Trường ĐH Nông Lâm Tp.Hồ Chí
Minh
Báo cáo chuyên đề môn
Hóa Sinh:
Tên đề tài: AUXIN-IAA
VÀ CÁC AUXIN NHÂN
TẠO KHÁC.
Biên tập: Phạm Hà Minh
Tâm DH06HH
MSSV:06139143
AUXIN-IAA VÀ CÁC AUXIN
NHÂN TẠO KHÁC
NHẬN XÉT
Có nhiều cố gắng tham khảo tài liệu, nội dung bài viết
tương đối tốt.
Một số nội dung nên rút gọn bớt, thí dụ mục “lịch sử phát
hiện”…
Cần có trang MỤC LỤC để dễ theo dõi.
Cần đánh số lại các đề mục cho đúng và rõ ràng :
•
Thấy các mục 1.1, 1.2,1.3…. mà không có mục 2.1, 2.2…?
•
Mục 1.9 đi trước mục 1.8?
•
Có mục 1.2.1 mà không thấy mục 1.2.2 ….?
NHẬN XÉT
Mục “Các danh pháp quốc tế” không rõ nghĩa.
Mục “Tài liệu tham khảo” viết chưa đúng quy định (Cô đã
sửa phần “Tài liệu tiếng Việt”. Phần “Tài liệu tiếng Anh”
không sửa được vì không đủ thông tin.
Các hình ảnh minh họa cần ghi số thứ tự và tiêu đề.
Nên sử dụng font chữ lớn hơn để tiện lợi khi báo cáo.
Lời mở đầu:
1. Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn các tác giả của các sách mà
tôi đã tham khảo để làm báo cáo này
2. Điều thứ hai:đây là báo cáo đầu tiên tôi làm vì vậy không tránh
khỏi những sai sót về mặt chủ quan của người biên tập.
3. Điều thứ ba:Xin PGS.TS Nguyễn Phước Nhuận đưa ra những
nhận xét thẳng thắn,chính xác nhất về bản báo cáo và chỉ ra những
thiếu sót còn mắc phải để em rút kinh nghiệm cho những lần báo
cáo khác.
4. Nếu được chọn để trình bày trước lớp chắc chắn bản báo cáo này sẽ
tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian sắp tới.Hy vọng điều đó sẽ
xảy ra
Xin chân thành cảm ơn
Các chất điều hoà sinh trưởng thực vật là một nhóm chất
có bản chất hoá học khác nhau nhưng đều có một tác dụng
điều hoà quá trình sinh trưởng, phát triển của cây và đảm
bảo mối liên hệ giữa các cơ quan, bộ phận của cây.
Chất điều hoà sinh trưởng thực vật được chia ra làm 2
nhóm:
a. Các chất kích thích sinh trưởng.
b. Các chất ức chế sinh trưởng
Trong báo cáo này tôi tập trung trình bày nhóm các chất
kích thích sinh trưởng auxin đặc biệt là IAA một hormone
quan trọng nhất tồn tại trong giới thực vật
Giới thiệu:
Giới thiệu:
Auxine tiếng Hy lạp có nghĩa là sinh trưởng.
Chất quan trọng nhất trong nhóm auxin là heteroauxin, là
β-indol acetic acid (viết tắt IAA). Các VSV đường ruột
cũng sản xuất IAA, nên người ta tìm thấy IAA trong nước
tiểu.
Trong nông nghiệp người ta sử dụng IAA để kích thích
hình thành rễ nhanh ở các chồi, các cành chiết , như cam,
chanh …
Bảng phân loại các chất điều hoà sinh trưởng thực vật
Các danh pháp quốc tế:
IAA: β-indol acetic acid.
IAN: β-indol acetonitril.
PAA: Phenyl acetic acid.
IBA: β-indol butyric acid.
α –NAA: α-Naphtyl acetic acid.
2,4D: 2,4 dichlorophenoxyacetic acid.
2,4,5 T: 2,4,5 trichlorophenoxyacetic acid
MCPA: 4 chloro, 2 methyl phenoxyacetic acid.
ABA: Abcisic acid.
BA: Benzyladenin.
CCC: Chlorocholine chlorid.
MH: Malein hydrazide.
TIBA: Triiodobenzoic acid.
CEPA: Chloroethylenphosphoric acid.
AUXIN-CHẤT KÍCH THÍCH SINH
TRƯỞNG THỰC VẬT.
