Tải bản đầy đủ (.doc) (260 trang)

CÁC KHUYẾN NGHỊ CỦA CÁC ỦY BAN CÔNG ƯỚC (TIẾNG VIỆT)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 260 trang )

Liên hợp
quốc
HRI

Các văn kiện nhân quyền quốc tế
Distr.
GENERAL
HRI/GEN/1/Rev.7
12.5.2004
Bản gốc: tiếng Anh
BẢN BIÊN SOẠN CÁC NHẬN ĐỊNH VÀ KHUYẾN NGHỊ CHUNG ĐƯỢC CÁC UỶ BAN
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN THÔNG QUA
Ghi chú của Ban thư ký
Văn kiện này biên soạn các nhận định hoặc các khuyến nghị chung lần lượt được thông qua bởi
Uỷ ban các quyền về kinh tế, văn hoá và xã hội, Uỷ ban Nhân quyền, Uỷ ban xoá bỏ phân biệt
chủng tộc, Uỷ ban xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, Uỷ ban Chống tra trấn và Uỷ ban các
Quyền trẻ em. Uỷ ban về lao động di cư chưa phê chuẩn bất kỳ một nhận định chung nào.
1 / 271
HRI /GEN/1/Rev.7
Trang 2
Nội Dung
I. CÁC NHẬN ĐỊNH CHUNG ĐƯỢC UỶ BAN CÁC QUYỀN VỀ KINH TẾ, VĂN HOÁ VÀ XÃ HỘI
THÔNG QUA
Nhận định chung Số 1: Báo các của các quốc gia thành viên ………7
Nhận định chung Số. 2: Các biện pháp trợ giúp kỹ thuật quốc tế (điều 22 của công ước )
9
Nhận định chung Số.3: Bản chất các nghĩa vụ của các Quốc gia thành viên
(điều 2, khoản 1 của công ước)
…… 11
Nhận định chung Số. 4: Quyền có nhà ở tối thiểu
(điều 11 (1) của công ước) 15


Nhận định chung Số. 5: Những người khuyết tật
…… 19
Nhận định chung Số .6: Các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội của những người cao tuổi
27
Nhận định chung Số. 7: Quyền nhà ở tối thiểu
(điều .11 (1) của công ước): cưỡng bức thu hồi nhà ở
…… 35
Nhận định chung Số. 8: Mối quan hệ giữa trừng phạt kinh tế và sự tôn trọng các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá
…… 39
Nhận định chung. Số 9: Việc áp dụng Công ước của các nước thành viên 42
Nhận địnhn chung số 10: Vai trò của các tổ chức nhân quyền quốc gia đối với việc bảo vệ
các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 45
Nhận định chung Số . 11: Kế hoạch hành động đối với giáo dục tiểu học (đ. 14)……… 46
Nhận định chung . 12: Quyền thực phẩm tối thiểu (điều. 11) … 48
Nhận định chung Số. 13: Quyền giáo dục (điều. 13) 55
Nhận định chung Số. 14: Quyền có thể đạt được tiêu chuẩn sức khoẻ cao nhất
(điều. 12) 68
Nhận định chung Số. 15: Quyền sử dụng nước (điều. 11 và 12 của Công ước) 84
2 / 271
HRI /GEN/1/Rev.7
Trang 3
Nội dung (tiếp)
Trang
II. CÁC NHẬN ĐỊNH CHUNG ĐƯỢC UỶ BAN NHÂN QUYỀN THÔNG QUA 95
Nhận định chung Số. 1: Nghĩa vụ báo cáo 98
Nhận định chung Số. 2: Các hướng dẫn báo cáo 98
Nhận định chung Số. 3: Điều 2 (Thực hiện ở cấp quốc gia) 99
Nhận định chung Số. 4: Điều 3 (nam nữ có quyền bình đẳng hưởng các quyền dân sự,
chính trị) 100

Nhận định chung Số. 5: Điều 4 (Vi Phạm) 100
Nhận định chung Số. 6: Điều 6 (Quyền sống) 101
Nhận định chung Số. 7: Điều 7 (Cấm các hình thức đối xử, trừng phạt, hay tra tấn độc
ác, vô nhân tính, hạ thấp nhân phẩm) 102
Nhận định chung Số. 8: Điều 9 (Quyền tự do và an ninh cá nhân) 103
Nhận định chung Số. 9: Điều 10 (Đối xử nhân đạo với những người bị tước quyền tự
do) 105
Nhận định chung Số. 10: Điều 19 (Tự do ngôn luận) 105
Nhận định chung Số. 11: Điều 20 106
Nhận định chung Số . 12: Điều 1 (Quyền tự quyết) 106
Nhận định chung Số . 13: Điều 14 (Quản lý tư pháp) 107
Nhận định chung Số. 14: Điều 6 (Quyền sống) 111
Nhận định chung Số. 15: Vị trí của người nước ngoài theo Công ước 111
Nhận định chung Số. 16: Điều 17 (Quyền riêng tư ) 114
Nhận định chung Số. 17: Điều 24 (Các quyền của trẻ em) 115
Nhận định chung Số. 18: Không phân biệt đối xử 117
Nhận định chung Số. 19: Điều 23 (Gia đình) 120
Nhận định chung Số. 20: Điều 7 (Cấm các hình thức đối xử, trừng phạt, hay tra tấn độc
ác, vô nhân tính, hạ thấp nhân phẩm) 121
Nhận định chung số 21: Điều 10 (Đối xử nhân đạo đối với những người bị tước quyền tự
do) 124
Nhận định chung Số. 22: Điều 18 (Tự do tôn giáo, tư tưởng, lương tâm ) 126
Nhận định chung Số. 23: Điều 27 (Quyền của các dân tộc thiểu số) 128
Nhận định chung Số. 24: Các vấn đề liên quan tới các bảo lưu dựa vào sự phê chuẩn
hoặc gia nhập Công ước hoặc Các Nghị định thư bổ sung, hoặc liên quan tới các tuyên bố
theo điều 41 của Công ước 131
Nhận định chung Số. 25: Điều 25 (Quyền tham gia vào các vấn đề xã hội và quyền bầu
cử) 140
Nhận định chung Số. 26: Tính liên tục của các nghĩa vụ 140
3 / 271

Nhận định chung Số. 27: Điều 12 (Tự do cư trú) 141
HRI /GEN/1/Rev.7
Trang 4
Nội Dung (tiếp)
Nhận định chung Số. 28: Điều 3 (Sự bình đẳng về các quyền giữa nam và nữ) 145
Nhận định chung Số. 29: Điều 4: Những vi phạm trong tình trạng khẩn cấp 150
Nhận định chung Số. 30: Các nước thành viên có nghĩa vụ báo cáo theo điều 40 của công
ước 156
Nhận định chung Số. 31: Bản chất của nghĩa vụ pháp lý chung đối với các Quốc gia thành
viên Công ước 157
III. CÁC KHUYẾN NGHỊ CHUNG ĐƯỢC UỶ BAN XÓA BỎ PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC
THÔNG QUA 161
Khuyến nghị chung I liên quan đến nghĩa vụ của các Quốc gia thành viên
(điều. 4 của Công ước) 161
Khuyến nghị chung II liên quan đến nghĩa vụ của các Quốc gia thành viên 161
Khuyến nghị chung III liên quan đến báo cáo của các Quốc gia thành viên
162
Khuyến nghị chung IV liên quan đến báo cáo của các Quốc gia thành viên
(điều 1 của Công ước) 162
Khuyến nghị chung V liên quan đến báo cáo của các Quốc gia thành viên
(điều 7 của Công ước) 163
Khuyến nghị chung VI liên quan đến báo cáo quá hạn 163
Khuyến nghị chung VII liên quan đến việc thực hiện điều 4 164
Khuyến nghị chung VIII liên quan đến việc hiểu và áp dụng điều 1, khoản 1 và 4, của Công
ước 165
Khuyến nghị chung IX liên quan đến việc áp dụng điều 8, khoản 1, của Công ước 165
Khuyến nghị chung X liên quan đến các hỗ trợ kỹ thuật 165
Khuyến nghị XI đối với người ngoại quốc 166
Khuyến nghị chung XII về Quốc gia kế thừa 166
Khuyến nghị chung XIII về đào tạo các quan chức thực thi pháp luật trong việc bảo vệ nhân

quyền 166
Khuyến nghị chung XIV về điều 1, khoản 1 , của Công ước 167
Khuyến nghị chung XV về điều 4 của Công ước 167
Khuyến nghị chung XVI liên quan đến áp dụng điều 9 của Công ước 168
Khuyến nghị chung XVII về thiết lập các tổ chức quốc gia để giúp thực hiện Công ước.
169
Khuyến nghị chung XVIII về thiết lập một toà án quốc tế để xét xử các tội ác chống lại loài
người 169
Khuyến nghị chung XIX về điều 3 của Công ước 170
Khuyến nghị chung XX về điều 5 của công ước 170
Khuyến nghị chung XXI về quyền tự quyết 171
4 / 271
Khuyến nghị chung XXII về điều 5 của Công ước về người tỵ nạn và những người bị trục
xuất 172
HRI /GEN/1/Rev.7
Trang 5
NỘI DUNG (tiếp)
Khuyến nghị chung XXIII về các quyền của những người bản xứ 173
Khuyến nghị chung XXIV liên quan đến điều 1 của Công ước 174
Khuyến nghị chung XXV về các khía cạnh liên quan đến giới của sự phân biệt chủng
tộc 174
Khuyến nghị chung XXVI về điều 6 của Công ước 175
Khuyến nghị XXVII về phân biệt đối xử chống lại cộng đồng người La Mã 176
Khuyến nghị chung XXVIII về các hoạt động tiếp tục Hội nghị quốc tế về chủ nghĩa phân
biệt chủng tộc, kì thị chủng tộc, bài ngoại và tính không khoan dung 178
Khuyến nghị chung XXIX về điều 1, khoản 1, của Công ước (Dòng dõi) 181
IV. CÁC KHUYẾN NGHỊ CHUNG ĐƯỢC UỶ BAN XÓA BỎ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ
NỮ THÔNG QUA 185
Khuyến nghị chung Số. 1: Báo cáo của các Quốc gia thành viên 185
Khuyến nghị chung Số. 2: Báo cáo của các Quốc gia thành viên 186

Khuyến nghị chung Số. 3: Chiến dịch giáo dục và thông tin đại chúng 186
Khuyến nghị chung Số. 4: Các bảo lưu 186
Khuyến nghị chung Số. 5: Các biện pháp đặc biệt tạm thời 187
Khuyến nghị chung Số. 6: Tính hiệu quả của bộ máy nhà nước và tính công khai 187
Khuyến nghị chung Số. 7: Nguồn tài nguyên 188
Khuyến nghị chung Số. 8: Thực hiện điều 8 của Công ước 188
Khuyến nghị chung Số. 9: Số liệu thống kê liên quan đến tình trạng phụ nữ . 189
Khuyến nghị chung Số. 10: Kỷ niệm Mười năm thông qua Công ước về Loại bỏ mọi Hình
thức phân biệt đối xử với phụ nữ 189
Khuyến nghị chung Số. 11: Các dịch vụ tư vấn kỹ thuật phục vụ nghĩa vụ báo cáo190
Khuyến nghị chung Số. 12: Bạo hành chống lại phụ nữ 190
Khuyến nghị chung Số. 13: Trả công bình đẳng cho những công việc có giá trị ngang
nhau 191
Khuyến nghị chung Số. 14: Hủ tục cắt bỏ âm đạo phụ nữ 191
Khuyến nghị chung Số. 15: Tránh sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong các chiến lược
quốc gia về ngăn ngừa và kiểm soát hội chứng suy giảm miến dịch (AIDS) 192
Khuyến nghị chung Số. 16: Lao động nữ không được trả công ở các cơ sở sản xuất kinh
doanh hộ gia đinh ở nông thôn và thành thị 193
Khuyến nghị chung số. 17: Xác định số lượng lao động nội trợ không công của phụ nữ và
Vị trí được công nhận của họ trong tổng thu nhập quốc nội 194
Khuyến nghị chung Số. 18: Phụ nữ khuyết tật 195
Khuyến nghị chung Số. 19: Bạo hành với phụ nữ 195
5 / 271
Khuyến nghị chung Số. 20: Những bảo lưu đối với Công ước 200
HRI /GEN/1/Rev.7
Trang 6
Khuyến nghị chung Số. 21: Bình đẳng trong hôn nhân và các quan hệ gia đình 200
Khuyến nghị Số. 22: Sửa đổi điều 20 của Công ước 208
Khuyến nghị chung Số. 23: Đời sống chính trị và xã hội 209
Khuyến nghị chung Số. 24: Điều 12 của Công ước (phụ nữ và sức khoẻ) 218

Khuyến nghị chung Số. 25: Điều 4, khoản 1, của Công ước (các biện pháp đặc biệt tạm
thời) 224
V. NHẬN ĐỊNH CHUNG ĐƯỢC UỶ BAN CHỐNG TRA TẤN THÔNG QUA 231
Nhận định chung Số. 1: Thực hiện điều 3 của Công ước trong bối cảnh điều 22
(Trục xuất người tị nạn và thông tin liên lạc) 232
VI. NHẬN ĐỊNH CHUNG ĐƯỢC UỶ BAN QUYỀN TRẺ EM THÔNG QUA 233
Nhận định chung Số. 1: Mục đích giáo dục 233
Nhận định chung Số. 2: Vai trò của các tổ chức nhân quyền độc lập quốc gia trong cải
thiện, bảo vệ quyền trẻ em 239
Nhận định chung Số. 3: HIV/AIDS và các quyền của trẻ em 245
Nhận định chung Số. 4: Sức khoẻ vị thành niên và sự phát triển trong khuôn khổ Công
ước về quyền trẻ em 255
Nhận định chung Số. 5: Các biện pháp thực hiện Công ước về quyền trẻ em (điều 4,
42 và 44, khoản 6) 265
6 / 271
HRI /GEN/1/Rev.7
Trang 7
I. CC NHN NH CHUNG CA Y BAN CC QUYN V KINH T, VN HểA V X
HễI
Gii thiu: Mc ớch ca cỏc nhn nh chung
1. Tại kỳ họp thứ 2 năm 1998, cùng với lời đề nghị của Hội đồng Kinh tế - Xã hội (theo nghị quyết
1987/5) và sự ủng hộ của Đại hội đồng (theo nghị quyết 42/102), Uỷ ban đã quyết định (theo
E/1988/14, khổ 366 và 367), kể từ kỳ họp thứ 3, sẽ bắt đầu chuẩn bị các nhận định chung dựa trên
các điều khoản và quy định của Công ớc quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội để hỗ trợ
các Quốc gia thành viên thực hiện nghĩa vụ báo cáo của mình.
2. Nhóm công tác phiên họp gồm các chuyên gia của chính phủ, đợc thành lập trớc khi Uỷ ban ra
đời, đã cùng với Uỷ ban xem xét 138 bản báo cáo sơ bộ và 44 bản báo cáo định kỳ thứ 2 liên quan
đến các quyền đề cập ở điều 6 đến 9, 10 đến 12 và 13 đến 15 của Công ớc kể từ khi kỳ họp thứ 3
kết thúc. Đây là kinh nghiêm, tâm huyết từ rất nhiều quốc gia thành viên trong Công ớc - hiện nay
là 92 quốc gia

