc, đào tạo nguồn
nhân lực … có nghóa là Nhà nước hỗ trợ tập trung vào những khâu mà hệ
thống BHXH không thể đơn phương thực hiện được.

11

Những luận cứ trên đây chứng tỏ vai trò của Nhà nước như là “Bà
đỡ” hệ thống BHXH, hậu thuẫn cho hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Đến khi phát triển lớn mạnh, hệ thống BHXH lại góp phần ổn đònh và
phát triển kinh tế – xã hội.

1.1.5. Mục tiêu và phương thức hoạt động của BHXH:


Mục tiêu của bất kỳ một hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu An sinh
xã hội. Điều này được thể hiện thông qua việc chi trả các chế độ BHXH,
xã hội được ổn đònh hơn, hạn chế những tiêu cực trong xã hội và có điều
kiện tốt hơn để phát triển.


Để đạt được mục tiêu đó, BHXH sử dụng đến một phương tiện chủ
yếu là phương tiện kinh tế. Việc hình thành quỹ BHXH để chi trả được
xây dựng trên nguyên tắc đóng góp. Các biện pháp kinh tế tiếp theo là

các biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển quỹ BHXH như đầu tư, tham gia
thò trường tài chính … Và thông qua quá trình đóng góp, bảo tồn và tăng
trưởng quỹ BHXH mới đảm bảo nguồn tài chính để thực hiện chi trả.


Tóm lại, mục tiêu hoạt động BHXH là mục tiêu xã hội còn phương tiện
hoạt động là phương tiện kinh tế. Tôn trọng nguyên tắc này sẽ đảm bảo
hoạt động BHXH tránh được sự xuất hiện hai thái cực trong hoạt động
của mình: hoặc là tổ chức BHXH sẽ trở thành tổ chức từ thiện, hoặc sẽ trở
thành tổ chức kinh doanh thuần túy. Cả hai thái cực đó sẽ làm cho hệ
thống BHXH không thể thực hiện chức năng xã hội của mình và có ảnh
hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.

1.2. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI:


1.2.1. Khái niệm:

Quản lý được hiểu là sự tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn
vò, cơ

quan, là sự trông coi, giữ gìn và theo dõi công việc theo những mục
đích nhất đònh của Nhà nước hay một chủ thể nào đó. Từ đó ta có thể hiểu
quản lý tài chính Bảo hiểm xã hội là việc vận dụng các chủ trương của
Đảng, sử dụng pháp luật của Nhà nước và các biện pháp nghiệp vụ hành
chính, kinh tế, tài chính, kế toán để xây dựng, quyết đònh, tổ chức thực hiện,
giám sát, kiểm tra việc thu nộp các khoản thu, sử dụng các khoản chi của
Bảo hiểm xã hội có hiệu quả và tiết kiệm nhằm đảm bảo mục tiêu và các
nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội.
12


1.2.2. Nội dung:


Hoạt động BHXH mang tính chất hết sức đặc thù, vừa là một ngành
dòch vụ phi lợi nhuận mang tính chất xã hội cao lại chứa đựng những hoạt
động tài chính liên quan đến huy động và sử dụng một nguồn vốn rất lớn
được tập trung trong quỹ tài chính quốc gia.


Để làm rõ những nội dung quản lý tài chính hoạt động BHXH trước hết
cần xác đònh rõ một số vấn đề liên quan đến quản lý trong BHXH. Đó là
quản lý Nhà nước về BHXH và quản lý tài chính BHXH.


* Quản lý Nhà nước về BHXH được thể hiện thông qua các nhiệm vụ
cụ thể như sau:

-
Quản lý toàn bộ hệ thống BHXH trên phạm vi quốc gia. Thực hiện
hoạch đònh các chính sách vó mô về BHXH, xây dựng và ban hành các
quy đònh về chính sách chế độ BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế xã
hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.

-
Ban hành Luật BHXH, các văn bản pháp quy và các văn bản dưới
luật về BHXH thống nhất trong toàn quốc.

-
Đònh hướng các hoạt động BHXH, nghiên cứu và xây dựng các loại

hình BHXH hợp lý, phù hợp với trình độ và đặc điểm phát triển kinh tế –
xã hội của dất nước.

-
Thực hiện việc thanh tra, kiểm soát các hoạt động BHXH, xử lý các
vi phạm, các tranh chấp về BHXH.

-
Bảo trợ các hoạt động sự nghiệp về BHXH.


* Nội dung quản lý tài chính BHXH chủ yếu liên quan đến quá trình
huy động và sử dụng một cách có hiệu quả quỹ BHXH, bao gồm:

-
Quản lý toàn bộ sự vận động của quỹ nói chung.