1. Auxin:
1.1. Lịch sử phát hiện:
Chất kích thích tăng trưởng “auxin” bắt nguồn từ ngôn ngữ Hy Lạp –
auxein, có nghĩa là tăng trưởng
Năm 1880, Dacwin đã phát hiện ra hiện tượng hướng quang ở thế
giới thực vật.
Hướng quang là khả năng hướng về nguồn ánh sáng chiếu từ một
hướng như các cây trồng ở cửa sổ luôn luôn vươn ra ngoài cửa sổ.
Hiện tượng hướng quang đặc biệt rõ rệt nhất đối với bao lá mầm các
cây hoà thảo (Coleoptyl), vì vậy chúng là đối tượng được dùng nhiều
trong việc nghiên cứu tính hướng quang ở thực vật. Nếu chiếu sáng từ
một hướng đến ngọn bao lá mầm thì sẽ gây nên sự uốn cong hướng về
nguồn sáng, nhưng nếu để chúng trong tối hoặc loại trừ đỉnh ngọn của
bao lá mầm thì hiện tượng đó không xảy ra. Ông cho rằng đỉnh ngọn
của bao lá mầm là nơi tiếp nhận kích thích của ánh sáng.
1.1 Lịch sử phát hiện:
Sau đó Boyen Jensen đã phát hiện ra rằng đỉnh ngọn bị loại trừ đó nếu đặt trở
lại trên bề mặt của bao lá mầm đó thì nó có khả năng gây phản ứng hướng
quang bình thường như trường hợp cây nguyên vẹn. Như vậy thì một chất gây
hướng quang nào đó sản sinh trong đỉnh ngọn và vận chuyển theo hướng gốc
đã gây nên sự sinh trưởng khác nhau của các mô phía dưới.
Paal (1919) đã cắt rời đỉnh bao lá mầm và đặt lại lên bề mặt cắt nhưng lệch
sang một bên và để trong tối. Hiện tượng uốn cong hướng động xảy ra mạnh
mẽ như trường hợp có chiếu sáng một hướng. Ông cho rằng đỉnh ngọn đã hình
thành nên một chất sinh trưởng nào đấy, còn ánh sáng xác định sự phân bố của
chất đó về hai phía của bao lá mầm.
Năm 1933 Kogh (Hà Lan) đã báo cáo rằng ông đã tách được auxin A và auxin
B từ nước tiểu người. Ông đã công bố trọng lượng phân tử của auxin A là 328.
Các chất này đã gây ra phản ứng uốn cong mạnh của bao lá mầm cây lúa
mạch. Năm 1934, Kogh và Kosterman đã tách được chúng từ dịch chiết nấm
men và năm 1935 đã tách được chúng từ dịch của môi trường nuôi cấy nấm
Rhizopus.
1.1 Lịch sử phát hiện:
1.1 Lịch sử phát hiện:
1.1 Lịch sử phát hiện:
1.1 Lịch sử phát hiện:
Tiếp theo người ta đã xác định bản chất hoá học của auxin. Đó chính
là β-indolylacetic acid (IAA). Vì lúc đầu người ta chưa xác định được
sự tồn tại của auxin trong cây nên người ta gọi chất đó là heteroauxin.
Những năm về sau người ta lần lượt tách được auxin từ các đại diện
của thực vật thượng đẳng khác nhau và chứng minh rằng đây là một
phytohormone quan trọng nhất tồn tại trong toàn bộ thế giới thực vật.
Đồng thời người ta cũng đã tổng hợp được rất nhiều các hợp chất khác
nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA và thậm chí nhiều
chất có hoạt tính mạnh hơn nhiều so với IAA và chúng được sử dụng
rộng rãi trong sản xuất nhằm điều chỉnh sinh trưởng của cây trồng có
lợi cho con người. Chúng thường có dạng mạch vòng. Đó là các dẫn
xuất của indol như β-indol butyric acid (IBA); β-indol propionic acid
(IPA), …; Các dẫn xuất cuả naphtalen như α-naphtylacetic acid (α-
NAA); β-naphtylacetic acid (β-NAA); Các dẫn xuất của
chlorophenoxyaxetic acid như 2,4 dichlorophenoxyacetic acid (2,4D);
2,4,5 trichlorophenoxyacetic acid (2,4,5T)
Công thức của các auxin
1.2. Các dạng auxin trong cây:
Auxin được tổng hợp chủ yếu ở đỉnh sinh trưởng ngọn, từ đó vận chuyển đến
các cơ quan khác nhau theo hướng gốc. Ngoài đỉnh sinh trưởng ngọn, auxin
còn được tổng hợp một phần ở các cơ quan còn non như lá non, chồi non, quả
non.