1
. Chúng đại diện cho tất cả các khu vực trên thế giới với hệ thống kinh tế - văn hóa,
xã hội, chính trị và pháp luật khác nhau. Các báo cáo đệ trình cho thấy nhiều vấn đề có thể nảy
sinh trong quá trình thực hiện Công ớc mặc dù chúng cha đủ để đa ra một bức tranh tổng thể về
tình trạng hởng thụ các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội trên toàn thế giới. Phần giới thiệu của phụ
lục III (các nhận định chung) trong báo cáo của Uỷ ban lên Hội đồng Kinh tế - Xã hội (E/1989/22)
vào năm 1989 đã giải thích rõ mục đích của các nhận định chung:
3." Thông qua các nhận định chung, Uỷ ban nỗ lực phổ biến những kinh nghiệm có đợc từ việc
xem xét các báo cáo đến cho tất cả các Quốc gia thành viên để hỗ trợ và thúc đẩy các quốc gia
này thực hiện tốt hơn Công ớc; Uỷ ban cũng thông qua các bình luận chung để thu hút sự chú ý
của Quốc gia thành viên đối với những thiếu sót trong nhiều báo cáo; để đề nghị cải tiến các thủ
tục báo cáo và khuyến khích các Quốc gia thành viên, các tổ chức quốc tế, và các cơ quan chuyên
môn liên quan, thực hiện dần dần và có hiệu quả các quyền đợc ghi nhận trong công ớc. Khi cần
thiết, dựa trên kinh nghiệm của Quốc gia thành viên và những kết luận đợc rút ra theo đó, Uỷ ban
có thể sửa đổi, cập nhật các nhận định chung.
Kỳ họp thứ 3 (1989)
*
Nhận định chung số 1: Báo cáo của các quốc gia thành viên
1. Nghĩa vụ báo cáo, đợc quy định ở phần IV của Công ớc nhằm mục đích cơ bản là hỗ trợ các
quốc gia thành viên hoàn thành nghĩa vụ của mình theo Công ớc, và còn là cơ sở để Hội đồng
cùng với sự trợ giúp của Uỷ ban có thể thực hiện trách nhiệm giám sát việc tuân thủ nghĩa vụ của
quốc gia thành viên và để thúc đẩy việc hiện thực hoá các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa theo
nh quy định của Công ớc. Uỷ ban cũng lu ý rằng, sẽ là sai lầm nếu các nớc thành viên coi báo cáo
tới một cơ quan giám sát quốc tế nào đó chỉ là vấn đề mang tính thủ tục, xem nghĩa vụ của mình
chỉ mang tính hình thức. Ngc lại, theo nh ngôn ngữ và tinh thần của Công ớc, quá trình chuẩn bị
và đệ trình báo cáo của các nớc thành viên có thể, và thực sự nên phục vụ đợc nhiều mục tiêu
khác nhau.
2. Mục tiêu thứ nhất, có liên quan mật thiết đến báo cáo ban đầu đợc đệ trình trong vòng 2 năm kể
từ khi Công ớc có hiệu lực đối với một quốc gia, là để đảm bảo rằng nớc đó sẽ đa ra đợc đánh giá
toàn diện về khung pháp chế, quy định, thủ tục và biện pháp hành chính với nỗ lực nhằm bảo đảm

tính tuân thủ ở mức đầy đủ nhất có thể với Công ớc. Đánh giá này có thể thực hiện với sự kết hợp
của các bộ liên quan hoặc các nhà hoạch định và thực hiện chính sách ở các lĩnh vực khác nhau
nh đợc quy định trong Công ớc.
1*
Theo t i liệu E 1989,(ND)
7 / 271
3. Mục tiêu thứ hai là đảm bảo rằng Quốc gia thành viên sẽ giám sát đợc một cách đều đặn tình
hình cụ thể liên quan đến việc tôn trọng các quyền và nhờ đó nhận thức đợc mức độ hởng thụ hoặc
không đợc hởng thụ quyền của mọi cá nhân trong phạm vi lãnh thổ hoặc quyền thực thi pháp lý
của quốc gia đó. Theo kinh nghiệm của Uỷ ban, rõ ràng rằng mục tiêu này không thể đạt đợc chỉ
bằng việc chuẩn bị bản thống kê hoặc dự đoán tổng hợp của quốc gia, mà đòi hỏi quốc gia phải
đặc biệt quan tâm tới những vùng hoặc khu vực ít đợc chú trọng và các nhóm hoặc phân nhóm đặc
biệt dễ bị tổn thơng hoặc chịu thiệt thòi. Nh vậy, bớc đầu tiên cần phải làm nhằm thúc đẩy việc hiện
thực hoá các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là có đợc những phán đoán và hiểu biết về tình trạng
hiện hành. Uỷ ban hiểu rõ rằng quá trình quản lý và thu thập thông tin sẽ tốn kém thời gian và tiền
bạc và rằng cần phải có sự hỗ trợ và hợp tác quốc tế, nh quy định trong Điều 2 khoản 1 và điều 22
và 23 của Công ớc, để tạo điều kiện cho quốc gia thành viên thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu
trong trờng hợp, Quốc gia kết luận rằng mình không đủ khả năng giám sát - một phần không thể
tách rời của bất sứ quá trình nào nhằm thúc đẩy những mục tiêu đã đợc thừa nhận của chính sách
công và là quá trình không thể thiếu để thực hiện Công ớc một cách hiệu quả - thì quốc gia có thể
đệ trình thực tế này trong báo cáo của mình gửi lên Uỷ ban và nêu rõ tính chất và mức độ trợ giúp
quốc tế cần thiết cho quốc gia đó.
4. Nu nh quá trình giám sát là để có đợc một cái nhìn tổng quan đầy đủ về hiện trạng thực hiện
Công ớc, thì ý nghĩa cơ bản của tổng quan này là để tạo cơ sở cho việc đề ra chính sách mục tiêu
một cách rõ ràng và cẩn trọng, kể cả việc thiết lập quyền u tiên, phản ánh các điều khoản của
Công ớc. Do vậy, mục tiêu thứ 3 của quá trình báo cáo là giúp Chính phủ thể hiện đợc rằng mình
đã tuân thủ đúng đắn quá trình hoạch định chính sách. Nghĩa vụ này đã đợc Công ớc chỉ rõ trong
Điều 14, trong trờng hợp không thể bảo đảm đợc "giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí" cho tất
cả mọi ngời, cần phải triển khai một nghĩa vụ tơng ứng về "xây dựng và thông qua kế hoạch hành
động chi tiết để thực hiện từng bớc" mọi quyền đề ra trong Công ớc, nghĩa vụ này đợc thể hiện rõ

ràng ở Điều 2 mục 1 " thực hiện các bớc với mọi biện pháp thích hợp ".
5. Mục tiêu thứ 4 của quá trình báo cáo là tạo điều kiện cho ngời dân tham gia vào quá trình giám
sát những sách lợc của chính phủ từ góc nhìn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và khuyến
khích sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, văn hóa, xã hội cùng tham gia hoạch định, thực thi
và đánh giá các chính sách liên quan. Khi xem xét các báo cáo đã đợc đệ trình cho đến nay, Uỷ
ban biểu dơng một số Quốc gia thành viên thuộc các chế độ chính trị, kinh tế khác nhau đã khuyến
khích các nhóm phi chính phủ cùng tham gia soạn thảo báo cáo theo Công ớc. Các quốc gia khác
cũng đã phổ biến rộng rãi báo cáo của mình để nhận đợc những nhận xét phản hồi từ phía đông
đảo công chúng. Bằng những cách đó, việc lập báo cáo và xem xét ở cấp độ quốc gia ít nhất cũng
có giá trị tơng tự nh việc thực hiện đối thoại mang tính xây dựng ở cấp độ quốc tế giữa Uỷ ban và
đại diện quốc gia báo cáo.
6. Mục tiêu thứ 5 là tạo cơ sở để chính Quốc gia thành viên cũng nh Uỷ ban có thể tự đánh giá một
cách hiệu quả tiến độ quá trình thực hiện các nghĩa vụ đề ra trong Công ớc. Mục tiêu này giúp
Quốc gia thành viên xác định những điểm chuẩn hoặc mục tiêu cụ thể nhằm đánh giá việc thực
hiện của quốc gia đó trong một lĩnh vực nhất định. Ví dụ, hầu nh ai cũng sẽ nhất trí về tầm quan
trọng của các mục tiêu cụ thể nh: giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh, phổ biến tiêm vacxin cho trẻ em, lợng
ca -lo hấp thụ của mỗi ngời, hay tỷ lệ số dân trên một đơn vị chăm sóc y tế,v.v Nhiều trong số
những trờng hợp này, tiêu chí đánh giá toàn cầu không hẳn là biện pháp tối u, trong khi đó các tiêu
chí quốc gia hoặc các tiêu chí khác cụ thể hơn có thể cung cấp những chỉ số vô cùng giá trị về sự
tiến bộ của quốc gia đó.
7. ở đây, Uỷ ban muốn lu ý rằng Công ớc luôn nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của khái niệm
"hiện thực hoá từng bớc" các quyền liên quan và vì vậy, Uỷ ban kêu gọi quốc gia thành viên phải đ-
a vào báo cáo định kỳ những thông tin thể hiện quá trình thực hiện từng bớc các quyền liên quan.
Nh vậy, rõ ràng để đánh giá tình hình một cách hợp lí, cần phảI có những số liệu định tính, định l-
ợng.
8. Mục tiêu thứ 6 là tạo điều kiện để Quốc gia thành viên hiểu rõ hơn về những khó khăn và khuyết
điểm trong quá trình hiện thực hóa từng bớc tất cả các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội. Vì vậy,
các nớc thành viên cần báo cáo chi tiết về "các nhân tố và khó khăn" đang cản trở quá trình hiện
thực hóa đó. Quá trình xác định và ghi nhận những khó khăn này sẽ giúp quốc gia xác lập đợc
khung chính sách phù hợp.

8 / 271
9. Mục tiêu thứ 7 là tạo điều kiện cho Uỷ ban cũng nh Quốc gia thành viên dễ dàng trao đổi thông
tin giữa các quốc gia với nhau để tiến tới hiểu biết tốt hơn về những vấn đề chung mà các Quốc gia
đang gặp phải và đánh giá đầy đủ hơn các biện pháp có thể áp dụng nhằm thúc đẩy việc hiện thực
hoá mỗi quyền đợc ghi nhận trong Công ớc. Quá trình trao đổi thông tin này giúp Uỷ ban có thể đa
ra biện pháp phù hợp nhất mà cộng đồng quốc tế có thể trợ giúp cho các quốc gia thành viên phù
hợp với Điều 22 và 23 của Công ớc. Để nhấn mạnh tầm quan trọng của mục tiêu này, Uỷ ban sẽ
thảo luận tại kỳ họp thứ 4 về việc thông qua một nhận định chung giành riêng cho các điều khoản
trên.
Phiên họp thứ 4 (1990)

Nhận định chung số 2: Các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật quốc tế
(Điều 22 của Công ớc)
1. Điều 22 của Công ớc quy định về việc thiết lập một cơ chế để Hội đồng Kinh tế Xã hội có thể lu
ý các cơ quan liên quan của Liên hợp quốc về các vấn đề nêu ra trong báo cáo đệ trình lên theo
Công ớc, nhờ đó có thể hỗ trợ các cơ quan trong phạm vi thẩm quyền của mình ra quyết định có
tính phù hợp với các biện pháp quốc tế nhằm góp phần vào việc thực hiện từng bớc Công ớc một
cách có hiệu quả". Mc dự theo iu 22, trỏch nhim chớnh thuc v Hi ng, tuy nhiờn y ban
cỏc quyn v kinh t, xó hi v nhõn quyn cn phi tớch cc tham gia c vn, h tr Hi ng
thc hin tt nhim v.
2. Nhng khuyn ngh phự hp vi iu 22 cú th ỏp dng vi bất cứ " cơ quan nào của Liên Hợp
Quốc, cơ quan trực thuộc cũng nh cơ quan chuyên môn liên quan tới hỗ trợ kĩ thuật". Uỷ ban cũng
thấy rằng quy định này cần đợc làm rõ để huy động đợc mọi tổ chức và cơ quan của Liên hợp quốc
hiện đang hoạt động trong lĩnh vực hợp tác phát triển quốc tế. Vì vậy bên cạnh những nội dung
chính của hội nghị, có thể đệ trình những khuyến nghị theo điều 22 lên tổng th ký và các cơ quan
trực thuộc Hội đồng nh Uỷ ban nhân quyền, Uỷ ban phát triển xã hội và Uỷ ban về tình trạng phụ
nữ, một số các cơ quan khác nh UNDP,UNICEF, CDP, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới và
bất cứ cơ quan chuyên môn nào chẳng hạn ILO,FAO, UNESCO, WHO.
3. Những khuyến nghị theo Điều 22 có thể mang tính định hớng tổng quát hoặc tập trung chuyên
sâu vào một tình hình cụ thể. Với những khuyến nghị mang tính định hớng tổng quát, nhiệm vụ

chính của Uỷ ban là khuyến khích, biểu dơng những nỗ lực cải thiện các quyền về kinh tế, văn hóa,
xã hội nằm trong khung chơng trình các hoạt động hợp tác phát triển quốc tế đợc thực hiện trực
tiếp hoặc gián tiếp bởi Liên Hợp Quốc và các cơ quan của nó. Do đó, Uỷ ban lu ý rằng Uỷ ban
nhân quyền trong nghị quyết 1989/12 ngày 2 tháng 3 năm 1989 đã đề nghị Uỷ ban "cần xem xét
cách thức mà các cơ quan của Liên hợp quốc đang hoạt động trên lĩnh vực phát triển, làm sao có
thể kết hợp một cách tối đa những biện pháp đã đợc vạch ra, nhằm thúc cải thiện tốt nhất các
quyền về kinh tế - xã hội - văn hoá trong mọi hoạt động của mình.
4. Uỷ ban lu ý một vấn đề xuất hiện trong giai đoạn ban đầu, đó là những nỗ lực của Uỷ ban cần có
sự hỗ trợ và các cơ quan liên quan cần nắm bắt thông tin tốt hơn nếu muốn họ quan tâm sâu hơn
đến công tác của Uỷ ban. Mặc dù vẫn biết mối quan tâm này có thể đợc thể hiện bằng nhiều cách
khác nhau, nhng Uỷ ban nhận thấy số đại biểu các cơ quan của Liên hợp quốc có mặt trong 4 kỳ
họp đầu tiên là hết sức hạn chế, ngoại trừ ILO, UNESCO và WHO. Tơng tự, cũng chỉ có một số ít
cơ quan gửi các văn bản và tài liệu liên quan. Uỷ ban cho rằng cần phải có nhiều hơn nữa các
cuộc đối thoại giữa Uỷ ban và các cơ quan liên quan để nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và tầm
quan trng của các quyền về kinh tế văn hóa xã hội trong bối cảnh hợp tác phát triển quốc tế.
Cuối cùng, vào ngày thảo luận chung về vấn đề một vấn đề cụ thể - đợc diễn ra ở mọi kỳ họp, do
Uỷ ban tổ chức - là môi trờng lý tởng để tiến hành trao đổi quan điểm một cách hiệu quả.
5. Cho đến nay, khi xem xét các nỗ lực cải thiện nhân quyền trong bối cảnh phát triển ở một phạm
vi rộng hơn, Uỷ ban nhận thấy những nỗ lực của các cơ quan Liên hợp quốc tỏ ra khá khiêm tốn.
Tuy nhiên uỷ ban cũng biểu dơng Trung tâm nhân quyền và UNDP đã chủ động gủi văn bản kêu
gọi Đại diện thờng trú của Liên hợp quốc và các nhân viên chuyên môn khác "gợi ý và t vấn, đặc

Theo t i liệu E 1990/23
9 / 271
biệt đối với các hình thức hợp tác trong các dự án đang triển khai có liên quan đến quyền con ngời
hoặc trong dự án mới theo yêu cầu của một chính phủ cụ thể". Uỷ ban cũng đợc biết nói về những
nỗ lực không mệt mỏi của ILO nhằm kết hợp vấn đề nhân quyền và các tiêu chuẩn lao động quốc
tế trong những hoạt động hợp tác kỹ thuật của mình.
6. Với những hoạt động nh vậy, 2 quy tắc chung sau đây đặc biệt quan trọng. Thứ nhất là tính phụ
thuộc và không thể phân chia của hai nhóm quyền. Điều này nghĩa là các nỗ lực thúc đẩy nhóm

quyền này cần phải lu ý đến nhóm quyền kia. Các cơ quan Liên hợp quốc liên quan đến thúc đẩy
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cần cố gắng hết sức để đảm bảo rằng các hoạt động của họ
hoàn toàn phù hợp với việc hởng thụ các quyền dân sự và chính trị. Nói một cách tiêu cực có nghĩa
là các cơ quan quốc tế cần tuyệt đối tránh tham gia vào những dự án nh có liên quan đến sử dụng
lao động cỡng bức đi ngợc với các chuẩn mực quốc tế; hoặc đẩy mạnh, gia tăng phân biệt đối xử
với cá nhân hay nhóm ngời đi ngợc lại các quy định của Công ớc; hoặc liên quan đến tịch thu hay
chiếm đoạt tài sản cá nhân ở quy mô lớn mà không có các điều khoản quy định về bảo vệ hoặc bồi
thờng thích hợp. Theo nghĩa tích cực thì các cơ quan này phải ủng hộ hết sức mình cho những dự
án, giải pháp không những phục vụ cho phát triển kinh tế hay các mục tiêu công khai mà còn nâng
cao sự hởng thụ đầy đủ các quyền con ngời.
7. Quy tắc chung thứ hai là không phải hoạt động hợp tác phát triển nào cũng đóng góp vào việc
thúc đẩy tôn trọng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Nhiều hoạt động thực hiện dới danh nghĩa
"phát triển" sau đó đã bị nhận ra là quan niệm sai hoặc thậm chí phản tác dụng xét theo quan điểm
quyền con ngời. Nhằm giảm thiểu vấn đề này, một loạt các vấn đề nêu ra trong Công ớc cần phải
đợc xem xét cụ thể và kỹ lỡng mỗi khi điều kiện cho phép.
8. Mặc dù mục tiêu kết hợp các vấn đề nhân quyền vào các hoạt động phát triển là rất quan trọng
nhng trên thực tế, những đề xuất kết hợp này thờng lại rất chung chung. Vì vậy, nhằm mục đích
khuyến khích hiện thực hoá nguyên tắc trong điều 22 của Công ớc, Uỷ ban nhấn mạnh chú ý vào
các biện pháp thực tiễn sau đây tơng ứng với nghĩa vụ xem xét của các cơ quan liên quan:
(a) Các tổ chức và cơ quan liên quan của Liên hợp quốc cần xem việc thiết lập mối quan hệ mật
thiết giữa các hoạt động phát triển và các nỗ lực nhằm thúc đẩy quyền con ngời nói chung và
quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa nói riêng nh một quy tắc hoạt động của mình. Về vấn đề này
Uỷ ban nhắc đến sự thất bại của 3 Chiến lợc phát triển thập kỷ của Liên hợp quốc để thấy rõ mối
quan hệ đó và để kêu gọi chiến lựơc thứ t, thông qua năm 1990, cần phải khắc phục thiếu sót này;
(b) Các cơ quan Liên hợp quốc phải xem xét đề xuất của Tổng th ký trong báo cáo năm 1979
1
rằng, bên cạnh các hoạt động hợp tác phát triển chính, phải chuẩn bị một "tuyên bố về tác động
của nhân quyền" ;
(c) Công tác đào tạo hoặc hớng dẫn cho dự án và các nhân viên làm việc cho các cơ quan Liên
hợp quốc cần bao gồm nội dung về các chuẩn mực và nguyên tắc của quyền con ngời;

(d) ở mỗi giai đoạn triển khai dự án, cần phải nỗ lực hết mức để đảm bảo rằng các quyền ghi nhận
trong Công ớc đều đợc xem xét thấu đáo. Điều này có thể áp dụng cho công tác đánh giá ban đầu
về nhu cầu u tiên của một quốc gia nhất định, trong mô tả dự án, thiết kế dự án và khi triển khai
thực hiện dự án cũng nh đánh giá cuối cùng dự án.
9. Một vấn đề mà Uỷ ban đặc biệt quan tâm khi xem xét các báo cáo của Quốc gia thành viên là
tác động bất lợi của gánh nặng nợ nần và của các biện pháp điều chỉnh liên quan đến việc hởng
thụ các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ở nhiều quốc gia. Uỷ ban nhận thức rằng các chơng trình
điều chỉnh là không thể tránh khỏi và rằng điều này sẽ thờng xuyên liên quan đến yếu tố chủ yếu
gây nên sự nghèo khổ. Tuy nhiên chính trong những trờng hợp nh vậy, các nỗ lực để bảo vệ các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cơ bản lại trở nên bức thiết hơn. Các quốc gia thành viên Công ớc
cũng nh cơ quan liên quan của Liên hợp quốc phải nỗ lực đặc biệt để đảm bảo khả năng bảo vệ ở
mức tối đa, đa sự bảo vệ này vào các chơng trình chính sách phục vụ cho các biện pháp điều
chỉnh. Cách tiếp cận mà đôi khi đợc gọi là "điều chỉnh trên phơng diện con ngời" hay là thúc đẩy
"yếu tố con ngời trong phát triển" đòi hỏi mục tiêu bảo vệ các quyền của nhóm ngời nghèo khổ và
dễ bị tổn thơng phải là đối tợng cơ bản trong các điều chỉnh về kinh tế. Tơng tự, các biện pháp
quốc tế đối phó với khủng hoảng nợ nần phải xem xét toàn diện đến nhu cầu bảo về các quyền
10 / 271
kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua hợp tác quốc tế. Trong nhiều trờng hợp, đây chính là động lực
để một số nớc chủ đông giảm nợ.
10. Cuối cùng, Uỷ ban đề nghị quan tâm tới cơ hội quan trọng dành cho các Quốc gia thành viên,
theo điều 22 Công ớc, theo đó các nớc có quyền đệ trình trong bản báo cáo của mình, nhu cầu cần
sự hỗ trợ kỹ thuật và hợp tác phát triển.
Ghi chú
1
"Khía cạnh quốc tế của quyền phát triển nh là một quyền con ngời trong mối quan hệ với các
quyền con ngời khác dựa trên hợp tác phát triển, bao gồm cả quyền đợc sống trong hoà bình với sự
lu ý đến những yêucầu của trật tự kinh tế mới và những nhu cầu thiết yếu của con ng ời
(E/CN.4/1334, khổ 314)
Phiên họp thứ 5 (1990)


Nhận định chung Số 3 của Uỷ ban quyền kinh tế x hội và văn hoáã
Bản chất nghĩa vụ của quốc gia thành viên (Điều 2, khoản 1)
1. Điều 2 có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc hiểu đầy đủ Công ớc và phải đợc nhìn nhận
trong mối quan hệ chức năng với các Điều khoản khác của công ớc. Điều (2) xác định bản chất
các nghĩa vụ pháp lý chung mà các quốc gia thành viên Công ớc phải thực hiện. Những nghĩa
vụ này (theo Uỷ ban Luật Quốc tế) bao gồm cả nghĩa vụ thi hành và nghĩa vụ hoàn thành.
Trong khi, rất nhiều chú ý đổ dồn về sự khác nhau giữa những quy định trong điều khoản này
và một điều 2 khác của công ớc quốc tế về quyền công dân và quyền chính trị, ít ai biết rằng
giữa hai điều khoản này còn có điểm tơng đồng. Cụ thể là, trong khi Công ớc quy định sự thực
hiện từng bớc và thừa nhận những giới hạn do những hạn chế về nguồn lực, công ớc đã áp
dụng nhiều nghĩa vụ khác nhau mang lại hiệu quả tức thời. Trong những nghĩa vụ này có hai
nghĩa vụ đặc biệt quan trọng trong việc nhận thức chính xác bản chất nghĩa vụ của các Quốc
gia thành viên. Một trong hai nghĩa vụ đó (có hẳn cả một nhận định chung riêng biệt cho nghĩa
vụ này) sẽ đợc Uỷ ban xem xét trong phiên họp lần thứ 6, là đảm bảo rằng những quyền phù
hợp sẽ đ ợc thực thi mà không có sự phân biệt
2. Nghĩa vụ thứ hai là nhiệm vụ đợc qui định trong điều Điều 2 (1) tiến hành từng b ớc , điều mà
đối với chính nó không đợc định tính hoặc hạn chế bởi những sự xem xét khác. ý nghĩa đầy đủ của
những từ này có thể đợc xác định bằng việc lu ý đến những văn bản ngôn ngữ khác. Trong bản
tiếng Anh nhiệm vụ đó là tiến hành từng b ớc , trong bản tiếng Pháp là hành động ( s engage à
agir ) và trong bản tiếng Tây Ban Nha là thông qua các biện pháp ( a adoptar medidas ). Do
vậy trong khi việc hiện thực hoá các quyền liên quan có thể tiến hành theo từng bớc thì các bớc h-
ớng tới mục đích này phải đợc tiến hành nhanh chóng sau khi Công ớc có hiệu lực đối với quốc gia
thành viên có liên quan. Những bớc nh vậy cần đợc cân nhắc, cụ thể và có mục đích rõ ràng phục
vụ việc thc hiện nghĩa vụ qui định trong Công ớc.
2. Các biện pháp cần thiết để tiến hành từng bớc nghĩa vụ đợc nêu tại Điều 2 (1) là tất cả những
biện pháp hợp lý, bao gồm cả phê chuẩn các dự luật nếu cần . Uỷ ban thấy rằng trong nhiều
trờng hợp biện pháp lập pháp là rất cần thiết và thậm chí trong một số trờng hợp là không thể
thiếu đợc. Chẳng hạn, việc đấu tranh chống lại phân biệt, kì thị sẽ trở nên khó khăn nếu không
có một nền tảng pháp lí vững chắc để thực hiện các biện pháp cần thiết. Trên các lĩnh vực nh
sức khoẻ, bảo vệ các bà mẹ và trẻ em, giáo dục, cũng nh liên quan đến các vấn đế đợc giải

quyết trong các Điều từ 6 đến 9, biện pháp lập pháp cũng có thể là một yếu tố không thể thiếu
đối với nhiều mục tiêu.

Theo t i liệu E/1991/23
11 / 271
3. Uỷ ban lu ý rằng các Quốc gia thành viên nhìn chung đã rất cẩn thận nêu ra chi tiết một số các
biện pháp lập pháp mà họ đã thực hiện liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên cần phải nhấn
mạnh rằng việc thông qua các biện pháp lập pháp, đặc biệt các biện pháp qui định trong Công
ớc, không đồng nghĩa với việc các quốc gia thành viên đã làm tròn nghĩa vụ của họ. Trong tr-
ờng hợp này đòi hỏi các quốc gia thành viên phảI hiểu sâu sắc, đầy đủ cụm từ bằng tất cả các
biện pháp hợp lí . Trong khi mỗi Quốc gia thành viên phải tự quyết định cho mình những biện
pháp nào là thích hợp nhất phù hợp các tình trạng liên quan đến mỗi một quyền, sự thích hợp
của các biện pháp đợc lựa chọn không phải luôn luôn là hiển nhiên. Do đó, điều đáng mong đợi
là ở chỗ báo cáo của các quốc gia thành viên phải chỉ ra không chỉ các biện pháp đã đợc thực
hiện mà còn là cơ sở theo đó các biện pháp này đợc xem nh là thích hợp nhất phù hợp với
các điều kiện. Tuy nhiên, Uỷ ban sẽ là ngời ra quyết định cuối cùng về việc liệu tất cả các biện
pháp thích hợp có đợc tiến hành hay không.
4. Trong các biện pháp có thể đợc xem là thích hợp, ngoài biện pháp lập pháp, còn phải kể đến
các sửa đổi pháp luật đối với các quyền liên quan, phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật
quốc gia. Uỷ ban lu ý rằng, chẳng hạn nh, việc thúc đẩy sự hởng thụ các quyền đợc thừa nhận,
không có sự phân biệt đối xử, một phần thờng nhờ các biện pháp sửa đổi pháp lý hoăc các biện
pháp sửa đổi hiệu quả khác. Thực ra, những quốc gia thành viên, đồng thời là thành viên trong
Công ớc quyền công dân, chính trị phải có nghĩa vụ (theo quy định của các Điều 2 (khoản 1 và
3), Điều 3 và 26) đảm bảo sẽ tiến hành các biện pháp sửa đổi hiệu quả đối với bất cứ ngời
nào có quyền và tự do (kể cả quyền bình đẳng và không phân biệt) đợc ghi nhận trong Công ớc
quyền dân sự chính trị bị vi phạm (Điều 2 (3) (a)). Ngoài ra, còn có một số các quy định khác
tại Công ớc các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, gồm cả Điều 3, 7(a)(i), 8, 10 (3), 13(2)(a),
(3) và(4) và Điều 15(3) đợc nhìn nhận có khả năng thực hiện ngay lập tức thông qua cơ quan t
pháp hoặc các cơ quan khác của hệ thống pháp luật quốc gia. Bất kỳ sự gợi ý nào rằng những
điều khoản qui định không hề có tính thực thi sẽ khó có thể đứng vững.

5. Khi các chính sách cụ thể trực tiếp phục vụ việc hiện thực hóa các quyền ghi nhận trong Công
ớc đợc thông qua dới dạng luật, Uỷ ban mong muốn đợc thông báo, cha kể những điều khác,
về việc liệu những luật đó có tạo nên bất kỳ quyền hành động nào nhân danh các cá nhân
hoặc các nhóm, những ngời cảm thấy quyền của mình không đợc thực hiện đầy đủ. Trong các
trờng hợp khi sự ghi nhận Hiến định phù hợp với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cụ thể,
hoặc khi các Điều khoản của Công ớc đã đợc chuyển hóa trực tiếp vào pháp luật quốc gia, Uỷ
ban mong muốn nhận đợc thông tin về phạm vi mà những quyền này đợc xem nh là hợp lý/
chấp nhận đợc (cụ thể là có thể đợc viện dẫn trớc các toà án). Uỷ ban cũng mong muốn nhận
đợc các thông tin cụ thể về bất cứ trờng hợp nào mà ở đó các Điều khoản hiến pháp hiện hành
liên quan đến các quyền kinh tê, xã hội và văn hóa đã bị suy yếu hoặc bị thay đổi một cách
đáng kể.
6. Các biện pháp khác có thể đợc xem là thích hợp đối với mục đích của Điều 2 (1) bao gồm các
biện pháp hành chính, tài chính, giáo dục, xã hội, và có thể một số biện pháp khác nữa.
7. Uỷ ban lu ý rằng nghĩa vụ tiến hành từng b ớc bằng tất cả các biện pháp thích hợp đặc biệt
kể cả việc thông qua các biện pháp lập pháp không yêu cầu và cũng không ngăn cấm bất kỳ
hình thức cụ thể nào của chính phủ hoặc hệ thống kinh tế đợc sử dụng nh là phơng tiện cho
các bớc đợc nói đến, chỉ miễn là chúng phải mang tính dân chủ và rằng tất cả các quyền con
ngời đợc tôn trọng. Do vậy, Công ớc mang tính trung lập đối với các hệ thống chính trị và kinh
tế, và các nguyên tắc của Công ớc không thể đợc diễn tả một cách chính xác bởi vì chúng chủ
yếu dựa vào nhu cầu, hoặc mong muốn của hệ thống xã hội chủ nghĩa hoặc hệ thống t bản
chủ nghĩa, hay của một nền kinh tế hỗn hợp hoặc nền kinh tế bao cấp, hoặc một nền kinh tế tự
do, hoặc dựa vào bất kỳ cách tiếp cận cụ thể nào. Về điều này, Uỷ ban khẳng định lại rằng
những quyền đợc ghi nhận trong Công ớc có thể khó đợc thực hiện trong bối cảnh đa dạng các
hệ thống chính trị, kinh tế, vấn đê là làm sao bảo đảm tính phụ thuộc lẫn nhau và tính không
12 / 271
thể chia cắt của hai nhóm nhân quyền, nh đã đợc tái khẳng định trong lời nói đầu của Công ớc,
đợc thừa nhận và phản ánh trong các hệ thống vừa đợc nói đến. Uỷ ban cũng lu ý tính xác
đáng của vấn đề này đối với quyền con ngời và đặc biệt đối với quyền phát triển.
8. Nghĩa vụ hoàn thành cơ bản đợc ghi nhận tại Điều 2(1) là tiến hành trên quan điểm từng b ớc
hiện thức hoá đầy đủ các quyền đợc thừa nhận trong Công ớc. Thuật ngữ hiện thực hoá từng

bớc th ờng đợc dùng để diễn tả mục đích của nghĩa vụ này. Khái niệm hiện thực hoá từng bớc
bao gồm khả năng việc hiên thực hoá các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa sẽ không thể đạt đ-
ợc trong một giai đoạn ngắn. ở đây, nghĩa vụ này có khác đáng kể so với nghĩa vụ đợc quy định
tại Điều 2 Công ớc quyền công dân và chính trị, vốn đòi hỏi một nghĩa vụ tức thì trong việc tôn
trọng và đảm bảo các quyền có liên quan. Tuy nhiên, thực tế rằng việc thực hiện trong một thời
gian, hoặc nói cách khác là từng bớc, đợc định hớng trong Công ớc không nên hiểu sai tránh
làm mất nội dung đầy ý nghĩa của nghĩa vụ. Một mặt nó là phơng cách mềm dẻo cần thiết,
phản ánh thực tế của thế giới hiện tại và những khó khăn mà bất kỳ quốc gia nào đều gặp phải
trong việc đảm bảo hiện thực hoá đầy đủ các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội. Mặt khác, thuật
ngữ trên cần đợc hiểu theo mục đích tổng quát, lí do tồn tại của Công ớc, những tiêu chuẩn xác
định nghĩa vụ của các Quốc gia thành viên đối với việc thực hiện đầy đủ các quyền đợc đề cập.
Do đó bắt buộc phải hớng tới mục đích này thật nhanh, thật hiệu quả. Ngoài ra, bất kỳ một biện
pháp có chủ ý đi ngợc lại với mục đích nói trên cần phải đợc xem xét một cách cẩn thận nhất
và cần đợc giải trình đầy đủ sau khi đã kiểm tra tổng thể các quyền đợc quy định trong Công ớc
và trong điều kiện của sự sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có.
9. Trên cở sở những kinh nghiệm phong phú của Uỷ ban cũng nh những kinh nghiệm của cơ
quan tiền thân của mình trong hơn một thập kỷ xem xét báo cáo của các quốc gia thành viên,
Uỷ ban cho rằng nghĩa vụ cơ bản tối thiểu đảm bảo sự thỏa mãn tối thiểu các quyền là bổn
phận của các Quốc gia thành viên. Do vậy, chẳng hạn một quốc gia thành viên với một số lợng
đáng kể các cá nhân không có đợc lơng thực thiết yếu, hoặc sự chăm sóc y tế ban đầu, nhà ở
hay nơi c ngụ cơ bản, hoặc những hình thức giáo dục cơ bản thì chỉ cần thoạt nhìn đã biết
không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ớc. Nếu Công ớc đợc hiểu
theo cách nh vậy, là không xác định đợc một nghĩa vụ cơ bản tối thiểu thì điều này đã hoàn
toàn tớc bỏ lý do tồn tại của Công ớc. Vì thế cho nên cần phải lu ý rằng bất kỳ sự đánh giá nào
về việc liệu một Quốc gia đã thực hiện nghĩa vụ cơ bản tối thiểu của nó hay cha đều phải xem
xét sự hạn chế về nguồn lực đang đợc sử dụng ở nớc đó. Điều 2(1) buộc các quốc gia thành
viên tiến hành các bớc ở mức độ tối đa các nguồn lực sẵn có . Để một Quốc gia thành viên có
thể biện minh cho việc không thực hiện đợc ít nhất là nghĩa vụ cơ bản tối thiểu vì thiếu những
nguồn lực sẵn có, Quốc gia đó phải chứng minh rằng tất cả các nỗ lực đã đợc thực hiện để sử
dụng tất cả các nguồn lực nằm trong phạm vi quyết định của nó với một nỗ lực nhằm đáp ứng,

nh là sự u tiên, các nghĩa vụ tối thiểu đó.
10. Tuy nhiên, Uỷ ban đã nhấn mạnh rằng thậm chí khi các nguồn lực sẵn có rõ rằng là không đủ,
thì nghĩa vụ vẫn đòi hỏi Quốc gia thành viên đó phấn đấu để đảm bảo sự hởng thụ rộng rãi
nhất nh có thể đối với những quyền có liên quan trong chính hoàn cảnh đó. Hơn nữa, nghĩa vụ
giám sát mức độ hiện thực hóa, hoặc cụ thể hơn là mức độ không hiện thực hóa các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa và nghĩa vụ xây dựng các chiến lợc và chơng trình để thúc đẩy các quyền
này, không thể bị loại bỏ dới bất cứ hình thức nào với lý do hạn chế về các nguồn lực. Uỷ ban
đã giải quyết những vấn đề này tại Nhận định chung số 1 (1989)
11. Tơng tự nh vậy, Uỷ ban đã nhấn mạnh thực tế rằng thậm chí trong các thời điểm sự hạn chế
nghiêm trọng về nguồn lực cho dù gây bởi một qúa trình chuyển đổi, bởi sự suy thoái kinh tế
hoặc bởi những nhân tố khác thì các thành viên thiệt thòi trong xã hội có thể và thực sự phải đ-
ợc bảo vệ bằng việc thông qua các chơng trình đợc định hớng với chi phí tơng đối thấp. Để hỗ
trợ cách tiếp cận này, Uỷ ban đã đã chú ý đến những phân tích đợc UNICEF chuẩn bị với tiêu
đề Điều chỉnh với một diện mạo con ng ời: Bảo vệ những ngời dễ bị tổn thơng và thúc đẩy tăng
13 / 271
trởng
1
, những phân tích của UNDP trong Báo cáo Phát triển con ngời 1990
2
và những phân
tích của Ngân hàng thế giới trong Báo cáo phát triển thế giới 1990
3
.
12. Một nhân tố cuối cùng trong Điều 2(1) cần phải chú ý, đó là sự thực hiện của các Quốc gia
thành viên bằng việc tiến hành các b ớc, một mình và thông qua sự giúp đỡ và hợp tác quốc tế,
đặc biệt là kinh tế và kỹ thuật . Uỷ ban l u ý rằng cụm từ mức tối đa các nguồn lực sẵn có
đợc những ngời soạn thảo Công ớc chủ định đề cập đến cả nguồn lực sẵn có ở tại mỗi Quốc
gia và thông qua hợp tác và giúp đỡ quốc tế. Hơn nữa, vai trò cơ bản của sự hợp tác nh vậy
trong việc tạo điều kiện cho sự hiện thực hóa đầy đủ các quyền liên quan đợc nhấn mạnh hơn
bởi các Điều khoản cụ thể tại Điều 11, 15, 22 và 23. Đối với Điều 22 Uỷ ban đã lu ý đến, tại

Nhận định chung số 2 (1990), một số cơ hội và trách nhiệm tồn tại liên quan đến hợp tác
quốc tế. Điều 23 cũng xác định một cách cụ thể việc cung cấp sự trợ giúp kỹ thuật cũng nh
các hoạt động khác, nh là trong số các biện pháp của hành động quốc tế nhằm thực hiện các
quyền đợc thừa nhận
13. Uỷ ban muốn nhấn mạnh rằng, theo quy định của Điều 55 và 56 của Hiến chơng Liên hợp
quốc, với các nguyên tắc đã đợc qui định rõ ràng của luật pháp quốc tế, và các Điều khoản của
Công ớc, hợp tác quốc tế vì phát triển và vì hiện thực hoá các quyền kinh tế- văn hoá- xã hội là
một nghĩa vụ của các Quốc gia thành viên. Đặc biệt là bổn phận của các quốc gia đợc yêu cầu
giúp đỡ các quốc gia khác trong vấn đề này. Uỷ ban lu ý cụ thể tầm quan trọng của Tuyên bố
về quyền phát triển đợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bởi Nghị quyết số 41/128 ngày
4/12/1986 và Quốc gia thành viên cần quan tâm đầy đủ đến tất cả các nguyên tắc đợc nêu
trong Tuyên bố. Tuyên bố nhấn mạnh rằng, nếu không có một chơng trình tích cực hỗ trợ đợc
thực hiện bởi các Quốc gia ở vị trí đảm nhiệm sự giúp đỡ hoặc hợp tác đó, thì sự hiện thực hóa
đầy đủ các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa vẫn chỉ là một khát vọng không đợc thực hiện ở
nhiều nớc. Đối với vấn đề này, Uỷ ban đồng thời nhắc lại các nội dung của Nhận định chung số
2 (1990).
Ghi Chú
1
Đại Hội đồng, R.Jolly và F. Stewart, chủ biên, Nxb Clarendon, Oxford 1987.
2
Oxford, Nxb Oxford 1990
3
Oxford, Nxb Oxford 1990
Phiên họp thứ 6 (1991)
*
Nhận định chung số 4: Quyền có nhà ở tối thiểu
(Điều 11(1) của Công ớc)
1. Theo điều 11 (1) của Công ớc, các Quốc gia thành viên của công ớc "ghi nhận mọi ngời đều có
quyền đợc có mức sống tối thiểu cho bản thân và gia đình, bao gồm cả quyền có đủ lơng thực,
quần áo và nhà cửa tối thiểu và quyền không ngừng cải thiện điều kiện sống". Quyền con ngời đợc

có nhà ở tối thiểu, vốn bắt nguồn từ quyền có mức sống tối thiểu - một quyền đợc coi là có vị trí
quan trọng đặc biệt đối với việc hởng thủ tất cả các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá.
2. Uỷ ban đã tập hợp một khối lợng lớn thông tin về quyền này. Kể từ năm 1979, Uỷ ban và các cơ
quan tiền nhiệm đã xem xét 75 báo cáo về quyền có nhà ở tối thiểu. Uỷ ban cũng đã giành một
ngày thảo luận chung về chủ đề này tại các phiên họp lần ba (xem E/1989/22, khổ. 312) và lần
bốn (xem E/1990/23, khổ 281-285). Hơn nữa, Uỷ ban cũng đã xem xét cẩn then thông tin thu thập
*
Có trong tài liệu E/1992/23.
14 / 271
đợc từ Năm quốc tế về nhà ở cho ngời vô gia c (1987) bao gồm cả Chiến lợc toàn cầu về nhà ở
đến năm 2000 do Đại hội đồng thông qua theo nghị quyết 42/191 ngày 11/12/1978
1
. Uỷ ban cũng
đã xem xét các báo cáo và tài liệu liên quan của Uỷ ban nhân quyền và Tiểu ban về phòng chống
phân biệt đối xử và bảo vệ ngời thiểu số
2
.
3. Mặc dù đã có nhiều văn kiện quốc tế nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của quyền đợc
có nhà ở
3
, điều 11 (1) của Công ớc là điều khoản toàn diện và có thể là quan trọng nhất về quyền
này.
4. Mặc dù cộng đồng quốc tế thờng xuyên khẳng định tầm quan trọng của việc tôn trọng đầy đủ
quyền đợc có nhà ở tối thiểu, nhng khoảng cách giữa các tiêu chuẩn qui định tại điều 11 (1) của
Công ớc và tình hình thực tế ở nhiều nơi trên thế giới vẫn còn rất lớn. Mặc dù vấn đề này thờng đặc
biệt nghiêm trọng ở các nớc đang phát triển, là nơi phải đối đầu với những khó khăn về nguồn lực
và một số thử thách khác, Uỷ ban nhận thấy rằng tình trạng vô gia c và thiếu nhà ở vẫn tồn tại ở cả
những xã hội phát triển về kinh tế. Liên hợp quốc ớc tính rằng trên thế giới có hơn 100 triệu ngời vô
gia c và hơn một tỷ ngời không có nơi ở tối thiểu
4

. Con số này hiện vẫn cha có biểu hiện giảm
xuống. Dờng nh không có Quốc gia thành viên nào lại không có những vấn đề nghiêm trọng liên
quan đến quyền có nhà ở.
5. Trong một số trờng hợp, các nớc thành viên đã gửi bản báo cáo lên Uỷ ban trong đó ghi nhận và
nêu ra khó khăn trong việc đảm bảo quyền đợc có nhà tối thiểu. Tuy nhiên, thông tin đa ra là cha
đủ để Uỷ ban có thể hình dung đầy đủ về thực trạng nhà ở của quốc gia đó. Chính vì vậy, Nhận
định chung này nhằm mục đích xác định những vấn đề cơ bản mà Uỷ ban coi là quan trọng đối với
quyền này.
6. Quyền có nhà ở thoả đáng áp dụng cho tất cả mọi ngời. Việc áp dụng cho "bản thân anh ta và
gia đình của anh" cho thấy quan niệm về vai trò giới và khuôn mẫu về hoạt động kinh tế theo nhận
thức chung đợc thừa nhận vào thời điểm Công ớc đợc thông qua vào năm 1966. Cụm từ này ngày
nay không còn đợc hiểu nh là sự hạn chế áp dụng quyền với các cá nhân hay những hộ gia đình có
phụ nữ là chủ hộ. Vì vậy, khái niệm "gia đình" cung cần đợc hiểu theo nghĩa rộng hơn. Hơn thế
nữa, các cá nhân cũng nh gia đình không phân biệt tuổi tác, tình trạng kinh tế, nhóm hoặc đại diện
hay tình trạng và nhân tố khác đều có quyền về nhà ở. Đặc biệt, việc hởng thụ quyền này theo điều
2 (2) không đợc đặt dới bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào.
7. Theo quan điểm của Uỷ ban, không nên hiểu quyền có nhà ở theo nghĩa hẹp hoặc đánh đồng
nhà với một nơi trú ngự chỉ có duy nhất một mái che trên đầu hoặc công khai coi nơI trú ngự nh một
thứ hàng hoá. Thay vào đó, chúng ta cần phải hiểu đó là quyền đợc sống ở nơi có an toàn, hoà
bình và đợc tôn trọng về phẩm giá. Điều này là phù hợp ít nhất vì hai lý do. Thứ nhất, quyền có
nhà ở có quan hệ mật thiết với các quyền con ngời khác và với những nguyên tắc cơ bản mà Công
ớc đa ra. Xuất phát từ "nhân phẩm vốn có của con ngời" đợc đa ra trong các quyền của Công ớc
để giải thích thuật ngữ "nhà ở", nhờ đó có thể xem xét nhiều khía cạnh khác nhau. Quan trọng nhất
là quyền về nhà ở cần đợc đảm bảo cho tất cả mọi ngời bất kể mức độ thu nhập hay khả năng tiếp
cận nguồn lực kinh tế. Thứ hai, sự chỉ dẫn ở điều 11(1) cần đợc hiểu không chỉ đề cập đến nhà ở
mà còn là nhà ở tối thiểu. Vì cả Uỷ ban về định c con ngời và` Chiến lợc toàn cầu về nhà ở đến
năm 2000 đều giải thích rằng: "nhà ở tối thiểu tức là đ ợc đảm bảo thoả đáng về tính riêng t,
khoảng không, an ninh, ánh sáng và thông thoáng, kết cấu hạ tầng và địa điểm phù hợp với công
việc và các cơ sở vật chất- tất cả đều với chi phí hợp lý.
8. Vì vậy, khái niệm tối thiểu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quyền về nhà ở bởi nó giúp cân

nhắc hàng loạt các yếu tố cần phải tính đến khi quyết định liệu một hình thức c ngụ bất kì có phảI
là "nhà ở tối thiểu nh qui định trong Công ớc. Mặc dù các yếu tố xã hội, kinh tế, văn hoá, khí hậu,
sinh thái và các yếu tố khác quyết định một phần tính tối thiểu, nhng Uỷ ban tin rằng, có thể có một
số khía cạnh nhất định của quyền cần đợc xem trong bất cứ bối cảnh cụ thể. Các khía cạnh này
bao gồm:
(a) An ninh pháp lý về sở hữu tài sản. Sở hữu này có thể dới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm
cả thuê nhà (công và t), nhà ở hợp tác, cho thuê, tự làm chủ, nhà ở khẩn cấp và định c không chính
thức, bao gồm cả sở hữu về đất đai và tài sản. Liên quan đến các hình thức sở hữu thì tất cả mọi
15 / 271
ngời đều đợc quyền sở hữu ở mức độ an ninh về tài sản nhất định để có thể có sự bảo hộ pháp lý
đối với mọi tớc đoạt, quấy rối, hay các đe doạ khác. Theo đó, Quốc gia thành viên cần có biện
pháp khẩn cấp nhằm mục đích đảm bảo an ninh pháp lý về tài sản cho các cá nhân và hộ gia đình
hiện đang thiếu sự bảo vệ này, thông qua việc tham vấn với các cá nhân và cộng đồng bị ảnh h-
ởng.
(b) Tính sẵn sàng của dịch vụ, nguyên liệu, cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng. Một nơi ở thoả đáng
cần đảm bảo đủ những điều kiện vật chất cơ bản về y tế, an ninh, tiện nghi và dinh d ỡng. Lợi ích
của quyền có nhà ở thoả đáng là đợc tiếp cận một cách bền vững với các nguồn lực chung và
nguồn lực tự nhiên, với các điều kiện nớc sách, chất đốt, ánh sáng, sởi ấm, vệ sinh, giặt giũ, phơng
tiện về bảo quản thực phẩm, rác thải, các dịch vụ chống hạn hán và dịch vụ khẩn cấp.
(c) Tính vừa phải. Chi phí tài chính mà cá nhân hay hộ gia đình phai chi trả nhà ở cần phải ở mức
hợp lí, không đe doạ hay ảnh hởng đến việc hởng thụ các nhu cầu thiết yếu. Quốc gia thành viên
cần có biện pháp để đảm bảo tỷ lệ chi phí liên quan đến nhà ở nói chung phù hợp với mức độ thu
nhập. Quốc gia thành viên cũng cần xây dựng chế độ trợ cấp về nhà ở cho những ngời không có
khả năng tự chi trả, cũng nh các hình thức và mức độ hỗ trợ tài chính về nhà ở để giúp cho việc đáp
ứng nhu cầu về nhà ở một cách thoả đáng. Để phù hợp với nguyên tắc về đảm bảo khả năng chi
trả, tài sản sở hữu phải đợc bảo vệ bằng những biện pháp thích hợp nhằm tránh đặt ra giá thuê nhà
không hợp lí hoặc tăng giá cho thuê. ở những nớc mà vật liệu tự nhiên là nguồn cơ bản trong xây
dựng nhà ở thì quốc gia cũng cần phải có biện pháp để đảm bảo tính sẵn sàng của các vật liệu
này.
(d) có thể định c đợc. Nhà ở thoả đáng phải đảm bảo có thể định c đợc cả về không gian và có sự

bảo vệ để tránh bị lạnh, ẩm ớt, nóng ma, gió và các mối đe doạ khác gây ảnh hởng đến sức khoẻ,
nguy hại về mặt cấu trúc và gây lây nhiễm bệnh tật. Sự an toàn về thể chất của c dân cũng cần
phải đợc đảm bảo. Uỷ ban khuyến khích quốc gia thành viên áp dụng Các nguyên tắc y tế về nhà

5
do Tổ chức y tế thế giới đa ra theo quan điểm coi nhà ơ nh là một yếu tố về môi trờng có liên
quan đến điều kiện về bệnh tật trong các phân tích dịch tễ học; đó là, nhà ở và điều kiện sống
không đảm bảo sẽ làm gia tăng tỷ lệ tử vong và tình trạng bệnh tật.
(e) Tính có thể tiếp cận đợc. Nhà ở thoả đáng cần phải đảm bảo tính có thể tiếp cận đợc của ngời
sử dụng. Các nhóm dễ bị tổn thơng cần đợc hỗ trợ tiếp cận đầy đủ và bền vững các nguồn lực liên
quan đến nhà ở. Vì vậy, các nhóm dễ bị tổn thơng nh ngời cao tuổi, trẻ em, ngời tàn tật về thể chất,
ngời bị bệnh tật hiểm nghèo, ngời có HIV, ngời cần hỗ trợ về y tế thờng xuyên, ngời bị tâm thần,
nạn nhân của thảm hoạ thiên tai, ngời phải sống trong khu vực thờng bị thảm hoạ và các nhóm
khác cần đợc có những u tiên nhất định khi xem xét nhà ở. Cả chính sách và pháp luật về nhà ở
cần lu ý một cách đầy đủ đến những nhu cầu đặc biệt về nhà ở cho các nhóm đối tợng này. ở
nhiều Quốc gia thành viên, việc gia tăng tiếp cận về đất đai cho ngời không có đất đai và hay đất
đai bị bạc màu đợc coi là mục tiêu chính sách trọng tâm. Những nghĩa vụ có thể nhận thấy của
chính phủ cần đợc xây dựng nằm mục đích minh chứng cho quyền đợc sống an toàn ở một nơi có
hoà bình và nhân phẩm, bao gồm cả quyền đợc tiếp cận đất đai.
(f) Địa điểm. Nhà ở thoả đáng cần phải đợc xây dựng ở nơi cho phép tiếp cận với các lựa chọn về
việc làm, dịch vụ chăm sóc y tế, trờng học, nhà trẻ và các sơ sở dịch vụ xã hội khác. Điều này
đúng cả với thành phố lớn và khu vực nông thôn là nơi mà chi phí thời gian và tiền bạc dành cho
việc đến công sở và đi về vợt quá mức so với ngân sách của hộ gia đình nghèo. Tơng tự nh vậy,
nhà ở không nên xây ở khu vực bị ô nhiễm hay ngay gần với các nguồn ô nhiễm đe doạ đến quyền
về sức khoẻ của c dân.
(g) Thoả đáng về văn hoá. Cách thức xây dựng nhà cửa, vật liệu sử dụng và chính sách hỗ trợ phải
phù hợp với bản sắc văn hoá và tính đa dạng về nhà ở. Các hoạt động hớng tới phát triển hay hiện
đại hoá lĩnh vực nhà ở cần đảm bảo rằng khía cạnh văn hoá của nhà ở sẽ không bị loại trừ và rằng
ngoài các yếu tố khác thì cũng cần đảm bảo các điều kiện phù hợp về công nghệ hiện đại.
9. Nh đã đề cập ở trên, quyền có nhà ở thoả đáng không đợc nhìn nhận một cách cô lập với các

quyền con ngời khác trong hai Công ớc quốc tế và các văn kiện quốc tế khác. Có thể thấy rõ điều
này thông qua khái niệm nhân phẩm và nguyên tắc không phân biệt đối xử. Thêm vào đó, sự hởng
thụ đầy đủ các quyền khác, chẳng hạn nh quyền tự do biểu đạt, quyền tự do hội họp ( ví dụ giành
cho ngời thuê nhà, các nhóm dựa trên cộng đồng), quyền tự do c trú và quyền đợc tham gia vào
16 / 271
quá trình da ra quyết định công là không thể thiếu đợc nếu muốn thực hiện và duy trì quyền có nhà
ở thoả đáng cho tất cả các nhóm trong xã hội. Tơng tự, quyền không bị can thiệp vô cớ và bất hợp
pháp vào sự riêng t của mỗi ngời, vào gia đình, nhà cửa hay tơng tự góp phần hình thành nên yếu
tố hết sức quan trọng của nội dung quyền có nhà ở thoả đáng.
10.Bất kể tình trạng phát triển nh thế nào, quốc gia cần thực hiện ngay lập tức một số bớc nhất
định. Nh đợc ghi nhận trong Chiến lợc quốc gia về nhà ở và trong các phân tích quốc tế khác,
nhiều biện pháp đòi hỏi thúc đẩy quyền có nhà ở chỉ có thể yêu cầu sự điều tiết của chính phủ đối
với một số thực tiễn nhất định và cam kết thúc đẩy s "tự trợ giúp" của các nhóm bị ảnh hởng.
Trong chừng mực mà các bớc này đơc coi là nằm ngoài nguồn lực tối thiểu sẵn có của quốc gia
thành viên thì cần đề nghị hợp tác quốc tế càng sớm càng tốt nh quy định tại điều 11 (1), 22 và 23
của Công ớc và từ đó Uỷ ban sẽ đựoc thông báo.
11. Các Quốc gia thành viên cần có u tiên với các nhóm xã hội sống ở những nơi điều kiện không
thuận lợi bằng cách quan tâm đặc biệt đến họ. Chính sách và pháp luật theo đó không đợc xây
dựng theo hớng mang lại lợi ích cho những nhóm xã hội có điều kiện hơn và gây bất lợi cho các
nhóm khác. Uỷ ban nhận thấy rằng các nhân tố bên ngoài có thể ảnh hởng đến quyền đợc không
ngừng cải thiện điều kiện sống và rằng ở nhiều Quốc gia thành viên điều kiện sống nói chung bị
giảm xuống trong những năm 1980. Tuy nhiên, nh đã đợc ghi nhận trong nhận định chung số 2
(1990) (E/1990/23, phụ lục III), kể cả những vấn đề xuất hiện là do nguyên nhân bên ngoài thì
quốc gia là phải tiếp tục áp dụng và thậm chí là áp dụng triệt để hơn trong thời kỳ chuyển đổi về
kinh tế các nghĩa vụ theo Công ớc. Vì vậy, Uỷ ban dờng nh nhận thấy rằng sự suy giảm nói chung
về điều kiện sinh hoạt và nhà ở trực tiếp do các quyết định về chính sách phát luật của Quốc gia
thành viên và do không có biện pháp đền bù phù hợp là đi ngợc với nghĩa vụ đợc quy định trong
Công ớc.
12. Mặc dù biện pháp thích hợp nhất để đạt tới sự hiện thực hoá đầy đủ quyền có nhà ở thoả đáng
chắc chắn là khác nhau đáng kể giữa quốc gia thành viên này với quốc gia khác, nhng Công ớc

yêu cầu rõ ràng rằng mỗi Quốc gia thành viên cần thực hiện mọi biện pháp cần thiết vì mục đích
này. Điều này dẫn đến yêu cầu khác nhau trong việc thông qua chiến lợc quốc gia về nhà ở nh đợc
quy định tại khổ 32 của Chiến lợc toàn cầu về nhà ở, "xác định mục tiêu về phát triển điều kiện
sinh sống, xác định các nguồn lực phù hợp để đáp ứng những mục tiêu này và cách thức hiệu quả
nhất về chí phí để thực hiện chúng, đa ra trách nhiệm và khung thời gian để thực hiện các biện
pháp cần thiết". Vì cả hai lý do về tính thích hợp và hiệu quả cũng nh để đảm bảo việc tôn trọng
các quyền con ngời khác thì một chiến lợc nh vậy cần có sự t vấn sâu rộng và tham gia của những
ngời bị ảnh hởng, kể cả ngời vô gia c, ngời cha có nhà ở thoả đáng và đại diện của họ. Hơn thế
nữa, cần tiến hành các biện pháp để đảm bảo có sự điều phối giữa các bộ, các cơ quan chức trách
ở khu vực và địa phơng nhằm giải quyết những vấn đề chính sách liên quan (kinh tế, nông nghiệp,
môi trờng, năng lợng,. v.v ) theo nghĩa vụ quy định tại điều 11 của Công ớc.
13. Việc giám sát hiệu quả tình hình liên quan đến nhà ở là một nghĩa vụ khác cần thực hiện ngay
lập tức. Để một quốc gia thành viên có thể thực hiện nghĩa vụ của minh theo quy định tại điều
11(1), quốc gia đó phải chứng tỏ đợc, ngoài các biện pháp khác, những biện pháp cần thiết đã đ-
ợc thực hiện trên cơ sở tự mình hay thông qua hợp tác quốc tế để đánh giá toàn diện tình trạng vô
gia c và nhà ở không thoả đánh trong thẩm quyền tài phán của mình. Liên quan đến vấn đề này,
Uỷ ban đã thông qua hớng dẫn chung sửa đổi về hình thức và nội dung báo cáo (E/C.12/1991/1),
nhấn mạnh đến sự cần thiết phải "cung cấp thông tin chi tiết về các nhóm trong xã hội đễ tổn th -
ơng và khó khăn về nhà ở". Đặc biệt, những thông tin này phải đề cập đến các cá nhân và gia đình
vô gia c, những ngời cha có nhà ở thoả đáng và không đợc tiếp cận với các tiện nghi cơ bản, những
ngời đang sinh sống ở nơi định c "bất hợp pháp", ngời bị tịch thu đất đai và ngời có thu nhập thấp.
14. Các biện pháp vạch ra để thực hiện nghĩa vụ của một Quốc gia thành viên về quyền có nhà ở
tối thiểu cần phản ánh đợc sự kết hợp giữa các biện pháp của khối nhà nớc và khối t nhân một
cách thích hợp. Mặc dù về mặt lí thuyết số tài chính công về nhà ở có thể đuợc sử dụng hữu ích
nhất trong xây dựng trực tiếp nhà ở mới, nhng trong nhiều trờng hợp, kinh nghiệm cho thấy sự bất
lực của chính phủ trong việc giải quyết những thiếu hụt về nhà ở bằng số nhà công đợc xây. Vì
vậy, cần khuyến khích việc thúc đẩy "chiến lợc cho phép" của Quốc gia thành viên, phối hợp với
cam kết đầy đủ về nghĩa vụ đối với quyền có nhà ở. Thực chất, nghĩa vụ là để thể hiện rằng toàn
17 / 271
bộ các biện pháp thực hiện đủ để hiện thực hoá quyền cho mọi cá nhân trong thời gian ngắn nhất

nh có thể, phù hợp một cách tối đa với nguồn lực sẵn có.
15. Nhìn chung, nhiều biện pháp đợc yêu cầu sẽ có liên quan ít nhiều đến phân bổ nguồn lực và
các động thái chính sách. Tuy nhiên, trong bối cảnh này, không nên đánh giá thấp vai trò chính
thức của các biện pháp lập pháp, hành pháp. Chiến lợc toàn cầu về nhà ở (khổ 6-67) lu ý đến
những loại biện pháp cần thực hiện trên lĩnh vực này, tơng xứng với tầm quan trọng của chúng
16.ở một số Quốc gia, quyền có nhà ở tối thiểu không ngừng đợc củng cố về mặt hiến pháp. Trong
những trờng hợp nh vậy, Uỷ ban đặc biệt quan tâm đến vai trò thực tiễn và pháp lý của cách tiếp
cận đó. Vì vậy cần cung cấp chi tiết về những trờng hợp nh thế và và các trờng hợp mà trong đó đã
những sự củng cố về mặt pháp lí tỏ ra hữu ích đối với quyền có nhà ở tối thiểu.
17. Uỷ ban cho rằng các yếu tố cấu thành của quyền có nhà ở tối thiểu ít nhất cần phù hợp với các
nghị định sữa đổi pháp lý trong nớc. Tuỳ thuộc vào hệ thống pháp lý mà những lĩnh vực này có thể
bao gồm, nhng không hạn chế: (a) các kháng cáo pháp lý nhằm ngăn ngừa sự thu hồi hay phá
huỷ đất đai theo kế hoạch thông qua bảo đảm bằng lệnh của toà án; (b) thủ tục pháp lý về bồi th-
ờng do bị thu hồi đất đai bất hợp pháp; (c) những lời phàn nàn về các hoạt động bất hợp pháp thực
hiện hoặc tiếp tay bởi chủ hộ cho thuê (dù là nhà nớc hay t nhân), chẳng hạn nh tăng giá nhà
không đúng pháp luật, duy trì sửa chữa nơi ở và phân biệt chủng tộc hay các hình thức phân biệt
đối xử khác; (d) Những lời cáo buộc về bất cứ hình thức phân biệt đối xử nào trong phân bố nhà ở;
và khiếu nại đối với các chủ nhà cho thuê/chủ đất đai về điều kiện nhà ở tồi tàn hay có hại cho sức
khoẻ. ở một số hệ thống pháp lý thì có thể cần tìm nhng gii pháp liên quan sự gia tăng đáng kể
số ngời vô gia c.
18. Về vấn đề này, Uỷ ban cân nhắc rằng những trờng hợp bị thu hồi đất đai/nhà ở bắt buộc thoạt
nhìn đã biết không phù hợp với yêu cầu của công ớc và chỉ có thể biện hộ nh là những ngoại lệ đặc
biệt và việc biên hộ này cũng phải phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế.
19. Cuối cùng, điều 11 (1) kết luận rằng nghĩa vụ của Quốc gia thành viên là ghi nhận "tầm quan
trọng cốt yếu của hợp tác quốc tế dựa trên sự đồng thuận tự do". Theo truyền thống, có dới 5%
tổng số hỗ trợ quốc tế đợc trực tiếp giành cho nhà ở và định c của con ngời và thông thờng trờng
hợp đợc nhận những hỗ trợ này không lu ý nhiều đến nhu cầu về nhà ở của các nhóm gặp khó
khăn. Các quốc gia thành viên, bao gồm cả quốc gia cho và nhận hỗ trợ cần đảm bảo rằng một
phần tài chính đáng kể phải đợc giành cho việc tạo điều kiện để ngày càng có nhiều ngời hơn đợc
hởng nhà ở thoả đáng. Các thể chế tài chính quốc tế về thúc đẩy các biện pháp điều chỉnh cơ cấu

cần đảm bảo rằng những biện pháp đó không làm phơng hại đến sự hởng thụ quyền có nhà ở. Các
quốc gia thành viên khi dự định có hợp tác quốc tế về tài chính cần chỉ ra những lĩnh vực liên quan
đến quyền có nhà ở mà nguồn tài chính bên ngoài có thể mang lại hiệu quả lớn nhất. Những đề
nghị này cần xem xét một cách đầy đủ nhu cầu và quan điểm của các nhóm bị ảnh hởng.
Chú thích
1
Báo cáo chính thức của Đại hội đồng tại kỳ họp thứ 34, Bổ sung số 8, phụ lục (A/43/8/Add.1).
2
Nghị quyết của Uỷ ban về nhân quyến số 1986/36 và 1987/22; báo cáo của ông Mr. Danilo Tỹrk, - báo cáo
viên đặc biệt của Tiểu ban (E/CN.4/Sub.2/1990/19, paras. 108-120; E/CN.4/Sub.2/1991/17, paras. 137-139);
cũng xem thêm nghị quyết của Tiểu ban 1991/26.
3
Xem, chẳng hạn điều 25(1) trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngời, điều 5(e) (iii) của Công ớc quốc
tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, điều 14(2) của Công ớc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt
đối xử với phụ nữ.; điều 27 (3) của Công ớc về quyền trẻ em, điề 10 của Tuyên ngôn về phát triển và tiến bộ
xã hội, phần III (8) của Tuyên ngôn Vancouver về định c cho con ngời, 1976 (Báo cáo của Habitat: Hội nghị
về định c cho con ngời (ấn phẩm của Liên hợp quốc, số E.76.IV.7 and bản đính chính, chơng. I), điều 8 (1)
của Tuyên bố về quyền phát triển và Khuyến nghị của ILO về nhà ở cho ngời lao động 1961 (số. 115)).
4
Xem chú thích 1.
5
Geneva, Tổ chức sức khỏe thế giới, 1990
18 / 271
Phiên họp thứ 7 (1994)

Nhận định chung số 5: Ngời có khuyết tật
1. Tầm quan trọng cốt yếu của mối liên hệ giữa Công ớc quốc tế về các quyền kinh tế - văn hoá -
xã hội liên và nhân quyền của ngời khuyết tật thờng xuyên đợc cộng đồng quốc tế nhấn mạnh
1
. Vì

vậy, bản đánh giá năm 1992 của Tổng th ký về thực hiện Chơng trình hành động quốc tế về ngời
khuyết tật và Thập kỷ của Liên hợp quốc về ngời khuyết tật đã kết luận rằng: vấn đề ng ời khuyết
tật có gắn bó chặt chẽ với các nhân tố kinh tế và xã hội" và rằng "điều kiện sống ở nhiều nơi trên
thế giới vẫn còn quá kém nên quy định về các nhu cầu tối thiểu cho tất cả mọi ngời bao gồm thực
phẩm, nớc uống, nhà ở, bảo vệ y tế, giáo dục cần phải đợc coi là cơ sở nền tảng của các chơng
trình quốc gia".
2
Thậm chí ở những nớc có mức sống khá cao thì ngòi khuyết tật cũng thờng bị từ
chối cơ hội hởng thụ đầy đủ các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá đợc ghi nhận trong Công ớc.
2. Uỷ ban các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và nhóm công tác tiền nhiệm đã đợc Đại hội đồng
3
và Uỷ ban nhân quyền
4
kêu gọi giám sát sự tuân thủ nghĩa vụ đảm bảo sự hởng thụ đầy đủ các
quyền trong công ớc cho ngời khuyết tật. Tuy nhiên, cho đến nay theo kinh nghiệm của Uỷ ban thì
Quốc gia thành viên giành rất ít sự chú ý đến vấn đề này trong báo cáo của mình. Điều này dờng
nh phù hợp với kết luận của Tổng th ký rằng " hầu hết các chính phủ vẫn thiếu những biện pháp
phối hợp mang tính quyết định để có thể cải thiện tình hình một cách hiệu quả" cho ngời khuyết
tật
5
. Vì vậy, cần xem xét, nhấn mạnh một số cách thức mà những vấn đề liên quan đến ngời khuyết
tật thờng đi liền với các nghĩa vụ quy định trong Công ớc.
3. Đến nay vẫn cha có một định nghĩa nào đợc thừa nhận ở cấp độ quốc tế về khái niệm "khuyết
tật". Tuy nhiên vì mục đích của khuyến nghị này thì chỉ cần dựa trên cách tiếp cận đã đợc đa ra
trong Các quy tắc tiêu chuẩn 1993 trong đó chỉ rõ rằng:
Thuật ngữ " khuyết tật" bao gồm nhiều hạn chế chức năng khác nhau xuất hiện ở bất kỳ
dân c nào Con ng ời có thể bị mất khả năng về thể chất, trí tuệ, giác quan, về tình trạng y
học, bệnh tâm thần. Những khiếm khuyết, điều kiện hay bệnh tật này có thể mang tính vĩnh
viễn hoặc tạm thời"
6

.
4. Để phù hợp với cách tiếp cận đa ra trong Các quy tắc tiêu chuẩn, Nhận định chung này sử dụng
thuận ngữ " ngời có khuyết tật" (" persons with disabilities ) thay cho thuật ngữ cũ là "ng ời khuyết
tật" ( disabled persons ). Có đề nghị cho rằng thuật ngữ sau có thể dẫn đến cách giải thích không
đúng cho rằng khả năng của cá nhân để có chức năng nh một con ngời đã bị tàn tật.
5. Công ớc không đề cập một cách rõ ràng đến những ngời có khuyết tật. Tuy nhiên, Tuyên ngôn
thế giới về quyền con ngời ghi nhận rằng tất cả mọi ngời sinh ra đều tự do, bình đẳng về phẩm giá
và quyền lợi; và vì các quy định của Công ớc đợc áp dụng đầy đủ cho mọi thành viên trong xã hội,
ngời khuyết tật rõ ràng cũng đợc hởng đầy đủ các quyền ghi nhận trong Công ớc. Thêm vào đó,
trong trờng hợp họ cần đợc điều trị đặc biệt, thì Quốc gia thành viên cần có biện pháp thích hợp
trong chừng mực tối đa các nguồn lực sẵn có của mình để giúp cho những ngời này vợt qua đợc
bất cứ khó khăn nào về hởng thụ các quyền đợc cụ thể hoá trong Công ớc theo tình trạng khuyết
tật của họ. Hơn nữa, yêu cầu tại điều 2 (2) của Công ớc quy định rằng các quyền đ a ra sẽ đợc
thực hiện mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào" dựa trên các cơ sở cụ thể "hoặc tình trạng
khác" có thể áp dụng một cách rõ ràng đối với phân biệt đối xử trên cơ sở bị khuyết tật.
6. Sự thiếu vắng một điều khoản cụ thể liên quan đến vấn đề khuyết tật trong công ớc tại thời điểm
công ớc đợc soạn thảo cách đây hơn một phần t thế kỷ là do thiếu hụt nhận thức về tầm quan trọng
của việc phải nhấn mạnh đến vấn đề này một cách rõ ràng chứ không chỉ là mang tính ngụ ý. Tuy
nhiên, nhiều văn kiện quốc tế gần đây về quyền con ngời đã đề cập cụ thể đến vấn đề này. Các
văn kiện này bao gồm Công ớc về quyền trẻ em (điều 23); Hiến chơng châu Phi về quyền con ngời
và quyền của các dân tộc(điều 18(4)); và Nghị định th bổ sung của Công ớc châu Mỹ về quyền con

