Tải bản đầy đủ (.doc) (72 trang)

MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.79 MB, 72 trang )

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING
CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG 1
1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp, khái niệm về Marketing 1
1.1.1 Các khái niệm về Doanh nghiệp 1
1.1.2 Khái niệm về Marketing 2
1.1.2.1 Sự ra đời và phát triển của Marketing 2
1.1.2.2 Khái niệm Marketing 6
1.2 Vai trò hoạt động marketing của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh
7
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp 8
1.3.1 Các nhân tố vi mô 9
1.3.2 Các nhân tố vĩ mô 11
1.4 Các yêu cầu cần đạt được trong hoạt động Marketing của doanh nghiệp
12
1.5 Sự cần thiết khách quan phát triển hoạt động Marketing của doanh nghiệp
13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN GIẢI PHÁP VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG MINH TRONG THỜI
GIAN 3 NĂM (2006-2008) 14
2.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng liên
quan đến hoạt động Marketing 14
2.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Giải pháp và
Công nghệ Thông Minh 18
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 18
2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty 18
2.2.2.1 Chức năng 18
2.2.2.2 Nhiệm vụ 23
2.2.2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý 24
2.2.2.4 Tình hình nhân sự công ty 25


SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
2.2.2.5 Tình hình cơ sở vật chất, máy móc thiết bị 29
2.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty trong 3 năm (2006 – 2008)
30
2.4 Thực trạng hoạt động Marketing của Công ty trong 3 năm (2006 – 2008)
35
2.4.1 Những kết quả đạt đuợc trong hoạt động Marketing của Công ty 35
2.4.2 Những hạn chế yếu kém hoạt động Marketing của Công ty 45
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế, yếu kém hoạt động Marketing của Công ty 46
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY 48
3.1 Mục tiêu và phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing 48
3.1.1. Mục tiêu 48
3.1.2 Phương hướng phát triển Công ty 49
3.2 Một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing của Công
ty 50
4.1 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 65
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, Marketing là một trong những công cụ hữu hiệu giúp cho doanh
nghiệp có được vị thế trên thương trường. Thông qua Marketing giúp doanh nghiệp
định hướng thị trường cần sản xuất sản phẩm gì, cái gì thị trường cần chứ không
phải sản xuất cái mình có. Nhờ vậy, Marketing có tác dụng kích thích doanh nghiệp
sản xuất sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã hợp lý đáp ứng dược nhu cầu khách
hàng. Với các lợi thế trên Marketing đã mang lại những thắng lợi huy hoàng cho
nhiều doanh nghiệp.
Thị trường CNTT & VT với trên 20 công ty thuộc mọi thành phần kinh tế
tham gia, sự có mặt có nhiều tập đoàn kinh tế lớn như FPT, VASC đầy kinh

nghiệm, các công ty tư nhân nhân linh hoạt và uyển chuyển trong kinh doanh. Công
Ty Cổ Phần Giải Pháp & Công Nghệ Thông Minh với những nổ lực hoạt động thị
trường, hiện đang chiếm giữ 35% thị phần miền Trung. Tuy vậy, môi trường cạnh
tranh ngày càng quyết liệt, việc giữ được thị phần và đạt được các mục tiêu chiến
lược đã bộc lộ những bất cập trong các chính sách Marketing: Các biến số
marketing được tiến hành riêng rẻ, không tạo ra các phối thức nhằm phát huy hết
tiềm năng của Công ty. Để phát triển trong môi trường nhiều người mua và nhiều
người cung cấp, đòi hỏi Công ty Cổ Phần Giải Pháp & Công Nghệ Thông Minh
phải có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing nhằm không
ngừng gia tăng thị phần, gia tăng doanh số bán và đạt được các mục tiêu chiến lược
kinh doanh.
Xuất phát từ ý nghĩa trên nên em chọn đề tài: Các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động Marketing tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp và Công Nghệ
Thông Minh.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số cơ sở lý luận về hoạt động Marketing của doanh
nghiệp trên thị trường
Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing của Công ty trong thời
gian 3 năm (2006-2008)
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
Marketing của Công ty
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS.
Nguyễn Thế Tràm và các Anh Chị trong công ty Cổ Phần Giải Pháp và Công Nghệ
Thông Minh trong quá trình hoàn thành đề tài. Vì kiến thức còn hạn chế nên đề tài
chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong sự chia sẻ và đóng góp của Thầy Cô và các
bạn để đề tài hoàn thiện hơn.
Đà Nẵng ngày 01 tháng 11 năm 2009
Sinh viên thực hiện

