TRƯỜNG THPT MẠC ĐĨNH CHI.
Họ và tên sinh viên thực tập: Bùi thị Chen
Khoa: Lịch sử.
Giáo viên hướng dẫn: Cô Phạm Thị Lệ Thủy.
GIÁO ÁN 03:
PHẦN BA
LỊCH SỬ VIỆT NAM
CHƯƠNG I: VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX
BÀI 19: NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM
LƯỢC ( Từ năm 1858 đến trước năm 1873).
(Tiết 1)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC.
1. Kiến thức.
Sau khi học xong bài học, yêu cầu HS cần:
- Biết được tình hình Việt Nam giữa thế kỉ XIX, trước cuộc xâm lược của thực dân
Pháp.
- Hiểu được âm mưu xâm lược của thực dân phương Tây, cụ thể là Pháp và quá trình
xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp từ năm 1858 đến năm 1873.
- Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta bền bỉ để bảo vệ độc lập chủ
quyền của dân tộc giai đoạn từ 1858 đến 1873.
2. Tư tưởng.
- Hiểu được bản chất xâm lược và thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân.
- HS có những đánh giá đúng mức nguyên nhân và trách nhiệm của triều đình Huế trong
việc tổ chức kháng chiến.
- Giáo dục tinh thần yêu nước, khâm phục tinh thần đấu tranh anh dũng, bền bỉ của nhân
dân ta.
3. Kỹ năng.
- Rèn luyện kĩ năng, phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử,, rút ra những
bài học kinh ngiệm.
- Sử dụng một số lược đồ để trình bày diễn biến các sự kiện.
II. THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY - HỌC.
- Lược đồ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Kì.
- Một số tư liệu về cuộc kháng chiến ở Nam Kì.
- Một số tranh ảnh về các nhân vật lịch sử có liên quan tới bài học như: Trương Định,
Nguyễn Trung Trực…
- Văn thơ yêu nước cuối thế kỉ XIX như tác giả: Nguyễn Đình Chiểu…
1
1
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY – HỌC.
1. Ổn định lớp.
2. Kiểm tra bài cũ.
Câu hỏi:
1. Qua diễn biến của chiến tranh thế giới thứ 2 ( từ 9/1939 đến 8/1945) em hãy rút ra
nhận xét về vai trò của Liên Xô và các nước đồng minh Mỹ, Anh, trong việc tiêu diệt chủ
nghĩa phát xít?
3. Dẫn dắt vào bài mới.
Vào giữa thế kỉ XIX, nền kinh tế TBCN phát triển mạnh mẽ đã đặt ra yêu cầu về thị trường
và nguyên liệu. Để giải quyết yêu cầu trên thì các nước phương Tây đã tiến hành các cuộc
chiến tranh giành giật thị trường trên toàn thế giới. Lúc này Châu Phi và Mỹ latinh đã bị thực
dân phương Tây khai thác, đích ngắm tiếp theo của chúng chính là các nước Phương Đông
phong kiến. Trong đó một số nước ở khu vực Đông Nam Á đã bị thực dân đã bị thực dân
Phương Tây biến thành thuộc địa. Việt Nam cũng không tránh khỏi nguy cơ bị dòm ngó.
Thông qua mối quan hệ đã có từ trước với triều Nguyễn và sự suy yếu của triều đình phong
kiến, chính phủ Pháp ráo riết xúc tiến việc thôn tính nước ta. Để hiểu được cuộc xâm lược Việt
Nam của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ năm 1858 đến
năm 1873, chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay.
4. Tổ chức các hoạt động dạy – học trên lớp.
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt
GV: Để hiểu rõ hoàn cảnh thực dân
Pháp xâm lược Việt Nam như thế nào? Và
tình hình của Việt Nam giữa thế kỷ XIX
trước khi Pháp xâm lược ra sao? Liệu Việt
Nam có đủ sức vươn lên chống chọi trước
làn sóng xâm lược mạnh mẽ này hay
không? Chúng ta sẽ đi tìm hiểu mục 1.
Hoạt động 1: Cả lớp.
GV: trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu
tình hình chính trị, hướng dẫn HS theo
dõi SGK và nêu câu hỏi: Dựa vào SGK
em hãy nêu tình hình chính trị của
nước ta lúc bấy giờ như thế nào?
- HS theo dõi SGK trả lời.
GV nhận xét, bổ sung: Vào giữa thế kỉ
XIX, Việt Nam vẫn là một nước phong
kiến độc lập có chủ quyền kể từ khi vương
triều Nguyễn được thành lập năm 1802.
Các ông vua kế tiếp của nhà Nguyễn đã ra
sức củng cố chế độ quân chủ chuyên chế.
Đã đạt được những thành tựu về kinh tế,
I. Liên quân Pháp – Tây Ban Nha xâm
lược Việt Nam. Chiến sự ở Đà Nẵng năm
1858.
1. Tình hình Việt Nam giữa thế kỉ XIX,
trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
+ Chính trị:
- Giữa thế kỉ XIX, Việt Nam là một quốc
gia phong kiến độc lập, có chủ quyền,
khủng hoảng, suy yếu.
2
2
văn hóa tuy nhiên chế độ phong kiến cũng
đã bộc lộ những khủng hoảng và suy yếu
nghiêm trọng.
GV nêu câu hỏi: Sự khủng hoảng được
biểu hiện như thế nào? Cụ thể là về kinh
tế ra sao? Quân sự như thế nào? và xã
hội có gì phức tạp?
- HS trả lời:
GV nhận xét, bổ sung: Kinh tế phong
kiến là nền kinh tế nông nghiệp, những việc
làm của vua nhà Nguyễn như ban ruộng đất
cho quan lại, do vậy ruộng đất bị phân hóa.
Rơi vào tay địa chủ, cường hào, nông dân
mất hết ruộng đất cày cấy, tô thuế nặng nề,
đời sống vô cùng cự khổ, nên hiện tượng bỏ
làng đi tha phương cầu thực trở nên phổ
biến Ngoài ra nạn vỡ đê, lụt lội mất mùa
thường xuyên xảy ra.
GV: Bên cạnh nông nghiệp thì kinh tế
công thương nghiệp dưới triều Nguyễn
ra sao?
HS trả lời:
GV nhận xét, bổ sung: kinh tế công
thương nghiệp dưới triều Nguyễn rơi vào
tình trạng như trên là do: nhà nước nắm độc
quyền công thương nghiệp, thực hiện chế
độ “công tượng” ( giải thích cho HS hiểu :
chế độ công tượng là gì?). Chính sách “ Bế
quan tỏa cảng” của Nhà Nguyễn.
GV: Em hiểu chính sách “Bế quan tỏa
cảng” của Nhà Nguyễn là gì?
HS trả lời.
GV nhận xét, bổ sung: đóng cửa các cảng
biển hạn chế giao lưu buôn bán với Phương
Tây.
GV: Quân sự và chính sách đối ngoại
dưới triều Nguyễn thì sao?
HS trả lời.
GV bổ sung: Lúc này trên thế giới các
nước tư bản chủ nghĩa đã hoàn thành cách
mạng công nghiệp và chủ nghĩa tư bản
phương Tây phát triển mạnh mẽ tìm kiếm
+ Kinh tế:
- Nông nghiệp: sa sút, mất mùa, đói kém
thường xuyên.
- Công thương nghiệp: đình đốn, lạc hậu do
nhà nước thực hiện chính sách “ Bế quan,
tỏa cảng”.
- Quân sự : lạc hậu.
3
3
thị trường, thuộc địa, do vậy cải tiến vũ khí
và phương tiện chiến tranh phục vụ cuộc
giành giật thuộc địa.
Trong khi đó thì quân đội của triều đình
phong kiến nước ta được trang cũng được
đại bác và tầu chiến kiểu phương Tây, thế
nhưng số lượng binh lính biết sử dụng và
sửa chữa khi hư hỏng lại rất ít nên nó
không phát huy được sức mạnh của nó. Vũ
khí điển hình nhất thời kỳ này chính là
gươm giáo và một số ít súng đạn mua về từ
Trung Quốc như súng điểu thương, súng
thần công.
- Đối ngoại: sai lầm. Nhà Nguyễn đã thực
hiện chính sách “cấm đạo” và “giết đạo”
diễn ra một cách quyết liệt và dã man. Điều
đó xuất phát từ tư tưởng bảo vệ độc lập chủ
quyền đất nước là hoàn toàn đúng đắn,
song chỉ có điều biện pháp thực hiện tư
tưởng đó lại không phù hợp, bất cập nên đã
trở thành cái cớ để Pháp nhanh chóng nổ
súng xâm lược.
GV đặt câu hỏi: Với tình hình kinh tế
như trên thì xã hội Việt Nam giữa thế kỉ
XIX như thế nào?
- HS trả lời: Xã hội Việt Nam có nhiều mâu
thuẫn: giữa nông dân và địa chủ, nhân dân
với chế độ phong kiến.
- GV: Ngoài mâu thuẫn cơ bản của xã hội
phong kiến thì còn mâu thuẫn nào khác
không?
GV bổ sung: bên cạnh mâu thuẫn của
nhân dân với chế độ phong kiến ngày càng
mạnh mẽ thì dưới thời nhà Nguyễn xuất
hiện mâu thuẫn tôn giáo.
Xã hội mâu thuẫn sâu sắc giữa tầng lớp
nhân dân với chế độ phong kiến và lên đến
đỉnh điểm nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra
như: khởi nghĩa Phan Bá Vành, Lê Duy
Lương, Lê Văn Khôi…
GV: Giữa lúc chế độ phong kiến Việt
Nam khủng hoảng, suy yếu thì CNTB châu
- Đối ngoại sai lầm: “ cấm đạo”, đuổi giáo
sĩ.
+ Xã hội: Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm
nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra.
Đất nước suy yếu, đứng trước nguy cơ
bị thực dân phương Tây xâm lược.
4
4
Âu – Mĩ lại đang đẩy nhanh cuộc chiến
tranh giành giật thuộc địa ở khắp nơi trên
thế giới. Khu vực Đông Nam Á trong đó có
Việt Nam là khu vực có vị trí chiến lược
quan trọng , giàu tài nguyên. Vì vậy tất yếu
Việt Nam trở thành đối tượng xâm lược của
thực dân Phương Tây. Cụ thể là thực dân
Pháp đã có quan hệ với triều Nguyễn từ
trước, chuẩn bị xâm lược Việt Nam như thế
nào chúng ta sẽ đi tiếp phần 2. Thực dân
Pháp ráo riết xâm lược Việt Nam.
Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân.
GV: Để xâm lược Việt Nam Tư bản
Phương Tây và Pháp đã có cả một quá trình
tiếp xúc, tìm hiểu và chuẩn bị kỹ càng.
- GV nêu câu hỏi: Vậy dựa vào những
kiến thức đã học ở lớp 10, thì em hãy cho
biết Việt Nam tiếp xúc với Phương Tây
từ khi nào? Bằng con đưởng nào?
HS nhớ lại kiến thức cũ và trả lời.
GV nhận xét, bổ sung: Vào thế kỉ XVI
những người phương Tây đầu tiên đến Việt
Nam. Họ là các lái buôn Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, lúc đầu chỉ buôn bán và truyền
đạo, về sau khi chủ nghĩa tư bản phát triển,
nhu cầu về thị trường và nguyên liệu ngày
càng lớn, vì vậy các nước tư bản đã tranh
giành buôn bán và đặt ách thống trị lâu dài.
Trong cuộc chạy đua đó, tư bản Pháp đã lợi
dụng việc truyền đạo Thiên Chúa như một
công cụ xâm lược. Thế kỉ XVII thì các giáo
sĩ Pháp đã tới Việt Nam truyền đạo kết hợp
với dò xét tình hình, vẽ bản đồ, vạch kế
hoạch cho việc xâm lược Việt Nam sau
này. Đến cuối thế kỉ XVIII, khi phong trào
nông dân Tây Sơn nổ ra, Nguyễn Ánh con
của chúa Nguyễn đã cầu cứu ngoại bang để
khôi phục lại quyền lực. Nguyễn Ánh đã
cầu cứu Xiêm, tiếp đó là cầu cứu Pháp lật
đổ vương triều Tây Sơn lập ra Nhà Nguyễn
năm 1802. Chính từ đây bắt đầu sai lầm của
triều Nguyễn, tạo điều kiện, cơ hội cho thực
dân Pháp can thiệp vào nước ta bằng hiệp
2. Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm
lược Việt Nam .
- Tư bản phương Tây và Pháp nhòm ngó
xâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm, bằng
con đường buôn bán và truyền đạo.
5
5
ước 1787.
Về sau có một số sự kiện xảy ra ở nước
Pháp do vậy Hiệp ước năm 1787 không
thành. Các em còn nhớ SK ở Nước Pháp
năm 1789?
- HS trả lời: Lúc này ở Pháp nổ ra cuộc
Cách mạng tư sản.
GV có thể mở rộng về Bá Đa Lộc.
GV tiếp tục trình bày: Giữa thế kỉ XIX,
Pháp càng ráo riết tìm cách đánh chiếm
Việt Nam, tích cực tranh giành ảnh hưởng
với thực dân dân Anh ở khu vực châu Á.
Lúc này Anh đã chiếm được Singgapo và
dòm ngó Hương Cảng( Trung Quốc), khu
vực phía Nam của nước ta. Vì vậy, năm
1857 Napoleon III lập hội đồng Nam Kì để
xét lại hiệp ước Vecxay, tìm cách can thiệp
vào Việt Nam Việt Nam đứng trước
nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược.
GV dẫn dắt: Pháp đã xâm lược Việt
Nam như thế nào? Cuộc kháng chiến chống
Pháp của nhân dân ta từ khi Pháp xâm lược
đến trước khi Pháp đánh ra Bắc Kì năm
1873 ra sao? Chúng ta sẽ tìm hiểu phần
tiếp theo.3. Chiến sự ở Đà Nẵng năm
1858.
Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân.
GV dẫn dắt: Âm mưu của thực dân Pháp
đã rõ ràng. Sau nhiều lần đưa quân tới bờ
biển nước ta để khiêu khích, ngày 31/08/
1858 liên quân Pháp – Tây Ban Nha với
khoảng 3000 binh lính và sĩ quan bố trí trên
14 chiến thuyền kéo tới dàn trận trước cửa
biển Đà Nẵng.
GV : Tại sao Pháp lại liên kết với Tây
Ban Nha?
HS Trả lời.
GV nêu câu hỏi: Tại sao thực dân Pháp
lại chọn Đà Nẵng là mục tiêu tấn công
đầu tiên? ( phần này GV có thể dùng lược
đồ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân
- Năm 1787 Bá Đa Lộc( Pi- nhô-đờ Bê-
hen) đã giúp thực dân Pháp can thiệp vào
Việt Nam bằng hiệp ước Vecxai.
- Năm 1857 Napoleon III lập hội đồng
Nam Kì để bàn cách can thiệp vào Việt
Nam Việt Nam đứng trước nguy cơ bị
thực dân Pháp xâm lược.
3. Chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858.
*Pháp xâm lược:
- 31/08/ 1858 liên quân Pháp – Tây Ban
Nha với khoảng 3000 binh lính và sĩ quan
bố trí trên 14 chiến thuyền kéo tới dàn trận
trước cửa biển Đà Nẵng.
6
6
dân ta ( 1858- 1885), giới thiệu vị trí của
Đà Nẵng.)
HS suy nghĩ, trả lời.
GV nhận xét, bổ sung:
+ Đà Nẵng là cảng nước sâu vì vậy tàu
chiến Pháp có thể hoạt động dễ dàng.
+ Có thể dùng Đà Nẵng làm bàn đạp tấn
công Huế, buộc triều Nguyễn phải đầu
hàng, kết thúc nhanh chóng cuộc xâm lược
Việt Nam.
+ Đà Nẵng theo một số giáo sĩ nhận xét thì
đây là cổ họng của Huế.
+ Bên cạnh những lí do trên thì Pháp cũng
muốn thử xem phản ứng của triều đình
Huế.
Và Đà Nẵng còn là nơi thực dân Pháp xây
dựng được cơ sở giáo dân theo Kito, chúng
đánh vào đây hi vọng được giáo dân ủng
hộ. Vì vậy sáng ngày 1/9/ 1858 từ các tàu
neo đậu ở cửa biển Đà Nẵng, liên quân
Pháp – Tây Ban Nha đã nã đại bác lên bờ,
rồi cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.
Triều đình cử Nguyễn Tri Phương chỉ huy
trận đánh , xây dựng liên trù dài 3km để
chặn bước tiến của giặc ngay tại cửa biển.
Nhân dân vùng ven biển còn dùng cọc tre,
gỗ, thùng đựng đầy đất đá để lấp sông Vĩnh
Điện để chặn tàu chiến địch. Nhân dân
vùng ven biển kiên cường chống trả quân
xâm lược, khiến địch thất bại trong âm mưu
đánh nhanh, thắng nhanh. Tây Ban Nha nản
chí rút khỏi cuộc chiến.
GV nêu câu hỏi: Tại sao quân xâm lược
lại muốn đánh nhanh, thắng nhanh?
HS trả lời.
GV nhận xét: tạo bất ngờ và triều đình
Huế không kịp trở tay.
GV nêu câu hỏi: Trước cuộc chiến tranh
xâm lược của thực dân Pháp, quân triều
đình và nhân dân ta đã kháng chiến như
thế nào? Em có nhận xét gì về cuộc
kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta
- Sáng 01/09/1858, Pháp gửi tối hậu thư
nhưng chưa hết hạn. Chúng đã nổ súng rồi
đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.
* Kháng chiến của quân và dân ta:
- Triều đình cử Nguyễn Tri Phương chỉ huy
7
7
vào năm 1858 ?
GV dẫn dắt: Sau khi thấy không thể chiếm
được Đà Nẵng. Pháp đã thay đổi kế hoạch .
Tháng 2/1859 Pháp quay mũi tấn công vào
Gia Định để thực hiện âm mưu mới. Chúng
ta sẽ tiếp tục tìm hiểu phần II. Cuộc kháng
chiến chống Pháp ở Gia Định và các tỉnh
Miền Đông Nam Kì từ năm 1859 đến
năm 1962.
Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân.
GV nêu câu hỏi:Vậy tại sao Pháp lại
đưa quân đánh Gia Định mà không đánh
ra Huế hay Bắc Kỳ?
HS theo dõi SGK và trả lời.
(GV dùng bản đồ Việt Nam có xác định vị
trí Gia Định và các địa danh có liên quan
khác để HS quan sát trả lời ) .
Vì :
- Gia Định xa Trung Quốc nên đánh Gia
Định, Pháp có thể tránh được sự can thiệp
của nhà Thanh.
- Gia Định cũng là nơi xa kinh đô Huế nên
Pháp sẽ tránh đước sự tiếp viện của triều
đình Huế mà chúng đã được biết là không
phải yếu kém như bọn giáo sỹ Pháp đã báo
cáo.
- Sài Gòn- Gia Định là kho lúa gạo của
triều đình Huế, nên đánh chiếm được nơi
này, Pháp vừa có thể cung cấp được lương
thực cho quân đội của mình lại vừa cắt đứt
con đường tiếp tế lương thực gây cho triều
đình Huế nhiều khó khăn.
- Đánh xong Gia Định , Pháp có thể theo
đường sông Cửu Long ngược lên đánh
chiếm luôn Cao Miên làm chủ khu vực
sông Mê Công. Hơn nữa Gia Định có Sài
Gòn là nơi giàu có, nhiều tiềm năng. Người
Pháp nhận xét : “ Sài Gòn có triển vọng trở
thành trung tâm của một nền thương mại
lớn – xứ này giàu sản vật, mọi thứ đều đầy
trận đánh , xây dựng liên trù dài 3km để
chặn bước tiến của giặc ngay tại cửa biển.
- Quân và dân ta anh dũng chống trả quyết
liệt. Tích cực thực hiện “ vườn không nhà
trống” Kết quả: Pháp bị giam chân ở
Đà Nẵng 5 tháng ->Pháp gặp nhiều khó
khăn.
Kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”
của thực dân Pháp bước đầu thất bại.
II. Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gia
Định và các tỉnh Miền Đông Nam Kì từ
năm 1859 đến năm 1962.
1. Kháng chiến ở Gia Định.
8
8
rẫy”. Lúc này thì Anh đã chiếm Singapo
và Hương Cảng (TQ), cũng đang ngấp ngé
chiếm Sài Gòn để nối liền các cửa biển
quan trọng trên.
Vì tất cả những lí do trên Pháp quyết định
đánh thành Gia Định.
Ngày 9-2-1859, hạm đội Pháp tới Vũng
Tàu rồi theo sông Cần Giờ lên Sài Gòn.
Ngày 16-2-1859 quân Pháp mới tới được
Gia Định. Ngày 17/2/ 1859 Pháp tấn công
thành Gia Định.
Trước sự tấn công của quân Pháp, quân
triều đình nhanh chóng tan rã.
- GV: Trước tình hình đó, nhân dân Gia
Định đã chiến đấu như thế nào?
- HS trả lời.
GV nhận xét: Trước cuộc tấn công của
Pháp, nếu như quân đội triều đình nhanh
chóng tan rã thì nhân dân ta lại chủ động
kháng chiến ngay từ đầu. Các đội dân binh
được thành lập chiến đấu rất dũng cảm,
ngày đên bám sát địch để quấy rối và tiêu
diệt chúng. Cuối cùng Pháp phải phá thành,
rồi rút quân xuống đóng dưới tàu đậu giữa
sông để khỏi bị quân ta tập kích. Kế hoạch
“đánh nhanh thắng nhanh” bị thất bại, buộc
địch phải chuyển sang kế hoạch “ chinh
phục từng gói nhỏ”
GV dẫn: Sang đầu năm 1860 chiến
trường Nam kì thay đổi. Pháp bị sa lầy trên
chiến trường Trung Quốc và I-ta-li-a nên
không thể tiếp viện cho chiến trường Việt
Nam Pháp gặp nhiều khó khăn ở Gia
Định, lực lượng rất mỏng có khoảng 1000
tên dàn trên tuyến dài 10km.
GV : Trước tình thế của Pháp như vậy
thì triều đình Huế đã làm gì?
HS trả lời.
GV nhận xét và bổ sung: Đây là cơ hội
tốt để quân ta đánh bật quân xâm lược ra
+ Pháp:
- 9/2/1859 quân Pháp đưa quân từ Vũng
Tàu theo sông Cần Giờ Sài Gòn đến ngày
16/2/1859, quân Pháp đến Gia Định.
- 17/2 /1859 Pháp đánh chiếm được thành
Gia Định.
- 1860 Pháp gặp nhiều khó khăn dừng
các cuộc tấn công, lực lượng địch ở thành
Gia Định rất mỏng.
+ Triều đình:
9
9
khỏi bờ cõi. Nhưng từ tháng 3/1860
Nguyễn Tri Phương được cử làm chỉ huy
Mặt trận Gia Định lại bỏ lỡ cơ hội đó. Tổ
chức phòng thủ, lấy đại đồn Chí Hòa làm
trung tâm. Với 12000 quân và 150 khẩu đại
bác, nhưng không chủ động tấn công giặc
mà nằm im chờ giặc tới. Trong chiến sự ở
Đà Nẵng 1858 thì cách làm của Nguyễn Tri
Phương đạt hiệu quả nhưng ở Gia Định thì
các làm của ông không có tác dụng.
GV: Trong khi triều đình cố thủ thì
nhân dân ta tổ chức kháng chiến ra sao?
HS trả lời.
GV bổ sung: Không bị động đối phó như
quân đội triều đình, hàng nghìn nghĩa dũng
do Dương Bình Tâm chỉ huy đã xung
phong đánh đồn Chợ Rẫy, vị trí quan trọng
nhất trên phòng tuyến của địch (7/1860).
GV nêu câu hỏi: Em có nhận xét gì về
cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở Đà
Nẵng và Gia Định?
HS trả lời.
GV nhận xét, bổ sung: Ngay từ khi Pháp
xâm lược nhân dân ta đã cùng với quan
quân triều đình nhà Nguyễn đã anh dũng
đứng lên đánh giặc, làm thất bại kế hoạch
“đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân
Pháp, buộc chúng phải thay đổi kế hoạch và
chuyển sang kế hoạch “ chinh phục từng
gói nhỏ”. Tuy nhiên trong quá trình
kháng chiến chống Pháp, Nhà Nguyễn đã tỏ
ra yếu kém trong đường lối kháng chiến và
trong việc nắm bắt tình hình địch nên đã bỏ
lỡ, mất cơ hội để tiêu diệt giặc để cho
chúng vẫn yên ổn trước lực lượng đông đảo
của quân ta.
- GV: Trình bày thêm về sự phân hoá trong
triều đình Nguyễn.Vậy thực dân Pháp đã
mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Nam
kỳ như thế nào? Và nhân dân ta đã kháng
chiến ra sao? Chúng ta sẽ tìm hiểu ở tiết
học sau.
- Không tranh thủ tấn công mà cử
Nguyễn Tri Phương vào Gia Định xây
dựng phòng tuyến Chí Hòa để chặn giặc.
- Trong triều đình lúc này lại có sự phân
hóa, xuất hiện tư tưởng chủ hòa.
+ Nhân dân:
Chủ động kháng chiến ngay từ đầu. Chặn
đánh quấy rối và tiêu diệt địch gây cho
Pháp nhiều khó khăn.
7/1860 nghĩa quân của Dương Bình Tâm
tấn công địch ở đồn Chợ Rẫy.
Pháp không mở rộng đánh chiếm
được Gia Định, và ở vào thế tiến thoái
lưỡng nan.
10
10
5. Sơ kết bài học.
- Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta sẽ tiếp biến như thế nào? Tiết sau chúng ta sẽ
tiếp tục tìm hiểu phần tiếp theo, mục III. Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam kỳ sau hiệp
ước 1862.
- Củng cố:
+ Qua bài học này các em cần ghi nhớ:
* Tình hình nước ta trước khi thực dân Pháp xâm lược.
* Âm mưu và quá trình xâm lược nước ta của Thực dân Pháp.
* Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858-1862.
- Dặn dò: HS học bài cũ, đọc bài mới, tìm hiểu tiểu sử của Nguyễn Tri Phương, Trương Định,
Nguyễn Trung Trực ….
Phê duyệt của giáo viên hướng dẫn Ngày 20 tháng 02 năm 2011
Sinh viên kí tên
11
11