Có trong tài liệu E/1995/22.
19 / 271
ngời trên lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (điều 18). Vì vậy, đến nay vấn đề đã đợc thừa
nhận rất rộng rãi là nhân quyền của ngời khuyết tật cần phải đợc bảo vệ và thúc đẩy thông qua
chính sách, pháp luật và chơng trình chung cũng nh cụ thể.
7.Theo cách tiếp cận này, cộng đồng quốc tế đã khẳng định cam kết của mình trong việc đảm bảo
đầy đủ các quyền con ngời cho ngời khuyết tật trong các văn kiện sau: (a) Chơng trình hành động
thế giới về ngời tàn tật nhằm cung cấp khung chính sách trong việc thúc đẩy "các biện pháp hiệu

quả về phòng ngừa khuyết tật, phục hồi và hiện thực hoá mục tiêu về " sự tham gia đầy đủ" và
"bình đẳng" của {ngời khuyết tật } trong đời sống xã hội và phát triển.";
7
(b) Hớng dẫn thành lập và
phát triển Uỷ ban điều phối quốc gia về vấn đề tàn tật hoặc các cơ quan tơng tự đợc thông qua
năm 1990
8
; (c) Các nguyên tắc về bảo vệ ngời bị bệnh tâm thần và để tăng cờng chăm sóc sức
khoẻ tâm thần, đợc thông qua năm 1991
9
; (d) Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hoá cơ hội cho
ngời khuyết tật đợc thông qua năm 1993 (từ đó đợc gọi là "Quy tắc tiêu chuẩn") nhằm mục đích
đảm bảo để tất cả ngời khuyết tật đều "có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ giống nh những
ngời khác"
10
. Quy tắc tiêu chuẩn là văn kiện quan trọng cơ bản hình thành nên hớng dẫn tham
khảo có giá trị trong việc xác định chính xác hơn nghĩa vụ liên quan của Quốc gia thành viên theo
công ớc.
1. Nghĩa vụ chung của Quốc gia thành viên
8. Liên hợp quốc ớc tính rằng ngày nay trên thế giới có khoảng hơn 500 triệu ngời khuyết tật. Trong
số đó, 80% sống ở vùng nông thôn thuộc các nớc đang phát triển. Khoảng 70% bị hạn chế hoặc
không đợc tiếp cận với các dịch vụ mà ngời khuyết tật có nhu cầu. Chính vì vậy, thách thức để cải
thiện tình hình của ngời khuyết tật trực tiếp liên quan đến các quốc gia thành viên của Công ớc.
Mặc dù các quốc gia lựa chọn biện pháp thúc đẩy việc hiện thực hoá đầy đủ các quyền kinh tế- xã
hội - văn hoá của nhóm dân c này chắc chắn sẽ rất khác nhau, nhng không có quốc gia nào mà lại
không có những chính sách lớn và chơng trình cho nhóm đối tợng này
11
.
9. Nghĩa vụ thúc đẩy việc hiện thực hoá từng bớc các quyền trong Công ớc của Quốc gia thành
viên trong phạm vi tối đa nguồn lực của mình rõ ràng đòi hỏi chính phủ cần phải làm nhiều hơn việc

chỉ biết tránh đa ra những biện pháp có thể gây tác động tiêu cực đến ngời khuyết tật. Đối với
những nhóm dân c thiệt thòi và dễ bị tổn thơng thì nghĩa vụ của quốc gia thanh viên là tìm ra các
biện pháp tích cực để giảm những khó khăn về mặt cơ cấu và có sự đối xử u tiên phù hợp cho ngời
khuyết tập để họ có thể tham gia đầy đủ và bình đẳng trong xã hội. Luôn chú ý chuẩn bị các nguồn
lực bổ sung cho mục tiêu này và cần có nhiều biện pháp cụ thể thích hợp.
10. Theo một báo cáo của Tổng th ký Liên hợp quốc thì sự phát triển trong những thập kỷ vừa qua
ở cả quốc gia phát triển và đang phát triển đều không có lợi đặc biệt cho ngời tàn tật.
sự suy giảm của nền kinh tế, xã hội hiện nay thể hiện qua tỷ lệ tăng trởng thấp, nạn
thất nghiệp cao, giảm chi phí công cộng, các chơng trình điều chỉnh cơ cấu, tình trạng t
nhân hoá đã gây nên những ảnh hởng tiêu cực đến các chơng trình, dịch vụ Nếu nh xu h-
ớng tiêu cực này vẫn tiếp tục thì {ngời khuyết tật } có nguy cơ bị đẩy ra bên lề xã hội và trở
nên phụ thuộc và các hỗ trợ mang tính tạm thời.
12
Nh Uỷ ban nhận thấy trớc đây (trong Bình luận chung số 1, phiên họp thứ 15, năm 1990, khổ 12,
nghĩa vụ của Quốc gia thành viên trong việc bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thơng trong xã hội đợc
thừa nhận là thay vì giảm đi thì nó thậm chí còn quan trọng hơn thời kì thiếu thốn nghiêm trọng về
nguồn lực.
11.Do sự gia tăng cam kết của các chính phủ trên thế giới về các chính sách định hớng thị trờng
nên trong bối cảnh đó cần phải nhấn mạnh đến một số khía cạnh nhất định của nghĩa vụ Quốc gia
thành viên. Một trong số đó là sự cần thiết phải đảm bảo rằng không chỉ có lĩnh vực nhà nớc mà
lĩnh vực t nhân, trong những giới hạn phù hợp cũng cần có nghĩa vụ đảm bảo sử đối xử công bằng
với ngời khuyết tật. Trong bối cảnh mà những sắp xếp cung cấp dịch vụ công đang ngày càng bị t
nhân hoá và thị trờng tự do bị phụ thao túng mức độ rộng rãi cha từng có thì điều quan trọng là ngời
sử dụng lao động, nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ t nhân và các thể chế phi công cộng khác đều
phải chịu sự điều chỉnh của các quy phạm liên quan đến bình đẳng và không phân biệt đối xử với
20 / 271
ngời tàn tật. Trong những trờng hợp mà sự bảo vệ nh vậy không đợc mở rộng ra ngoài phạm vi nhà
nớc thì khả năng ngời khuyết tật đợc tham gia cùng với các hoạt động của cộng đồng và đợc thể
hiện đầy đủ khả năng của mình nh là những thành viên tích cực của xã hội sẽ bị hạn chế một cách
nghiên trọng và tuỳ tiện. Điều này không nhằm ám chỉ rằng các biện pháp lập pháp sẽ luôn luôn là

biện pháp hiệu quả nhất trong xoá bỏ phân biệt đối xử trong các lĩnh vực riêng t nhân. Vì thế, Quy
tắc tiêu chuẩn đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết của Quốc gia trong việc " thực hiện nâng
cao nhận thức của xã hội về ngời khuyết tật, quyền lợi, khả năng và đóng góp của họ
13
.
12. Khi không có sự can thiệp của chính phủ thì luôn luôn có những trờng hợp mà hoạt động của thị
trờng tự do sẽ mang đến những kết quả bất lợi cho ngời khuyết tật với t cách cá nhân hay nhóm.
Và, trong những trờng hợp nh vậy, chính phủ phải có trách nhiệm tham gia và thực hiện những biện
pháp nhằm giảm nhẹ, bổ sung, bồi thờng hay loại bỏ những kết quả do các lực lợng của thị trờng
mang lại. Tơng tự, mặc dù chính phủ có thể dựa vào t nhân, các nhóm tình nguyện để hỗ trợ ngời
khuyết tật bằng nhiều cách khác nhau thì những sự thu xếp nh vậy không bao giờ có thể thay thế
đợc nghĩa vụ của chính phủ trong việc đảm bảo sự tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Công
ớc. Nh đã đợc ghi nhận trong Chơng trình hành động thế giới về ngời tàn tật "trách nhiệm lớn nhất
trong việc khắc phục những điều kiện dẫn đến sự khiếm khuyết và trong việc giải quyết hậu qủa
của sự khuyết tật thuộc về chính phủ
14
.
2. Các biện pháp thực hiện
13.Các biện pháp đợc Quốc gia thành viên áp dụng để thực hiện nghĩa vụ của mình đối với ngời
khuyết tật theo công ớc về cơ bản cũng giống nh các biện pháp đã có đối với những nghĩa vụ khác
(xem bình luận chung số 1, phiên họp thứ 3, 1989). Những biện pháp này bao gồm sự cần thiết
phải xác định nhu cầu, thông qua giám sát định kỳ, bản chất và phạm vi của những vấn đề còn tồn
tại của quốc gia; sự cần thiết phải thông qua các chính sách và chơng trình thích hợp để nhờ đó có
thể đáp ứng những yêu cầu đã đợc xác định; phải xây dựng pháp luật nếu cần và phải xoá bỏ
những phân biệt đối xử vẫn còn tồn tại trong hiến pháp; và sự cần thiết phải đa ra quy định thích
hợp về ngân sách hoặc nếu cần sẽ kêu gọi hỗ trợ và hợp tác quốc tế. ở khía cạnh sau, hợp tác
quốc tế theo điều 22 và 23 của Công ớc có thể sẽ là nhân tố đặc biệt quan trọng giúp cho các nớc
đang phát triển có thể hoàn thành đợc nghĩa vụ của mình theo Công ớc.
14. Thêm vào đó, cộng đồng quốc tế luôn nhận thức rằng việc hoạch định chính sách và thực hiện
chơng trình trên lĩnh vực này cần dựa trên cơ sở có sự t vấn và tham gia của đại diện các nhóm;

của các cá nhân liên quan. Vì lý do này, Các quy tắc tiêu chuẩn khuyến nghị rằng cần làm mọi
điều có thể để thành lập uỷ ban điều phối quốc gia hay cơ quan tơng tự với t cách là một cơ quan
trọng điểm quốc gia về vấn đề khuyết tật. Để làm đợc việc đó, chính phủ cần phải chú ý đến những
hớng dẫn ban hành năm1990 cho việc thiết lập và phát triển các uỷ ban điều phối quốc gia về
khuyết tật hoặc cơ quan tơng tự
15
.
3. Nghĩa vụ xoá bỏ phân biệt đối xử với ngời khuyết tật
15. Sự phân biệt đối xử với ngời tàn tật đã tồn tại từ lâu trong lịch sử với nhiều hình thức khác nhau
kể cả trong pháp luật cũng nh trong thực tiễn. Chúng bao gồm cả phân biệt đối xử mang tính ghét
bỏ chẳng hạn nh từ chối cơ hội học tập đến những hình thức phân biệt đối xử mang tính "tinh tế"
hơn chẳng hạn nh chia cách hay cô lập bằng việc áp đặt những rào cản về thể chất và xã hội. Vì
mục đích của Công ớc này, khái niệm "phân biệt đối xử vói ngời khuyết tật" có thể đợc định nghĩa
là bao gồm bất kỳ sự phân biệt, loại trừ, hạn chế, thiên vị hay từ chối những tiện nghi hợp lý dựa
trên sự khuyết tật làm vô hiệu hoá hay giảm sút việc ghi nhận, hởng thụ hay thực hiện các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá. Do sự sao lãng, lơ là, định kiến hay cách ly, ngời khuyết tật thờng bị
ngăn cản việc thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá một cách bình đẳng với những ngời
bình thờng. Những ảnh hởng của sự phân biệt đối xử liên quan đến khuyết tật là đặc biệt nghiêm
trọng trong lĩnh vực giáo dục, việc làm, nhà ở, đi lại, trong đời sống văn hoá và tiếp cận với các dịch
vụ, địa điểm công cộng.
21 / 271
16. Mặc dù ó cú một số tiến bộ về mặt lập pháp trong thập kỷ qua
16
, nhng tình trạng pháp lý của
ngời khuyết tật vẫn còn bất ổn. Để xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong quá khứ, hiện tại, và tơng lai,
bộ luật về chống phân biệt đối xử một cách toàn diện cho ngời khuyết tật đợc coi là hết sức cần
thiết đối với tất cả Quốc gia thành viên. Bộ luật này không chỉ cung cấp những bảo hộ pháp lý khi
có thể và cần thiết mà còn phải đa ra các chơng trình xã hội giúp ngời khuyết tật đợc sống hòa
nhập, tự quyết và tự lập .
17. Các biện pháp chống phân biệt đối xử cần dựa trên nguyên tắc về quyền bình đẳng cho ngời

khuyết tật và ngời bình thờng, mà theo Chơng trình hành động quốc tế về ngời khuyết tật " nhu cầu
của mỗi cá nhân quan trọng nh nhau, những nhu cầu này cần phải trở thành cơ sở cho kế hoạch
của xã hội, tất cả mọi nguồn lực phải đợc sử dụng theo cách đảm bảo cho mọi cá nhân, bảo đảm
bình đẳng về cơ hội trong việc tham gia. Chính sách về vấn đề khuyết tật cần đảm bảo sự tiếp cận
{của ngời khuyết tật} đối với mọi dịch vụ của cộng đồng
17
.
18.Bởi vì cần thực hiện các biện pháp để xoá bỏ nạn phân biệt đối xử hiện hành và tạo cơ hội công
bằng cho ngời khuyết tật nên những biện pháp nh vậy không bị coi là mang tính phân biệt đối xử
theo tinh thần của điều 2(2) trong Công ớc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá khi chúng dựa
trên nguyên tắc bình đẳng và chỉ áp dụng khi cần thiết để đạt đợc mục tiêu đó.
4. Các quy định cụ thể của Công ớc
A. Điều 3: Các quyền bình đẳng nam nữ
19. Ngời khuyết tật đôi khi bị coi là những ngời không rõ về giới. Kết quả là, tình trạng phụ nữ
khuyết tật bị phân biệt đối xử kép thờng bị bỏ qua
18
. Mặc dù cộng đồng quốc tế thờng kêu gọi phải
có sự lu ý đặc biệt đến tình trạng của họ, trong thập kỷ qua vẫn còn rất ít nỗ lực đợc thực hiện. Sự
bỏ mặc phụ nữ khuyết tật đã đợc đề cập đến một số lần trong báo cáo của Tổng th ký về tình hình
thực hiện chơng trình hành động thế giới
19
. Chính vì vậy, Uỷ ban kêu gọi Quốc gia thành viên cần lu
ý đến tình trạng của phụ nữ khuyết tật và cần có sự u tiên với họ khi thực hiện các chơng trình kinh
tế, xã hội và văn hoá liên quan.
B. Điều 6-8 : Các quyền liên quan đến việc làm
20. Lĩnh vực việc làm là lĩnh vực mà sự phân biệt đối xử trên cơ sở khuyết tật diễn ra phổ biến và
dai dẳng nhất. ở hầu hết các quốc gia tỷ lệ ngời khuyết tật bị thất nghiệp cao gấp hai đến ba lần
ngời bình thờng. ở những nơi ngời khuyết tật có việc làm thì hầu hết họ chỉ có những công việc đợc
trả lơng thấp và thờng bị tách biệt ra khỏi thị trờng lao động. Nhà nớc cần tích cực hỗ trợ cho sự hội
nhập của ngời khuyết tật vào thị trờng lao động thông thờng.

21. "Quyền mọi ngời có cơ hội kiếm sống bằng công việc mà ngời đó lựa chọn hoặc chấp nhật một
cách tự do (art. 6 (1)) sẽ không thể thực hiện đ ợc khi mà cơ hội thực sự duy nhất mở ra cho ngời
lao động khuyết tật là làm việc ở nơi mà điều kiện "che chở" chỉ ở mức dới điều kiện tiêu chuẩn.
Những sự thu xếp để những ngời thuộc về một nhóm khuyết tật nhất định phải làm việc trong một
số nghề nghiệp nhất định hay sản xuất một loại hàng hoá nhất định có thể dẫn đến vi phạm quyền
này. Tơng tự nh vậy, theo nguyên tắc 13 (3) của Nguyên tắc về bảo vệ ngời bị bệnh tâm thần và về
nâng cao chăm sóc sức khoẻ tâm thần
20
thì các cơ sở "điều trị có sử dụng lao động c ỡng bức
cũng không phù hợp với Công ớc. Vấn đề cấm lao động cỡng bức cũng đã đợc đề cập trong Công
ớc quốc tế về các quyền công dân, chính trị.
22. Theo các quy tắc tiêu chuẩn, ngời khuyết tật, bất kể ở nông thôn hay thành thị đều có cơ hội
bình đẳng về việc làm hữu ích và có lợi trong thị trờng lao động
21
. Để điều này trở thành hiện thực
thì điều đặc biệt quan trọng là phải xoá bỏ rào cản nhân tạo trong hội nhập nói chung và trong việc
làm nói riêng. Nh Tổ chức lao động quốc tế đã lu ý, thông thờng những rào cản mà xã hội tạo ra
trong các lĩnh vực nh giao thông, nhà ở và nơi làm việc đợc lấy ra làm lý do để giải thích tại sao ng-
ời khuyết tật không thể có việc làm
22
. Chẳng hạn nh, nơi làm việc đợc thiết kế và xây dựng theo
cách mà xe lăn không thể tiếp cận đợc thì chủ lao động sẽ có thể "biện hộ" rằng họ không thể
22 / 271
tuyển dụng ngời sử dụng xe lăn. Các chính phủ cũng cần xây dựng chính sách nhằm thúc đẩy và
quy định về việc thu xếp những công việc linh hoạt và thay thế phù hợp với nhu cầu của ngời lao
động tàn tật.
23. Tơng tự, sự thất bại của chính phủ trong việc đảm bảo rằng các loại hình giao thông đều có thể
tiếp cận đợc cho ngời khuyết tật làm giảm đáng kể cơ hội tìm kiếm công việc mang tính hoà nhập
và phù hợp, giảm cơ hội giáo dục và đào tạo nghề hay làm giảm cơ hội đi lại bằng tất cả các loại
phơng tiện. Việc cung cấp các hình thức đi lại đặc biệt thích hợp, cần thiết là hết sức quan trọng để

hiện thực hoá các quyền đợc ghi nhận trong Công ớc của ngời khuyết tật.
24." các chơng trình hớng dẫn và đào tạo nghề và kỹ thuật" nh yêu cầu tại điều 6(2) của Công ớc
cần phản ánh đợc nhu cầu của tất cả những ngời khuyết tật, đợc bố trí mang tính hợp nhất và đợc
lập kế hoach và thực hiện với sự tham gia đầy đủ của đại diện ngời khuyết tật.
25. Quyền "đợc hởng điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi" (điều 7) áp dụng cho tất cả ngời
lao động tàn tật bất kể họ làm việc trong điều kiện trong nhà hay trên thị trờng lao động ngoài trời.
Ngời lao động tàn tật cần không bị phân biệt đối xử về lơng bổng và các điều kiện khác nếu nh
công việc của họ ngang bằng với công việc của ngời bình thờng. Quốc gia thành viên có trách
nhiệm đảm bảo rằng sự khuyết tật không bị coi là cái cớ cho các tiêu chuẩn bảo hộ lao động thấp
hay trả lơng dới mức tối thiểu
26. Các quyền liên quan đến Công đoàn (điều 8) áp dụng bình đẳng với ngời lao động khuyết tật
bất kể họ làm việc trong điều kiện trang thiết bị đặc biệt hay trong thị trờng lao động mở. Thêm vào
đó, điều 8 khi đợc hiểu trong mối quan hệ với các quyền khác nh quyền tự do hội họp sẽ áp dụng
để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của quyền đợc thành lập các tổ chức của riêng ngời khuyết tật.
Nếu những tổ chức này có hiệu quả trong việc "thúc đẩy và bảo vệ lợi ích kinh tế và xã hội (điều
8(1)(a) của những ngời này thì chúng cần đợc các cơ quan của chính phủ và các cơ quan liên
quan t vấn thờng xuyên về những vấn đề ảnh hởng đến ngời khuyết tật; Nếu cần thiết, các tổ chức
này cần phải đợc hỗ trợ về tài chính để đảm bảo có thể tồn tại và phát triển.
27. Tổ chức lao động quốc tế đã xây dựng các văn kiện toàn diện và có giá trị liên quan đến các
quyền về việc làm của ngời khuyết tật, trong đó có Công ớc 159 (1983) đề cập đến phục hồi nghề
nghiệp và việc làm cho ngời khuyết tật
23
. Uỷ ban khuyến khích Quốc gia thành viên phê chuẩn
Công ớc này. .
C. Điều 9 : An sinh x hội ã
28.An sinh xã hội và các kế hoạch trợ cấp thu nhập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngời
khuyết tật. Nh đợc chỉ ra trong Các quy tắc tiêu chuẩn "Nhà nớc cần đảm bảo hỗ trợ thu nhập thoả
đáng cho ngời khuyết tật - những ngời do bị khuyết tật hoặc có yếu tố liên quan đến khuyết tật bị
tạm thời mất việc hoặc bị từ chối cơ hội về việc làm
24

. Những hỗ trợ nh vậy cần phản ánh đợc
nhu cầu trợ giúp đặc biệt và các khoản chi phí khác liên quan đến tình trạng khuyết tật. Thêm vào
đó, ở mức có thể, sự hỗ trợ cũng phải giành cho các cá nhân (mà phần lớn là phụ nữ) đang phải
chăm sóc ngơi khuyết tật. Những ngời này, kể cả thành viên gia đình ngời khuyết tật trong vai trò
trợ giúp của mình rất cần hỗ trợ tài chính
25
.
29.Việc đa ngời khuyết tật vào các cơ sở từ thiện, trừ khi thật cần thiết, không đợc coi là đủ để thay
thế cho quyền an ninh xã hội và trợ cấp thu nhập cho những ngời này.
D. Điều 10: Bảo vệ gia đình, bà mẹ và trẻ em
30. Trong những trờng hợp liên quan ngời khuyết tật, Công ớc yêu cầu có sự "bảo vệ và trợ giúp"
cho gia đình, nghĩa là cần làm mọi việc có thể để giúp đỡ những ngời này khi họ rất mong muốn đ-
ợc sống với gia đình. Theo nguyên tắc chung của luật quốc tế về nhân quyền, Điều 10 về quyền đ-
ợc kết hôn và có gia đình cũng áp dụng cho ngời khuyết tật. Những quyền này thờng bị từ chối
hoặc bỏ qua, đặc biệt là trong trờng hợp ngời khuyết tật về tâm thần"
26
. Trong những bối cảnh nhất
định, thuật ngữ gia đình cần đợc giải thích một cách rộng rãi và phù hợp với phong tục của địa ph-
23 / 271
ơng. Quốc gia thành viên đảm bảo rằng pháp luật, chính sách xã hội và thực tiễn không làm cản
trở việc hiện thực hoá các quyền này. Ngời khuyết tật cần đợc tiếp cận với các dịch vụ t vấn nhằm
thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ trong gia đình
27
.
31. Phụ nữ khuyết tật cũng có quyền đợc bảo vệ và hỗ trợ trong thời kỳ mang thai và làm mẹ. Nh
đợc chỉ ra trong các Quy tắc tiêu chuẩn "ngời khuyết tật không bị từ chối cơ hội đợc trải nghiệm về
tình dục, có quan hệ giới tính và đợc làm bố mẹ
28
. Cần ghi nhận và khẳng định các nhu cầu và
mong muốn này trong cả giải trí và sinh sản. Những quyền này của cả nam và nữ có khuyết tật th-

ờng bị từ chối trên khắp thế giới
29
. Cả vấn đề triệt sản và nạo pháp thai đối với phụ nữ khuyết tật
nếu không có sự đồng thuận của họ là vi phạm nghiêm trọng điều 10 (2).
32. Trẻ em khuyết tật đặc biệt dễ tổn thơng với nạn bóc lột, lạm dụng, bỏ quên. Theo điều 10 (3)
của Công ớc (tái khẳng định trong các điều khoản của Công ớc quyền trẻ em) những trẻ em này
cần đợc nhận sự bảo vệ đặc biệt.
E. Điều 11: Quyền có mức sống tối thiểu
33. Bên cạnh nhu cầu đầy đủ lơng thực, nhà ở và các nhu cầu vật chất tối thiểu khác ngời khuyết
tật cũng cần đợc đảm bảo có "dịch vụ hỗ trợ, bao gồm cả thiết bị trợ giúp" để "giúp cho ngời khuyết
tật tăng mức độ độc lập trong đời sống hàng ngày và để thực hiện quyền của họ
30
. Quyền có đủ
quần áo cũng đợc coi là đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh ngời khuyết tật có nhu cầu đặc biệt về
quần áo để có thể giúp họ tham gia đầy đủ và hiệu quả vào trong xã hội. Nếu có thể, sự trợ giúp cá
nhân cũng cần đợc cung cấp liên quan đến vấn đề này. Sự trợ giúp này có thể đợc thực hiện theo
cách thức và tinh thần có sự tôn trọng đầy đủ các quyền con ngời của cá nhân/các cá nhân liên
quan. Tơng tự nh vậy, nh đã đợc Uỷ ban chỉ ra trong khổ 8 của Nhận định chung số 4 (kỳ họp thứ
6, 1991), quyền có nhà ở tối thiểu bao gồm cả quyền đợc tiếp cận nhà ở đối với ngời khuyết tật.
F. Điều 12: Quyền về sức khoẻ thể chất và tâm thần
34. Theo các Quy tắc tiêu chuẩn, "nhà nớc cần đảm bảo rằng ngời khuyết tật, đặc biệt là trẻ sơ
sinh và trẻ em, đợc nhận cùng một mức độ chăm sóc y tế nh nhau trong cùng một hệ thống với các
thành viên khác trong xã hội
31
. Quyền vê sức khoẻ thể chất và tinh thần cũng bao gồm quyền tiếp
cận và đợc hởng lợi từ các dịch vụ xã hội và y tế khác, trong đó có cả thiết bị chỉnh hình nhằm giúp
cho ngời khuyết tật trở nên độc lập, phòng ngừa sự tàn tật tiếp theo, và hỗ trợ hoà nhập vào xã
hội
32
. Tơng tự, những ngời này cũng cần đợc cung cấp dịch vụ phục hồi để họ có thể "đạt và duy trì

ở mức độ tốt nhất tính độc lập và các chức năng của cơ thể
33
. Tất cả những dịch vụ này cần đợc
cung cấp theo cách để những ngời liên quan có thể duy trì sự tôn trọng đầy đủ quyền và nhân
phẩm của họ.
G. Điều 13 và 14: Quyền giáo dục
35. Ngày nay, các chơng trình trong trờng học ở nhiều quốc gia ghi nhận rằng nguời khuyết tật có
thể đợc giáo dục tốt nhất ngay chính trong hệ thống giáo dục chung
34
. Vì vậy, các Quy tắc tiêu
chuận quy định "Quốc gia cần ghi nhận nguyên tắc bình đẳng cơ hội giáo dục trong giáo dục tiểu
học, phổ thông và đại học cho trẻ em, thanh niên và ngời lớn bị khuyết tật theo phơng thức hoà
nhập
35
. Để thực hiện cách tiếp cận này, Quốc gia cần đảm bảo đội ngũ giáo viên đợc đào tạo để
giảng dạy cho trẻ em khuyết tật trong các trờng học và đảm bảo có hỗ trợ và thiết bị cần thiết
nhằm đa ngời khuyết tật có cùng cấp độ giáo dục với những ngời bình thờng đồng trang lứa. Đối
với trờng hợp trẻ em khiếm thính thì ngôn ngữ cử chỉ cần đợc coi là ngôn ngữ riêng biệt để trẻ em
có thể tiếp cận và nhận biết những nội dung quan trọng trong môi trờng xã hội.
24 / 271
H. Điều 15: Quyền đợc tham gia vào đời sống văn hoá và hởng thụ các lợi ích của tiến bộ
khoa học
36.Các quy tắc tiêu chuẩn quy định "Quốc gia cần đảm bảo ngời khuyết tật có cơ hội phát huy khả
năng sáng tạo, nghệ thuật và trí tuệ của mình để không chỉ mang lại lợi ích cho chính họ mà còn
đóng góp cho cộng đồng ở cả khu vực nông thông và miền núi . Quốc gia cần thúc đẩy cả khả
năng tiếp cận và tính sẵn sàng của các địa điểm biểu diễn và dịch vụ văn hoá "
36
. Điều này cũng
áp dụng cho cả các địa điểm giải trí, thể thao và du lịch.
37. Quyền tham gia đầy đủ vào đời sống văn hoá, giải trí của ngời khuyết tật đòi hỏi phải xoá bỏ

những rào cản về giao tiếp ở mức độ lớn nhất có thể. Các biện pháp hữu ích liên quan đến quyền
này bao gồm " sử dụng sách kể chuyện, bài viết bằng ngôn ngữ đơn giản với cách trình bày và
màu sắc rõ ràng cho ngời bị khuyết tật về tâm thần, và có các chơng trình truyền hình, nhà hát cho
ngời khiếm thính
37
.
38. Để thúc đẩy sự tham gia đầy đủ vào đời sống văn hoá cho ngời khuyết tật, chính phủ cần thông
tin, giáo dục cho công chúng về vấn đề khuyết tật. Đặc biệt, cần có các biện pháp để xóa bỏ định
kiến hay niềm tin mù quáng chống lại ngời khuyết tật. Chẳng hạn, quan điểm coi chứng động kinh
là một hình thức khống chế tinh thần hay một trẻ em bị khuyết tật là hình thức trừng phạt đối với gia
đình. Tơng tự, công chúng cũng cần đợc giáo dục để thừa nhận rằng ngời khuyết tật có các quyền
đợc đến nhà hàng, khách sạn, trung tâm giải trí, địa điểm văn hoá nh bao ngời khác.
Chú thích
1
Xem đánh giá đầy đủ về vấn đề này, xem báo cáo cuối cùng về quyền con ngời và vấn đề ngời khuyết tật
do Báo cáo viên đặc biệt chuẩn bị (E/CN.4/Sub.2/1991/31).
2
Xem A/47/415, khoản 5
3
Xem khổ 165 của Chơng trình hành động quốc tế về ngời khuyết tật do Đại hội đồng thông qua theo nghị
quyết 37/52 ngày 3 tháng 12 năm 1982 (khoản. 1).
4
Xem Nghị quyết của Uỷ ban nhân quyền 1992/48, khổ 4 và nghị quyết 1993/29, khoản 7.
5
Xem A/47/415, khoản 6.
6
Quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hoá cơ hội cho ngời khuyết tật, phụ lục của Nghị quyết 48/96 của Đại hội
đồng ngày 20 /12/1993 (Phần giới thiệu, khoản 17).
7
Chơng trình hành động thế giới về ngời tàn tật (xem chú thích trên đây)), khổ 1.

8
A/C.3/46/4, phụ lục I. Cũng bao gồm trong báo cáo của phiên họp quốc tế về vai trò và chức năng của Uỷ
ban điều phối quốc gia về vấn đề khuyết tật ở các nớc đang phát triển, Bắc kinh ngày 5-11/11/1990
(CSDHA/DDP/NDC/4). Xem thêm nghị quyết của Hội đồng kinh tế và xã hội số 1991/8 và nghị quyết của
Đại hội đồng số 46/96 ngày 16 /12/ 1991.
9
Nghị quyết của Đại hội đồng 46/119 ngày 17/12/ 1991, phụ lục.
10
Những qui tắc chuẩn (xem chú thích 6), Phần giới thiệu, khoản 15.
11
Xem A/47/415, passim.
12
nh trên., khổ 5.
13
Các quy tắc tiêu chuẩn xem chú thích 6), Quy tắc 1.
14
Chơng trình hành động thế giới về ngời tàn tật (xem chú thích 3), khoản 3.
15
Xem chú thích 8 ở trên .
16
Xem A/47/415, các khoản 37-38.
17
Chơng trình hành động thế giới về ngời khuyết tật (xem chú thích 3), khoản 25.
18
Xem E/CN.4/Sub.2/1991/31 (xem chú thích 1), khoản 140.
25 / 271

×