Lê Thị Hồng Vân
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA DOANH
NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG
1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp, khái niệm về Marketing
1.1.1 Các khái niệm về Doanh nghiệp
Khái niệm về Doanh nghiệp có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng Doanh
nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ
chức lại nhằm đạt một mục đích hoặc;
Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất thông qua đó trong khuôn khổ một tài sản
nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản
phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và
giá bán sản phẩm. Doanh nghiệp mang chức năng sản xuất kinh doanh, tối đa hoá
lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản bên cạnh các mục tiêu xã hội và phải chấp nhận
sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Một ý kiến khác lại cho rằng;
Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc
tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợị và các Doanh nghiệp là một bộ phận
hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác
động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt
ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội.
Tuy nhiên nhìn chung đều đồng ý cho rằng Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất
kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật
pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
- Các loại hình doanh nghiệp cụ thể như:
+ Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ

chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các
mục tiêu kinh tế-xã hội do nhà nước giao.
+ Doanh nghiệp tư nhân
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp mà trong đó, tài sản của nó là thuộc sở hữu
một cá nhân duy nhất.
+ Công ty Cổ phần và Công ty TNHH
Đây là loại hình doanh nghiệp mà các thành viên sẽ cùng góp vốn, cùng chia lợi
nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các
khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty.
+ Công ty có vốn đầu tư nước ngoài
+ Công ty hợp danh
.Ngoài ra, còn có loại hình Hợp tác xã là 01 tổ chức kinh tế tự chủ do người lao
động có nhu cầu và lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn đầu tư, góp sức lập ra
theo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên,
nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.2 Khái niệm về Marketing
1.1.2.1 Sự ra đời và phát triển của Marketing
- Các nhà sản xuất, kinh doanh luôn có mong muốn là sản phẩm của họ thoả mãn
tối đa nhu cầu của người tiêu dùng. Để đạt được mục tiêu đó họ luôn tiến hành các
thí nghiệm khác nhau và thử nghiệm về Marketing đã đem lại sự thành công cho
các nhà sản xuất. Như vậy Marketing được ra đời và áp dụng đầu tiên trong lĩnh
vực bán hàng.
- Hoạt động Marketing đã xuất hiện vào những năm đầu của thế kỉ 20 và được
các nhà kinh doanh của Mỹ, Nhật… áp dụng bằng các biện pháp rất mới mẻ như:
Phục vụ tối đa theo yêu cầu của khách hàng, sẵn sàng đổi lại những sản phẩm mà
khách hàng không vừa ý, bán hàng kèm quà tặng, mua nhiều có thưởng, có chiết
khấu, giảm giá… Các biện pháp này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán hàng
nhanh hơn với khối lượng lớn hơn và thu được nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên các

phương pháp trên mới chỉ được thực hiện một cách đơn lẻ và chỉ là những hoạt
động mang tính bề nổi trên thị trường. Dần dần do sự phát triển của sản xuất, qui
mô và cơ cấu thị trường, các hoạt động Marketing nói trên không còn phù hợp với
qui mô sản xuất và thị trường ngày càng lớn, và luôn thay đổi. Các nhà kinh doanh
đã liên kết cùng nhau để tạo ra sự thống nhất giữa cung ứng hàng hoá và nhu cầu
tiêu dùng. Marketing trở thành một hoạt động xuyên suốt từ khâu sản xuất đến tiêu
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
dùng. Giai đoạn từ đầu thế kỉ 20 đến chiến tranh thế giới lần hai hoạt động
Marketing được coi là Marketing truyền thống.
- Marketing truyền thống có đặc trưng là: Coi thị trường và lưu thông là khâu
quan trọng của quá trình sản xuất. Hoạt động đầu tiên của Marketing truyền thống
là “Làm thị trường” rồi sau đó mới tổ chức quá trình phân phối và cung ứng hàng
hoá nhanh nhất. Lúc này các nhà kinh doanh đã nhận rõ được vai trò của người
mua. Tức là người mua giữ vai trò quyết định trên thị trường. Nhưng có một đặc
trưng nổi bật nhất của Marketing giai đoạn này là hoạt động theo định hướng sản
xuất. Nghĩa là bán cái mà mình có chứ không phải cái mà thị trường cần.Marketing
truyền thống là nền tảng cho sự phát triển của Marketing hiện đại sau này.
- Vào thập niên 30 khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, cạnh tranh diễn ra gay gắt.
Tình hình kinh tế thế giới có nhiều thay đổi. Cạnh tranh tự do giữa các công ty để
chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ đã phá vỡ cân đối giữa cung ứng hàng hoá và nhu cầu
tiêu dùng. Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1932 là một minh chứng cho sự hạn
chế của loại hình Marketing truyền thống. Chính vì vậy Marketing hiện đại ra đời.
Sự có mặt của Marketing hiện đại đã góp phần không nhỏ vào việc khắc phục tình
trạng khủng hoảng thừa và thúc đẩy sản xuất khoa học kỹ thuật phát triển.
- Đặc trưng của Marketing hiện đại: Thị trường và người mua có vai trò quyết
định, nhu cầu là mục tiêu của sản xuất và thoả mãn nhu cầu là yếu tố quyết định của
quá trình sản xuất.Việc làm đầu tiên của Marketing hiện đại là phát hiện ra nhu cầu
thị trường (nắm bắt nhu cầu) sau đó rồi đến việc tổ chức tất cả các khâu khác của
quá trình tái sản xuất, như sản xuất phân phối để có được sự cung ứng nhanh nhất,

nhiều nhất hàng hoá ra thị trường nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu. Khẩu hiệu của
Marketing hiện đại lúc này là “bán những cái thị trường cần chứ không phải cái mà
ta sẵn có”.Marketing hiện đại không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh doanh thương
mại mà đã lan rộng sang các lĩnh vực khác của đời sống xã hội và trở thành một
hoạt động quan trọng trong chiến lược phát triển của các công ty.
- Trong Marketing hiện đại thì Marketing hỗn hợp(Marketing-Mix) không thể
thiếu khi xây dựng chiến lược Marketing. Nó tương hỗ lẫn nhau giúp chiến lược
Marketing thành công nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing của doanh
nghiệp. Chiến lược marketing về cơ bản thường được triển khai chung quanh 4 yếu
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
tố, thường được gọi là 4Ps cho dễ nhớ: Sản phẩm (product), Giá (price), Xúc tiến
thương mại hay Truyền thông (promotion) và Kênh phân phối (place). Tuỳ vào
tình hình thực tế của thị trường mà người ta vận dụng một hay nhiều yếu tố để thực
hiện chiến lược thị trường. Các doanh nghiệp mà sản phẩm chủ yếu là sản phẩm
dịch vụ thường có xu hướng triển khai từ 4 yếu tố chính này thành 7 yếu tố (và
được gọi là 7P) để phản ánh sự chú tâm của mình đối với sự đặc thù của sản phẩm
dịch vụ: Sản phẩm (product), Giá (price), Xúc tiến thương mại hay Truyền thông
(promotion), Kênh phân phối (place), Con người (people), Qui trình (process) và
Chứng minh thực tế (physical evidence).
Dưới đây là một số giải pháp cơ bản về chiến lược marketing được triển khai từ 4P.
1) Sản phẩm.
- Phát triển dải sản phẩm
- Cải tiến chất lượng, đặc điểm, ứng dụng
- Hợp nhất dải sản phẩm
- Quy chuẩn hoá mẫu mã
- Định vị
- Nhãn hiệu
2) Giá
- Thay đổi giá, điều kiện, thời hạn thanh toán

- Áp dụng chính sách hớt bọt (skimming)
- Áp dụng chính sách thâm nhập (penetration)
3) Truyền thông
- Thay đổi nội dung quảng cáo hoặc khuyến mại
- Thay đổi định vị cho thương hiệu (tái định vị)
- Thay đổi phương thức truyền thông
- Thay đổi cách tiếp cận
4) Kênh
- Thay đổi phương thức giao hàng hoăc phân phối
- Thay đổi dịch vụ
- Thay đổi kênh phân phối
- Phần triển khai thêm đối với sản phẩm dịch vụ
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
5) Con người.
- Bổ sung nhân lực có đủ kiến thức, kinh nghiệm cần thiết mà công việc đòi hỏi
- Huấn luyện bổ sung để nâng cao chuyên môn về kiến thức sản phẩm khi có sản
phẩm mới
- Chuẩn hoá dịch vụ khách hàng
- Đánh giá năng lực và hiệu quả công việc thông qua nhận xét của khách hàng về
mức độ hài lòng
6) Qui trình.
- Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO nhằm chuẩn hoá qui trình và tăng
hiệu quả.
- Cải tiến, rút ngắn qui trình nhằm tạo ra tiện lợi hơn cho khách hàng như qui
trình đặt hàng, qui trình thu tiền, qui trình nhận hàng, qui trình bảo hành
- Đầu tư thiết bị, công nghệ mới, thải hồi thiết bị, công nghệ cũ lạc hậu
7) Chứng minh cụ thể
Các cơ sở hạ tầng như trụ sở, văn phòng giao dịch, trung tâm dịch vụ khách
hàng, trung tâm bảo hành, điểm phục vụ.

