Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

đồ án kỹ thuật viễn thông Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (779.42 KB, 32 trang )

Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nghĩa tiếng Việt
GMPCS:Global Mobile Personal
Communication by Satellite
Hệ thống thông tin cá nhân di động
toàn cầu thông qua vệ tinh
GEO:Goestationary Earth Orbit Quỹ đạo mặt đất địa tĩnh
LEO:Low Earth Orbit Quỹ đạo thấp
LOS: Line Of Sight Microware ViBa tầm nhìn thẳng
MEO:Meadal Earth Orbit Quỹ đạo trung bình
INTERSAT:International
Telecommunication Satellite
Organization
Tổ chức vệ tinh Viễn thông quốc tế
VSAT: Very Small Aperture
Terminal Trạm mặt đất-vệ tinh anten cỡ nhỏ
VTI:VietNam Telecoms Int’1
Công ty viễn thông quốc tế
GSM:Geteway Management
Subsystem Phân hệ quản lý trạm cổng
GMSC:Gateway Mobil
Switching Center
Trung tâm chuyển mạch di động tại
tổng đài cổng
1
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Viết tắt Nghĩa tiếng Việt
MCC:Mobil Country Code Mã di động quốc gia
OMC:Operation and
Maintenance Center Trung tâm bảo dưỡng và khai thác


UT:User Teminal Đầu cuối sử dụng
MAP:Mobil User Applicatio Part
Phần ứng dụng ngươi sử dụng di
động
IMSI-International Mobile
Subsciber Identifier
Nhận dạng thuê bao di động quốc
tế
ISC-International Switching
Center Trung tâm chuyển mạch quốc tế
SCC-System Coodination Center Trung tâm phối hợp hệ thống
TT&C- Telemetry and Tracking
Center Trung tâm đo xa và điều khiển
SPCC-Service Provid er Control
Center
Trung tâm điều khiển của nhà cung
cấp dịch vụ
BSCI- Base Station Controller
Interface Giao diện điều khiển trạm gốc
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN VỆ TINH

1. 1 GIỚI THIỆU
2
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Chúng ta đang sống trong thời kỳ quá độ tới một xã hội định hướng thông
tin tiên tiến nhờ có các công nghệ mới trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các loại
thông tin truyền trên sóng vô tuyến, đó là viễn thông vô tuyến đã đi vào đời
sống hàng ngày của chúng ta và chúng ta có thể cảm nhận cuộc sống hiện tại của
thế giới xung quanh chúng ta nhờ các phương tiện truyền hình và điện thoại
quốc tế.

Về đại thể các thông tin có thể được phân ra các loại như thông tin dùng cáp
đồng trục, cáp sợi quang và thông tin vô tuy ê sóng vô tuyến điện nối liền nhiều
nơi trên thế giới vượt qua “thời gian” và “không gian”.
Hiện nay, các hệ thống cáp biển dung lượng lớn sử dụng cáp sợi quang đã
được đưa vào sử dụng cho thông tin quốc tế cũng như trong các quốc gia, Đối
với thông tin vô tuyến quốc tế , thông tin vệ tinh đã cung cấp các đường thông
tin dung lượng lớn thay thế cho thông tin sóng ngắn trước đây được sử dụng
thường xuyên hơn.
Cần nói thêm rằng, mặc dù 2 loại thông tin cáp và vệ tinh có các tính năng
đặc biệt khác nhau trong một chừng mực nào đó.
Các tính năng chủ yếu của thông tin vệ tinh đã có sự phát triển vượt bậc trên
20 năm qua và đã trở thành phương tiện thông thông tin để xây dựng một xã hội
định hướng thông tin tiên tiến.
Để đạt được thông tin vệ tinh hiệu quả hơn, cần phải hiểu rõ hệ thống truyền
dẫn, các công nghệ và cấu hình hệ thống trạm mặt đất. Thông tin vệ tinh đựơc
hiểu là quá trình truyền và nhânh mọi dạng tin tức khác nhau(tín hiệu truyền
hình, thoại , số liệu…)giữa các điểm , các vùng trên mặt đất một cách gián tiếp
qua vệ tinh. Như vậy ta có thể coi là hệ thống thông tin vệ tinh giống như một
hình thức thông tin tiếp sức nhưng với trạm chuyển tiếp nằm rất cao so với các
hệ thông tin khác trên mặt đất. Các ưu thế đó là:
+Khoảng cách thông tin liên lạc giữa các điểm thu, phát có thể rất lớn(trên 10.
000 km với một vệ tinh địa tĩnh). Do đó đẻ thiết lập hệ thống thông tin viễn
thông, thông tin toàn cầu chỉ cần một số ít vệ tinh, trạm chuyển tiếp. Điều kiện
xây dựng thực tế với hệ thống thống thông tin vệ tinh cũng phụ thuộc chủ yếu
vào trình độ kỹ thuật và công nghệ mới chứ ít gặp khó khăn do yếu tố địa lý như
các hệ thống thông tin khác.
+Để xây dựng những tuyến liên lạc tới các vùng xa xôi , núi non hiểm trở hay
xuyên qua các đại dương mênh mông hoặc các vùng sa mạc rộng lớn thì việc
xây dựng các trạm thông tin chuyển tiếp hay xây dựng hệ thống cáp là rất khó
3

Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
khăn, giá thành cao song lại không tiện lợi cho việc bảo quản, sửa chữa. Trong
khi đó nếu thiết lập hệ thống thông tin với sự giúp đỡ của vệ tinh sẽ rất tiện lợi,
giảm đáng kể giá thành xây dựng cũng như việc bảo quản,
+Vùng phủ sóng từ vệ tinh xuống trái đất la rất lớn với độ rộng búp sóng
antenna vệ tinh là 1
o
với độ cao 36. 000 km so với trái đất thì một vệ tinh có thể
nhìn thấy 1/3 trái đất, như vậy chỉ với 3 vệ tinh có thể phủ sóng toàn cầu trừ
vùng bắc cực.
+Với sự tiến bộ nhanh của công nghệ chế tạo, phóng vệ tinh và công nghẹ chế
tạo các thiết bị công nghệ thông tin, thiết bị đo lường điều khiển từ xa, nguồn
điện cho các trạm vũ trụ…/đã tạo ra khả năng tăng dung lượng cho các bộ phát
đáp trên vệ tinh+Tuyến thông tin liên lạc chỉ có 3 trạm trong đó vệ tinh đóng vai
trò trạm lặp do đó xác xuất hư hỏng là rất thấp, độ tin cậy trung bình đạt khoảng
99, 9%
+Hệ thống thông tin được thiết lập nhanh chóng trong điều kiện các tram mặt
đất ở rất xa nhau về mặt địa lý, với kỹ thuật điều khiển phát xạ cho phép điều
chỉnh hướng liên lạc từ vùng này sang vùng khác của vệ tinh một cách tuỳ ý
theo mức độ công suất tuỳ ý, dung lượng có thể thay đổi một cách rất linh hoạt
tuỳ theo yêu càu sử dụng
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm thông tin vệ tinh còn có các nhược điểm:
+Kinh phí đầu tư ban đầu lớn
+Công nghệ không phải nước nào cũng sản xuất được(từ khâu phóng đến khâu
thiết bị và điều khiển vận hành)
+Cường độ sóng thu ở mặt đất phụ thuộc vào vị trí toạ độ của vệ tinh
+Bức xạ của sóng bị tổn hao ở những vùng có nhiều mây mưa và mây mù.
Chính vì vậy mà công nghệ thông tin vệ tinh là một nghành khoa học mũi nhọn
của các quốc gia, qua đó sẽ đánh giá phần nào tiềm lực kinh tế , quân sự…. của
quốc gia đó là mạnh hay yếu.

1. 2. NGUYÊN LÝ THÔNG TIN VỆ TINH
Một vệ tinh có khả năng thu, phát sóng vô tuyến điện sau khi được phóng vào
vũ trụ dùng cho thông tin vệ tinh. Khi đó vệ tinh sẽ khuếch đại sóng vô tuyến
điện nhận được từ các trạm mặt đất và phát lại đến các trạm mặt đất khác. Loại
vệ tinh nhân tạo sử dụng cho thông tin vệ tinh như thế gọi là vệ tinh thông tin.
4
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Do vệ tinh chuyển động khác nhau khi quan sát từ mặt đất phụ thuộc vào quỹ
đạo bay của vệ tinh, vệ tinh có thể được phân ra vệ tinh quỹ đạo thấp và vệ tinh
địa tĩnh.
+Vệ tinh quỹ đạo thấp là vệ tinh mà nhìn từ mặt đất nó chuyển động liên tục,
thời gian cần thiết cho vệ tinh để chuyển động xung quanh quỹ đạo của nó khác
với chu kỳ quay của trái đất xung quanh trục của nó.
Hình vẽ1. 1:Các dạng Quỹ đạo của vệ tinh

Vệ tinh địa tĩnh là vệ tinh được phóng lên quỹ đạo tròn ở độ cao khoảng 38.
000 km so với đường xích đạo. Vệ tinh loại này bay xung quanh quả đất 1 vòng
mất 24 giờ. Do chu kỳ bay của vệ tinh bằng chu kỳ bay của quả đất xung quanh
trục của nó theo hướng cùng với hướng quay của quả đất, bởi vậy vệ tinh dường
như đứng yên khi quan sát từ mặt đất, do vậy nó được gọi là vệ tinh địa tĩnh. Bởi
5
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
vì một vệ tinh điạ tĩnh có thể đảm bảo thông tin ổn định liên tục nên nó có nhiều
ưu điểm hơn vệ tinh quỹ đạo thấp dùng làm vệ tinh thông tin.
Nếu 3 vệ tinh được đặt ở các vị trí cách đều nhau bên trên xích đạo(hình vẽ)
thì có thể thiết lập thông tin giữa hầu hết các vùng trên quả đất bằng cách
chuyển tiếp qua một trong hai vệ tinh.
Điều này cho phép xây dựng một mạng thông tin trên toàn thế giới.
Một hệ thống thông tin vệ tinh gồm một vệ tinh trên quỹ đạo và các tram mặt
đất, các tram này có thể truy nhập đến vệ tinh ,

Đường hướng từ trạm mặt đất phát đến vệ tinh gọi là đường lên(up link)và
đường hướng từ vệ tinh đến trạm mặt đất gọi là đường xuống(down link)
Hầu hết các tần số trong khoảng 6GH
z
và 14GH
z
được dùng cho đường lên và
các tần số khoảng 4 GH
z
hoặc 11GH
z
được sử dụng cho tuyến xuống.
Hình1. 2. Vệ tinh hai băng tần AMS
CHƯƠNG II: CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN VỆ TINH
6
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Thông tin di động vệ tinh trong mười năm gần đây đã trải qua những biến đổi
cách mạng, bắt đầu từ hệ thống thông tin di động hàng hải(INMARASAT) với
các vệ tinh ở quỹ đạo địa tĩnh(GSO). Năm 1996 INMARSAT phóng 3 trong số
5 vệ tinh của INMARSAT 3 để tạo ra các chùm búp hẹp chiếu xạ toàn cầu. Trái
đất được chia thanh các vùng rộng lớn được phục vụ bởi các chum búp hẹp này.
Với cùng một công suất phát các chùm búp hẹp tạo ra được EIRP lớn hơn nhiều
so với các chum búp toàn cầu. Nhờ vậy việc thiết kế đầu cuối mặt đất sẽ đơn
giản hơn vì đầu cuối mặt đất sẽ nhìn thấy anten vệ tinh với tỷ số giữa hệ số
khuếch đại anten và nhiệt độ tạp âm hệ thống (G/T
s
)lớn hơn và EIRP đường
xuống lớn hơn. Người ta dự định có thể sử dụng thiết bị đầu cuối mặt đất với
kích thước ssổ tay. Hiên nay các vệ tinh ở GSO cho phép các thiết bị di động
mặt đất trên ôtô hoặc kích cỡ vali. Với EIRP từ vệ tinh đủ lớn , các máy di động

có thể sử dụng các anten có kích thước trung bình cho dịch vụ thu số liệu và
thoại. Tuy nhiên vẫn chưa thể cung cấp dịch vụ cho các máy thu phát cầm tay.
Để đảm bảo hoạt động ở vùng sóng viba thấp cho các bộ thu phát cầm tay ở
hệ thống vệ tinh GSO cần có anten đủ mở(hệ số khuếch đại anten cao) đạt được
bên trong thiết bị phíng và công suất phát bổ sung. Chẳng hạn ở băng tần L(1
đén 2 GH
z
), kích thước anten có thể từ 10 đến 15 mét. Sở dĩ cần như vậy là vì
máy thu phát cầm tay có công suất phát thấp(vài trăm
mW
)và hệ số khuếch đại
anten thấp (0 đến 3 dB). Công suất phát của máy cầm tay phụ thuộc vào
acqui(và trọng lượng của nó), nhưng quan trọng hơn là an toàn cho người sử
dụng. Vì thế các vùng dưới mặt đất đòi hỏi mật độ thông lượng công suất đến
anten cao hơn (đạt được nhờ EIRP cao)và tỷ số G/T
s
ở vệ tinh cao(*anten thu vệ
tinh có hệ số khuếch đại cao) để bắt được tín hiệu yếu từ máy phát vủa máy cầm
tay. Một tổ chức GSO hiên nay có thể cung cấp dịch vụ cho các máy thu kích
thước va li là:Hãng vệ tinh di động Mỹ(AMSC) sử dụng vệ tinh GSO đặt ở
101
0W
. Vệ tinh này đảm bảo dịch vụ cho thông tin của người dùng ở băng L và
sử dụng băng KU(11 đén 18 GH
z
) để giao diện với trạm mặt đất nơi kết nối với
mạng PSTN Tất cả các vệ tinh di động cung cấp dịch vụ tiếng phụ thuộc vào
anten tram mặt đất có tính hướng(G>10 dB). Có thể sử dụng các anten có
khuếch đại thấp hơn nhưng chỉ có thể cung cấp dịch vụ cho tốc độ số liệu thấp
hoăc tin nhắn(phi thoại)

7
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Hiện nay thông tin vệ tinh đang chuyển sang dịch vụ thông tin di động cá
nhân(PCS)với các máy thu phát cầm tay. Đối với các ứng dụng nầýcc vệ tinh
phải có qquỹ đạo thấp(LEO)( độ cao khoảng 1000 km)và quỹ đạo chung MEO
(độ cao khoảng 10000 km). Các vệ tinh này sử dụng các chùm búp hep chiếu xạ
mặt đất để tạo thành cấu trúc tổ ong giống như các hệ thống tổ ong mặt đất. Tuy
nhiên do vệ tinh bay nên các chùm búp này di động và cơ bản trạm di động có
thể coi là đứng đối với các búp hẹp(ttổ ong)chuyển động khá nhanh.
Cũng có thể lập trình các búp hẹp này để quét các vùng phục vụ mặt đất và
duy trì vùng chiếu cố định như hệ thống tổ ong. Tuy nhiên điều này đòi hỏi các
anten phức tạp hơn, chẳng hạn dàn chỉnh pha hay anten quét cơ khí hoặc điều
khiển độ caơ quỹ đạo vệ tinh.
Một số hãng đang đưa ra các đề án LEO hay MEO để cung cấp cả dịch vụ
truyền số liệu và tiếng. chủ yếu các dịch vụ số liệu được cung cấp bởi các hệ
thống vệ tinh LEO nhỏ, con cả hai dịch vụ số liệu và tiếng được cung cấp bởi
các hệ thống vệ tinh LEO lớn. Nói chung các vệ tinh của LEO lớn phức tạp và
đắt tiền hơn. Trong phần dưới đây ta sẽ xét một số hệ thống thông tin vệ tinh
điển hình.
2. 1. Dịch vụ cho Bắc Mỹ.
Ứng dụng đầu tiên của hệ thống GSO để cung cấp dịch vụ di động vệ tinh được
thực hiên khi MARISAT được đưa vào hoạt động. Công nghiệp dịch vụ di động
vệ tinh đã ra đời từ chương trình của US Navy nhằm cung cấp thông tin cho tầu
cập bờ bằng cách sử dụng ba kênh UHF. Ngoài UHF, Comsat(INMASAT)cũng
thuê các kênh L sử dụng anten xoắn để đảm bảo dịch vụ thương mại. Tiếp theo
là sự ra đời của MARECS, IVMCS và INMARSAT , nhưng MARISAT vẫn tiếp
tục hoạt động. Phát triển cao nhất là chùm vệ tinh của INMARSAT-3 đảm bảo
các búp toàn cầu và các búp hẹp. Tấ cả các hệ thống nói trên chủ yếu cung cấp
dịch vụ thông tin di động cho đất liền và hàng không. Đường dịch vụ của các hệ
thống này sử dụng băng L, còn đường tiếp sóng sử dụng băng C. Các hệ thống

này không cung cấp được dịch vụ cho các máy cầm tay. Comsat đã phát triển
đầu cuối xách tay có tên gọi là Planet 1 để sử dụng dịch vụ do INMASAT -3
cung cấp. Các bup hẹp tạo ra EIRP và G/T
s
đủ lớn để thông tin với máy xách tay
8
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Để phát triển thông tin vệ tinh , năm 1985 FCC cho phép Công xoocxiom của
các hãng cung cấp dịch vụ cho Mỹ, Tập đoàn vệ tinh di động Mỹ AMSC nhận
được cấp phép này . Hệ thống vệ tinh này được đặt tên là AMSC. Hệ thống có
thể cung cấp dịch vụ thông tin di động vệ tinh mặt đất(LMSS), dịch vụ thông tin
di động vệ tinh hàng không(AMSS)và dịch vụ thông tin vệ tinh hàng
hải(MMSS). Hệ thống có thể cung cấp các dịch vụ thoại , số liệu và FAX cho
các máy xách tay, đặt trên ôtô hay các trạm cố định. Dịch vụ này có tên là ô trên
trời(Skycell). Dịch vụ tổ ong (cho máy cầm tay)có thể nhận được từ khai thác
song mốt ở vùng có hệ thống thông tin di đọn tổ ong mặt đất AMSC không đủ
mạnh để cung cấp dịch vụ cho máy cầm tay, vì anten mặt đất phải có khuếch đại
khoảng 10 dB. để đạt được dịch vụ tiếng tin cậy. Tháng 4 năm 1995 vệ tinh
AMSC được phóng lên và đưa vào phục vụ vài tháng sau đó. AMSC -1 được
đặt ở kinh độ 101
o
W. FCC cho phép AMSC phóng ba vệ tinh .
Hãng di động Telesat của Canada đã thoả thuận liên doanh để phóng vệ tinh
(MSAT). Vệ tinh này đã được phóng và đặt ở kinh độ 106
0
W.
Tần số công tác đường dịch vụ của AMSC -1 là 1530-1559 cho đường xuống
và 1631, 5-1660 cho đường lên. Vệ tinh hoạt động như ống cong”bent pipe”(hai
trạm mặt đất đều nhìn thấy vệ tinh trong lúc liên lạc) và không có xử lý trên vệ
tinh . Đầu cuối của người sử dụng nằm ở băng L. Quá trình định tuyến tín hiệu

đến và từ vệ tinh được cho trên (hình 1. 1). Hai anten dù mở được sử dụng kết
nối thông tin giữa hai người sử dụng. Anten siêu cao tần (SHF) cho búp sóng
được định dạng để phủ sóng hầu hết Bắc Mỹ. Không có đường nối trực băng L
giữa hai người sử dụng. Để thực hiện cuộc gọi , người sử dụng phát tín hiệu
đường lên băng L đến vệ tinh, ở vệ tinh tín hiệu này chuyển đổi tần số được
phát xuống ở tần số 13 GH
z
đến trung tâm điều khiển . Trung tâm này ấn định
cặp kênh cho phía khởi xướng và kế nối cuộc gọi . Sau khi kết nối được thực
hiện , hai phía có thể thông tin với nhau. Tín hiệu phía khởi xướng được phát lên
đến vệ tinh , sau đó từ vệ tinh được phát xuống đến trạm cổng và từ trạm cổng
này được phát lên vệ tinh . Tại đây, nó được chuyển vào băng L và phát đến
trạm kết cuối. Nêú phía kết cuối không phải máy di động , trạm cổng kết nối
cuộc gọi đén PSTN nội hạt. Sau khi cuộc gọi kết thúc , kênh được giải phóng .
Thực chất thông tin ở đây được thực hiện ở hai chặng và không có kết nối trực
tiếp ở băng L. Thuật ngữ kỹ thuật được sử dụng trong trường hợp này là :không
9
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
đấu nối băng L với băng L ở vệ tinh . Trước hết AMSC sử dụng các đầu cuối hai
chế độ vệ tinh /tổ ong. Nếu máy di động không thể kết nối đến hệ thống tổ ong
mặt đất, cuộc gọi được định tuyến qua chế độ vệ tinh .
2. 2. Dịch vụ cho Châu Âu bằng hệ thống Archimedes
Hãng hàng không vũ trụ châu Âu đã đề xuất sử dụng vệ tinh tia
chớp”Molnya” quỹ đạo elip ở điểm cực viễn để bảo dịch vụ tiếng bằng đầu cuối
kích thước va li cho Châu Âu. Sử dụng dạng quỹ đạo này có hai cái lợi. Nó cho
phép góc ngẩng của búp anten cao hơn (khoảng 70
0
), nhờ thế giảm phadinh
nhiều tia xảy ra khi sử dụn góc ngẩng thấp và che tối của các vật cản. Ngoài ra
anten của người sử dụng không cần thiết phải vô hướng vì vệ tinh được nhìn

thấy trong khoảng thời gian dài ở vùng cực viễn. Hai yếu tố này (góc ngẩng cao
và tính hướng anten)cho phép giảm quỹ đạo đường truyền , nhờ vậy tiết kiêm
đáng kể công suất vệ tinh. Chum vệ tinh trong trường hợp này sử dụng 4 vệ tinh
với mỗi vệ tinh ở một quỹ đạo Molnia, nút lên cách nhau 90
0
và góc nghiêng 63,
4
0
. Các vệ tinh được định pha ở xung quanh điểm cực viễn tại các thời điểm
khác nhau để có thể phủ được toàn Châu Âu trong 24 giờ. Với chu kỳ quay 12
giờ, hai cực viễn xảy ra ở bán cầu bắc , nhưng chỉ điểm trên Châu Âu là được
tích cực. Điểm cực viễn được nhìn thấy trong khoảng thời gian từ 6 đến 8 giờ,
trong khoảng thời gian này các vệ tinh được tích cực. Cấu hình của hệ thống vệ
tinh này được cho ở (hình 2. 2a)
(a) (b)
Hình 2. 2 a)Các quỹ đạo vệ tinh Molnya ;b)Cấu hình hệ thống thông tin di
động vệ tinh ASMC và Archimedes
10
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Anten trên mỗi vệ tinh (ở khoảng thời gian gần điểm cực viễn)sẽ chiếu xạ
chau âu bằng 6 búp. Lưu ý rằng trong khoảng thời gian này cợ ly đến trạm mặt
đất sẽ thay đổi vì thế mức tín hiệu thay đổi vào khoảng 4 dB. Nếu khgông thay
đổi chiếu xạ của búp anten(chẳng hạn giảm độ rộng của búp khi tiến đến gần
điểm cực viễn)thì kích thước của vệt phủ cũng thay đổi. Việc giảm độ rộng búp
cũng dẫn đến tăng hệ số khuếch đại, điều này là cần thiết vì cự ly đến trạm mặt
đất tăng. Hệ thống cung cấp dịch vụ băng L. Mỗi vệ tinh đảm bảo cung cấp dịch
vụ cho 3000 kênh thoại.
Cấu hình của vệ tinh cho hệ thống ASMC và Archimedes giống nhau và
được cho ở (hình 1. 2 b). Cả hai hệ thống đều sử dụng bộ phát đáp “ống
cong”nhờ vậy mà có thể sử dụng chúng cho mọi tiêu chuẩn điều chế và truy

nhập.

2. 3. Dịch vụ di động vệ tinh quỹ đạo không phải địa tĩnh(NGSO)
Chìa khoá để phát triển dịch vụ thông tin di động là đảm bảo thông tin cá
nhân mọi nơi mọi chỗ cho các máy thu phát cầm tay với giá thành hợp lý. Nhờ
sự ra đời của phương pháp xử lý tín hiệu số mới và vi mạch tích hợp
cao(MMIC, VLSI) điều này có thể thực hiện được. Bước tiếp theo là tiến hành
giao diện với cơ sở hạ tầng hiện có của thông tin di động tổ ong mặt đất. Giao
diện này cho phép khai thác song mốt vệ tinh -mặt đất. Sự ra đời của các vệ tinh
thông tin NGSO nhằm đạt được mục đích này. Đây là các vệ tinh LEO(độ cao
quỹ đạo 1000 km)và MEO (độ cao quỹ đạo 10. 000 km). Các vệ tinh này sử
dụng các chum tia hẹp chiếu xạ mặt đất để tạo thành cấu trúc tổ ong giống như
các hệ thống tổ ong mặt đất. Tuy nhiên do vệ tinh bay nen các chùm tia này di
động cà cơ bản trạm di động có thể coi như là dừng đối với các tia hẹp(tổ
ong)chuyển động khá nhanh.
Cũng có thể lập trình các tia hẹp này để quét sóng các vùng phục vụ mặt đất
và duuy trì vùng chiếu cố định như hệ thống tổ ong. Tuy nhiên điều này đòi hỏi
các anten phức tạp hơn , chẳng hạn dàn chỉnh pha hai anten cơ khí hoặc điều
khiển độ cao quỹ đạo vệ tinh . Trong phần dưới đây ta sẽ xét hoạt động của hệ
thống có nhiều quỹ đạo thấp (gọi tắt là LEO)
Hình 2. 3 sẽ cho chúng ta thấy cấu trúc điển hình của hệ thống thông tin di động
vệ tinh LEO.

11
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Hình 2. 3 Cấu trúc chung của một hệ thống thông tin LEO/MEO
2. 3. 1, Hoạt động của vệ tinh đa LEO
Một vệ tinh LEO không thể cung cấp dịch vụ thời gian thực vì tram mặt đất
chỉ có thể nhìn thấy nó trong khoảng thời gian vài chục phút, trong khi đó chu
kỳ quỹ đạo thông thường lên tới hàng tram phút. Chỉ có thể áp dụng chế độ hoạt

động này cho các khai thác phát bản tin kiểu lưu và phát. Hiện nay cũng có các
vệ tinh làm việc ở chế độ này.
Để đảm bảo phủ liên tục, phải sử dụng một chùm vệ tinh và số vệ tinh phụ
thuộc vào độ cao của chúng , vào góc ngẩng của tối thiểu cảu tia anten thu phát
mặt đất(góc ngẩng cần thiết để giảm tổn hao do che chắn).
Các MEO hoạt động ở các độ cao hơn sẽ có chu kỵ quỹ đạo vbào khoảng 6
giờ và có thể nhìn được trong khoảng 2giờ. Nói chung MEO đòi hỏi ít vệ tinh
trên quỹ đạo hơn vì có thể nhìn thấy chúng từ một vùng rộng hơn của quả đất so
với LEO.
Với LEO ta có thể phủ toàn cầu hay các vùng lựa chon bằng các tia hẹp mô
phỏng hình thái tổ ong của hệ thống mặt đất. Tuy nhiên, do độ cao và kích thước
góc mở anten trên vệ tinh có hạn, các tia hẹp sẽ vẫn chiếu xạ các vùng rộng
lớn(đường kính vài trăm km). có thể gọi cá vùng này là ô mêga so với các ô
macro ở các hệ thống tổ ong mặt đất(các ô này có đường kính khoảng 1km đến
20 km).
Khấc với hình học tổ ong của GSO và hệ thống mặt đất, các ô chuyển động
ở LEO nói chung sẽ không quét hết các vùng mật độ dân cư cao và trong các
12
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
chu kỳ quỹ đạo của mình có thể xảy ra các vùng im lặng. Tất nhiên là điều xảy
ra ở các vùng cực và đại dương. Khi chuyển vào các vùng thưa dân , dịch vụ có
thể bị cắt hay các tia có thể được tắt.
Các tia hẹp hay cá ô do các LEO cung cấp có thể giao diện với hệ thống tổ
ong mặt đất. Chẳng hạn ở thành phố các máy di động cầm tay có thể làm việc
với hệ thống di động tổ ong mặt đất, còn ở các vùng xa nơi không có hệ thống tổ
ong mặt đất . Chẳng hạn ở thành phố, các máy di động cầm tay có thể làm việc
với hệ thống tổ ong mặt đất , còn ở các nvùng xa nơi không có hệ thống tổ ong
mặt đất các máy này có thể sử dụng dich vụ di động do hệ thống vệ tinh cung
cấp. Cũng có thể sử dụng hệ thống vệ tinh để giải quyết vấn đề ứ nghẽn thông
tin di động tại thành phố trong giờ cao điểm. Nếu thiết kế máy cầm tay không

đảm bảo tính tương thích giữa sử dụng mặt đất và vệ tinh , thì có thể phải sử
dụng các máy song mode.
Giai đoạn tiếp theo có thể đảm bảo dich vụ cho các máy cầm tay từ hệ thống
vệ tinh GSO. Hệ thống này đòi hỏi các anten vệ tinh khá lớn để đảm bảo EIRP
lớn cho anten vô hướng của máy cầm tay và G/T
s
của vệ tinh lớn khi công suất
phát từ máy cầm tay không lớn.
Hình 2. 3. 1 cho thấy một vùng phủ sóng cho mặt đất điển hình từ vệ tinh.
Vệ tinh được đặt ở độ cao h so với mặt đất và (anpha) là góc ngẩng tối thiểu mà
ở đó các máy thu phát mặt đất còn đảm bảo dịch vụ tin cậy và dự trữ công suất
đường truyền cho phép. Thông thường (anpha )lớn hơn 10
0
.
Mặc dù mong muốn đảm bảo vùng phủ sóng rộng nhất , nhưng lại xuất hiện
các vấn đề cần giải quyết. Một trong các vấn đề này là lưu lượng(số người sử
dụng)có thể vượt xa số kênh cho phép của giải tần được cấp. Để vùng phủ sóng
được chia thành các ô nhờ các chùm tia hẹp. Số ô càng lớn thì vùng hiệu suất tái
sử dụng tần số càng cao. Tuy nhiên, khi này góc mở của anten vệ tinh phải đủ
lớn, vì vệt phủ(ô)phụ thuộc vào góc mở và độ cao. Ngoài ra, cũng phải thực hiện
chuyển giao nhiều hơn và nhanh hơn do chuyển động của vệ tinh ở quỹ đạo
thấp.
(Hình vẽ)Vùng phục vụ được chia thành các ô nhờ tia hẹp để tái sử dụng tần số
Anten lớn sẽ chiếu xạ mật độ thông lượng cao hơn lên bề mặt trái đất. mật độ
thông lượng này đươcj xác định như sau:
PFD=GsPs/4piR
stl
W/m
2
Mật độ thông lượng PFD lớn hơn có nghĩa là công suất thu được ở thiết bị

mặt đất cao hơn, vì công suất này được xác định như sau:
13
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
P=PFD x diện tích hiệu dụng anten
=PFD x A
c
=( G
s
P
s
/4piR
stl
) x (G
r
lamda
2
/4pi) W
Teong đó :G
s
:hệ số khuếch đại anten vệ tinh
P
s
:Công suất phát vệ tinh
R
stl
:Khoảng cách đường xiên đến máy thu
G
r
:Hệ số khuếch đại anten thu
A:

c
Diện tích hiệu dụng anten thu

Trên mặt đất số ô trong vùng phủ phụ thuộc vào kích thướclớn nhất của
anten mà vệ tinh cho phép và độ lớn của tên lửa phóng. Vì thế để được anten lớn
người ta sử dụng anten dù mở.
Cấu trúc ô trong vùng phủ nhận được nhờ các chùm tia hẹp. Cũng như ở hệ
thống tổ ong mặt đất FDMA, số người sở dụng trên ô hay trên tia hẹp đươcj xác
định như sau:
M=(B
t
/B
c
)/K
Trong đó :
B
t
:Tổng độ rộng băng tần được cấp phát
B
c
: Độ rộng băng tần kênh
K:Thừa số tái sử dụng tần số
Điểm cần lưu ý là các chùm tia tạo ra các cum gần như liên tục giống
như ở các hệ thống mặt đất nhưng các thông số chất lượng không hoàn toàn
giống . . Trước hết công suất thu ở máy thu mặt đất không tỷ lệ nghịch với
khoảng cách mũ bốn như thường gặp ở các hệ thông di động mặt đất. Thứ hai, ở
các hệ thống di động mặt đất thương xảy ra trường hợp không có tầm nhìn thẳng
được bảo đảm và tín hiệu thu luôn luôn có một thành phần lớn nhất(cộng thêm
các thành phần ngẫu nhiên do nhiều tia ).
Ngoài ra xét về quan điểm nhiễu, các tia hẹp không chỉ giới hạn năng lượng

trong một vùng hẹp hay một ô mà có thể tràn sang các ô khác do sự có mặt của
các búp hướmg bên.
14
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Hình 2. 3. 1:Cho thấy bốn vệt phủ liên tiếp (bốn ô) và
các tia hẹp tạo nên các vệt phủ này.
Hình 2. 3. 2 Cho thấy bốn vệt phủ liên tiếp(bốn ô) và các tia hẹp tạo nên các
vệt phủ này.
15
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Hình2. 3. 2. Các tia hẹp liên tục và đường viền của chúng
Từ hình 10. 3 cho thấy tất cả các tia đều có các búp bên và búp chính cắt
nhau. Nói một cách khác các tia cuả anten thực tế không phải các tia phân đoạn
lý tưởng và năng lượng do các tia bên của chúng sẽ gây nhiễu cho các ô ở xa.
Bằng cách lựa chon hàm chiếu xạ anten vệ tinh ở góc mở , ta co thể giảm các
búp bên. Tuy nhiên điieù này làm mở rộng búp chính và giảm khuếch đậi dọc
trục. Vì thế cần có lựa chọn dung hoà. .
2. 3. 2. Thiết kế chùm vệ tinh tổ ong
Để phủ tổ ong toàn cầu với chất lượng đảm bảo cần sử dụng chùm nhiều vệ
tinh . Về khía cạnh kinh tế thì số vệ tinh của chum càng ít càng tốt. Hai yếu tố
đóng vai trò quan trọng trong quá trình thiết kế : độ cao của các vệ tinh trong
chùm và góc ngẩng tia anten của máy thu phát mặt đất. Hai yếu tố này cùng ảnh
hưởng lên số lượng vệ tinh cần thiết. Một mặt, độ cao quỹ đạo càng cao thì
vùng
16
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
nhìn càng lớn và số lượng vệ tinh yêu cầu càng nhỏ. Mặt khác nếu góc ngẩng
càng lớn thì sự che chắn càng giảm nhưng số vệ tinh yêu cầu càng lớn.
Tồn tại hai quan điểm trong việc thiết kế chùm vệ tinh cho MEO và LEO.
Một quan điểm sử dụng các vệ tinh ở quỹ đạo cực với quỹ đạo gần cực hay góc

nghiêng trực tiếp quỹ đạo i=90
0
(góc nghiêng trực tiếp i là góc hợp bởi mặt
phẳng quỹ đạo và mặt phẳng xích đạo trong trường hợp vệ tinh quay cùng chiều
với quả đất). Một quan điểm khác sử dụng một số mặt quỹ đạo nghiêng ở các
mặt phẳng khác nhau. Dưới đây ta sẽ xét các chùm vệ tinh được thiết kế theo hai
quan điểm này.
2. 3. 3. Chùm vệ tinh quỹ đạo cực
Ở các chùm vệ tinh này các vệ tinh bay qua cực hay ở quỹ đạo có góc
nghiêng gần bằng 90
0
. Hình 10. 5 mô tả hình học của một vệ tinh . . Từ hình
này ta thấy , dải phủ là vùng phủ đối với một vệ tinh ở mặt phẳng quỹ đạo . Độ
rộng của dải phủ phụ thuộc vào góc ngẩng (anpha) (vào khoảng 10
0
)và độ cao
vệ tinh . Trường nhìn mở rộng đến vùng chân trời(anpha=0
0
). Do quả đất quay,
dải pơhủ dịch chuyển về phía Tây. Ở quỹ đạo này không xảy ra sự lùi xa nút
tăng” ascending node”(nút tăng là điểm cắt giữa mặt phẳng quỹ đạo và mặt
phẳng xích đạo ở nơi mà vệ tinh chuển dịch từ Nam sang Bắc).
17
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
-Do trái đất quay nên dải phủ sẽ dịch chuyển về hướng Tây và phụ thuộc vào
độ cao. Độ rộng của dải phủ có thể không bằng trường nhìn(FOV)
-Kích thước của vệt phủ được thiết kế theo góc ngẩng cực tiểu và chu vi vùng
phủ. Tất cả các tia hẹp(các ô) trong vùng phủ đều đảm bảo góc ngẩng bằng
hoặc lớn hơn yêu cầu cho mọi người sử dụng.


Hình 10. 5 Vệ tinh LEO quỹ đạo cực
Ở các chùm quỹ đạo cực, số vệ tinh được phóng vào các quỹ đạo tròn ở các
mặt phẳng quỹ đạo đều bằng nhau.
Chùm vệ tinh trong Iridium của Môtorola là chùm quỹ đạo cực với các thông
số sau:
- Số vệ tinh :66(dự định ban đầu là 77)
- Số mặt phẳng quỹ đạo tròn:6
- Số vệ tinh ở mỗi mặt phẳng:11
- Góc nghiêng :86, 4
0
(dự định ban đầu là 90
0
)
18
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
- Độ cao quỹ đạo :780 km
- Góc ngẩng cực tiểu ở biên vùng phủ:8, 2
0
- Mỗi vệ tinh tạo ra 48 tia hẹp(hay ô)bằng:48 x 46 =3168 tia hẹp trên toàn
cầu. Tuy nhiên chỉ có 2150 tia hoạt động vì một số tia không được sử dụng
do chồng lấn lên các tia khác.
2. 3. 2. Các chùm quỹ đạo nghiêng
Nếu các chumf quỹ đạo cực có xu hướng tập trung các vệ tinh ở gần cực thì các
chùm quỹ đạo nghiêng có xu thế phân bổ các vệ tinh đồng đều ơn trên toàn
cầu. Thiết kế này được Loral sử dụng cho hệ thống Global Star LEO và TRW sử
dụng cho hệ thống Odyssey MEO của họ.
Chùm này bao gồm tổng số T vệ tinh với S vệ tinh được phân bố đồng
đều cho P mặt phẳng. Tất cả các mặt phẳng quỹ đạo đều có cùng góc nghiêng
trực tiếp(i<90
0

), các quỹ đạo có cùng độ cao và bị cung độ lùi nut tăng (nut này
dịch sang phía Tây). Các nút tăng của P mặt phẳng được phân bố đều trên xích
đạo ở các đoạn 360
0
/P. Trong mỗi mặt phẳng các vệ tinh được phân bố đều trên
các khoảng 360
0
/S. Cần chỉnh pha vệ tinh ở các đoạn 360
0
F/T, trong đó F là
thông số chỉnh pha. Các quan hệ nói trên được mô tả ở hình 10. 6 và được kí
hiệu như sau:
i:T/P/F
trong đó i:góc nghiêng của các quỹ đạo tròn
T:Tổng số vệ tinh
P:Tổng số vệ tinh trên một quỹ đạo
F:Thừa số chỉnh pha, 0<=F<=P-1
19
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh

Hình 2. 3. 2Các thông số của chùm quỹ đạo nghiêng
Chùm được kí hiệu bởi T/P/F
T:Tổng số vệ tin
P:Số mặt phẳng quỹ đạo
F:Thông số chỉnh pha
lopt:Góc nghiêng tối ưu chung cho tất cả các mặt phẳng
360
0
F


:Hiệu số pha giữ các vệ tinh ở hai mặt lân cận
T
Thí dụ , nếu thông tin vệ tinh i:T/P/F=65:15/5/1, thì có nghĩa là :
- Mặt phẳng quỹ đạo có góc nghiêng là 65
0
- Chùm này có tổng số vệ tinh là 15
- Số mặt phẳng quỹ đạo là 5
- Số vệ tinh trong mỗi quỹ đạo cách đoạn là 120
0
- Các nút tăng cách nhau 360/5=72
20
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
- Lệch pha giữa các vệ tinh ở quỹ đạo lân cận là(F x 360
0
)/T=(1 x
360
0
)/15 = 24
0
. Điều này có nghĩa là khi một vệ tinh nào đó đã đi qua xích
đạo một đoạn 24
0
thì vệ tinh ở quỹ đạo lân cận phía Tây đang đi qua xích
đạo.
Hệ thống MEO của hệ thống Odyssey thuộc hãng TRW sử dụng chùm quỹ
đạo nghiêng với các thông số sau. Độ cao quỹ đạo là 10. 370 km và
i:T/P/F=55:12/3/1
Chùm của Loral Global Star LEO có các thông số sau. Độ cao quỹ đạo là
1414 km và i:T/P/F=52:48/8/1
2. 3. 4. Cấu trúc tổ ong

Như đã nói, vùng phủ (có thể phủ một vung lãnh thổ khá lớn) được chia
thành các ô nhờ các tia hẹp được tạo ra từ một anten nhiều tia, nhờ vậy có thể tái
sử dụng tần số. Hình 10. 7 cho thấy vùng phủ được chia thành các ô. Người sử
dụng máy di động trong một ô hầu như được cố định vì các vệt phủ của các tia
chia mặt đất thành các dải phủ. Vì thế mạng biết trước cần chuyển giao sang ô
nào. Chẳng hạn, máy di động chuyển vào ô B và C rồi vào ô D. Ở các hệ thống
mặt đất các ô cố định, hướng chuyển động của máy di động không được biết
trước và máy có thể chuyển động vào một trong bốn hướng hoặc không chuyển
động.

Hình 10. 7 Phân ô cho vùng phủ

21
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Các hệ thống thông tin di động tổ ong vệ tinh , chuyển giao chủ yếu là nhiệm
vụ của mạng. Vệt vệ tinh chuyển dịch rất nhanh và máy di động nhanh chóng
chuyển từ một ô (tia hẹp)sang ô khác. Tốc độ vệt phủ mặt đất của một cụm ô
trong vùng phủ được xác định theo công thức sau:
V=2pi(R
c
+h)/T
Trong đó: R
c
=6378 km là bán kính quả đất
h: độ cao quỹ đạo
T~100 phút là chu kỳ quỹ đạo
Đối với quỹ đạo tròn chu kỳ này bằng:
T=2pi. Sqrt(r/u)
Trong đó r=R
c

+h là bán kính quỹ đạo
u=GM là thông số lực hấp dẫn đối với trái đất bằng 398. 601, 2
km
3
/s
2
sqrt(u)=631, 35 km
3
/S
2

R
c
=6378 km là bán kính quả đất
Tốc độ vệt phủ mặt đất đối với vệ tinh ở độ cao 1000 km sẽ vào khoảng 7
đến 8 km/s. (khoảng 28. 800 km/giờ).
Diện tích vùng phủ được xác định theo công thức sau:
A
s
= 2piR
c
(1-cos2θ)
Trong đó ::R
c
=6378 km là bán kính của quả đất
``θ là góc tâm(xem hình 10. 3)
`θ=arccos[R
c
cos α /(R
c

+h) ]- α
Trong đó : α là góc ngẩng tia anten của trạm mặt đất
h là độ cao vệ tinh
Giá trị θ được chọn sao cho ở biên giới của vùng này góc ngẩng của anten ở
máy thu phát của người sử dụng đảm bảo hoạt động tin cậy.
Do độ cong của quả đất và góc xiên, các ô do các tia hẹp tạo ra không có dạng
hình tròn trừ ở điểm Nadir(điểm ngay dưới vệ tinh ). Các ô càng xa điểm Nadir
càng bị méo. Từ hình 10. 8 ta có thể xác định độ rộng ở hướng tâm rời xa điểm
Nadir như sau:
W=S
2
-S
1
=R
c
θ
2
-R
c
θ
1

= (R
c
θ
2
)/(pi/180) -( R
c
θ
1

) (pi/180)
= R
c
/(pi/180)(θ
2

1
)
=111, 32(θ
2

1
)
22
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Trong đó θ
1, 2
tính theo độ
(Hình vẽ10. 8. Tia hẹp mở rộng tại các điểm khác Nadir)
2. 3. 4. Dịch vụ thông tin vệ tinh tổ ong địa tĩnh
Các hệ thống vùng
Thếb hệ tiếp theo của thông tin di động vệ tinh sẽ cung cấp các dịch vụ thông
tin di động các nhân cho cấc máy cầm tay mặt đất từ quỹ đạo địa tĩnh . Hiện nay
đẫ có một ssố đề án cho các hệ thống tổ ong vệ tinh vùng để cung cấp dịch vụ
cho máy cầm tay. Các hệ thống này được thiết kế để phủ các vùng Thái Bình
Dương, Cận Đông và Châu Phi. Một hệ thống khác có tên gọi là CELSAT được
đề xuất ở Mỹ đang chờ cấp phép của FCC
Các hệ thống thông tin vệ tinh có cùng một số ưu điểm:
-Đảm bảo dung lượng ngay cho một vùng địa lý rộng lớn
-Giá thành cơ sở hạ tầng thấp

-Bổ trợ cho dịch vụ hữu tuyến và thông tin di động mặt đất
-Chuyển tiếp trực tiếp cuộc gọi qua vệ tinh(di động một chặng ở
băng L).
-Các hệ thống hiện nay đang được thực hiện và thiết kế để phủ từ
Châu Phi đến Phi-lip-pin gồm:
23
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
-Aces (Asia cellular Satellite System)hay còn gọi là Garuda. Có
thể có vị trí trên quỹ đạo ở 118
0
E và 80, 5
0
E
-APMT(Asia Pacìic Mobile Telecom)
-ASC(Afro-Asia Satellite Communication System)còn được gọi
là AGRANI 1. Khi triển khai sẽ được đặt tại 21
0
E. Các vệ tinh
và các vị trí mới cũng đang được dự tính.
Aces sẽ phủ hầu hết châu Á từ Pa-kit-xtan đến Nhật Bản bao gồmNam
Trung Quốc và tất cả các nước Đông Nam Á. APMT sẽ phủ vùng tương tự và
toàn bộ Trung Quốc. ASC sẽ phủ các vùng từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Sing-ga-po, các
phần đông Phi và Trung Đông . Nói chung khoảng 50 nước sẽ được phục vụ .
Dự tính rằng AceS và ACS sẽ tương thích với GSM.
Một hệ thống đề xuấtb khác là Satphon sẽ phục vụ vùng Trung Đông và Bắc
Mỹ. Hệ thống này có thể sử dụng hai vệ tinh ở GSO.
Các máy cầm tay sẽ ở chế độ song mốt để đảm bảo dịch vụ vệ tinh tổ ong
mặt đất. Kết nối giữa hai máy đầu cuối có thể là một chặng qua vệ tinh.
2. 4. Phân bố tần số cho một ssố hệ thống thông tin đi động vệ tinh tổ ong
LEO lớn.

TA có bảng tổng kết tần số được sử dụng bởi các hệ thống này.
24
Hệ thống thông tin di động tế bào toàn cầu sử dụng vệ tinh
Phân bổ tần số
cho các dịch
vụ MSS và
RDSS
Các vùng trên thế giới của ITU
1 2
3
137-137, 025
137, 025-137,
175
137, 175-137,
825
137, 825-138
148-149, 9
149, 9-150, 05
312-315
387-390
400, 15-401
1492-1525
1525-1530
1530-1533
1533-1535
1535-1544
1544-1545
1545-1555
1555-1559
1610-1610, 6

1610-1613, 8
1613, 8-1626, 5
1626, 5-1631, 5
1631, 5-1634, 5
1634, 5-1645, 5
1645, 5-1646, 5
1646, 5-1656, 5
MMSS. imss
MMSS
MSS
MSS
MSS, mss
mss, imss
Mss
Mss
Mss
Mss
Mss
LMSS
Mss
Mss
Mss
Mss
Mss
Mmss. imss
MMSS
MSS
AMSS(R)
LMSS
MMSS, RDSS

MMSS, RDSS
MMSS, RDSS.
mss
MSS
MMSS. Imss
MMSS. LMSS
MSS
AMSS
LMSS
LMSS
MMSS, rdss
MMSS, rdss
MMSS, rdss. mss
MSS
25

×