Lời cảm ơn!
Được sự giới thiệu của trường đại học Hồng Đức và sự đồng ý của phòng
văn hoá huyện Cẩm Thuỷ, từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 9 tháng 6 năm 2013, tôi
được về thực tập tại phòng văn hoá huyện Cẩm Thuỷ, dưới sự hướng dẫn của cô
giáo Lê Tú Anh - Giảng viên khoa khoa học xã hội.
Trong quá trình thực tập, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ
của ban chủ nhiệm khoa, và các thầy cô trong trường đại học Hồng Đức – Thanh
Hoá suốt 4 năm học qua. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Lê
Tú Anh đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập cuối khoá.
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng văn hoá huyện Cẩm Thuỷ đã giúp đỡ
tôi trong quá trình thực tập, cung cấp những tài liệu cần thiết để tôi hoàn thành
tốt báo cáo này.
Tôi xin cảm ơn bạn bè trong lớp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình
làm báo cáo thực tập cuối khoá.
Xin chân thành cảm ơn!
Cẩm thuỷ, ngày 9 tháng 6 năm 2013
Sinh viên thực tập
Phạm Thị Thu
1
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH SỬ DỤNGTRONG BÀI
BÁO CÁO
Hình 1: Suối cá thần Cẩm Lương -Cẩm Thủy
Hình 2 : Giếng nước làng Chiềng , xã Cẩm Tú -Cẩm Thủy
Hình 3 : Núi Cửa Hà -Cẩm Phong -Cẩm Thủy
2
CHƯƠNG1: TÔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.2. Chức năng hoạt động của phòng văn hoá
1.2.1. Vị trí ,chức năng
1.2.2.Nhiệm vụ ,quyền hạn của từng lĩnh vực cụ thể
1.3. Sơ đồ tổ chức và bố chí nhân sự
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG THỰC TẬP TẠI PHÒNG VĂN HOÁ
HUYỆN CẨM THỦY
2.1. Mục đích, nhiệm vụ thực tập
2.1.1. Mục đích thực tập
2.1.2. Nhiệm vụ thực tập
2.2. Những công việc thực tập
2.3.Giới thiệu về mường Voong xưa và truyện cổ mường voong
2.3.1.Đôi nét về mường Voong xưa
a.Truyện cổ người Mường
b.Truyện cổ người mường Voong
c.Khái niệm truyện cổ mường Voong
2.4.Phân loại truyện cổ mường Voong
2.4.1. Loại truyện cổ do người mường Voong sáng tạo
2.4.2. Loại truyện cổ Mường do người mường Voong tiếp nhận từ mường
khác
2.4.3. Loại truyện cổ tiếp nhận từ dân tộc khác
CHƯƠNG 3: SO SÁNH HOẠT ĐỘNG THỰC TẾ TẠI PHÒNG VĂN
HOÁ HUYỆN CẨM THUỶ VỚI LÝ THUYẾT ĐÃ HỌC, ĐỀ XUẤT CÁC
GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP
ĐÀO TẠO
3.1. Những điểm phù hợp giữa chương trình đào tạo của ngành học với
hoạt động thực tế của cơ sở
3
3.2. Những điểm chưa phù hợp giữa chương trình đào tạo của ngành học
với hoạt động thực tế của cơ sở
3.3. Đề xuất các giải pháp đối với nội dung chương trình, phương pháp
đào tạo
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
(Suối cá thần - Cẩm Lương - Cẩm Thủy - Thanh Hóa)
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Huyện Cẩm Thủy là một huyện Trung du miền núi, nằm ở phía Tây Bắc
của tỉnh Thanh Hóa. Huyện lỵ cách thành phố Thanh Hóa 70km.
Huyện Cẩm Thủy có diện tích 425.03km
2
. Phía Đông giáp huyện Vĩnh
Lộc, phía Bắc giáp huyện Thạch Thành, phía Tây giáp huyện Bá Thước. Phía
Nam giáp huyện Ngọc Lặc và Yên Định. Huyện Cẩm Thủy có 19 xã, 1 thị trấn,
bao gồm: Cẩm Thành, Cẩm Thạch, Cẩm Liên, Cẩm Lương, Cẩm Bình, Cẩm
Giang, Cẩm Tú, Cẩm Quý, Cẩm Sơn, Cẩm Châu, Cẩm Phong, Cẩm Ngọc, Cẩm
Long, Cẩm Phú, Cẩm Tân, Cẩm Yên, Cẩm Vân, Phúc Do và thị trấn Cẩm Thủy.
Huyện Cẩm Thủy có địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,
độ cao trung bình 25 – 30m. Có núi đèn cao 953m núi hạc cao 663m, giữa có
thung lũng sông Mã chảy dài hơn 40km.
5
Huyện Cẩm Thủy có khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình dạng lòng chảo
và thấp dần về phía Tây Nam và Đông Bắc xuống thung lũng sông Mã. Trong
đó trên 80% diện tích là đồi núi.
Huyện Cẩm Thủy có dân số 113.580 người (đến ngày 1/4/2009) có 3 dân
tộc anh em sinh sống: Mường 52,4%, Kinh (44,5%), Dao (2,9%) còn lại là các
dân tộc khác.
Về giáo dục huyện Cẩm Thủy có 3 trường Trung học phổ thông, một
trung tâm giáo dục thường xuyên.
Cẩm Thủy có đường liên vận quốc tế 217 dài 40km nối vùng Thượng Lào
với biển Đông, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 217, sông Mã giao nhau tại thị
Trấn Cẩm Thủy tạo điều kiện gắn Cẩm Thủy với các lãnh thổ kinh tế trong và
ngoài tỉnh, nhất là với thủ đô Hà Nội.
Huyện Cẩm Thủy là vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, như suối cá
thần Cẩm Lương, núi cửa Hà nằm trên đường Hồ Chí Minh thuộc xã Cẩm
Phong, thuộc dãy núi đá vôi Phù Luông – Cúc Phương kéo dài về phía Nam, nơi
đây có nhiều động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm 2000.
Đây là nơi đẹp nhất có thể ngắm nhìn sông Mã.
Lễ Hội: Chùa Chặng (Ngọc Châu Tự), xã Cẩm Sơn, lễ hội được tổ chức
vào ngày mùng 5, 6, 7 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm; Chùa Rồng: xã Cẩm
Thạch, lễ hội ngày 12, 13, 14 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm….
1.2. Chức năng hoạt động của phòng văn hóa.
Chúng tôi thực tập tại phòng văn hóa huyện Cẩm Thủy – Thanh Hóa.
Địa chỉ: Tổ 2 – Thị trấn Cẩm Thủy – Thanh Hóa.
Trưởng phòng: ông Vũ Duyên Hồng.
Chức năng nhiệm vụ hoạt động của đơn vị:
1.2.1. Vị trí – chức năng:
Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyenj
có chức năng tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước trên các lĩnh vực: Văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch, bưu chính,
viễn thông và internet, công nghệ thông tin, phát thanh, tuyên truyền.
6
Phòng Văn hóa và Thông tin có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài
khoản riêng; chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của
UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn,
nghiệp vụ của Sở Văn hóa – Thông tin.
1.2.2. Nhiệm vụ - quyền hạn cụ thể đối với từng lĩnh vực
* Về lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao, phát thanh:
- Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn thực hiện đúng
pháp luật về công tác văn hóa – thông tin – thể thao, xây dựng và phát triển
phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, lễ hội truyền thống; xây dựng
nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa và danh
lam thắng cảnh; quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, thông tin và thể
thao trên địa bàn.
- Tham mưu và chủ trì các hoạt động văn hóa của địa phương, đồng thời
chỉ đạo hướng dẫn các xã, phường làm tốt công tác bảo tồn, bảo tàng, phát huy
bản sắc dân tộc, khai thác các công trình văn hóa, di tích lịch sử, hàng năm xây
dựng, khôi phục và trùng tu các công trình văn hóa trên địa bàn.
- Giúp UBND huyện quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, quy hoạch, phân bố
tần số đối với đài truyền thanh truyền hình huyện.
- Phát hiện những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý và hoạt động
văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao ở địa phương, báo cáo xin ý kiến chỉ đạo
của UBND huyện, Sở Văn hóa – Thông tin và Sở Thể dục – Thể thao.
- Phối kết hợp với các cơ quan chức năng, các xã xây dựng phong trào văn
hóa – thông tin – thể thao lành mạnh, đề xuất kịp thời biện pháp, uốn nắn những
biểu hiện lệch lạc của phong trào; thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của nhà
nước về tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa, bài trừ tệ nạn xã hội trên địa
bàn.
- Chỉ đạo hướng dẫn các tổ chức và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện
phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; xây dựng nếp sống văn minh
trong việc cưới, tang lễ, lễ hội.
* Về lĩnh vực Bưu chính, viễn thông:
7
- Trình UBND huyện và Bưu chính – Viễn thông các đề án, giải pháp cụ
thể để triển khai các hoạt động về bưu chính, viễn thông, internet và công nghệ
thông tin trên địa bàn; chịu trách nhiệm triển khai, kiểm tra thực hiện sau khi
được phê duyệt.
- Tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của cấp trên về công tác bảo vệ an
toàn mạng, an ninh thông tin và công nghệ thông tin trên địa bàn theo quy định
của pháp luật và theo phân cấp.
- Tổ chức thực hiện chương trình, dự án ứng dụng công nghệ thông tin
trên địa bàn theo quy định của pháp luật và các dự án đầu tư về công nghệ thông
tin do UBND huyện giao.
- Phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra việc thực hiện quy định về
áp dụng các tiêu chuẩn, chất lượng trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông trên địa
bàn.
* Về lĩnh vực gia đình:
- Trình UBND huyện ban hành các văn bản hướng dẫn, kế hoạch hàng
năm, chương trình mục tiêu, chương trình hành động thực hiện chính sách chế
độ và pháp luật về quản lý gia đình; tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
- Phối hợp với các ngành liên quan thực hiện lồng ghép chương trình mục
tiêu, chương trình hành động về công tác gia đình với thực hiện chủ trương,
chính sách phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn; xây dựng mô hình gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền
vững.
- Tổ chức các thông tin, tuyên truyền giáo dục chính sách, pháp luật về
lĩnh vực gia đình.
* Về lĩnh vực du lịch:
- Trình UBND huyện ban hành các văn bản hướng dẫn, kế hoạch hàng
năm, chương trình mục tiêu, chương trình hành động thực hiện chính sách chế
độ và pháp luật về quản lý gia đình ; tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
- Phối hợp với các ngành liên quan thực hiện lồng ghép chương trình mục
tiêu, chương trình hành động về công tác gia đình với thực hiện chủ trương,
8
chính sách phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn ; xây dựng mô hình gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền
vững.
- Tổ chức các thông tin, tuyên truyền giáo dục chính sách, pháp luật về
lĩnh vực gia đình.
* Về lĩnh vực du lịch :
- Khảo sát, nghiên cứu thị trường trong ngoài phạm vi huyện, phục vụ cho
phát triển lĩnh vực du lịch ở địa phương.
- Trình UBND huyện ban hành các văn bản hướng dẫn, kế hoạch dài hạn
và hàng năm về hoạt động du lịch ; tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
- Phối hợp với cơ quan chuyên môn trên địa bàn thông tin tuyên truyền,
phổ biến, hướng dẫn, thực hiện các văn bản pháp luật, cơ chế chính sách về hoạt
động du lịch.
1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của UBND huyện
UBND huyện gồm có chủ tịch, hai phó chủ tịch và bốn ủy viên UBND,
trong đó có một phó chủ tịch phụ trách văn hóa – xã hội, một phó chủ tịch phụ
trách kinh tế, một ủy ban UBND huyện là trưởng phòng nông nghiệp phụ trách
nông lâm nghiệp một ủy viên là chính thanh tra huyện phụ trách Thanh tra tư
pháp, thi hành án, một ủy viên là trưởng phòng công an huyện phụ trách an ninh,
một ủy viên là chỉ huy trưởng quân sự phụ trách quân sự.
UBND huyện có 14 phòng ban, chuyên môn tham mưu giúp việc
9
Chủ tịch UBND
Phò
ng
Tài
chín
h kế
hoạ
ch
Phó chủ tịch UBND
phụ trách kinh tế
Phó chủ tịch UBND phụ trách văn hóa – xã hội
Phò
ng
Tài
nguy
ên
và
môi
trườ
ng
Phò
ng
Côn
g
thươ
ng
Phò
ng
Nôn
g
nghi
ệp
và
PT
NT
Tha
nh
tra
huy
ện
Phò
ng
Tư
phá
p
Phò
ng
Nội
vụ
Phò
ng
Lao
độn
g
thươ
ng
binh
xã
hội
Phò
ng
y tế
Phò
ng
Văn
hóa
thô
ng
tin
Phò
ng
dân
tộc
Phò
ng
thố
ng
kê
Phò
ng
Giá
o
dục
và
đào
tạo
Văn
phòn
g
HĐ
ND
và
UB
ND
Cơ cấu của UBND huyện Cẩm Thủy hiện nay gồm :
+ Chủ tịch UBND : Phạm Văn Tiến
+ Phó chủ tịch (phụ trách kinh tế) : Phạm Viết Hoài
+ Phó chủ tịch (phụ trách văn hóa xã hội) : Hà Văn Vinh.
Trong đó có các phòng ban tham mưu giúp việc, phòng văn hóa có cơ cấu
gồm :
+ Trưởng phòng văn hóa : Hoàng Trung Hải
+ Phó Phòng văn hóa : Vũ Xuân Phúc
+ Phụ trách đài truyền thanh : Đỗ Ngọc Hoàn
+ Chuyên trách chính sách – XH : Nguyễn Thông.
+ Trung tâm văn hóa – TDTT : Vũ Duyên Hồng.
10
+ Chuyên trách dân số - KHHGD : Đỗ Ngọc Sơn.
- Phòng văn hóa chịu sự lãnh đạo của đảng ủy và điều hành trực tiếp của
UBND huyện. Hoạt động của phòng văn hóa tuân thủ theo nguyên tắc dân chủ
tập trung, từng thành viên cá nhân phải chịu trách nhiệm về lĩnh vực công tác
được giao trước Trưởng khối VHXH - Trưởng phòng văn hóa và tổ chức Đảng.
11
CHƯƠNG II : NỘI DUNG THỰC TẬP TẠI PHÒNG VĂN HÓA
HUYỆN CẨM THỦY
2.1. Mục đích, nhiệm vụ thực tập :
2.1.1. Mục đích thực tập :
Đến thực tập tại phòng văn hóa là cơ sở để chúng tôi vận dụng lí thuyết
vào thực tiễn, đồng thời tiếp cận và làm quen với những công việc cụ thể, từ đó
củng cố và trang bị cho mình những kĩ năng cơ bản để có một hành trang tốt khi
ra trường.
2.1.2. Nhiệm vụ thực tập :
Hàng ngày, theo giờ làm việc chúng tôi đến Trung tâm văn hóa huyện
quan sát và học hỏi cách làm việc cũng như kinh nghiệm làm việc, tham gia các
phong trào văn hóa, thể dục thể thao, đi thực tế địa phương, thu thập thêm thông
tin để có được cái nhìn cụ thể làm cho bài viết chân thực, sinh động hơn.
Thực tập là điều kiện để được tốt nghiệp sau 4 năm học. Đồng thời qua
đợt thực tập bản thân tôi nói riêng và nhóm thực tập nói chung đã có cơ hội rèn
luyện bản thân, nâng cao sự hiểu biết về các vấn đề xã hội.
2.2. Những công việc thực tập :
Ngày đầu tiên nhóm thực tập liên hệ với cơ sở thực tập, bắt đầu làm quen
với công việc cụ thể có liên quan đến văn học, lịch sử, xã hội và các báo cáo văn
bản, văn hóa, sau khi lựa chọn đề tài làm báo cáo thực tập chúng tôi tiến hành
tìm tài liệu và đi thực tế địa phương nơi có vấn đề cần tìm hiểu.
Báo cáo với cô hướng dẫn về đề tài tôi lựa chọn và trình bày lí do cũng
như đề cương của đề tài, sau khi được cô chỉnh sửa và duyệt đề cương tôi tiến
hành viết đề tài. Song song với quá trình đó hàng ngày chúng tôi đến phòng văn
hóa để hoàn thành đúng công việc thực tập.
Đề tài mà chúng tôi lựa chọn là « Giá trị văn hóa Truyện Cổ Mường
Voong huyện Cẩm Thủy ». Lựa chọn nghiên cứu vấn đề trên là vì : Trong quá
trình thực tập ở phòng văn hóa huyện Cẩm Thủy, được tiếp cận và tìm hiểu về
đời sống kinh tế cũng như văn hóa tinh thần của nhân dân. Được đọc và tìm hiểu
thực tế về những nét văn hóa dân gian độc đáo của các dân tộc trên địa bàn
12
huyện tôi thấy rằng : Trong cộng đồng dân tộc Mường ở Cẩm Thủy, đặc biệt là
ở hai xã Cẩm Tú và Cẩm Quý còn lưu giữ rất nhiều nét văn hóa đặc sắc, đặc biệt
là thể loại truyện cổ của người Mường Voong xa xưa.
Lựa chọn đề tài « Giá trị văn hóa Truyện Cổ Mường Voong huyện Cẩm
Thủy » để thấy rõ hơn những giá trị văn hóa đặc sắc của một vùng Mường cổ
xưa và nhằm nhấn mạnh vai trò của văn học dân gian trong đời sống tinh thần
của đồng bào Mường Voong nói riêng và trong văn học dân gian các dân tộc
Việt Nam nói chung.
Nói chung, sau 10 tuần thực tập tại phòng văn hóa huyện Cẩm Thủy đã
tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tố công việc thực tập, nghiên cứu về đề
tài « Giá trị văn hóa Truyện Cổ Mường Voong huyện Cẩm Thủy » cho nội dung
báo cáo thực tập của mình.
2.3. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyện cổ Mường
Voong
Trong nhiều công trình sưu tầm và khảo cứu truyện cổ dân gian dân tộc
Mường ở Việt Nam trước đây người ta chỉ nhắc đến Mường Bi, Mường Vang,
Mường Thàng, Mường Động…chứ chưa ai nhắc đến Mường Voong. Gần đây
trong cuốn sách « Truyện cổ Mường Voong » (Nhà xuất bản văn hóa dân tộc)
do Cao Sơn Hải – Cao Chí Sơn sưu tầm và biên soạn đã có công trình sưu tầm
và khảo cứu về truyện cổ của người Mường Voong.
Việc sưu tầm truyện cổ dân gian Mường Voong đã được đề cấp đến, vậy
nên ở đề tài này chúng tôi xin được đề cập tới vấn đề Bảo tồn và phát huy giá trị
văn hóa có trong truyện cổ Mường Voong.
Nhớ đến tuổi thơ ấu của mình được ông bà, cha mẹ, các bác, các chú
thường kể truyện cổ cho nghe, có truyện đã được in ở đâu đó, có nhiều chuyện
chưa được in ở đâu cả. Trong khi đó ngày nay con cháu ở quê hương đất Mường
lớn lên không còn được nghe truyện cổ ở quê hương nữa, còn cháu ở vùng
Mường này hiện nay không ít người nghĩ rằng người Mường không có chuyện
gì để kể.
13
Đến nay đã có công trình sưu tầm những truyện cổ tiêu biểu của Mường
Voong, trước hết con cháu đời này có cái mà đọc, mà kể và theo đó để bảo tồn
di sản, một đi không trở lại của một vùng Mường. Nghĩ rằng điều này còn có ai
đó làm như vậy ở những vùng, những cộng đồng người khác nhau, và như thế
việc bảo tồn và giữ gìn những di sản quý cho đời sau sẽ cụ thể và sinh động hơn.
Và đây cũng là vấn đề phát huy tinh hoa của di sản văn hóa trong đời sống ngày
hôm nay.
2.3.1. Giới thiệu về Mường Voong xưa và truyện cổ Mường Voong
2.3.1.1. Đôi nét về Mường Voong xưa
Mường Voong xưa thuộc tổng Mông Sơn, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh
Hóa. Đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, vùng đất này có 4 thôn nhỏ do 4
lý trưởng cai quản, 4 thôn này gồm : Thôn Trung Sơn, Thôn Liên Sơn, Thôn
Mông Sơn và Thôn Tràng Lang. Ở đất này chia thành 28 làng hoặc chòm.
Có làng đông đến 80 nóc nhà như làng Én, làng Chiềng, làng Ao….
nhưng cũng có làng chỉ có vài nóc nhà như làng Mùi, làng Ráy, làng Cò
Ngao….
Đến sau cách mạng tháng 8 năm 1945 Mường Voong trở thành một xã.
Đó là xã Vượng Sơn. Đến năm 1947 đổi thành xã Cẩm Tú. Vào năm 1964 xã
Cẩm Tú tách thành 2 xã, một xã vẫn giữ địa danh Cẩm Tú, một xã mang tên
Cẩm Quý. Như vậy Mường Voong xưa gồm 2 xã Cẩm Tú và Cẩm quý ngày
nay.
Mường Voong nằm ở Tây Bắc của huyện Cẩm Thủy, cách thị trấn huyện
lỵ nơi gần nhất là làng Ngốc, làng Cùng chỉ qua con sông Mã, nhưng cách nơi
xa nhất là 12km. Phía Bắc Mường Voong có dãy đồi cỏ gianh thấp, ngọn cao
nhất 552m xưa có nhiều hươu, sao, nai và đã từng có hươu xạ, lợn rừng, hoẵng,
gấu, cọp beo, chim công, gà gô. Dãy đồi này xưa có nhiều loại sâm núi rất quý.
Qua dãy đồi cỏ gianh này là giáp huyện Thạch Thành gồm các xã Thạch Cẩm,
Thạch Quảng, Thạch Tượng. Nối liền với vùng Mường – Thiên quan xưa nay là
Hòa Bình, Nho Quan (Ninh Bình). Phía Tây Bắc Mường Voong tiếp giáp với
các xã Lương Nội và Lương Trung của huyện Bá Thước. Phía Đông và Nam
14
giáp với xã Cẩm Phong, Cẩm Ngọc. Phía Tây một phần giáp sông Mã và xã
Cẩm Lương, Cẩm Giang là một dãy núi đá với qua lại với nhau bằng các ro.
Mường Voong xưa – hai xã Cẩm Tú và Cẩm Quý ngày nay, nằm giữa một thung
lũng bằng phẳng có chiều rộng trung bình 5km, chiều dài 12km diện tích đất
canh tác 1059 ha, diện tích rừng 4000 ha, giữa thung lũng Mường Voong là một
cánh đồng rộng, có một con suối lớn với chiều dài 20km tưới tiêu cho các cánh
đồng rồi chảy ra sông Mã. Con suối này không chỉ là nguồn nước tưới cho cánh
đồng của Mường và nước sinh hoạt mà còn là nơi có nguồn Thủy sản lớn, đồng
Mường Voong màu mỡ, ruộng cấy hai vụ lúa từ lâu bởi hệ thống mương bai
tương đối hoàn chỉnh. Ngoài trồng lúa Mường Voong là nơi trồng bông phát
triển mà nổi tiếng là đồng làng Bông, đồng làng Giềng và đồng lúa. Trong vườn
người ta trồng cau, trầu, cam, quýt…mùa thu hoạch bông, cau và lúa có rất
nhiều người vùng khác đến đây gặt thuê, mua bông, mua cau, mua trâu bò…
Mường Voong xưa là một mường thuộc loại trung bình ở miền núi Thanh
Hóa xét về không gian và ảnh hưởng đối với các mường nhưng lại là một
mường trù phú. Ở miền núi Thanh Hóa có những mường lớn như mường khô
(Bá Thước) hoặc mường Đẹ (Thạch Thành).
Sự hình thành Mường Voong như thế nào và từ bao giờ hiện chưa có một
tài liệu nào nói đến, trong bản thành tích của Thành hoàng làng Chiềng Mường
Voong là Cao Ung và thần tích của Thành hoàng làng Ăn Mường Voong là Cao
Thanh đều ghi lại rằng : hai vị lúc còn sống là tù trưởng có công lập làng, dạy
dân khai hoang vỡ ruộng sắn bắn, tạo dựng thuần phong mĩ tục, các ngài làm
việc này từ 1619 – 1643 thời Vĩnh Trị thuộc Hậu Lê, như vậy cách đây gần 400
năm. Nhưng chắc chắn vùng đất này đã có dân ở từ lâu hơn. Đáng chú ý, ở đây
có một di sản văn hóa thời kì đồ đá mới ở hang Trống, mái đá Điều. Trong quán
ngũ người mường Thanh Hóa có nói đến một số mường. Trong đó có Mường
Voong : Phẩm ,Vong, Roong, Đẹ. Trong dân ca mường đã có một số câu nói
đến Mường Voong :
Con gái Mường Voong như bông lúa nếp
(con mài mướng Voong như đoong clu chìn)
15
hoặc : Gà rừng gáy đất Mường Voong
Sao anh lại đem bẫy vòng
đặt nơi mường Trác ?
(Kha cỏ cằn ở đất Mường Voong
Nó lenh đom do voong
đi sả mường clac)
Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, cũng giống như các mường khác,
ngoài hệ thống bộ máy cai trị của chính quyền phong kiến, thực dân, còn có chế
độ lang đạo, lang đạo ở Mường Voong trải qua mấy đời chỉ có dòng họ Cao.
Nhưng thực ra chế độ lang đạo ở Mường Voong đã mất từ những năm đầu của
thế kỉ trước. Dòng họ lang đạo vẫn còn, ruộng vườn nhà lang vẫn còn nhưng dân
không còn đi xâu nô, cống nạp. Ở Mường Voong trước cách mạng Tháng 8 năm
1945 dân cư chỉ có ở người Mường. Mãi đến những năm 60 của thế kỉ trước mới
có đồng bào dưới xuôi ở các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Yên Định
(Thanh Hóa) lên định cư sống xen kẽ với người Mường. Dân số người Mường
Voong trước đây chỉ khoảng 3000 người, nay dân số hai xã Cẩm Tú và Cẩm
Quý lên tới trên 14.630 người, trong đó có 63% là người Mường.
Mường Voong trước đây có thể thấy như một điển hình về nơi giao lưu
văn hóa mường ngoài và mường trong và cũng là một trong những nơi giao lưu
văn hóa giữa người miền xuôi – người Kinh và miền núi – người Mường.
Ở Mường Voong những hình sông thể núi và những vấn đề của đời sống
xã hội Mường cũng góp phần gợi mở sự sáng tạo của nhân dân. Ở đây có thác
Ngốc tung bờm ngựa trên sông Mã quanh năm gầm réo, trên các lên đá trắng có
hình con ngựa, có những hòn núi đã giữa Mường với vẻ đẹp trầm ngâm, có
những giếng nước trong mát từ trong lòng núi chảy ra. Trong các hang đá như
núi Ké đôi khi có những âm tanh kì lạ phát ra, rồi trên đỉnh núi cao có áng nước
bốn mùa không cạn, những vấn đề tình yêu, hôn nhân, vấn đề thân phận người
nghèo, anh chàng mồ côi cũng gây cảm hứng cho truyện cổ.
Mường Voong là khu đệm của những nét văn hóa đặc sắc của mường
Ngoài và mường Trong. Ở đây là nơi tiếp giáp với Thạch Thành (Thanh Hóa),
16
Hòa Bình, Ninh Bình. Nhưng vùng này cũng lưu lại những phong tục, ngôn
ngữ…của người mường Trong. Ở vùng này người ta lấy vợ gả chồng ở cả
Mường Ngoài và Mường Trong. Người mường ở nhiều vùng như Bá Thước
không còn hát hội như ở miền xuôi, còn ở Mường Voong ngoài hát xường rang,
bộ mẹng thì người ta cũng mê hát bội và rước những phường hát bội từ miền
xuôi lên hát, hát nhiều đêm và mời các thầy dạy hát bội về làng. Mùa xuân,
ngoài hát bội, ở các đình, nhà tư, người ta còn đi chơi chùa như Chùa Mông,
Chùa Trang, còn đi chơi đền Ngốc, chơi còn, xéc bùa, chơi trống dàm. Khác với
nhiều vùng mường ở Mường Voong người ta mời thầy ở miền xuôi lên dạy ở
các nhà tư, từ năm 1940 đã có trưởng Tổng. Tổng Mông Sơn đã xây dựng văn
miếu, (văn chỉ) thờ Khổng Tử, được tế vào tháng ba hàng năm. Trên các nhà
sàn, vào những mùa bổ cau, những đám cưới, mừng nhà mới, làm vía, thanh
niên ngủ chơi đêm người ta thường kể truyện cổ, truyện cười, đôi khi cũng có
cuộc hát xường rang. Còn những người bổ cau thuê, thợ cung bông thợ cối xay,
thợ gặt, đêm nghỉ người ta kể truyện cổ, truyện cười, truyện Trạng Quỳnh,
truyện Phạm công – Cúc Hoa của người Kinh, cả thợ, cả người nhà, hàng xóm
cũng lắng nghe. Rõ ràng trước 1945 ở Mường Voong đã có môi trường tự nhiên,
xã hội, sinh hoạt văn hóa tạo điều kiện cho sự tồn tại phát triển truyện cổ.
Thiên nhiên, cuộc sống và sinh hoạt văn hóa ở Mường Voong là cơ sở ra
đời, hát triển, tiếp biến nên truyện cổ Mường Voong .
a) Truyện cổ người Mường
Người Mường nói chung và người Mường Voong nói riêng dùng từ
« truyện cổ » có nghĩa là truyện ngày xưa (triến ngái hơ). Nghĩa là tất cả những
chuyện ngày xưa được gộp vào truyện cổ của người mường nói chung là không
có vần, chủ yếu là văn xuôi, kể bằng miệng. Nhưng trong một số truyện cũng
đôi khi có vài câu điểm vần vè. Điều này xuất hiện trong các truyện tình lứa đôi,
câu có vần này có khi có tính đồng dao, nhưng một số câu đã có chất thơ, có lẽ
những câu có chất thơ này là tiền đề cho các bản tình ca như : Nàng Nga – đạo
Hai Mối, út lát – đạo Hồi Liêu.
17
Chuyện Nàng Ơm – chàng Bông Hương, được truyền lại đến ngày nay
trong sự tích Hoa Bông Trăng.
Tích xưa kể rằng : ở đất Mường Ai có đôi vợ chồng đã nhiểu tuổi mà chưa
sinh được mụn con nào. Đến nay thấy vợ có mang nên hai vợ chồng rất nâng niu
.Trời đã sang tháng ba, nắng lên thèm quả chua. Một bữa nhìn lên cây quýt còn
sót một quả chín muộn đỏ mọng nước. Vừa lúc ấy có cậu Bông Hương đi qua,
người vợ bảo :
Trên cành có quả quýt chín đỏ, cháu trèo lên hái cho bác. Ngày sau nếu
sinh được con trai thì bác cho cùng đi chài đi lưới, nếu sinh được con gái thì bác
cho kết bạn trăm năm (Khinh àn con đứa, cho đếu đi chán, đi lài, khinh àn cơ
cài, cho rênh cửa rênh nhá).
Đến kì sinh nở, người vợ sinh được một cô con gái lớn lên cô đẹp óng ả.
Bố mẹ đặt tên con là Ờm. Bông Hương bây giờ đã lớn thành một chàng trai,
nhưng nhà nghèo. Nhớ lời hứa của mẹ Ờm năm trước, Bông Hương thường sang
nhà chơi với Ờm khi cô gái bàn chân mới bằng lá bông báy, bàn tay mới bằng lá
muồng. Họ cùng đi chơi trò lập đan bằng manh lá chuối, và tập sẩy tập sàng
bằng đất, cát. Đôi trai gái lớn dần lên. Bông Hương theo Ờm đi hái dâu, đi củi,
đi lấy nước, tình yêu của họ cũng dần chớm nở theo năm tháng. Lúc đấy mẹ Ờm
không muốn giữ lời hứa của mình, tìm cách ngăn cản con gái đi lại với Bông
Hương.
Nhưng lời nguyền và tình yêu như đã gắn chặt, bố mẹ Ờm càng hối hận,
hờn giận, một lần nhìn vào giỏ lá dâu của con gái họ nạt con :
- Sao hôm nay trong giỏ lá dâu của con lại có nắm nhỏ, nắm lớn ? nói thật,
nếu không sẽ ăn đòn !
Ờm thưa :
- Mẹ ơi ! nắm lá dâu không đều nhau vì khi con đang hái lá dâu thì có con
bò con trâu vào phá rào, con phải đi đuổi chúng đấy !
Có người mách rằng đôi trai gái vẫn không rời nhau một bữa nọ mẹ Ờm
bảo :
18
- Hôm nay, con đi ra đồi chặt cho mẹ chín hèo cây trảy, bảy hèo lên en, để
mẹ rèn đàn trâu nhà ta cho đỡ hư hỏng !
Ờm không biết được ý của mẹ, khi Ờm mang hèo trảy hèo lên en về cho
mẹ, mẹ đóng các cửa vóng lại và rút hèo đánh Ờm tới tấp. Ờm chạy vào gian
trong, mẹ đuổi theo vào gian trong, Ờm chạy ra gian ngoài kêu van mẹ vẫn
không tha. Ở dưới sân nhà sàn, có chàng Bông Hương, khi Ờm chạy vào gian
trong Bông Hương cũng chạy vào phía trong, Ờm chạy ra gian ngoài chàng cũng
chạy ra phía ngoài. Chàng đau lòng, xót ruột, khi Ờm thân hình đầm đìa máu
nằm lả đi ở cửa sàn. Bông Hương đã lẻn lên vác người yêu đi tìm cách cứu
chữa. Dọc đường chàng Bông Hương xé áo của mình lau máu cho nàng Ơm.
Nàng Ơm dần tỉnh lại, đôi tình nhân đưa nhau lên đỉnh núi Lân Ai để chữa vết
thương và sống bên nhau.
Nàng Ơm bên ngực còn muốn sống, nhưng thân mình đã đọng những
nhặng cùng ruồi. Chàng Bông Hương không thể sống một mình đã cùng nàng
Ơm ăn lá ngón, cùng chết trên đỉnh núi Lân Ai cho trọn tình trọn kiếp thương
nhau. Khi nàng Ờm – chàng Bông Hương chết rồi, trên đường hom trước họ
qua, những giọt máu nàng Ơm nhỏ xuống đất mọc lên thành cây hoa Bông
trắng, cuối xuân hoa nở ra màu đỏ ấy là máu nàng Ờm, còn màu trắng ấy là mối
tình trong trắng của nàng Ờm – chàng Bông Hương.
Khắp trên vùng đất có người Mường sinh sống hầu như đâu đâu cũng có
cây hoa bông trắng mọc, cứ cuối xuân thì hoa bông trắng nở xòe năm cánh, túm
tụm từng chùm, màu sắc trắng trong, xen lẫn màu đỏ tươi, cũng có khi màu ngả
vàng. Dù là màu gì thì hoa bông trắng cũng có mùi thơm phức hoa bông trắng là
loài hoa tiêu biểu và phổ biến ở Mường Voong và các vùng mường khác. Ở
Mường Voong và một số mường khác như mường Ai, có nhiều dòng họ trong
đó có dòng họ Trương có giỗ hoa bông trăng vào tháng ba âm lịch hàng năm.
Ở người mường còn có hiện tượng một chuỗi truyện cổ được vần hóa kể
về sự ra đời của trời đất, muôn vật, cây cối sự sống và cái chết mang tính sử thi.
Đây là loại truyện cổ đặc biệt. Trong truyện cổ của người mường nói chung và
truyện cổ của người Mường Voong nói riêng có không ít truyện cười mọt số
19
truyện có yếu tố gây cười, các truyện : truyện Quậy, truyện Hơm, truyện Bố cu
và một số truyện cười lẻ khác của người mường là loại truyện cười. Người
mường cũng phân biệt rõ truyện cười (triên tró cưới) với truyện cổ (triến ngái
hơ).
b) Truyện cổ Mường
Truyện cổ tức là truyện của người xưa, đời xưa. Nhưng nó lại do người
đời nay kể, viết lại cho người đời nay và đời sau đọc và kể.
c) Khái niệm truyện cổ Mường Voong
Truyện cổ Mường Voong là truyện của người Mường Voong xưa, đời xưa
truyền qua các đời con cháu, được người đời nay kể viết lại cho người đời nay
và đời sau đọc và kể về truyện của người Mường Voong .
2.4. Phân loại truyện cổ Mường Voong
Khái niệm phân loại nói ở đây không theo kiểu phân loại truyền thống của
truyện cổ tích thường thấy ở các công trình nghiên cứu, các giáo trình đã có.
Khái niệm phân loại nói ở đây là qua khảo sát, thống kê các truyện cổ Mường
xem đâu là truyện do các thế hệ người Mường Voong sáng tạo, đâu là truyện
tiếp nhận ở các mường khác, đâu là tiếp biến giao lưu từ các truyện dân tộc khác
như người Kinh, Thái…việc phân loại cũng nhằm tìm hiểu sự sáng tạo ra truyện
cổ ở một vùng của một tộc người và sự « di trú » của truyện cổ từ những địa
phương khác, dân tộc khác đến một vùng như thế nào, nó tiếp nhận tỏng tiếp
biến ra sao.
Theo đó qua sưu tầm, kê cứu trong cuốn sách « Truyện cổ Mường
Voong » do Cao Sơn Hải – Cao Chí Sơn biên soạn (nhà xuất bản văn hóa dân
tộc) chúng tôi phân ra 3 loại :
- Loại truyện sáng tạo của Mường Voong
- Loại truyện cổ mường tiếp nhận từ các mường khác
- Loại truyện cổ tiếp nhận từ các dân tộc khác.
2.4.1. Loại truyện cổ do người Mường Voong sáng tạo
Thực ra việc nhận diện này là một việc làm không hề đơn giản, bởi sẽ là
ngộ nhận nếu cứ thấy nói đến “làng ta” thì là của ta cả. Có khi nói đến tên
20
người, tên một vó nước, một ngọn núi, sự việc tưởng như đó là truyện “mường
ta” mà không phải “mường ta” thực ra nó có nguồn gốc từ một nơi nào đó hoặc
nhiều nơi có truyện đó, thí dụ ở đây có truyện sự tích vó nước làng Chiềng.
Tích xưa kể rằng: xưa ở làng Chiềng Mường Voong có người tên là Cao
Thuật. Ban ngày ông thường làm việc đồng áng, nương rẫy. Đêm đến ông hay đi
kéo vó ở các khe suối xung quanh vùng.
Một hôn trời tối đen như mực, ông đưa vó xuống kéo cá ở một vũng sâu.
Đêm đã khuya mà chưa được một con cá nào cả, ông định ra về thì cất vó được
quả trứng to bằng quả trứng vịt. Ông đang tìm cá tôm lại được trứng, nên ông
thả rồi đi chỗ khác. Lần thứ hai nhấc vó lên, quả trứng nằm gọn trong vó, ông lại
bỏ đi. Đến lần thứ ba ông không đành bỏ nữa và cho quả trứng vào giỏ, từ lúc ấy
đến khi trở về các mẻ vó kéo lên đều được nhiều cá, tôm, ông trở về nhà đặt
trứng vào ổ cho gà ấp. Bỗng một hôm ông nghe tiếng gà tác, nhìn vào ổ gà ông
thấy một con rắn nhỏ nhưng trên đầu có mào khác lạ. Ông nuôi con rắn lúc nhỏ
ông bắt cá tôm về cho nó ăn. Lớn lên nó cuốn trên cái mai, cái bắp cày, ông vác
nó ra đồng đi kiếm mồi, không lâu sau, con rắn lớn không còn cuốn vào cái mai
nữa là ông Thuật đi trước nó trườn theo sau, cái mào ngày càng đỏ. Càng lớn, nó
trườn trên đường làm cho dân mường sợ hãi. Có người bảo ông tìm cách giết nó
đi để dân làng hỏi sợ. Một hôm ông đang dùng mai xén bờ ruộng, lừa dịp nó
kiếm ăn gần đấy, ông xén cho nó một nhát mai. Lát mai định xén vào đầu nhưng
lại trượt xuống đuôi, nó quay lại định cắn ông, ông vội nói:
- Bố mỗi năm mỗi già, mắt kém nên nhầm đấy thôi, bỏ lỗi cho bố.
Cái đuôi của nó được chôn cất cẩn thận (cách đây chưa lâu ở làng Chiềng
người ta chỉ ra cái mộ đuôi con rắn) từ đấy người ta gọi con rắn là “ông Cụt”.
Ông Cụt giờ đây đã to lắm rồi, ông tự đi kiếm ăn, đêm về nằm một
khoanh dưới gầm nhà, mỗi khi đi kiếm ăn thường phát ra tiếng phì phì, trườn đi
rung cả đất, người làng sợ khiếp vía, có lần ông bố nuôi nói:
- Bây giờ con đã lớn, ở đây khe suối không lớn, bố đưa con ra sông Mã để
chọn nơi đậu lại!
21
Con rắn gật đầu. Thế là hôm sau, bố nuôi đi trước, nó trườn theo sau. Đến
vực Gầm trên sông Mã nó trườn xuống nước, ông đợi trên bờ, nó lặn sâu xuống
đáy vực. Khi lên, trông thấy bố nuôi, nó lắc đầu, con rắn lại theo ông về nhà.
Hôm khác ông lại đưa nó ra vực Mổ trên sông Mã, nó lại trườn xuống vực, khi
lên bờ cũng như lần trước nó lại lắc đầu. Ông đưa nó trở về nhà. Có người mách
ông rằng thử đưa nó ra vực Cả (vực Cả ở sông Bưởi. Đoạn sông thuộc xã Thạch
Lâm, huyện Thạch Thành) xem sao. Ông lại đưa con rắn đi. Đến nơi con rắn
trườn xuống vực, ông thấy nước tung tác lên, nổi bọt đục ngầu lần này con rắn ở
dưới nước lâu hơn mọi khi, đến lúc nó ngoi lên, nhìn thấy bố nuôi, nó gật đầu.
Ông chào nó trước khi về ông dặn rằng:
- Con ở lại lo kiếm ăn đừng làm hại người qua lại con sông này.
Mấy ngày sau ở làng Chiềng tự nhiên tối sầm, giữa làng đùn lên hai vó
nước. Nước chảy ngày càng mạnh, cá tôm tuôn theo dòng nước người ta phải dỡ
bảy ngôi nhà sàn lớn để ngăn bớt nước hai vó nước này đủ cho cả làng dùng
quanh năm, lại còn đủ nước tưới cho cánh đồng, không bao giờ cạn, mùa đông
nước bốc hơi ấm, mùa hè mát rượi, cạnh giếng người ta làm đền thờ con rắn.
22
(Vó nước làng Chiềng - xã Cẩm Tú - Cẩm Thủy)
Truyện này tưởng như là truyện người Mường Voong đặt ra vì ông Cao
Thuật nuôi con rắn, nay còn có người nhận là di duệ ông Thuật. Rồi hai vó nước
này đang ở làng Chiềng, ngôi mộ nơi chôn đuôi con rắn, và đình thờ con rắn
được phong thần Thủy Phủ Long Vương, thần tích nói rất rõ: con người, công
tích, địa điểm, thời gian tưởng không nhầm đâu được! Nhưng mà tích truyện
ông Dài, ông cụt như kiểu sự tích vó nước làng Chiềng thì ở làng Ngọc xã Cẩm
Lương huyện Cẩm Thủy cũng có - ở mường Bi tỉnh Hòa Bình cũng có và ngay
cả nhiều làng ở miền xuôi như ở huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) cũng có. Giải
thích hiện tượng này như thế nào? Phải chăng dân gian muốn gần gũi hóa cái xa
xôi ở đâu đó, kéo lại cho gần? Muốn rằng cái chuyện ấy không đâu xa “nó ở cái
làng tôi” “mường tôi” đấy, tin đi!
(Núi Cửa Hà - Cẩm Phong - Cẩm Thủy)
Theo đó thì có thể truyện thực sự phát sinh ở Mường Voong được sưu
tầm trong cuốn “Truyện cổ Mường Voong” (nhà xuất bản Văn hóa dân tộc), chỉ
chiếm hơn 1/3 số truyện. Đó là những truyện giải thích núi non, sông nước gắn
với quê hương như truyện nữ thần núi ké, truyện Bông cun, truyện ông Beo,
23
nàng vỏ trứng, truyện thằng Côông Dênh và một số truyện khác. Theo tích xưa,
trên sông Mã, đoạn chảy qua làng Ngốc đất Mường Voong có mọt cái thác nổi
tiếng. Trông xa đó là những tảng đá nối nhau khi quây quần tụ lại, chỗ thì tản ra,
chỗ nhấp nhô trong nước và cao vút lên, nước chảy qua đây réo ầm ầm trắng xóa
giữa đôi bên là những ngọn núi đá cao vút. Thuyền bè qua đây nhiều cái bị đánh
tan tành rồi chìm nghỉm. Các tay chèo thuyền, bè đi ngược xuôi trên sông mã
thường truyền tai nhau về sự nguy hiểm của tác Ngốc.
Qua rồi Va Chuổi Dần Long
Lòng còn sợ thác Ngốc cùng mà thôi
Người Mường Voong truyền rằng ngày xưa có một vị cun Lang người
làng Bông gọi là Cun Bông. Nhà Cun Bông lúc đầu cũng không lấy gì làm giàu
có, hàng ngày ông cùng dân mường đi cày làm nương rẫy, bỗng một hôm ông
bắt được một viên ngọc, người ta gọi đó là viên ngọc khót trâu (trong tiếng
mường, khót là một viên ngọc cầm tinh con vật, ở đây là viên ngọc cầm tinh con
trâu) nhà cun từ đó trở nên giàu có, mỗi lần ông mang ngọc ra mài thì lại có
thêm những con trâu ở đâu đó đến nhập đàn. Cun giàu có tậu thêm được nhiều
trâu, nhiều ruộng. Toàn bộ xứ đồng Bông rộng là đất tốt là của Cun. Đồng ruộng
nhiều, người ăn kẻ ở đi làm xâu nơ ngày càng đông…thả cây bừa không cần
mang về nhà mà người ta xúm vào một cái gò giữa đồng, trên gò này người ta
trồng dây chua mon leo lên các cây để khi đang bừa nếu chão bị đứt thì vào đó
lấy dây chua mon để thay, cơm nhà ông ăn qua ba mùa không hết, dưới sân có
nhiều ngựa trong tàu, nhà ông nuôi rất nhiều trâu, sáng ra người ta thả đàn trâu
đi ăn cỏ trên đồi tranh, mỗi lần chúng đi đen cả một vùng đứng xa nhìn như con
sông đen đang chảy. Tối về trâu các nhà khác thì đằm ở các suối, các vũng còn
trâu nhà Cun Bông phải đưa ra sông Mã mới có chỗ cho chúng tắm táp, đắm
mình và uống nước, mỗi ngày như thế nước Sông Mã lại dềnh lên tràn bờ.
Đàn trâu nhiều vô kể ấy có một con đực đầu đàn. Đó là một con trâu
mộng cao to, da đen như quả sim chín, cặp sừng to nhọn hoắt, đi đâu nó cũng
dẫn đầu đàn, có nó, đàn cọp phải chạy xa, kẻ trộm cũng không giám bén mảng
24
đến. Nhà Bông Cun đã giàu lắm rồi nhưng Cun còn muốn giàu hơn. Một hôn có
người mách với nhà Cun rằng :
- Nhà Cun muốn giàu nhiều trâu hơn nữa thì phải thịt con trâu đầu đàn để
tế khót trâu.
Cun Bông nghe lời, chiều hôm ấy đàn trâu kìn kìn kéo ra sông Mã tắm
như mọi khi thì người nhà Cun bắt con trâu đầu đàn về làm thịt. Đàn trâu mất
con đầu đàn, người nhà Cun ra đuổi về, chúng không trở về nữa, đàn trâu đen
nghịt ấy tự nhiên biến thành những tảng đá chắn ngang sông Mã, nước sông qua
đó phải chồm lên rồi đổ xuống thành ngọn thác dữ. Thác này gần làng Ngốc nên
gọi là thác Ngốc.
Ngoài ra còn xuất hiện những chuyện rất cổ, ở đó con người nửa người
nửa vật như « truyện thằng Côông Dênh », mụ Vai vôn lại có những người rất
khác, cao lớn lạ thường với những việc làm phi thường. Cầm hòn đá ném trâu,
đá rơi thành núi ; ngồi vào cối đá, cối đá ngập lún xuống đất. Tuy ít nhưng đã
xuất hiện những truyện về dựng Mường tạo làng những chuyện cổ có dính dáng
đến lịch sử đất nước, địa phương những chuyện về thế thái nhân tình, tình yêu
đôi lứa, những thân phận con người.
2.4.2. Loại truyện cổ được người Mường Voong tiếp nhận từ mường
khác
Một điều có thể thấy rõ đó là những chuyện cổ mường nhưng không rõ
được tiếp nhận từ mường nào. Đã trở thành truyện được kể phổ biến ở Mường
Voong . Người Mường Voong cũng không ai bận tâm tới việc nó đến từ mường
nào mà coi nó là truyện « mường ta ». Những truyện thuộc loại này có số lượng
tương đối lớn, chiếm tỉ lệ gần ½ số truyện được ghi trong cuốn sách « Truyện cổ
Mường Voong » (nhà xuất bản VHDT). Đáng chú ý là những truyện thuộc loại
này là những truyện cổ tiêu biểu của người mường có sức phổ biến rộng rãi. Sức
lan tỏa này thật đáng chú ý, và điều đáng chú ý hơn nó cũng được hội tụ ở đất
Mường Voong. Ta sẽ không khó khăn gì khi nhận ra yếu tố « tiếp nhận từ
mường khác » này ở các truyện. Ví như trong sự tích cái Khấc ở Sừng Trâu.
25