- Quản lý các hoạt động tài chính về thu BHXH.

-
Quản lý các hoạt động tài chính về chi các chế độ BHXH.

-
Quản lý các hoạt động tài chính liên quan đến việc bảo toàn giá trò và
tăng trưởng quỹ BHXH và sử dụng phát sinh từ những hoạt động đó.

13
-
Quản lý tài chính trong các cơ quan BHXH.



1.2.3. Nguyên tắc:


Quản lý tài chính BHXH được thực hiện theo nguyên tắc tập trung,
thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích,
hạch toán độc lập với NSNN. Toàn bộ tiền thu BHXH và một số nguồn
khác như các khoản thu nhập từ hoạt động đầu tư … đều được hình thành
quỹ BHXH tập trung. Khi có nhu cầu về chi (chi BHXH, chi quản lý bộ
máy, chi đào tạo, chi đầu tư, chi các chương trình phát triển) được cấp
phát và quản lý thống nhất từ quỹ BHXH, phải đảm bảo nguyên tắc thu
lớn hơn chi, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của quỹ BHXH.


Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư tài chính BHXH và các biện
pháp cần thiết khác để bảo toàn, tăng trưởng quỹ; quỹ BHXH được Nhà
nước bảo hộ, không bò phá sản.


1.2.4. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính BHXH:


Hoạt động tài chính BHXH đó chính là sự vận động của hai dòng
chảy Thu – Chi quỹ BHXH. Do vậy, để đánh giá hiệu quả quản lý tài
chính BHXH phải dựa vào các tiêu chí cơ bản sau đây:


1.2.4.1. Mở rộng đối tượng tham gia BHXH:



Để mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vấn đề quan trọng là xác đònh
tỷ lệ đóng góp và tỷ lệ hưởng thụ. Khoản đóng góp của người lao động
cho BHXH đã làm giảm một khoản thu nhập hiện tại cũng đồng nghóa với
việc tiết kiệm có kế hoạch một khoản tiêu dùng của bản thân họ. Sự giảm
tiêu dùng này có thể dẫn đến giảm cầu về những mặt hàng xa xỉ, mặt
hàng cao cấp. Tuy nhiên, những phúc lợi được trả đònh kỳ sẽ thay thế ít
nhất một phần thu nhập này. Cầu bò giảm đi có thể có tác dụng làm dòu
lạm phát, ở một số nước trên thế giới người ta đã sử dụng việc tăng mức
đóng góp BHXH để đạt được mục tiêu này. Việc bù đắp thu nhập bằng
những phúc lợi đònh kỳ cho phép người lao động và người ăn theo họ trụ
lại được trong những tình huống khó khăn bất ngờ (như ốm đau, hưu trí)
cho phép hưởng phúc lợi. Tác dụng của việc chi trả phúc lợi đònh kỳ là
góp phần ổn đònh suốt đời (thông qua các giai đoạn ốm đau và nghỉ hưu)
mức tiêu dùng tối thiểu của cá nhân và gia đình họ. Chương trình BHXH
dựa trên hệ thống tài chính thu bao nhiêu chi bấy nhiêu, điều tiết khoản
14
thu nhập phải đóng BHXH bằng cách chuyển nó cho các hộ gia đình có
người chủ hộ bò giảm thu nhập do xảy ra một sự kiện bất ngờ mà hệ thống
phải bảo hiểm. Những hệ thống như vậy sẽ giúp duy trì cầu và mức tiêu
dùng chung, đặc biệt nếu thất nghiệp là một trong số những sự kiện được
bảo hiểm, và những phân tích kinh tế về ảnh hưởng của chúng phải tính
đến cả hai: đóng góp và hưởng lợi, vấn đề đặt ra là phải xác đònh đúng
đắn mức đóng và mức hưởng thụ [8].
Cần xây dựng chiến lược phát triển BHXH theo hướng mở rộng đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc, đặc biệt là đối tượng làm công ăn lương
trong các khu vực kinh tế. Tăng cường khai thác, áp dụng các biện pháp
thu hút ngày càng nhiều đối tượng tham gia BHXH.



Trong điều kiện chưa thể tăng mức đóng BHXH, mở rộng đối tượng
tham gia BHXH là nhân tố cơ bản, quyết đònh tăng số tiền thu BHXH.
Tăng số người tham gia BHXH chính là tăng nguồn thu Quỹ BHXH, là
nhân tố có tác động trực tiếp đến cân đối lâu dài Quỹ BHXH. Do vậy,
việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH được xem là tiêu chí cơ bản đánh
giá hiệu quả hoạt động tài chính BHXH.


1.2.4.2. Đảm bảo thu BHXH đầy đủ, kòp thời đúng đối tượng:


Triệt để tận thu BHXH đúng quy đònh của pháp luật; tích cực truy thu
nợ đọng; quản lý chặt lao động để thực hiện thu BHXH kòp thời, đầy đủ,
đúng đối tượng thuộc diện phải tham gia BHXH theo quy đònh; kiểm soát
việc kê khai đúng tiền lương, tiền công của người lao động nhằm chống
thất thu. Thu BHXH càng nhiều thì khả năng an toàn quỹ BHXH càng
lớn.


Quản lý tốt hoạt động thu BHXH là một trong những nhân tố đảm bảo
cân đối Quỹ BHXH, khắc phục khả năng thiếu hụt Quỹ trong tương lai,
đồng thời là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt
động Quản lý tài chính BHXH.


1.2.4.3. Đảm bảo chi đầy đủ, kòp thời, đúng đối tượng:


Quản lý các hoạt động tài chính về chi các chế độ BHXH bao gồm
quản lý đối tượng hưởng các chế độ và quản lý lưu chuyển tiền trong quá

trình thực hiện chi trả các chế độ BHXH. Với quan điểm tiền phải được
chi trả trực tiếp đến tận tay đối tượng được hưởng. Để thực hiện được
15
nhiệm vụ quản lý các hoạt động tài chính về chi các chế độ BHXH, cơ
quan BHXH trung ương cần phân cấp cho BHXH các đòa phương thực
hiện chi trả các chế độ BHXH. Bên cạnh quản lý đối tượng thụ hưởng các
chế độ, vấn đề quản lý lưu chuyển tiền trong quá trình chi trả đã dược
quan tâm đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu sử dụng quỹ, hạn chế tới mức
thấp nhất tổn thất cho quỹ BHXH, tiền sẽ được lưu chuyển từ BHXH cấp
trung ương đến BHXH các tỉnh, thành phố rồi về các quận, huyện trong
nội tỉnh, thành phố, từ đây BHXH các quận huyện hoặc là tổ chức chi trả
trực tiếp hoặc là thông qua mạng lưới đại lý chi trả phường, xã mới đến
tay người hưởng chế độ. Quản lý lưu chuyển tiền được phân đònh theo
nguồn kinh phí.


Thực hiện chi trả đúng đối tượng, đảm bảo chi trả kòp thời, đầy đủ tiền
lương hưu và trợ cấp BHXH cho người thụ hưởng; quản lý chặt chẻ sự
biến động tăng, giảm đối tượng; ngăn chặn và xử lý kòp thời những sai
phạm, tránh chi sai, chi trùng lấp, chống thất thoát quỹ BHXH. Quản lý
tốt công tác chi trả các chế độ BHXH là một trong những nhân tố đảm bảo
sử dụng quỹ BHXH đúng mục đích và cũng là tiêu chí đánh giá hiệu quả
quản lý tài chính BHXH.
1.2.4.4 . Bảo toàn giá trò và tăng trưởng quỹ BHXH :
Với tư cách là một quỹ tài chính tập trung, BHXH là một trung gian
tài chính vô vi lợi [25], BHXH không thể chỉ chờ đợi vào cân đối giữa
đóng góp của các bên tham gia BHXH và hưởng lợi của các đối tượng
hưởng thụ. Tài chính BHXH cần phải bao gồm các hoạt động tài chính
liên quan đến việc bảo toàn giá trò và tăng trưởng quỹ BHXH và sử dụng
lợi nhuận phát sinh từ những hoạt động đó. Các biện pháp đầu tư thực hiện

bảo toàn giá trò và tăng trưởng quỹ BHXH phải bảo đảm an toàn, hạn chế
rủi ro đến mức thấp nhất, bảo toàn được giá trò và có hiệu quả kinh tế – xã
hội. Tác động tiềm tàng về tiền tệ và tài khóa của việc đầu tư BHXH (đặc
biệt là của việc thay đổi trong chính sách đầu tư hay hạn mục đầu tư) có
nghóa là việc đầu tư phải được điều phối và không mâu thuẩn với chính
sách của Chính phủ. Theo cách này, quỹ dự phòng BHXH có thể sử dụng
tốt nhất để góp phần tăng trưởng kinh tế. Ở đây nhất thiết không được có
sự xung khắc giữa yêu cầu đầu tư của hệ thống BHXH và những mục tiêu
tạo vốn trong nước của một quốc gia. Có thể xây dựng một chính sách đầu
tư đáp ứng được cả hai điều kiện này. Những khoản dự trữ sẽ được tích lũy
để tạo ra thu nhập đầu tư, sẽ cho phép hạ thấp mức đóng góp và chúng
cần được đầu tư vào những dự án đem lại sự tăng trưởng kinh tế thực sự.

×