Trong cây auxin tồn tại ở hai dạng: dạng tự do và dạng liên kết.
* Auxin dạng tự do: là dạng có hoạt tính sinh học. Chúng tồn tại ở đỉnh sinh
trưởng ngọn, sau đó đến chồi bên, đầu rễ và các cơ quan non. Càng xa đỉnh
sinh trưởng nồng độ auxin tự do càng giảm dần.
Dạng auxin tự do chủ yếu trong cây là IAA. Auxin tự do trong cây chiếm một
tỷ lệ rất thấp khoảng 5% auxin tổng số.
* Auxin dạng liên kết: là dạng auxin chủ yếu trong cây. Hàm lượng của dạng
liên kết này có thể chiếm trên 90% lượng auxin có trong cây. IAA có thể liên
kết với rất nhiều các hợp chất khác nhau nên chúng không có hoạt tính sinh
học hoặc có hoạt tính rất thấp. IAA có thể liên kết với đường; các aminoacid
và amide để tạo nên các auxin liên kết như IAA-glycoside; IAA-glucan;
indolacetamide, indolacetylaspartate; indolacetylglutamate,
indolacetylinositol; indolacetylarabinose, …
VD:
1.2.1 Chức năng của auxin liên kết trong
cây
Là nguồn dự trữ auxin trong cây
Chúng liên kết với đường, với các aminoacid và các chất
khác làm cho chúng bền vững với các tác nhân có thể
làm phá hủy auxin và là phương thức tốt nhất để chống
lại sự tác động của các peroxidase phân hủy auxin
Auxin liên kết là dạng auxin vận chuyển chủ yếu trong
cây.
1.3 Sự tổng hợp auxin trong cây:
Cơ quan tổng hợp auxin là đỉnh sinh trưởng ngọn. Từ mô
phân sinh đỉnh, IAA được vận chuyển xuống các cơ quan
phía dưới; auxin còn được tổng hợp ít hơn ở trong các cơ
quan đang sinh trưởng như lá non, quả non, rễ non, …
Người ta đã xác nhận chất tiền thân để tổng hợp nên IAA
là aminoacid tryptophan.
1.3.1 Sơ đồ tổng hợp auxin-IAA
trong cây:
1.4 Sự phân giải auxin-IAA trong
cây
Sự phân giải auxin trong cây xảy ra trong các trường hợp
sau: Khi có thừa auxin do sự tổng hợp quá nhiều auxin
trong cây và sau khi auxin đã gây hoạt tính sinh lý với cây
xong.
Việc làm mất hoạt tính auxin có thể xảy ra bằng hai con
đường: Sự oxy hoá bằng enzyme IAA-oxidase và sự quang
oxy hoá.
1.41. Sự oxy hoá bằng enzyme IAA-oxidase: Đây là
enzyme oxy hoá IAA, enzyme này hoạt động rất mạnh
trong hệ thống rễ thực vật để làm mất hoạt tính của IAA
vận chuyển xuống đó là nơi cuối cùng. Phản ứng oxy hoá
của IAA xảy ra như sau:
1.4.1. Sự oxy hoá bằng enzyme IAA-
oxidase
Đây là enzyme oxy hoá IAA, enzyme này hoạt động rất
mạnh trong hệ thống rễ thực vật để làm mất hoạt tính của
IAA vận chuyển xuống đó là nơi cuối cùng. Phản ứng oxy
hoá của IAA xảy ra như sau:
1.4.2 Sự mất hoạt tính của IAA:
Sự mất hoạt tính của IAA có thể xảy ra do ánh sáng tử
ngoại bởi vì cấu trúc vòng của phân tử IAA hấp thu ánh
sáng tử ngoại λ = 280 nm và gây nên sự phân giải IAA.
1.5 Sự vận chuyển của IAA trong
cây
Auxin được tổng hợp trong đỉnh ngọn và từ đấy vận
chuyển xuống các cơ quan phía dưới. Sự vận chuyển của
auxin trong cây có tính phân cực rõ rệt, theo hướng gốc,
tức là từ ngọn xuống rễ mà không vận chuyển ngược lại.
Cơ chế của sự vận chuyển phân cực của IAA trong cây dựa
theo thuyết hoá thẩm của Goldsmith (1977) như sau: