Tải bản đầy đủ (.doc) (73 trang)

đề kiểm tra tổng hợp ngữ văn9

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (596.32 KB, 73 trang )

Đề kiểm tra
Đề 1:
Câu1: Bài “Bếp lửa” của Bằng Việt được mở đầu như sau:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2009 ,t.143)
1. Chỉ ra từ láy trong dòng thơ đầu. Từ láy ấy giúp em hình dung gì về hình ảnh “bếp lửa” mà tác giả
nhắc tới?
2. Ghi lại ngắn gọn cảm nhận của em về câu thơ : “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.
Câu2: Hãy chép lại chính xác hai câu cuối trong “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” của Phạm Tiến Duật.
Hai câu thơ ấy cho em biết phẩm chất gì của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn?
Câu3 :
Nêu tên các biện pháp tu từ từ vựng trong hai câu thơ sau và chỉ rõ những từ ngữ thực hiện phép tu từ đó:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(Hồ Chí Minh, Cảnh khuya)
Câu 4 : Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình giống và khác nhau như thế nào?Phân tích
những điểm thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du ở đoạn trích “Cảnh
ngày xuân” và tả cảnh ngụ tình trong tám câu cuối đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” để minh họa
Gợi ý:
Câu1: 1. Từ láy trong dòng thơ đầu : “chờn vờn” từ láy tượng hình.
Từ láy có tác dụng gợi tả hình ảnh ngọn lửa lúc to , lúc nhỏ; lúc cao, lúc thấp soi tỏ người và vật
chung quanh vừa giúp ta hình dung làn sương sớm đang bay nhè nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ nhòa
của hình ảnh ký ức theo thời gian. Từ láy này còn có tác dụng dựng lên một hình ảnh gần gũi, quen thuộc
từ bao đời nay trong các gia đình Việt Nam, nhất là ở nơng thơn trước đây.
2. Câu thơ “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” gợi lên nhiều cảm nhận :
Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa, nhóm bếp - đến nỗi nhớ, tình thương với bà
của đứa cháu đang ở xa:
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
“Biết mấy nắng mưa” là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả lo toan của bà.


-Một câu thơ giản dị về từ ngữ nhưng giàu sức gợi cảm:
-Tình thương u của người cháu đối với bà (cháu thương bà)
-Cuộc đời vất vả, cực khổ , lam lũ, u thương và hy sinh của bà (biết mấy nắng mưa).
-Tình cảm gia đình cao q (tình bà cháu)
-Hình ảnh cao q của người phụ nữ Việt Nam
-Phản ánh tình cảm cao đẹo của người Việt Nam trong gia đình.
Câu 2:
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Hai câu thơ thể hiện lòng u nước, tình cảm vì miền Nam ruột thịt của người lính lái xe trên tuyến
đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Câu3 :
-Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,: phép tu ừ từ vựng so sánh
-Chưa ngủ (ở cuối câu thơ trên và được lặp lại ở đầu câu thơ dưới):phép tu từ từ vựng điệp ngữ liên hồn
Câu 4:
1- Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình:
+Giống nhau: ở tả cảnh
+Khác nhau :ở ngụ tình
-Nghệ thuật tả cảnh đơn thuần thì đối tượng, mục đích miêu tả là thiên nhiên, tác giả tực tiếp miêu tả cảnh vật.
-Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm (ngụ) tâm trạng. Cảnh khi ấy không đơn thuần là bức tranh
thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích miêu tả.
Đoạn “Cảnh ngày xuân” là tả cảnh còn đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là tả cảnh ngụ tình.
2- Phân tích:
a/ Đoạn “ Cảnh ngày xuân”
-Giới thệu đoạn thơ: “Cảnh ngày xuân” là đoạn thơ trích trong phần đầu của “truyện Kiều” – Nguyễn Du có những
điểm thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du
-Phân tích:
+Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian, rất phù hợp với cuộc du xuân của chò em Thúy Kiều:
*Bốn câu đầu gợi tả khung cảnh ngày xuân.
*Tám câu tiếp theo gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.

*Sáu câu cuối là cảnh chò em Kiều du xuân trở về.
Kết cấu theo thời gian này cũng phù hợp với diễn biến tâm trạng con người trong cuộc du xuân.
+Tác giả sử dụng rất thành công bút pháp nghệ thuật kết hợp giữa tả và gợi:
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Vừa miêu tả thời gian vừa gợi không gian mùa xuân.Ngày xuân thấm thoắt trôi mau, tiết trời đã bước sang tháng ba.
Trong tháng cuối cùng của mùa xuân, những cánh chim én vẫn rộn ràng bay liệng giữa bầu trời trong sáng như thoi đưa.
+Để gợi không khí lễ hội thật rộn ràng , một loạt từ hai âm tiết(cả từ ghép và từ láy) là tính từ, danh từ, động từ xuất hiện
:gần xa, nô nức, yến anh, chò em,tài tử, giai nhân, sắm sửa, dập dìu,…Cách nói ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi lên hình ảnh
những nam thanh nữ tú, những tài tử giai nhân, từng đoàn người nhộn nhòp đi chơi xuân như chim én, chim oanh bay ríu
rít .+Chỉ bằng vài nét gợi tả mà khung cảnh chiều xuân hiện lên thật rõ nét :nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhòp cầu nhỏ
bắc ngang. Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngã bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn
quanh. Tất cả đều nhạt dần, lặng dần. Những từ láy:”tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật
mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Hai chữ “nao nao”(nao nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh
vật.
-Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du : kết hợp bút pháp tả và gợi, sử dụng từ ngữ giàu chất gợi hình để miêu
tả cảnh ngày xuân với những đặc điểm riêng. Tác giả miêu tả cảnh mà nói lên được tâm trạng nhân vật.
b/ Tám câu cuối trong đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
-Cảnh trong truyện Kiều vừa là bức tranh thiên nhiên vừa là bức tranh tâm trạng.Đoạn:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
……………… tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Là một trong những đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nghệ thuật tả cảnh ngụ tình , mêu tả kết hợp hài hòa giữa ngoại cảnh và
tâm cảnh.
-Bao trùm tâm trạng kiều khi ở lâu Ngưng Bích là một nỗi buồn: buồn nhớ người yêu, buồn nhớ cha mẹ và buồn
cho chính mình. Để diễn tả một tâm trạng ôm trọn ba nỗi buồn với những sắc thái không giống nhau, Nguyễn Du đã chọn
cách biểu hiện “tình trong cảnh”.Mỗi biểu hiện của cảnh vật là một tâm trạng buồn:
+Khi nhớ cha mẹ , quê hương và cũng thấm thía nỗi cô đơn trống vắng của mình,thì:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
+Khi nhớ người yêu, xót xa cho duyên phận thì:

Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
+Khi buồn cho cảnh ngộ của mình:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
+Lúc Kiều trong tâm trạng lo âu, dự cảm về tương lai hiểm nguy đón đợi phía trước thì hiện ra cảnh tượng hãi
hùng:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
m ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua con mắt và tâm trạng của Kiều: cảnh từ xa đến gần,màu sắc từ nhạt đến đậm, âm
thanh từ tónh đến động, nỗi buồn Kiều từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ.
“Gió cuốn” , sóng “ầm ầm”kêu quanh ghế ngồi” là cảnh hãi hùng nhất, báo hiệu số phận của Kiều sau đó:mắc
lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào đời “thanh lâu”.
-Điệp ngữ “buồn trông” mở đầu câu thơ sáu chữ,tạo âm hưởng trầm buồn. Là điệp khúc của cái nhìn với cảnh,
cũng là điệp khúc của tâm trạng, một tâm trạng nặng nề và kéo dài.
Có thể nói dưới ngọn bút của Nguyễn Du, hình tượng thiên nhiên cùng một lúc đảm nhận hai chức năng: thể hiện
ngoại cảnh và thể hiện tâm cảnh. Ở chức năng thứ hai, hình tượng thiên nhiên là phương tiện nghệ thuật đặc sắc để
Nguyễn Du miêu tả nội tâm và khắc họa tính cách nhân vật.
Đề 2:
Câu 1/Vận dụng kiến thức đã học về từ láy để phân tích cái hay của việc dùng từ trong những câu thơ sau:
Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nắm đất bên đường
Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Câu 2/ Tự lập là một trong những yếu tố cần thiết làm nên sự thành công trong học tập cũng như trong
cuộc sống.
Hãy viết một đoạn văn hay bài văn ngắn (khoảng 20 dòng) trình bày suy nghĩ của em về tính tự lập
của các bạn học sinh hiện nay.
Câu3/:Phần lớn các truyện hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 9 đều viết về cuộc sống và

con người Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975. Qua những tác phẩm ấy, cùng với hiểu biết của em về
lịch sử dân tộc giai đoạn 1945-1975, em hình dung và cảm nhận như thế nào về cuộc sống của đất nước,
con người trong giai đoạn đó?
Gợi ý
Câu1/
Trong đoạn thơ:
Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nắm đất bên đường
Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Tác giả đã sử dụng liên tiếp một loạt từ láy: “nao nao”, “nho nhỏ”, “dầu dầut”, “sè sè”, việc dùng từ
của thi nhân vừa chính xác vừa tinh tế , vừa có tác dụng gợi nhiều cảm xúc cho người đọc. Các từ láy vừa
gợi tả được hình ảnh sự vật, vừa thể hiện tâm trạng con người.
-Trong hai câu thơ đầu, hai từ láy “nao nao”, “nho nhỏ” đã gợi tả được cảnh sắc mùa xuân lúc chị em
Thúy Kiều du xuân trở về .Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân ,rất êm dịu:một nhịp
cầu nho nhỏ, xinh xinh, một khe nước nhỏ. Cử động cũng rất nhẹ nhàng: dòng nước uốn quanh. Một bức
tranh thật tĩnh lặng nhuốm đầy tâm trạng. Chính việc sử dụng từ láy “nao nao” đã gợi được cảm giác
bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đang còn mà linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện.
Dòng nước uốn quanh “nao nao” như báo trước sau ngay lúc này thôi, Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên, sẽ
gặp chàng thư sinh “phong tư tài mạo tót vời” – Kim Trọng.
-Ở hai câu thơ sau, dường như cảnh vật đã thay đổi hẳn nhuốm một màu sắc thê lương , u ám:
Sè sè nắm đất bên đường
Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Hai từ láy “sè sè”, “dầu dầu” vừa gợi được hình ảnh một nấm mồ quá thấp , nhỏ bé, lẻ loi, đơn độc , lạc
lõng giữa ngày lễ tảo mộ; một nấm mộ chôn cất vội vàng qua quýt , không ai chăm sóc. Thật tội nghiệp
và đáng thương cho thân phận người nằm dưới mộ. Bức tranh cảnh vật sao mà thê lương , ảm đạm đến
thế. Chính hai từ láy “sè sè”, “dầu dầu” đã nhuốm màu sắc u ám lên cảnh vật, chuẩn bị cho sự xuất hiện
những hình ảnh của “âm khí nặng nề” trong những câu thơ tiếp theo.
Câu 2/

Cần bảo đảm các yêu cầu:
-Văn bản là một đoạn văn hoặc một bài văn ngắn (khoảng 20 dòng)
-Nội dung : Suy nghĩ về tính tự lập của học sinh hiện nay.
-Hành văn : rõ ràng , chính xác, sinh động , mạch lạc và chặt chẽ.
Một số gợi ý:
+ Tự lập là một trong những yếu tố cần thiết làm nên sự thành công trong học tập cũng như trong
cuộc sống.
+ Trong học tập, người học sinh có tính tự lập sẽ có thái độ chủ động, tích cực, có động cơ và mục
đích học tập rõ ràng, đúng đắn . Từ đó , nó sẽ giúp cho học sinh tìm được phương pháp học tập tốt. Kiến
thức tiếp thu được vững chắc. Bản lĩnh được nâng cao.
+Hiện nay, nhiều học sinh không có tính tự lập trong học tập. Họ có những biểu hiện ỷ lại, dựa
dẫm vào bạn bè, cha mẹ. Từ đó, họ có những thái độ tiêu cực: quay cóp, gian lận trong kiểm tra, trong thi
cử; không chăm ngoan, không học bài, không chuẩn bị bài. Kết quả : những học sinh đó thường rơi vào
loại yếu , kém cả về hạnh kiểm và học tập.
+Học sinh cần phải rèn luyện tính tự lập trong học tập vì điều đó vừa giúp học sinh có thái độ chủ
động, có hứng thú trong học tập,vừa tạo cho học sinh có bản lĩnh vững chắc khi tiếp thu tri thức và giải
quyết vấn đề . Tự lập không phải là cô lập, không loại trừ sự giúp đỡ chân thành, đúng đắn của bạn bè,
thầy cô khi cần thiết, phù hợp và đúng mức.
+ Tính tự lập trong học tập là tiền đề để tạo nên sự tự lập trong cuộc sống. Điều đó, là một yếu tố
rất quan trọng giúp cho học sinh có được tương lai thành đạt. Tính tự lập là một đức tính vô cùng quan
trọng mà học sinh cần có, vì không phải lúc nào cha mẹ , bạn bè và thầy cô cũng ở bên cạnh họ để giúp
đỡ họ. Nếu không có tính tự lập, khi ra đời học sinh sẽ bị vấp ngã, thất bại và dễ có những hành động
nông nỗi , thiếu kiềm chế.
Câu 3/
-Xác định các truyện, nội dung của từng truyện.
-Điểm nổi bật của giai đoạn lịch sử (1945 -1975 ):hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ cứu nước.
-Con người trong giai đoạn ấy : gồm các tầng lớp, các thế hệ ,những biểu hiện tinh thần, hành
động
- Chú ý thế hệ trẻ.

*Những truyện ngắn đã học : Làng (Kim lân),Chiếc lược ngà(Nguyễn Quang sáng), Lặng lẽ Sapa
(Nguyễn Thành Long) , Những ngôi sa xa xôi (Lê minh Khuê): tập trung thể hiện cuộc sống của đất
nước, con người Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975.
-Qua những tác phẩm này, ta có thể hình dung phần nào về đất nước và con người trong giai đoạn
lịch sử ấy. Giai đoạn lịch sử nổi bật với 2 cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh nhưng cũng rất
anh dũng.
*+Các tác phẩm đã cho ta hình dung được về cuộc chiến tranh nhân dân ở mọi miền đất
nước, với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp, thế hệ . Truyện “Làng” của Kim Lân viết về đề
tài nông dân và kháng chiến trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhân vật
chính của truyện là ông Hai, một lão nông, cần cù , chất phác, giàu lòng yêu quê hương đất nước.
Ông gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi theo kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo
sáng suốt của Cụ Hồ Chí Minh. Những con người trong “Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là
hình ảnh những con người mới đã sống đẹp , giàu tình nhân ái, hết lòng phục vụ đất nước và nhân
dân. Sống nơi lặng lẽ non xanh nhưng họ chẳng lặng lẽ chút nào! Trái lại cuộc đời của họ vô cùng
sôi nổi, đầy tâm huyết và giàu nhiệt tình cách mạng. Họ là những con người đang sống và cống hiến
giữa Sa Pa lặng lẽ góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và sự nghiệp giải phóng miền Nam
trong thời chống Mỹ. Nhân vật Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là
nữ chiến sĩ giao liên trong kháng chiến chống Mĩ ở chiến trường miền Nam đang đi tiếp con đường
chiến đấu gian khổ, vô cùng oanh liệt vẻ vang của cha anh dào dạt sức sống trẻ trung và dũng
mãnh.Truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã làm sống lại hình ảnh tuyệt đẹp và
những chiến công phi thường của tổ trinh sát mặt đường trên tuyến đường Trường Sơn thời đánh Mĩ
của Định, Nho, của chị Thao, của hàng vạn cô thanh niên xung phong .
+Một vài truyện cũng phác họa cuộc sống lao động, từ một làng quê trong những năm kháng chiến
chống Pháp (truyện Làng –Kim Lân) đến công việc thầm lặng của những người làm công tác khí
tượng trên đỉnh núi cao Hoàng Liên Sơn (Lặng lẽ Sapa - Nguyễn Thành Long)
+Đặc biệt các tác phẩm đã tập trung thể hiện thành công hình ảnh những con người Việt
Nam thuộc nhiều lứa tuổi , tầng lớp, nghề nghiệp, bình thường , giản dị mà lại rất cao đẹp.
• Đó là người nông dân như ông Hai (truyện Làng – Kim Lân) phải rời làng đi tản cư mà
không lúc nào nguôi nhớ về làng quê với tất cả niềm yêu mến , tự hào, đồng thời tình yêu
làng quê đã được nâng lên thành tình yêu nước.

• Chiến tranh sự xa cách và những gian khổ hy sinh càng làm cho những tình cảm bình
thường như tình cha con như càng trở nên thấm thía sâu nặng . Câu chuyện về “Chiếc lược
ngà” của Nguyễn Quang Sáng không chỉ nói lên tình cha con cha con thấm thía sâu nặng
của cha con người chiến sĩ mà còn gợi ra trong người đọc thấm thía những đau thương, mất
mát, éo le mà chiến tranh đã mang đến cho bao gia đình, bao người trở thành côi cút, bất
hạnh đáng thương. Và truyện cũng ngợi ca những con người anh hùng. Đó là Ông Sáu, một
nông dân Nam bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia hai cuộc kháng chiến(đánh Pháp và đánh
Mĩ), và đã anh dũng hi sinh. Cô Thu giao liên với bao phẩm chất anh hùng là sự nối tiếp của
các thế hệ Việt Nam anh hùng đã làm cho dáng đứng Việt Nam thêm hào hùng tráng lệ.
• Nổi bật là hình ảnh thế hệ trẻ trong kháng chiến, với chủ nghĩa anh hùng, lòng dũng cảm,
tinh thần trách nhiệm và ý thức công dân, đồng thời lại rất hồn nhiên, trong sáng, giàu tình
cảm:
- Truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long viết về một mảng hiện thực miền đất Sapa
trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, thiên
truyện như muốn nói với ta rằng: bên trong vẻ lặng lẽ của núi rừng, cuộc sống ở đây chứa bao vẻ
đẹp đáng yêu, đang có không ít sự hy sinh thầm lặng . Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay
gián tiếp, nhân vật nào của “Lặng lẽ Sapa” cũng hiện lên với nét đẹp cao quý đáng khâm phục .
Trong đó, anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu có những suy nghĩ ,việc làm,
cách sống đẹp và đầy ý nghĩa. Truyện ngắn này nhà văn như muốn khẳng định: Cuộc sống của
chúng ta được làm nên từ bao phấn đấu hy sinh lớn lao và thầm lặng. Những con người cần mẫn
nhiệt tình như anh thanh niên ấy thật đáng trân trọng,thật đáng yêu.
- Truyện “Những ngôi sao xa xôi được viết năm 1971, lúc cuộc kháng chiếnchống Mĩ của dân tộc
đang diễn ra ác liệt . Cũng như bao sáng tác thơ văn thời ấy, đều ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, ca ngợi những phẩm chất cao cả của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Truyện kể về cuộc sống chiến đấu gian khổ hiểm nguy nhưng tâm hồn trong sáng, hồn nhiên , lạc
quan của ba cô gái hanh niên xung phong( là Định , Nho và Thao) ở “tổ trinh sát mặt đường” tại một
trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn . Mặc dù công việc của họ rất hiểm nguy- luôn giáp mặt
với đạn bom và cái chết- nhưng vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn trong sáng, nhạy cảm và nhiều
mơ mộng Đó chính là hình ảnh đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm sáu mươi bảy mươi
của thế kỉ XX.

*Các tác phẩm trên đã phản ánh được phần nào những nét tiêu biểu của đời sống xã hội và con
người Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước với những biến cố lớn lao :
kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng đất nước qua các nhân vật chính trong
những tình huống khá điển hình. Các thế hệ con người Việt Nam được miêu tả với những nét
tính cách chung : yêu quê hương , đất nước, trung thực , dũng cảm, hồn nhiên , yêu đời, khiêm
tốn , giản dị, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho độc lập , tự do của đất nước.

Đề 3:
Câu1: (1điểm)
Trong các từ in đậm sau, từ nào được dùng theo nghóa gốc, từ nào được dùng theo nghóa chuyển?
-Ngang lưng thì thắt bao vàng –Cái chân thoăn thoắt
Đầu
(1)
đội nón dấu , vai mang súng dài. Cái đầu
(3)
nghênh nghênh.
(Ca dao) (Tố Hưũ, Lượm)
-Đầu
(2)
tường lửa lựu lập lòe đơm bông –Đầu
(4)
súng trăng treo.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều) (Chính Hữu, Đồng chí)
Câu 2: (1 điểm)
Chỉ ra các từ ngữ thành phần biệt lập trong các câu sau. Cho biết tên gọi của mỗi thành phần biệt lập
đó.
Ngoài cửa sổ bấy giờ những bông bằng lăng đã thưa thớt …cái giống hoa ngay khi mới nở, màu
sắc đã nhợt nhạt. Hẳn có vẻ đã sắp hết mùa, hoa đã vãn trên cành, cho nên mấy bông hoa cuối cùng
còn sót lại trở nên đậm sắc hơn.
(Nguyễn Minh Châu, Bến quê, Ngữ văn 9, tập hai)

Câu 3: (1điểm)
Cho biết phép liên kết câu và phép liên kết đoạn văn được sử dụng trong phần trích sau. Chỉ
ra từ ngữ thực hiện mỗi phép liên kết đó.
Trường học của chúng ta là trường học của chế đôï dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo
những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của
chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến.
Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa.
(Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục, dẫn theo ngữ văn 9, tập hai)
Câu 4: Làm Văn: (7 điểm):
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng.
Gợi ý
Câu1:
-Từ in đậm được dùng với nghóa gốc: đầu
(1
) và đầu
(3)
-Từ in đâm được dùng với nghóa chuyển : đầu
(2)
và đầu
(4)
Câu 2:
-cái giống hoa mà khi mới nở, màu sắc đã nhợt nhạt : thành phần phụ chú
-có lẽ :thành phần tình thái
Câu3:
-Phép liên kết câu : Phép lặp “trường học của chúng ta”
-Phép liên kết đoạn văn : Phép thế “như thế” ở đoạn sau thế cho câu cuối của đoạn trước.
Câu 4:
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của
Nguyễn Quang Sáng.

A: u cầu : - Nêu được nhận xét về tình cảm gia đình đó là tình cha con trong hồn cảnh chiến tranh
( khác với trong cuộc sống đời thường)
- Từ những tình huống cụ thể để làm rõ những biểu hiện tình cảm.
B: Tìm ý:
+ Tóm tắt nội dung đoạn trích
+Niềm khát khao của người lính sau những năm xa cách được trở lại q hương là gì?
+ Điều gì đã xảy ra khi gặp lại con ? Tại sao?
+ Những biểu hiện của tình cảm cha con?Nó éo le ở những điểm nào ? Tại sao?
+Nêu những suy nghĩ cụ thể về tình phụ tử ; về chiến tranh
C: Gợi ý bài làm:
I - Mở bài : -Nêu được hoàn cảnh sáng tác “Chiếc lược ngà”.
-Truyện nói đến tình phụ tử (cha con) trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
-Nhận xét: đây là một tình cảm đáng trân trọng và thấy được nỗi đau của chiến tranh
II- Thân bài :
1/ Tóm tắt đoạn trích:
2/Tình cha con:
a/ Tình cha đối với con : ( qua nhân vật anh Sáu)
b/Tình con đối với cha (qua nhân vật bé Thu)
3/Về tình cảm cha con trong chiến tranh:
- Tình càm cha con trong chiến tranh có những xa cách trắc trở nhưng rất thiêng liêng và sâu sắc.
- Người đọc thật sự xúc động về tình cảm của họ nhưng không khỏi có những trăn trở, suy ngẫm.
III - Kết bài :
-“Chiếc lược ngà” là bài thơ về tình cha con.
- Nói nỗi đau của chiến tranh
D: Bài làm:
I- MB:
“ Chiếc lược ngà” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng thời chống Mỹ. Truyện được viết
trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng lại tập trung nói về tình người. Cụ thể ở đây là tình cha con
trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Đó không chỉ là một tình cảm muôn thuở, bền vững mà còn được
thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo, éo le của chiến tranh. Vì thế tình cảm ấy thật đáng trân trọng và

đồng thời cũng cho thấy nỗi đau mà chiến tranh mang đến cho đời sống bình thường của mọi người.
II-TB:
1-Tóm tắt đoạn trích:
Ông sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con.
Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cha em không giống với cha trong bức ảnh chụp chung
với má. Em đối xử với ba như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, lúc tình cha con thức dậy mãnh liệt
trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Tại khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ
thương đứa con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn,
ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông còn kịp trao cây lược cho người bạn để gởi cho con.
2-Tình cha con:
a/ Tình cha đối với con (nhân vật anh Sáu):
Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến khi con gái mới một hai tuổi. Mãi khi con gái tám tuổi, anh mới có dịp
về thăm nhà thăm con. Cái khao khát của một người lính sau những năm xa cách được trở lại quê hương ,
được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là bi kịch thời
chiến tranh. Lúc chia tay để ra đi , ông mới có được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây
thơ nhận ra ba mình và kêu thét lên “Ba Ba!”. Bom đạn chiến tranh làm thay đổi hình hài của ông. Vết
thẹo dài trên má - vết thương chiến tranh- đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé nhỏ không nhận ra bóng
dáng người cha nữa!
Anh đã ra đi ,mang theo hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho con chiếc lược cùng với nỗi ân hận
day dứt “sao mình lại đánh con” cứ giày vò ông mãi . Những ngày ở rừngvô cùng thiếu thốn, gian khổ ,
nguy hiểm, anh Sáu vẫn không nguôi nhớ vợ con. Khi kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông
dành hết tâm trí, công sức vào làm một cây lược. Chiếc lược ngà đã trở hành báu vật đối với ông. Nó làm
dịu đi nỗi ân hận day dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của người cha
trong những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông Sáu hy sinh
khi chưa gặp lại con. Chiếc lược chưa tới được tay bé Thu. Chiếc lược ngà trở thành vật ký thác thiêng
liêng của người lính về tình cha con sâu nặng trong bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được Chiến
tranh làm cắt đứt tình cảm cha con ngay với một vật kỉ niệm chưa kịp trao.
b/ Tình con đối với cha (nhân vật bé Thu):
Gặp lại con sau bao ngày xa cách với nỗi nhớ thương nên anh Sáu vồ vập nôn nóng , ngược lại bé Thu
lại ngỡ ngàng, xa lạ . Ba ngày phép của cha, Thu tỏ ra rất lạnh nhạt. Tình cảm của em đối với cha ngày

càng xấu đi, nó nhất định không gọi ba, không nhận sự chăm sóc của anh Sáu. Sự phản ứng của Thu ngày
càng quyết liệt, từ chỗ ngấm ngầm đến rõ ràng, mạnh mẽ . Nó phản ứng vì anh Sáu có vết sẹo trên má
,không giống với hình mà “ba” nó chụp chung với má nó mà nó được biết. Sự phản ứng của em chứng tỏ
em có cá tính mạnh mẽ, có tình yêu cha sâu sắc. Tình yêu ấy đã khắc ghi trong trái tim ngây thơ đầy kiêu
hãnh nên em không chấp nhận người đàn ông có sẹo là cha.Sự ngang ngạnh của bé Thu hoàn toàn “có lý”
và không đáng trách vì trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá bé nhỏ để hiểu
được những tính khắc nghiệt, éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó đón
nhận những khả năng bất thường nên nó không tin ông Sáu là ba nó.
Nhưng vào thời điểm không ai ngờ, vào phút cuối của cuộc chia tay, thái độ và hành động của bé Thu
hoàn toàn thay đổi. Thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc
không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba a a ba!
Đó là tiếng “Ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay. Từ ngờ vực xa cách, nó đã đi tới niềm tin
thực sự và tình cảm được bộc lộ thật mãnh liệt và chân thành.Chiến tranh đã làm cho họ xa nhau và chiến
tranh cũng không cho phép họ có điều kiện gặp nhau lâu.
Hình ảnh bé Thu và tình yêu cha sâu sắc của Thu đã gây xúc động mạnh trong lòng người đọc, để lại
những ấn tượng sâu sắc.
3/Về tình cảm cha con trong chiến tranh:
-Truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện tình cha con sâu sắc của ông Sáu và bé
Thu trong những tình huống:Cuộc gặp gỡ của cha con ông Sáu sau tám năm xa cách . Trớ trêu thay, bé
Thu không nhận cha. Đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thì ông Sáu phải ra đi .Chiến tranh đã làm
cho họ xa nhau và chiến tranh cũng không cho phép họ có điều kiện gặp nhau lâu. Ở khu căn cứ, ông Sáu
dồn hết tình cảm yêu thương con vào việc làm một cây lược ngà tặng con . Cây lược làm xong thì ông hi
sinh khi chưa kịp gửi cây lược ấy cho con.Chiến tranh làm cắt đứt tình cảm cha con ngay với một vật kỉ
niệm chưa kịp trao. Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha thì tình huống
thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha với con. Tất cả diễn ra trong xa cách của chiến tranh .
Hai tình huống đã gắn kết lại thành một mối tình có qua có lại : tình cha con
Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình yêu thương thắm thiết, sâu nặng muôn đời của
cha con người chiến sĩ mà còn gợi cho ta nghĩ đến những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh mang
đến cho bao gia đình, bao người trở thành côi cút, bất hạnh đáng thương. Nỗi đau, nỗi nhớ thương và mất

mát do quân giặc đem đến cho ông Sáu, cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp đất nước ta
có bao giờ nguôi.Anh Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào hy sinh chiến đấu vì đất nước và dân
tộc, vì tình vợ chồng, tình cha con
Chiếc lược ngà với dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mang theo bao tình cảm sâu nặng của
người cha đối với đứa con bé bỏng ; mãi mãi là kỷ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và
nước mắt để lại nhiều ám ảnh đau thương trong lòng ta.
III –KL
Truyện “Chiếc lược ngà” tập trung vào chủ đề tình cha con, nhưng ở đây tình cha con của anh Sáu và
bé Thu đã không mất đi sau khi anh Sáu hy sinh. Tình cảm ấy vẫn sống mãi trong lòng con gái anh, trong
lòng người bạn của anh là bác Ba và các đồng chí. Tình cha con được nối dài trong tình cảm cách mạng,
tình cảm của những người đồng chí. .Nhà văn khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con sâu nặng trong
hoàn cảnh éo le, thời chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc.
Tình cảm ấy càng cao đẹp trong những hoàn cảnh khó khăn.Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là bài thơ về
tình cha con.
Đề 4:
Câu 1 : Đọc kỹ hai câu thơ:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)
Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo biện pháp tu từ từ vựng nào? Có thể coi đây là
hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiều nghiã được khơng ? Vì sao?
Câu 2: (1điểm)
Trong các từ in đậm sau, từ nào được dùng theo nghóa gốc, từ nào được dùng theo nghóa chuyển?
-Ngang lưng thì thắt bao vàng –Cái chân thoăn thoắt
Đầu
(1)
đội nón dấu , vai mang súng dài. Cái đầu
(3)
nghênh nghênh.
(Ca dao) (Tố Hưũ, Lượm)

-Đầu
(2)
tường lửa lựu lập lòe đơm bông –Đầu
(4)
súng trăng treo.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều) (Chính Hữu, Đồng chí)
Câu 3 :
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
(Đồng chí, Chính Hữu)
Những câu thơ trên gợi cho em suy nghĩ gì về người lính và cuộc chiến đấu? Hãy phân tích vẻ đẹp và ý
nghĩa của những hình ảnh trong những câu thơ ấy.
Câu 4:
Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng.
Gợi ý làm bài
Câu 1:
- Từ “mặt trời” trong câu thơ:
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
Được sử dụng theop biện pháp tu từ ẩn dụ,
- Khơng thể coi đây là hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiều nghĩa.
- Vì: Nhà thơ gọi em bé (đứa con của người mẹ Tà-ơi ) là “mặt trời” dựa theo mối quan hệ tương
đồng giữa hai đối tượng được cảm nhận theo chủ quan của nhà thơ. Sự chuyển nghĩa của mặt trời trong
câu thơ chỉ có tính chất lâm thời, nó khơng làm cho từ có thêm nghĩa mới và khơng thể đưa vào để giải
thích trong từ điển.
Câu2:
-Từ in đậm được dùng với nghóa gốc: đầu
(1
) và đầu

(3)
-Từ in đâm được dùng với nghóa chuyển : đầu
(2)
và đầu
(4)
Câu 3:
Những dòng thơ cuối trong bài “Đồng chí” của Chính Hữu như một tượng đài sừng sững cho tình cảm
đồng chí thiêng liêng:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
Ba câu thơ dựng lên bức tranh đẹp về tình đồng chí trong chiến đấu, biểu tượng đẹp về cuộc đời chiến sĩ.
Ba hình ảnh người lính, khẩu súng, vầng trăng trong cảnh rừng hoang, sương muối trong đêm phục kích
đợi giặc Chính tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng đã gắn bó hai người – rộng ra là những người lính cách
mạng. Sức mạnh của tình đồng chí đã giúp họ đứng vững bên nhau, vượt lên tất cả những khắc nghiệt của
thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh đêm trăng mùa đông vô
cùng lạnh giá nơi chiến trường.
Câu thơ: “Đầu súng trăng treo” đầy ấn tượng vừa cô đọng vừa gợi hình, gợi cảm. Đầu tiên tác giả
viết: “Đầu súng mảnh trăng treo”, nhưng sau đó bỏ đi chữ mảnh cho cô đúc hơn. Câu thơ gợi ra hình ảnh
thực và mối liên tưởng bất ngờ của nhà thơ – người lính: mảnh trăng như treo lơ lửng trên đầu ngọn súng.
Súng và trăng, gần và xa, thực tại và mơ mộng, hiện thực và lãng mạn. Đó là vẻ đẹp hài hòa của tâm hồn
chiến sĩ – thi sĩ, vẻ đẹp của cuộc đời anh bộ đội. Xa hơn, đó cũng có thể xem là biểu tượng cho thơ ca
kháng chiến – nền thơ ca kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn.
Chính Hữu viết”Đầu súng trăng treo”, ngoài hình ảnh còn có nhịp như nhịp lắc của một cái gì lơ
lửng, chông chênh, trong sự bát ngát. Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở xa chứ không buộc chặt. Suốt đêm
vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục
kích chờ giặc, vầng trăng là một người bạn;”rừng hoang sương muối” là khung cảnh thật.
Và chính vì ý nghĩa biểu tượng đẹp và khái quát cao nên tác giả đã dùng câu thơ này làm nhan đề
cho cả tập thơ chống Pháp và chống Mỹ của mình :tập thơ “Đầu súng trăng treo”.
Câu 4:

A: Yêu cầu : - Nêu được nhận xét về tình cảm gia đình đó là tình cha con trong hoàn cảnh chiến tranh
( khác với trong cuộc sống đời thường)
- Từ những tình huống cụ thể để làm rõ những biểu hiện tình cảm.
B: Tìm ý:
+ Tóm tắt nội dung đoạn trích
+Niềm khát khao của người lính sau những năm xa cách được trở lại quê hương là gì?
+ Điều gì đã xảy ra khi gặp lại con ? Tại sao?
+ Những biểu hiện của tình cảm cha con?Nó éo le ở những điểm nào ? Tại sao?
+Nêu những suy nghĩ cụ thể về tình phụ tử ; về chiến tranh
C: Gợi ý bài làm:
I - Mở bài : -Nêu được hoàn cảnh sáng tác “Chiếc lược ngà”.
-Truyện nói đến tình phụ tử (cha con) trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
-Nhận xét: đây là một tình cảm đáng trân trọng và thấy được nỗi đau của chiến tranh
II- Thân bài :
1/ Tóm tắt đoạn trích:
2/Tình cha con:
a/ Tình cha đối với con : ( qua nhân vật anh Sáu)
b/Tình con đối với cha (qua nhân vật bé Thu)
3/Về tình cảm cha con trong chiến tranh:
- Tình càm cha con trong chiến tranh có những xa cách trắc trở nhưng rất thiêng liêng và sâu sắc.
- Người đọc thật sự xúc động về tình cảm của họ nhưng không khỏi có những trăn trở, suy ngẫm.
III - Kết bài :
-“Chiếc lược ngà” là bài thơ về tình cha con.
- Nói nỗi đau của chiến tranh
D: Bài làm:
I- MB:
“ Chiếc lược ngà” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng thời chống Mỹ. Truyện được viết
trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng lại tập trung nói về tình người. Cụ thể ở đây là tình cha con
trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Đó không chỉ là một tình cảm muôn thuở, bền vững mà còn được
thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo, éo le của chiến tranh. Vì thế tình cảm ấy thật đáng trân trọng và

đồng thời cũng cho thấy nỗi đau mà chiến tranh mang đến cho đời sống bình thường của mọi người.
II-TB:
1-Tóm tắt đoạn trích:
Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con.
Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cha em không giống với cha trong bức ảnh chụp chung
với má. Em đối xử với cha như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, lúc tình cha con thức dậy mãnh liệt
trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Tại khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ
thương đứa con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn,
ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông còn kịp trao cây lược cho người bạn để gởi cho con.
2-Tình cha con:
a/ Tình cha đối với con (nhân vật anh Sáu):
Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến khi con gái mới một hai tuổi. Mãi khi con gái tám tuổi, anh mới có dịp
về thăm nhà thăm con. Cái khao khát của một người lính sau những năm xa cách được trở lại quê hương ,
được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là bi kịch thời
chiến tranh. Lúc chia tay để ra đi , ông mới có được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây
thơ nhận ra ba mình và kêu thét lên “Ba Ba!”. Bom đạn chiến tranh làm thay đổi hình hài của ông. Vết
thẹo dài trên má - vết thương chiến tranh- đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé nhỏ không nhận ra bóng
dáng người cha nữa!
Anh đã ra đi ,mang theo hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho con chiếc lược cùng với nỗi ân hận
day dứt “sao mình lại đánh con” cứ giày vò ông mãi . Những ngày ở rừng vô cùng thiếu thốn, gian khổ ,
nguy hiểm, anh Sáu vẫn không nguôi nhớ vợ con. Khi kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông
dành hết tâm trí, công sức vào làm một cây lược. Chiếc lược ngà đã trở hành báu vật đối với ông. Nó làm
dịu đi nỗi ân hận day dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của người cha
trong những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông Sáu hy sinh
khi chưa gặp lại con. Chiếc lược chưa tới được tay bé Thu. Chiếc lược ngà trở thành vật ký thác thiêng
liêng của người lính về tình cha con sâu nặng trong bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được Chiến
tranh làm cắt đứt tình cảm cha con ngay với một vật kỉ niệm chưa kịp trao.
b/ Tình con đối với cha (nhân vật bé Thu):
Gặp lại con sau bao ngày xa cách với nỗi nhớ thương nên anh Sáu vồ vập nôn nóng , ngược lại bé Thu
lại ngỡ ngàng, xa lạ . Ba ngày phép của cha, Thu tỏ ra rất lạnh nhạt. Tình cảm của em đối với cha ngày

càng xấu đi, nó nhất định không gọi ba, không nhận sự chăm sóc của anh Sáu. Sự phản ứng của Thu ngày
càng quyết liệt, từ chỗ ngấm ngầm đến rõ ràng, mạnh mẽ . Nó phản ứng vì anh Sáu có vết sẹo trên má
,không giống với hình mà “ba” nó chụp chung với má nó mà nó được biết. Sự phản ứng của em chứng tỏ
em có cá tính mạnh mẽ, có tình yêu cha sâu sắc. Tình yêu ấy đã khắc ghi trong trái tim ngây thơ đầy kiêu
hãnh nên em không chấp nhận người đàn ông có sẹo là cha.Sự ngang ngạnh của bé Thu hoàn toàn “có lý”
và không đáng trách vì trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá bé nhỏ để hiểu
được những tính khắc nghiệt, éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó đón
nhận những khả năng bất thường nên nó không tin ông Sáu là ba nó.
Nhưng vào thời điểm không ai ngờ, vào phút cuối của cuộc chia tay, thái độ và hành động của bé Thu
hoàn toàn thay đổi. Thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc
không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba a a ba!
Đó là tiếng “Ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay. Từ ngờ vực xa cách, nó đã đi tới niềm tin
thực sự và tình cảm được bộc lộ thật mãnh liệt và chân thành.Chiến tranh đã làm cho họ xa nhau và chiến
tranh cũng không cho phép họ có điều kiện gặp nhau lâu.
Hình ảnh bé Thu và tình yêu cha sâu sắc của Thu đã gây xúc động mạnh trong lòng người đọc, để lại
những ấn tượng sâu sắc.
3/Về tình cảm cha con trong chiến tranh:
-Truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện tình cha con sâu sắc của ông Sáu và bé
Thu trong những tình huống:Cuộc gặp gỡ của cha con ông Sáu sau tám năm xa cách . Trớ trêu thay, bé
Thu không nhận cha. Đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thì ông Sáu phải ra đi .Chiến tranh đã làm
cho họ xa nhau và chiến tranh cũng không cho phép họ có điều kiện gặp nhau lâu. Ở khu căn cứ, ông Sáu
dồn hết tình cảm yêu thương con vào việc làm một cây lược ngà tặng con . Cây lược làm xong thì ông hi
sinh khi chưa kịp gửi cây lược ấy cho con.Chiến tranh làm cắt đứt tình cảm cha con ngay với một vật kỉ
niệm chưa kịp trao. Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha thì tình huống
thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha với con. Tất cả diễn ra trong xa cách của chiến tranh .
Hai tình huống đã gắn kết lại thành một mối tình có qua có lại : tình cha con
Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình yêu thương thắm thiết, sâu nặng muôn đời của
cha con người chiến sĩ mà còn gợi cho ta nghĩ đến những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh mang
đến cho bao gia đình, bao người trở thành côi cút, bất hạnh đáng thương. Nỗi đau, nỗi nhớ thương và mất

mát do quân giặc đem đến cho ông Sáu, cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp đất nước ta
có bao giờ nguôi.Anh Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào hy sinh chiến đấu vì đất nước và dân
tộc, vì tình vợ chồng, tình cha con
Chiếc lược ngà với dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” mang theo bao tình cảm sâu nặng của
người cha đối với đứa con bé bỏng ; mãi mãi là kỷ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và
nước mắt để lại nhiều ám ảnh đau thương trong lòng ta.
III –KL
Truyện “Chiếc lược ngà” tập trung vào chủ đề tình cha con, nhưng ở đây tình cha con của anh Sáu và
bé Thu đã không mất đi sau khi anh Sáu hy sinh. Tình cảm ấy vẫn sống mãi trong lòng con gái anh, trong
lòng người bạn của anh là bác Ba và các đồng chí. Tình cha con được nối dài trong tình cảm cách mạng,
tình cảm của những người đồng chí. .Nhà văn khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con sâu nặng trong
hoàn cảnh éo le, thời chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc.
Tình cảm ấy càng cao đẹp trong những hoàn cảnh khó khăn.Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là bài thơ về
tình cha con.
Đề 5:
Câu hỏi:
Câu 1 : Cho các câu thơ:
a/Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng (Nguyễn Khoa Điềm)
b/ Ngày xuân em hãy còn dài
Xót lời máu mủ thay lời nước non
(Nguyễn Du)
Hai từ “mặt trời” và “xuân” từ nào là từ chuyển nghĩa lâm thời, từ nào chuyển nghĩa theo cách phát triển
từ vựng? Chuyển nghĩa theo phương thức nào? (nêu trong từng trường hợp)
Câu 2 : Tình huống nào trong truyện “Làng” của Kim Lân đã làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê, tinh
thần yêu nước ở nhân vật ông Hai ?
Câu3 : Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy có dáng dấp như một câu chuyện nhỏ đơn giản, dựa vào bài
thơ để tóm tắt câu chuyện.
Câu 4- Tập làm văn (Đề tổng hợp):
Trong các bài thơ hiện đại đã học ở lớp 9, có những bài nào viết về tình mẹ con? Hãy phân tích nét
riêng của mỗi bài trong việc thể hiện tình cảm ấy.

Gợi ý làm bài
Câu1:
-“Mặt trời” chuyển nghĩa lâm thời , đó là biện pháp tu từ ẩn dụ - so sánh ngầm đứa bé với mặt trời là
muốn đối với mẹ đứa con thành thiêng liêng cao quý nhất, thành lẽ sống, nguồn sống của mẹ(như mặt trời
đối với cây bắp). Hơn nữa là mặt trời nằm trên lưng, vô cùng gần gũi như một phần cơ thể của mẹ, cùng
mẹ sống và làm mọi việc.
- “Xuân” : Đây là chuyển nghĩa theo cách phát triển từ vựng . Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ
“xuân”có nghĩa là trẻ , tuổi trẻ.
Câu 2:
Tình huống truyện “Làng”:
Thành công nghệ thuật nổi bật của truyện ngắn “Làng” là đã xây dựng được một tình huống truyện làm
bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước ở người nông dân. Ông Hai trong truyện là người
rất yêu cái làng Chợ Dầu của mình và luôn tự hào về nó. Phải đi tản cư xa làng, lúc nào cũng nhớ
làng, nói chuyện với ai cũng khoe làng mình. Thế mà chính ông lại phải nghe cái tin từ những người
vừa tản cư lên, rằng làng mình đã lập tề theo giặc . Tình huống bất ngờ ấy đã khiến ông đau xót, tủi hổ,
day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước, mà tình cảm nào cũng tha thiết
mạnh mẽ. Đặt nhân vật vào tình huống ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc hai tình cảm nói trên ở nhân vật
và cho thấy lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến đã chi phối và thống nhất mọi tình cảm khác trong con
người Việt Nam thời kháng chiến.
Câu 3 :
Tóm tắt câu chuyện qua bài thơ “Ánh trăng”:
Từ thời thơ ấu đến thời đi bộ đội chiến đấu, tác giả luôn sống gần gũi thân thiết với vầng trăng như
người bạn thân tri kỷ không bao giờ quên được người bạn im lặng dễ mến ấy. Thế mà khi chuyển về sống
ở thành phố hiện đại với ánh đèn điện cửa gương sáng lóa thì tự nhiên lại dửng dưng với vầng trăng .
Nhưng rồi một đêm, bỗng nhiên mất điện, trong căn phòng cao ốc tối om, tác giả vội mở cửa sổ thì thấy
đột ngột, vành vạnh vầng trăng tròn. Tác giả ngửa mặt nhìn trăng, nhớ đến những năm tháng đã qua .
Trăng im phăng phắc khiến nhà thơ giật mình. Qua câu chuyện tình cờ nhỏ nhoi đó, chủ thể trữ tình muốn
gợi nhắc bản thân và người đọc thái độ đối với quá khứ.
Câu 4:
Gợi ý Các nội dung cụ thể

I- Nêu các bài thơ đề
cập đến tình mẹ con.
II-
a/“Khúc hát ru những
em bé lớn trên lưng
mẹ” của Nguyễn
Khoa Điềm thể hiện
thống nhất của tình
yêu con với lòng yêu
nước, gắn với cách
mạng và ý chí chiến
đấu của người mẹ dân
tộc Tà-ôi trong hoàn
cảnh hết sức gian khổ
ở chiến khu miền Tây
Thừa Thiên, trong
thời kì kháng chiến
chống Mĩ (phân tích 3
lời ru để làm rõ nội
dung trên)
I- Ba bài thơ : “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa
Điềm, “Con cò” của Chế Lan Viên, “Mây và Sóng” của R. Ta-go (Ấn Độ) đều
là những bài đề cập đến tình mẹ con. Ba bài thơ đều ngợi ca tình mẹ con thắm
thiết, thiêng liêng. Cách thể hiện cũng có điểm gần gũi, đó là dùng điệu ru, lời
ru của người mẹ hoặc lời của em bá nói với mẹ . Nhưng nội dung tình cảm, cảm
xúc ở mỗi bài lại mang nét riêng biệt.
II-
a/“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện
thống nhất của tình yêu con với lòng yêu nước, gắn với cách mạng và ý chí
chiến đấu của người mẹ dân tộc Tà-ôi trong hoàn cảnh hết sức gian khổ ở chiến

khu miền Tây Thừa Thiên, trong thời kì kháng chiến chống Mĩ . Bà mẹ được
nói đến trong bài thơ là bà mẹ người Tà-ôi có một mối tình thương mênh mông:
thương con, thương làng đói, thương bộ đội ,thương đất nước.
Bài thơ có 3 khúc ru được sáng tạo theo âm điệu dân ca, điệu ru con của
đồng bào Tà-ôi trên miền núi Trị Thiên. Ba khúc hát ru đều mở đầu bằng hai
câu:
Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
và kết thúc bằng lời ru trực tiếp của người mẹ:
Ngủ ngoan A Kay ơi, ngủ ngoan A Kay hỡi.
đã thể hiện một cách đặc sắc tình cảm tha thiết , trìu mến của người mẹ giành
cho con.
Hình ảnh của người mẹ được gắn với hoàn cảnh và công việc cụ thể qua từng
khúc hát.
+ Khúc hát thứ nhất người mẹ giã gạo nuôi bộ đội:
Nhịp chày nghiêng và giấc ngủ em nghiêng
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Mẹ vất vả nên em vất vả theo. Mồ hôi ướt đẫm áo em nhưng bù lại em được say
giấc nồng trên lưng mẹ và trong lời ru của mẹ:
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Trong lời ru của mẹ ta thấy chứa chan tình yêu con, tình yêu bộ đội, yêu
cách mạng và kháng chiến. Qua khúc hát ta thấy ước mơ của mẹ thật giản dị và
cảm động biết bao: Mẹ ước mơ con lớn “Vung chày lún sân”
+ Khúc hát thứ hai, người mẹ tỉa bắp trên núi, nuôi làng nuôi bộ đội:
Lưng núi thì to lưng mẹ nhỏ
Hình ảnh đối lập gợi sự nhỏ bé của mẹ giữa rừng núi mênh mông heo hút,
diễn tả sự chịu đựng gian khổ của người mẹ Tà-ôi. Ở khúc hát này, trong lời ru
của mẹ ta thấy tình yêu con, tình yêu làng tha thiết và mẹ ước mơ con của mẹ

lớn sẽ “Phát mười ka lưi ”
+Khúc hát thứ ba:
Mẹ đi chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
Mẹ trực tiếp ra trận. “Mẹ đưa em đi để giành trận cuối”. Mẹ cùng em ra
chiến trường , trực tiếp tham gia chiến đấu cùng “Anh trai”, “Chị gái” . Giờ đây
b/”Con cò” khai thác
và phát triển tứ thơ từ
hình tượng con cò
trong ca dao, dân ca,
để ngợi ca tình mẹ và
ý nghĩa của lời hát ru
mẹ ước mơ được thấy Bác Hồ, ước mơ: “Mai sau con lớn làm người tự do”.
Hình ảnh người mẹ hiện lên trong mỗi khúc hát vừa có sự lặp lại, vừa có sự
phát triển. Không gian làm việc của mẹ càng ngày càng mở rộng, từ giã gạo ở
nhà đến phát rẫy trên nương và cuối cùng mẹ ra chiến trường. Trong mỗi khúc
hát ta thấy lúc đầu mẹ là mẹ chiến sĩ, về sau chính mẹ là chiến sĩ.
Những lời ru của mẹ - “tim hát thành lời” đó là tình cảm của mẹ, là khát
khao ước vọng của mẹ đối với con mình. Nhưng ở đây tình mẫu tử thiêng liêng
không phải chỉ dành cho một người con duy nhất của mẹ , tình thương đó còn
dành cho bộ đội, cho dân làng và cho đất nước. Hiện tại, tương lai của con đều
gắn liền với dân làng với cuộc kháng chiến của đất nước, dân tộc. Hình ảnh mẹ
trong bài thơ không chỉ mang ý nghĩa cụ thể về một người mẹ Tà-ôi mà còn
mang ý nghĩa khái quát. Trong cuộc kháng chiến thần thánh ấy có biết bao
người như mẹ . Những người mẹ Việt Nam yêu con, yêu nước, sẵn sàng cống
hiến , sẵn sàng tham gia vào cuộc kháng chiến vĩ đại vì độc lập tự do của dân
tộc.
b/ Bài “Con cò” mang âm điệu đồng dao, nhịp thơ ,giọng thơ thấm vào hồn ca
dao dân ca một cách đằm thắm nhẹ nhàng. Lời ru ngân nga, ngọt ngào biểu hiện
tình thương và ước mơ của người mẹ hiền đối với con thơ.
+ Đoạn đầu , người mẹ bế con thơ trên tay, cất lời ru bài “Con cò” bay lả bay la

“Con cò mà đi ăn đêm ” .Nhìn con thơ “Con còn bế tren tay- Con chưa biết
con cò” mà lòng mẹ dạt dào tình thương. Mẹ thương con cò trong ca dao lận
đận; mẹ dành cho con bao chăm chút yêu thương.Con được sống yên vui hạnh
phúc trong lòng mẹ:
Cò một mình cò phải kiếm ăn
Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ.
Mẹ đã dành cho con thơ tất cả.Cánh tay dịu hiền của mẹ.Lời ru câu hát êm
đềm của mẹ.Dòng sữa ngọt ngào của mẹ.Những hoán dụ nghệ thuật ấy đã hình
tượng tình mẫu tử bao la. Nhịp thơ cũng là nhịp võng, nhịp cánh nôi nhẹ đưa vỗ
về:
Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân!
Con chưa biết con cò, con vạc.
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát
Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.
Giọng thơ đầm ấm, ngọt ngào, thiết tha dìu dịu chan chứa hạnh phúc yêu
thương.
+Trong đoạn 2, cánh cò từ trong lời ru đã đi vào tiềm thức tuổi thơ, tạo nên sự
gần gũi thân thiết và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời. Ở đây hình ảnh
con cò trong ca dao đã tiếp tục sự sống của nó trong tâm thức con người .Hình
ảnh con cò được xây dựng bằng liên tưởng , tưởng tượng phong phú của nhà
thơ, như được bay ra từ những câu ca dao để sống trong tâm hồn con người theo
cùng và nâng đỡ con người trong mỗi chặng đường.Như thế, hình ảnh con cò đã
gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng và bền bỉ
của ngườ mẹ.
- Cánh cò đã trở thành bạn đồng hành của con người trên suốt đường đời
từ tuổi ấu thơ trong nôi:
Cò đứng ở quanh nôi;
Rồi cò vào trong tổ,

Con ngủ yên thì có cũng ngủ,
Cánh của cò,hai đứa đắp chung đôi.
Cò đùm bọc tuổi thơ như người mẹ bên con. Con đắp chăn hay con đắp cánh
cò?
- Khi con tới trường:
c/ “Mây và Sóng”:
hóa thân vào lời trò
chuyện hồn nhien
ngây thơ của em bé
với mẹ đẻ thể hiện
tình yêu mẹ thắm thiết
của trẻ thơ . Mẹ đối
với em bé là vẻ đẹp,
niềm vui, sự hấp dẫn
lớn nhất, sâu xa và vô
tận, hơn tất cả những
điều hấp dẫn khác
trong vũ trụ.
Mai khôn lớn, con theo cò đi học
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân
Cánh cò bay theo chân con tung tăng đến lớp. Cò dìu dắt con vào thế giới tri
thức như mẹ sẽ nuôi dạy con.
- Và mai sau lớn lên con sẽ làm thi sĩ. Cuộc đời con nhiều sáng tạo, mãi miết
chuyên cần “bay hoài không nghỉ”. Hình ảnh cánh cò trắng bay thể hiện ước
mơ đẹp của mẹ hiền về cuộc đời tương lai của con. Cò đưa con vào thế giới
nghệ thuật như lòng mẹ mong ước .Con sẽ nối chí cha. Một câu hỏi, khẽ thốt lên
trong lòng mẹ hiền:
Lớn lên, lớn lên, lớn lên
Con làm gì?
Con làm thi sĩ!

Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ,
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn
+ Đến đoạn 3 thì hình ảnh con cò được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho
tấm lòng người mẹ, lúc nào cũng ở bên con đến suốt cuộc đời:
Dù ở gần con,
Dù ở xa con,
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con.
Cò mãi yêu con
Chữ “dù”, chữ “mãi” được điệp lại, ý thơ được khẳng định, tình mẫu tử bền
chặt sắt son. Dù lên rừng xuống bể, tác giả khẳng định tấm lòng người mẹ theo
sát đứa con. Từ đó , nhà thơ suy ngẫm và khái quát một quy luật của tình mẹ ở
hai câu sau:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
Đối với người mẹ , con dù đã trưởng thành thì vẫn còn nhỏ bé vẫn được mẹ chở
che, nâng đỡ , lòng mẹ vẫn theo con suốt cuộc đời. Từ thấu hiểu tấm lòng người
mẹ , bài thơ đã khái quát lên một qui luậtvề tình mẹ con bền vững, rộng lớn và
sâu sắc.
-Từ xúc cảm về tình mẹ con, bài thơ đã mở ra các suy tưởng:
Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi
Đó là suy tưởng về một lời ru về con cò, cũng là lời ru về cuộc đời con người
trong sự đùm bọc của mẹ, trong sự vuốt ve, âu yếm của lời ru. Cuộc đời đó lớn
lên, trưởng thành từ chiếc nôi và lời ru.
Bài thơ “Con cò” là một bài thơ đề tài nhỏ nhưng mang ý nghĩa sâu sắc: ca
ngợi tình mẫu tử bao la và những ước mơ về con thơ của mẹ hiền, nói lên tình

thương cuộc đời,rất nhân hậu và nhân tình.
c/ Bài thơ “Mây và Sóng” nói về tình yêu mẹ và mơ ước kì diệu của tuổi thơ.
Bài thơ mang sắc điệu trữ tình như một khúc đồng dao thể hiện niềm gia cảm
thần tiên của tâm hồn tuổi thơ với mây và sóng, với thiên nhiên kì diệu.
+ Em bé ngước mắt nhìn trời xanh, lắng nghe Mây trên cao vẫy gọi. Mây ân
cần rủ bé cùng du ngoạn “giỡn với sớm vàng” , và đùa “cùng trăng bạc” từ bình
minh đến lúc trăng lên. Cuộc đối thoại giữa Mây với em bé không chỉ nói lên
tâm hồn bay bổng hồn nhiên của tuổi thơ mà còn khẳng định ngợi ca tình yêu
mẹ của tuổi thơ rất đẹp và mãnh liệt:
Mẹ đợi tôi ở nhà, tôi có lòng nào bỏ được mẹ tôi.
Yêu mẹ hiền, yêu mái nhà êm ấm là những tình cảm trong sáng, đằm thắm
của em bé. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống bên mẹ hiền:
III- Khẳng định tình
mẫu tử là tình cảm
thiêng liêng.
Con làm mây nhé, mẹ làm mặt trăng
Hai tay con ôm mặt mẹ, còn mái nhà ta là trời xanh
Ở đây tình mẫu tử được nâng lên ngang tầm với vũ trụ.
+ Ngắm mây bay rồi em bé nghe sóng reo, sóng hát. Sóng vẫy gọi chào
mời em bé. Sóng thủ thỉ cùng em về cuộc viễn du: “Chúng ta ca hát sớm chiều,
chúng ta đi mãi mãi” Mơ ước muốn đi xa, nhưng em bé lại đắn đo băn khoăn:
“Nhưng đến tối, mẹ tôi nhớ thì sao?”. Sóng vỗ vào bãi cát rồi lại rút ra xa, lại
vỗ vào Em bé bâng khuâng nhìn theo con sóng xa vời:
Tôi làm thế nào rời mẹ tôi được
Họ bèn mỉm cười, và nhảy nhót , họ dần đi xa
Mơ ước được đi xa, nhưng rồi em bé lại đắn đo, băn khoăn .Em không thể đi
du ngoạn cùng Mây (bay cao) nên em cũng không thể đi chơi cùng Sóng (đi
xa). Với em chỉ có mẹ , nguồn vui cao cả thiêng liêng mà tạo hóa đã dành cho
phần hơn : tình mẫu tử. Em không nỡ để mẹ nhớ, mẹ buồn. Em cũng không thể
nào “rời mẹ” một giây, một phút. Niềm vui cứ chói ngời mãi hồn em:

Con làm sóng nhé, mẹ làm mặt biển
Con lăn, lăn như làn sóng vỗ, tiếng con cười giòn tan vào gối mẹ
Và không ai trên đời này biết được là mẹ con ta đang ở đâu
Khắc phục những ham muốn nhất thời, không còn tìm cách bay bổng lên mây
hay để sóng cuốn đi, bé đã nghĩ ra trò chơi của mình. Trò chơi sáng tạo và thú
vị ở chỗ nó hòa hợp giữa tình yêu thiên nhiên và tình mẹ con. Nó dỡn với bến
bờ kì lạ là những con sóng lăn, lăn vỗ mãi , vỗ mãi là tiếng cười giòn tan của
sóng – con, tiếng cười dịu dàng của bờ -mẹ . Không ai trên thế gian này biết
được là mẹ con ta ở chốn nào nghĩa là mẹ con ta có thể ở khắp nơi, không ai có
thể tách rời, phân biệt. Tình mẹ con là thiêng liêng và bất tử.
Trò chơi sáng tạo của bé còn thể hiện niềm hạnh phúc vô biên, tràn ngập
của con, của sự hòa hợp thương yêu là của hai mẹ con, giữa thiên nhiên, vũ trụ
và cuộc sống con người . Câu thơ “Con làm sóng nhé, mẹ làm mặt biển” là một
câu thơ hàm nghĩa, giàu tính triết lí. Không có biển thì không có sóng. Có biển
mới có sóng, cũng như có mẹ mới có con. Lúc sóng vỗ cũng là lúc biển hát. Lúc
“con cười giòn tan vào gối mẹ” là lúc mẹ vô cùng sung sướng . Vì thế, con
ngoan và vui chơi là lòng mẹ hạnh phúc.
“Mây và Sóng” giúp ta cảm nhận được ý nghĩa thiêng liêng của tình mẫu tử.
III-
Tình mẹ con (mẫu tử) là một trong những tình cảm thiêng liêng và gần gũi,
phổ bién nhất của con người, cũng là nguồn thi cảm không bao giờ cạn của nhà
thơ. Nếu như Chế Lan Viên phát triển tứ thơ từ hình ảnh “Con cò” trong ca
dao; Nguyễn Khoa Điềm làm “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” thì
đại thi hào Ấn Độ có bài “Mây và Sóng” sáng tạo tứ thơ bằng những cuộc đối
thoại tưởng tượng . Chính tình mẫu tử đã biến thành sức mạnh để con người
chiến thắng những cám dỗ, những ham muốn nhất thời,kể cả những gian khổ
hiểm nguy. Nó là điểm tựa vững chắc trong cuộc sống con người
Đề 6 :
A- Câu hỏi :
Câu1: Vận dụng kiến thức về trường từ vựng để phân tích cái hay trong cách dùng từ ở bài thơ sau:

Áo đỏ em đi giữa phố đông
Cây xanh như cũng ánh theo hồng
Em đi lửa cháy trong bao mắt
Anh đứng thành tro, em biết không?
(Vũ Quần Phương – Áo đỏ)
Câu 2 : Hãy chỉ ra các hình thức đối thoại, độc thoại và độc thọai nội tâm trong đoạn văn sau và nêu sự
khác nhau giữa chúng ?
Có người hỏi:
-Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà ?
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!
Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy , chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to:
- Hà, nắng gớm, về nào
Về đến nhà , ông Hai nằm vật ra giường mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra
đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
Nhìn lũ con , tủi thân nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ?
Chúng nó cũng bị người ta hắt hủi đấy ư ? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu
Câu3: Phân tích so sánh hình ảnh trăng(vầng trăng,mảnh trăng,ánh trăng) trong các bài thơ “Đồng chí”,
“Đoàn thuyền đánh cá” , “Ánh trăng”.
Câu 4 : Khổ thơ đầu và cuối bài “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận) có nhiều chi tiết hình ảnh giống nhau.
Hãy phân tích sự tương đồng và khác biệt của những hình ảnh, chi tiết ấy và nêu ý nghĩa của phép điệp
ngữ ở hai khổ thơ này.
Gợi ý bài làm
Gợi ý Nội dung
Câu 1:
- Phải xác định cho đúng
các trường từ vựng .
( trường từ vựng chỉ màu
sắc; trường từ vựng liên
quan với lửa)
- Mối quan hệ giữa hai

trường từ vựng.
- Tác dụng : thể hiện được
điều gì? (gây ấn tượng về
một tình yêu mãnh liệt và
cháy bỏng)

1-
+Các từ (áo) đỏ, (cây) xanh,(ánh) hồng, ánh (hồng), lửa, cháy , tro
tạo thành hai trường từ vựng:
- Trường từ vựng chỉ màu sắc : đỏ , xanh, hồng.
- Trường từ vựng chỉ lửa và những sự vật , hiện tượng liên quan với
lửa : ánh, lửa, cháy , tro.
+Các từ thuộc hai trường từ vựng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau :
màu áo đỏ của cô gái thắp lên trong mắt chàng trai (và bao người khác)
ngọn lửa. Ngọn lửa đó có lan tỏa trong con người anh làm anh say
đắm, ngây ngất (đến mức có thể cháy thành tro) và lan tỏa trong
không gian, làm không gian cũng biến sắc (Cây xanh cũng như ánh
theo hồng).
+Nhờ nghệ thuật dùng từ như đã phân tích, bài thơ đã xây dựng được
những hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc, qua đó thể hiện độc
đáo một tình yêu mãnh liệt và cháy bỏng.
Câu 2:
+ Hai câu:
-Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà ?
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!
là hình thức đối thoại giữa những người tản cư
+ Câu: - Hà, nắng gớm, về nào
là câu nói trống không (bâng quơ) của ông Hai là một lời độc thoại.
+ Các câu :
Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? Chúng nó cũng bị người ta hắt hủi đấy ư ?

Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu
là những câu mà ông Hai tự hỏi chính mình; đó là những câu độc thoại nội tâm.
*Sự khác nhau giưa các hình thức đối thoại, độc thoại và độc thọai nội tâm:
Đối thoại Độc thoại Độc thoại nội tâm
- Là hình thức đối đáp giữa hai
hoặc nhiều người.
- Trong văn bản, đối thoại được
thể hiện bằng các gạch ngang ở
đầu lời trao và đáp (mỗi lượt
lời là một lần gạch ngang ở đầu
dòng)
-Lời nói của một người nào đó
hướng tới một ai đó trong tưởng
tượng, hoặc nói với chính mình
(không hướng tới một người
tiếp nhận cụ thể nào, cũng
không đáp lại).
- Trong văn bản, người độc
thoại cất thành lời nên trước câu
nói có gạch ngang đầu dòng.
- Lời nói của một người nào đó
không nhằm vào một ai hoặc
nói với chính mình (chỉ là một
mạch ngầm diễn ra trong đầu
của người nói).
- Trong văn bản, người độc
thoại không cất thành lời nên
trước câu nói không có gạch
ngang đầu dòng.
Câu 3:

(Giới thiệu 3 bài thơ và hình ảnh trăng trong từng bài thơ)
- Bài “Đồng chí” của Chính Hữu là “Đầu súng trăng treo”; Bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận là
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng”, “Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”, “Ánh trăng” - Nguyễn Duy :
“Vầng trăng thành tri ki”, “Cái vầng trăng tình nghĩa” , “Vầng trăng đi qua ngõ ”, “ vầng trăng tròn”,
“trăng cứ tròn vành vạnh ánh trăng im phăng phắc ”
- (Nêu những điểm giống nhau) : Trăng trong cả ba bài thơ đều là hình ảnh thiên nhiên đẹp, trong sáng
là người bạn tri kỉ của con người trong cuộc sống lao động và chiến đấu, trong sinh hoạt hằng ngày.
-(Trăng trong mỗi bài thơ) :
+Trăng trong “Đồng chí” là biểu tượng của tình đồng chí,gắn bó keo sơn trong cuộc sống chiến
đấu gian khổ thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, biểu tượng của hiện thực và lãng mạn, trở thành nhan
đề của cả tập thơ “Đầu súng trăng treo” của Chính Hữu.
+Trăng trong “Đoàn thuyền đánh cá” là cánh buồm đưa thuyền lướt sóng ra khơi và nâng bổng
niềm vui hào hứng trong lao động làm chủ tập thể của những ngư dân đánh cá đêm:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng.
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Trăng vẽ nên bức tranh sơn mài biển vàng biển bạc:
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nước Hạ Long.
+Trăng trong “Ánh trăng” là “vầng trăng tri kỉ”, là “vầng trăng tình nghĩa”, là “vầng trăng tròn
vành vạnh” là “ánh trăng im phăng phắc ”đột ngột ùa vào phòng buyn đinh tối om trong đêm hòa bình
mất điện ở thành phố đã khiến cho nhà thơ giật mình, ân hận, day dứt về suy nghĩ và cách sống hiện tại
của mình. Ánh trăng như người bạn thân nhắc nở, lay tỉnh lương tâm của tác giả: không được vô ơn với
quá khứ, với đồng đội đã hi sinh, với thiên nhiên nhân hậu và bao dung.
*Trăng trong ba bài thơ mỗi bài về ý nghĩa biểu tượng thì có đôi nét khác nhau , nhưng nhìn chung
trăng đều mang vẻ đẹp hiền dịu của thiên nhiên là người bạn của con người trong cuộc sống.
Câu 4: Bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận gồm 7 khổ thơ , mỗi khổ thơ được xem như một công
đoạn của quá trình ra khơi đánh bắt, trở về của Đoàn thuyền đánh cá . Trong đó, khổ đầu và khổ cuối của
bài thơ có nhiều chi tiết hình ảnh giống nhau.
Hai hình ảnh chính trong cả hai khổ thơ là “ mặt trời” và “đoàn thuyền”. Ở khổ đầu là “mặt trời xuống
biển” (lặn) và “đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi” ; còn ở khổ cuối là “mặt trời đội biển nhô màu mới”

(mọc) và “đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” trở về. Có một câu thơ gần như lặp lại nguyên vẹn ( chỉ
khác chữ “cùng” – “với”) ở cả hai khổ thơ nhưng khác nhau là nằm ở cuối khổ đầu và nằm ở đầu khổ
cuối:
Câu hát căng buồm cùng gió khơi ( khổ đầu)
Câu hát căng buồm với gió khơi ( khổ cuối)
Việc lặp lại những hình ảnh, chi tiết này tạo sự tương ứng của thơ đầu và khổ thơ cuối bài, thể hiện trọn
vẹn hành trình ra khơi đánh cá rồi trở về của đoàn thuyền nhịp cùng với sự vận hành của thời gian ,không
gian từ hoàng hôn đến bình minh. Còn câu thơ: “Câu hát gió khơi” được lặp lại để thể hiện niềm vui tinh
thần phấn chấn của những người lao động trên đoàn thuyền đánh cá lúc ra đi thì khi trở về cũng với tinh
thần ấy và tạo cho khổ thơ cuối như điệp khúc của bài hát .
Điều ấy đã góp phần tạo cho bài thơ như một khúc hát ca ngợi sự giàu đẹp của biển , ca ngợi lao động
và người lao động làm chủ.
HƯỚNG PHAN TÍCH KHỔ ĐẦU VÀ KHỔ CUỐI BÀI “ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CA”
I-Bài “Đoàn thuyền đánh cá “ của Huy Cận được viết năm 1958 tại Hòn Gai trong một chuyến nhà thơ đi thực tế dài ngày ở
vùng mỏ . Lúc đó cả miền Bắc nước ta tràn ngập niềm vui mới, hăng hái phán khởi lao vào mặt trận lao động xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
-Bài thơ miêu tả một đêm đánh cá của một đoàn thuyền trên biển . Để ca ngợi không khí lao động mới , con người lao động
mới , con người làm chủ công việc , làm chủ thiên nhiên , làm chủ biển cả bao la, nhà thơ Huy Cận đã sử dụng hàng loạt thủ
pháp nghệ thuật rất độc đáo, tinh tế làm cho bài thơ có màu sắc riêng.
II –
a/ Bao trùm lên tất cả là một trí tưởng tượng phong phú và một bút pháp lãng mạng bay bổng. Chính bút pháp này, cái trí tưởng
tượng này đã tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật trong kết cấu của bài thơ.
Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Và kết húc bằng hình ảnh:
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Như vậy, bài thơ miêu tả cảnh lao động trên biển suốt cả đêm . Tất cả cảnh vật, con người, công việc của con người đều
được nhìn vào ban đêm , ấy thế mà cả bài thơ là một bức tranh có đường nét, màu sắc hình ảnh tươi sáng và hài hòa tuyệt đẹp .
Chính trí tưởng tượng dồi dào, bút pháp lãng mạn giàu sức sống đó đã tạo nên những hình ảnh đầy thi vị , đầy chất thơ, làm

đẹp thêm những con người lao động và công việc lao động đánh bắt trên biển khơi.
b/(phân tích khổ đầu):
Đoàn thuyền ra đi lúc hoàng hôn , mặt trời vừa lặn, đêm tối bắt đầu:
Mặt trời xuốn biển như hòn lửa
Sóng đã cài then , đêm sạp cửa
Bằng mắt quan sát tỉ mỉ và tâm hồn thơ, tác giả đã tả cảnh chiều tà trên mặt biển thật đẹp, thật nên thơ. Thời gian bắt đầu
công việc đánh cá được nhà thơ giới thiệu thật rõ ràng, đó là buổi hoàng hôn, khi ông mặt trời đã chuyển sang màu đỏ như hòn
lửa và dần dần chìm xuống lòng đại dương , nhường lại không gian cho đêm đen. Trong hai câu thơ, tác giả đã sử dụng biện
pháp tu từ so sánh và nhân hóa. So sánh “mặt trời” buổi chièu tà trên mặt biẻn với “hòn lửa” khổng lồ ấm nóng, thật kỳ vĩ .
Nhân hóa “sóng “ “cài then” và “đêm sập cửa” , sóng như những cái then cài cửa màn đêm và màn đêm là cánh cửa khổng
lồ,ta thấy rõ thời gian đang trôi, từ cảnh chạng vạng lúc hoàng hôn, màn đêm đã bắt đầu buông xuống. Kết thúc một ngày. Đất
trời, vũ trụ như chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi thì ngược lại, ngư dân bắt tay vào công việc của mình:
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Con người và đất trời như đối lập nhau về hành động khiến ta càng thấy được khí thế và nhiệt tình lao động của con người.
Lao động đánh cá trên biển trong đêm là một công việc nặng nhọc và đầy nguy hiểm, thế mà ta tháy đoàn thuyền ra đi trong
tiếng hát. Tiếng hát tràn ngập không gian bao la, tiếng hát vang lên trong tâm tư người đánh cá, trong niềm say mê sự giàu đẹp
của biển cả quê hương:
Tiếng hát căng buồm cùng gió khơi.
Gió căng buồm chứ đâu phải câu hát ? Hình ảnh “câu hát căng buồm” chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, nó làm cho câu
thơ đẹp lên, ý thơ phong phú thêm để ca ngợi niềm vui và nhiệt tình lao động của con người. Ở bài thơ, ta bắt gặp rất nhiều chi
tiết tràn đầy những tưởng tượng đẹp, làm cho ý thơ thêm đa nghĩa . Đó chính là bút pháp lãng mạn, dùng những yếu tố tưởng
tượng để bổ sung, để nhân lên ý nghĩa đẹp đẽ của hiện thực được miêu tả.
Khổ cuối:Khổ thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Vẫn là tiếng hát khỏe khoắn của người ngư dân dạn dày sóng nước đang vươn lên làm chủ cuộc đời . Tiếng hát hòa trong gió,
thổi căng cánh buồm đưa đoàn thuyền ra khơi đêm trước, nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến. Hình ảnh
“Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” rất hiện thực mà cũng rất hào hùng . Nó phản ánh một thói quen lâu đời của ngư dân là

đưa cá về bến trước khi mặt trời lên, đồng thời cũng hàm ý nói lên khí thế đi lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc dựng xây đất
nước sau giải phóng.
Hòa cùng niềm vui to lớn của mọi người, nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Đoàn thuyền lao vun
vút trên mặt biển, “Mặt trời đội biển nhô màu mới”, một màu hồng rạng rỡ, tinh khôi, và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn
ngàn mắt cá trên thuyền, khiến nhà thơ liên tưởng tới hàng ngàn mặt trời nhỏ đang tỏa sáng niềm vui. Đến đây, bức tranh biển
cả ngập tràn sắc màu tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình, đường nét của cảnh,của người . Khổ thơ thể hiện một
khung cảnh lao động đầy khí thế của con người, khung cảnh của cuộc sống mới trong ánh sáng mới rực rỡ.
III- Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận cho ta thấy được sự giàu đẹp của biển cả quê hương và vẻ đẹp của lao động
và người lao động làm chủ quê hương đất nước. Bài thơ nói với ta về lòng yêu đời, yêu cuộc sống, yêu con người . Với bút
pháp lãng mạn kì lạ, bài thơ chiếm một vị trí xứng đáng trong nền thơ ca hiện đại của chúng ta.
Đề7:
Câu 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi :
Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm ; chúng
kể cho tôi nghe về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác,
nhưng tôi nhớ lại thì chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và dì ghẻ . Thường thì chúng chỉ đề nghị
tôi kể chuyện cổ tích; tôi kể lại những chuyện bà tôi đã kể, và nếu quên chỗ nào, tôi bảo chúng đợi, rồi
chạy về nhà hỏi lại bà tôi. Thấy thế bà tôi rất hài lòng.
Tôi cũng kể cho chúng nghe nhiều về bà tôi; một hôm thằng lớn thở dài nói :
- Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt
Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời dường như nó đã sống trên
trái đất này một trăm năm, chứ không phải mười một năm.
(M. Go-rơ-ki, Thời thơ ấu)
a/ Trong số những từ ngã hoặc câu in đậm, đâu là lời dẫn trực tiếp, đâu là lời dẫn gián tiếp , đâu không
phải là lời dẫn.
b/Vận dụng những phương châm hội thoại đã học , giải thích vì sao nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có
lẽ trong lời nhận xét của mình.
Câu 2: Trong tiếng Việt , xưng hô thường tuân theo phương châm “xưng khiêm, hô tôn” . Em hiểu
phương châm đó như thế nào? Cho ví dụ minh họa.
Câu3: Trình bày những nét nghệ thuật trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa” của Nguyễn Thành Long.
Câu4: – TLV :Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt để cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan

hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm
khuya sáng bừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng liêng.
GỢI Ý LÀM BÀI
Câu1: a/ - Lời dẫn trực tiếp :
-Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt
Vì nhắc lại nguyên văn lời nói của nhân vật; và đây là lời thoại nên trước nó có dấu gạch ngang (thay vì
đặt trong dấu ngoặc kép)
- Lời dẫn gián tiếp :
ngày trước, trước kia, đã có thời
Thuật lại lời nhân vật , không để trong dấu ngoặc kép.
- Không phải lời dẫn :
cuộc sống buồn tẻ của chúng , về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện
trẻ con khác,chuyện cổ tích
Vì trước phần không phải là lời dẫn không có và không thể thêm các quan hệ từ rằng hoặc là.
b/ Trong lời nhận xét của mình, nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ vì điều nó nói chưa chắc đã đúng
và chưa có bằng chứng xác thực ( Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hoặc
không có bằng chứng xác thực – phương châmvề chất).
Câu 2/ “xưng khiêm hô tôn”:
Khi xưng hô, người nói tự xưng mình một cách khiêm tốn là “xưng khiêm” và gọi người đối thoại một
cách tôn kính gọi là “hô tôn”.
Ví dụ : -Vua tự xưng là “quả nhân” (người kém cỏi), để thể hiện sự khiêm tốn và gọi các nhà sư là “cao
tăng” để thể hiện sự tôn kính.
- Các nhà nho tự xưng là “hàn sĩ” , “kẻ hậu sinh” và gọi người khác là “tiên sinh”
-Bạn bè xưa tự xưng là “tiểu đệ” và gọi người khác là “đại ca”
- Một người xưng là”chúng tôi” và gọi người khác là “quí ông, quí bà ”
Câu 3: (Khi phân tích nghệ thật của truyện cần chú ý các điểm : cốt truyện , tình huống truyên,nhân vật,
lời văn )
Nghệ thuật củaTruyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa ( Nguyễn Thành Long):
-Truyện nàycó cốt truyện hết sức đơn giản, không có xung đột, cũng không có nút thắt hay cao trào như
các truyện ngắn khác.

- Một trong những nét mối chốt của nghệ thuật truyện ngắn này là xây dựng tình huống truyện: tình huống
cơ bả của truyện “Lặng lẽ Sa pa” chính là cuộc gặp gỡ của người thanh niên làm việc một mình ở trạm
khí tượng với bác lái xe và hai hành khách trên chuyến xe ấy - ông họa sĩ và cô kỹ sư lên thăm chốc lát
nơi ở và nơi làm việc của anh thanh niên. Tình huống gặp gỡ này là cơ hội thuận tiện để tác giả khắc họa
“bức chân dung” nhân vật chính một cách tự nhiên và tập trung, qua sự quan sát củ các nhân vật khác và
qua chính lời lẽ, hành động của anh. Đồng thời, qua “bức chân dung”(cả cuộc sống và những suy nghĩ)
của người thanh niên, qua cảm nhận của các nhân vật khác (chủ yếu là ông họa sĩ) vè anh và những người
như anh , tác giả đã làm nổi bật chủ đề tác phẩm:Trong cái lặng lẽ, vắng vẻ trên núi Sa pa, nơi mà
nghe tên người ta chỉ nghĩ đến sự nghỉ ngơi, vẫn có bao nhiêu người đang ngày đêm làm việc miệt
mài, say mê cho đất nước.
-Các nhân vật đều là những người vô danh. Đó là những con người bình thường, âm thầm và lặng lẽ ngày
đêm “làm việc và lo nghĩ cho đất nước, cho cuộc sống”. Nhân vật chính được giới thiệu sau, qua lời kể
của nhân vật phụ với những nét gây ấn tượng, gợi hứng thú của mọi người.
-Lời văn của truyện trau chuốt,giàu chất thơ. Truyện vừa có chất thơ, chất họa. Chất thơ bàng bạc toát lên
từ các chi tiết, từ khung cảnh thiên nhiên Sa pa đẹp như những bức tranh và chất thơ ấy còn có ở chính
tâm hồn các nhân vật với những cảm xúc suy nghĩ trong sáng, đẹp đẽ. Chất thơ của truyện đi liền với chất
họa. Truyện cũng có thể xem là những bức tranh đẹp, những bức tranh về cảnh thiên nhiên Sa pa, về cuộc
gặp gỡ giữa ba nhân vật, bức chân dung ký họa về nhân vật chính – anh thanh niên.
Hướng dẫn : Phân tích bài “Bếp lửa”:
Gợi ý Bài làm
I- Giới thiệu bài thơ “Bếp
lửa” ( bài thơ viết về tình cảm
bà cháu)
- Trở lại đề ( nêu lại phần gợi ý
ở đề bài)
II- TB:
1/Mạch cảm xúc và cảm
hứng chủ đạo của bài thơ
2/ Phân tích bài thơ (theo
mạch cảm xúc - bố cục bài

thơ)
I- Viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh cao
cả, bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một trong những bài thơ lắng sâu
trong tâm hồn tuổi thơ mỗi chúng ta.
-Bài thơ đã cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ
niệm tuổi thơ vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu
và tần tảo sớm khuya sáng bừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng
liêng.
II-
1/-Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi
ấu thơ sống với bà, làm hiện lên hình ảnh bà chăm sóc, lo toan vất vả
với tình thương yêu vô bờ dành cho cháu. Đứa cháu nay trưởng thành,
từ nơi xa suy ngẫm, thấu hiểu về bà. Cuối cùng người cháu gởi niềm
thương nỗi nhớ về với bà. Vậy mạch cảm xúc của bài thơ là đi từ quá
khứ đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm theo dòng hồi tưởng.
-Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm bà cháu, là nỗi nhớ, lòng
kính yêu và biết ơn vô hạn của người cháu với bà mình cũng là với gia
đình và quê hương đất nước.
2/
a/ 3 câu đầu : khơi nguồn
dòng hồi tưởng cảm xúc:
-Hình ảnh bếp lửa được hình
dung trong trí nhớ của tác giả
(phân tích từ láy “chờn
vờn”“ấp iu”)
-Từ hình ảnh bếp lửa liên
tưởng tới ngời nhóm lửa-người
bà (phân tích hình ảnh ẩn dụ
“(biết mấy) nắng mưa”)
b/Khổ thơ thứ 2 (năm câu

tiếp theo): Kỷ niệm tuổi thơ,
kỷ niệm buồn khó quên “Lên
bốn tuổi sống mũi còn cay”:
- Nhớ lại quá khứ : nhớ những
năm tháng chiến tranh chống
Pháp gian khổ (đói mòn đói
mỏi, khô rạc ngựa gầy)
-Hình ảnh chi tiết ám ảnh mãi
đến bây giờ: mùi khói bếp (đến
bây giờ sống mũi còn cay)
c/ Khổ 3:(11 câu: “Tám năm
ròng trên những cánh đồng
xa”):
-Chi tiết tiếp theo hiện lên
trong hồi ức của cháu : tiếng
chim tu hú kêu trong ngày hè,
là âm thanh của đồng quê.
-Tiếng chim tu hú vang vọng
giúp tác giả lại nhớ về bà
a-Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong trí nhớ của tác giả là hình ảnh bếp lửa
ở một làng quê Việt Nam từ thời thơ ấu:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
“Chờn vờn” là từ láy tượng hình vừa giúp ta hình dung làn sương sớm
đang bay nhè nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ nhòa của hình ảnh ký
ức theo thời gian. Từ “ấp iu” là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ . Đó
không phải là từ láy, từ ghép đơn thuần mà là sự kết hợp và biến thể của
hai từ “ấp ủ” và “nâng niu”. “Ấp iu” gợi đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo
và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp, lại đúng với công việc nhóm
lửa cụ thể

-Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa, nhóm bếp
- đến nỗi nhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang ở xa:
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
“Biết mấy nắng mưa” là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời
vất vả lo toan của bà.
b-Khổ thứ hai nói về từ thời ấu thơ rất xa hiện về, đó là kỷ niệm buồn
khó quên:
Lên bốn tuổi , cháu đã quen mùi khói
Năm ấy ,là năm đói mòn, đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến bây giờ sống mũi còn cay!
Hình ảnh những năm tháng chiến tranh chống Pháp gian khổ được hiện
về qua thành ngữ “đói mòn, đói mỏi”- cái đói kéo dài làm mệt mỏi , kiệt
sức (cuối năm 1944 đầu năm 1945, nạn đói kinh khủng đã xảy ra, hơn
hai triệu đồng bào ta bị chết đói).Hình ảnh con ngựa gầy rạc thì chắc
người bố đánh xe cũng gầy khô
- Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là mùi khói bếp: khói hun nhèm
mắt cháu, khói nhiều cay khét . Đó là kỷ niệm về “mùi khói”, về “khói
hun”, một cảnh đời nghèo khổ gắn liền với bếp lửa gia đình trước cách
mạng. Vần thơ là tiếng lòng thời thơ ấu gian khổ, rất chân thật cảm
động. “Nghĩ lại đến giờ” (đó là 1963, 19 năm đã trôi qua), mà đứa cháu
vẫn cảm thấy “sống mũi còn cay!”. Kỷ niệm buồn , vết thương lòng ,
khó quên là vậy!
c- Đoạn thơ thứ ba gồm 11 câu, nhắc lại một vài kỷ niệm sâu sắc về bà
trong suốt thời gian “Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa”.
-Hình ảnh, chi tiết tiếp theo chợt đến trong hồi ức của nhân vật trữ tình
là tiếng chim tu hú:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Chim tu hú kêu những ngày hè, tiếng tu hú kêu trên những cánh đồng xa
cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong hiện thực đã tha thiết, trong nỗi
nhớ lại càng trở nên da diết hơn. Tiếng chim tu hú là âm thanh đồng quê
thật tha thiết. Tiếng chim tu hú trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ.
Tiếng chim tu hú, những chuyện kể của bà về Huế thân yêu đã trở thành
kỷ niệm :
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
-Tám năm ấy, đất nước có chiến tranh “Mẹ cùng cha bận công tác
không về”, cháu ở cùng bà, cháu lớn lên trong tình thương và sự chăm
sóc nuôi dưỡng của bà:
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
d/Đoạn tiếp theo:(10
câu :Năm giặc đốt làng
niềm tin dai dẳng) : Những
phẩm chất cao quý của bà:
-Vững long tin trước mọi tai
họa thử thách ( “Vẫn vững
lòng được bình an”).
-Bếp lửa thành ngọn lửa bất
diệt, ngọn lửa của tình thương
==> ý chí , bản lĩnh sống của
bà, của người phụ nữ Việt
Nam
đ/Đoạn thơ: “Lận đận đời
bà thiêng liêng - bếp lửa”(8
câu): những suy ngẫm về
Bà dạy cháu làm , bà chăm cháu học
Hai câu thơ 16 chữ mà chữ bà, chữ cháu đã chiếm đúng một nửa. Ngôn

từ đã hội tụ tất cả tình thương của bà dành cho cháu, gợi tả tình bà cháu
quấn quýt yêu thương, một tình thương ấp ủ, chở che. Hay nhất, hàm
súc nhất là từ ngữ “cháu ở cùng bà”, “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã
diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la , sự chăm
chút của bà đối với cháu nhỏ. Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều
cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà đã thay thế vai trò của
người mẹ hiền.
-Năm tháng đã trôi qua thế mà bà vẫn “khó nhọc”, vất vả “nhóm bếp
lửa”. Nghĩ về ngọn lửa hồng của bếp lửa, nghĩ về tiếng chim tu hú gọi
bầy, đứa cháu gọi nhắn thiết tha chim tu hú “kêu chi hoài”. Câu thơ cảm
thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ bà bồi hồi tha thiết. Nhà thơ
đắm chìm trong suy tưởng để trò chuyện với con chim quê hương, trách
nó không đến ở với bà để bà đỡ nhớ cháu, đỡ cô đơn tuổi già. Câu thơ
thật tự nhiên, cảm động, chân thành:
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm chữ “nghĩ thương bà khó nhọc” nói lên lòng biết ơn bà của đứa
cháu đã và mang nặng trong trái tim mình tình thương của bà dành cho
cháu.
d- Miên man theo dòng cảm xúc hồi tưởng, hình ảnh bà càng hiện lên rõ
nét, cụ thể với những phẩm chất cao quý: Bình tĩnh, vững lòng, đinh
ninh vượt qua mọi thử thách khốc liệt của chiến tranh,làm trọn nhiệm vụ
hậu phương để người đi xa công tác được yên lòng. Bà là chỗ dựa tinh
thần vững chắc. Sống trong những năm chiến tranh, khi “giặc đốt làng
cháy tàn cháy rụi” được sự “đỡ đần” của bà con hàng xóm,hai bà cháu
mới dựng lại được túp lều tranh, thế nhưng bà vẫn “vững lòng” trước
mọi tai họa thử thách:
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố

Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp ta hình
dung giọng nói, tiếng nói, tình cảm và suy nghĩ của bà mà còn làm sáng
lên phẩm chất của người bà, người mẹ Việt Nam yêu nước, đầy lòng hy
sinh, kiên trì nhóm lửa, giữ lửa
-Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”.Một hình tượng rất tráng lệ.
“Bếp lửa bà nhen” sớm sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn
lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm
tin vô cùng “dai dẳng” bền bỉ và bất diệt. Cùng với hình tượng “ngọn
lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian:”rồi sớm rồi chiều”, các động từ: “nhen”,
“ủ sẵn” , “chứa” (chứa niềm tin dai dẳng) đã khẳng định ý chí, bản lĩnh
sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn lạc:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Điệp ngữ “một ngọn lửa” và kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ
vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào.
đ/Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ , của
đứa cháu về người bà yêu kính , về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt nam
chúng ta. Cuộc đời bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất
vả. Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì
người bà kính yêu, về bếp lửa
trong mỗi gia đình Việt Nam:
- Điệp từ “nhóm”
-Lời khẳng định ca ngợi: “Ôi
kỳ diệu và thiêng liêng - bếp
lửa”
e/ Bốn câu cuối:Tình thương
nhớ,lòng kính yêu và biết ơn

của đứa cháu nay đã đi xa
III KB :
-Ý nghĩa của bài thơ.
-Nét đặc sắc về nghệ thuật
bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình. Vần thơ chứa đựng bao
nghĩa nặng tình sâu . Cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Bà không chỉ là người giữ bếp giữ lửa mà còn là người nhóm bếp,
nhóm lửa:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Điệp từ “nhóm” trong 4 câu thơ có điểm chung là cùng gắn với hành
động nhóm bếp. nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa
cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm để sưởi ấm cho bà cháu
qua cái lạnh của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc
khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa
cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của bà. Đến
câu tiếp theo thì lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là
tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt sẻ bùi và đến câu thứ tư
thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy tâm tình tuổi nhỏ. Tâm
hồn và khát vọng tuổi thơ đã sáng bừng lên từ ngọn lửa do bà”nhóm”
suốt mất chục năm trời.
Chính từ đó mà, theo mạch suy ngẫm, nhà thơ đi lên khái quát rất tự
nhiên và hợp lý: “Ôi kỳ diệu và thiêng liêng - bếp lửa”. Đúng vậy, vì
bếp lửa thật giản dị , bình thường và phổ biến trong mọi gia đình Việt
Nam, nhưng bếp lửa cũng thật cao quý, kỳ diệu và thiêng liêng vì nó

luôn gắn liền với bà - người giữ lửa, nhóm lửa, truyền lửa, người tạo nên
tuổi thơ của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần
không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu.
e/ Bốn câu kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính
yêu và biết ơn của đứa cháu bé bỏng nay đã đi xa:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà , niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
-Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp,đã “có ngọn khói trăm tàu” đã “có ngọn
lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”, nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà,
nhớ bếp lửa gia đình thương yêu. Không gian và thời gian xa cách, và
dù cuộc đời có đổi thay, nhưng tình thương nhớ bà vẫn thiết tha mãnh
liệt. Trở về thời hiện tại , nhà thơ lại muốn hỏi bà, nhắc bà việc nhóm
bếp để nói cái ý không bao giờ quên quá khứ, không bao giờ quên được
hình ảnh bà với bếp lửa của một thời thơ ấu nghèo khổ,gian nan mà ấm
áp nghĩa tình.
Như vậy, hình ảnh trung tâm (bếp lửa) mở đầu, khơi nguồn mạch cảm
xúc của bài thơ, của dòng hồi tưởng đã được khép lại bằng chính hình
ảnh ấy.
III-
-“Bếp lửa” là một bài thơ hay và độc đáo. Bài thơ không chỉ nói về bà,
về tình bà cháu mà còn có ý nghĩa triết lý thầm kín; Những gì là thân
thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có lúc tỏa sáng, nâng đỡ con người
suốt cả cuộc đời . Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu
hiện của tình yêu thương , gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là
khởi đầu của tình người, tình yêu nước.
- Lời thơ đẹp, chất thơ trong trẻo, trẻ trung. Hình tượng thơ : “bếp lửa”
“khói hun”, “ngọn lửa”, “tiếng chim tu hú” bổ sung kết hợp thật tự
nhiên giữa kể và tả bằng dòng hồi tưởng và suy ngẫm rất thơ và đầy ấn

tượng.
Đề 8 :
Câu1 :
Cho đoạn trích:
“ Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu
thét lên : “Má! Má!”. Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại
trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy.”
(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2009, tr.196)
1. Đoạn trích trên được rút từ tác phẩm nào, của ai? Kể tên hai nhân vật được người kể chuyện
nhắc tới trong đoạn trích.
2. Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu
chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến cho nhân vật “anh” “đau đớn”. Vì sao vậy ?
3. Hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu
nặng của người cha đối với con trong tác phẩm trên, trong đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế
(gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thế).
Câu 2
Phân tích so sánh hình ảnh mùa xuân trong thơ cổ Trung Quốc :
Phương thảo thiên liên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên cành lê có mấy bông hoa)
với cảnh mùa xuân trong câu thơ Kiều của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Câu 3: Cảm nhận của em về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua một số tác phẩm thơ văn hiện đại đã
học trong chương trình Ngữ văn lớp 9.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu1:
1) Đoạn trích trên được rút từ tác phẩm “Chiéc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích là : Bé Thu, nó(con bé) và anh Sáu (anh).
2) Lý do khiến nhân vật anh Sáu đau đớn là vì: Trên mặt anh bấy giờ có một “cái thẹo” bởi chiến

tranh gây ra, khiến mặt anh không giống với tấm hình bé Thu có được cho nên “nó” đã không nhận anh là
cha.
3)(Yêu cầu của đè : Viết đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình
cảm sâu nặng của người cha (anh Sáu) đối với con( bé Thu) trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”, trong đoạn
văn có sử dụng câu bị động và phép thế (gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thế))
Gợi ý:
-Sau tám năm trời xa cách,anh Sáu lúc nào cũng canh cánh bên lòng tình cảm thương nhớ con.
- Trong tám năm ấy,anh chỉ thấy con qua tấm ảnh nhỏ.
-Đến lúc được trở về, cái tình cha cứ nôn nao trong người anh.
- Khi xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi mà anh đoán biết là con, không thể chờ xuồng
cập bến anh nhún chân nhảy thót lên xô chiếc xuồng tạt ra và cất tiêng gọi con.
-Nhưng trái với lòng mong ước và suy nghĩ của anh, bé Thu nhất quyết không nhận anh là cha.
- Anh vô cùng đau đớn.
-Suốt mấy ngày anh luôn mong được nghe một tiêng “ba” của con bé, nhưng cái tiếng ấy vẫn
không được nó thốt ra.
-Chỉ đến lúc anh chẩn bị ra đi và khi bé Thu đã hiểu ra sự việc, “nó” mới cất lên một tiếng gọi
“ba” đến “xé ruột”.
-Nhưng vì nhiệm vụ, anh vẫn phải lên đường với bao xúc động và lưu luyến.

×