Ngoài ra còn có một số lựa chọn chiến lược marketing khác như:
• Cải tiến hiệu quả điều hành hoạt động
• Cải tiến hiệu quả hoạt động marketing
• Cải tiến các thủ tục hành chính
• Hợp lý hoá hệ thống sản phẩm
• Rút lui khỏi thị trường đã chọn
• Chuyên sâu về một sản phẩm hay thị trường
• Thay đổi nhà cung cấp
• Mua lại phương tiện sản xuất kinh doanh
• Mua lại thị trường mới
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
Hình 1 – Marketing - Mix
1.1.2.2 Khái niệm Marketing:
Trong giới lý luận hiện nay, mặc dù đã có nhiều khái niệm khác nhau về Marketing
nhưng vẫn chưa ai đi đến thống nhất sử dụng một khái niệm chính thống. Marketing
theo nghĩa đen “là làm thị trường” hay là hoạt động bán hàng. Tuy nhiên với ý
nghĩa như vậy nó vẫn chưa phản ánh đầy đủ bản chất và chức năng của Marketing.
Có thể nêu ra một số khái niệm tiêu biểu về Marketing.
• Khái niệm của P. KOTLER
Marketing là hoạt động của con người hướng đến việc thoả mãn nhu cầu và ước
muốn thông qua các tiến trình trao đổi .
• Khái niệm của D. Lindon
Marketing là toàn bộ những phương tiện mà các doanh nghiệp sử dụng để xây
dựng, bảo vệ và phát triển thị trường của họ hoặc những khách hàng của họ.
• Khái niệm của J. Lambin
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
Marketing đó là quảng cáo, là kích động, là bán hàng bằng gây sức ép tức là toàn bộ
những phương tiện bán hàng, đôi khi mang tính chất tấn công được sử dụng để

chiếm lĩnh thị trường hiện có. Marketing là toàn bộ những công cụ phân tích,
phương pháp dự đoán và nghiên cứu thị trường sử dụng nhằm phát triển cách tiếp
cận những nhu cầu và yêu cầu.
• Khái niệm của J.H. Crighton
Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh hay luồng hàng đúng
thời gian và đúng vị trí.
• Khái niệm của British Institute of Marketing
Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lí toàn bộ các hoạt
động kinh doanh từ việc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua của người tiêu dùng
thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa những hàng hoá đó tới
người tiêu thụ cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như dự
kiến.
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng: Marketing là toàn bộ những
hoạt động của một doanh nghiệp nhằm xác định những nhu cầu chưa được thoả
mãn của khách hàng, những thị hiếu và đòi hỏi của họ. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp
đưa ra những sản phẩm và dịch vụ phù hợp, nhằm đáp ứng, thoả mãn những nhu
cầu và đòi hỏi đó để hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.
Nhìn chung, Marketing có nhiều nội dung phong phú, mỗi một khái niệm đều nhấn
mạnh nội dung cơ bản của Marketing là nghiên cứu thị trường để đưa ra các biện
pháp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu về một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó.
1.2 Vai trò hoạt động marketing của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh
- Khi mới ra đời, Marketing chỉ là một khái niệm đơn giản giới hạn trong lĩnh vực
thương mại. Nó chỉ bao gồm các hoạt động của doanh nghiệp nhằm tiêu thụ hàng
hoá và dịch vụ đã có sẵn nhằm thu được lợi nhuận. Việc áp dụng các biện pháp
Marketing đã tạo điều kiện kích thích sản xuất hàng hoá phát triển. Với những tính
ưu việt của nó Marketing không chỉ phát huy trong lĩnh vực thương mại mà ngày
càng được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực phi thương mại khác.
- Marketing có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản trị kinh doanh của doanh
nghiệp. Marketing làm cho khách hàng và người sản xuất xích lại gần nhau hơn.
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 11

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
Marketing ngày nay đã len lỏi vào hoạt động kinh doanh để đáp ứng nhu cầu khách
hàng, người tiêu dùng, là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Ngoài ra, nó
còn có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp một cách nhịp nhàng. Nhờ Marketing mà doanh nhiệp có những
thông tin phản hồi từ phía khách hàng, để rồi có sự thay đổi và thoả mãn tối đa nhu
cầu của khách hàng.
- Ngày nay, Marketing là một trong những công cụ hữu hiệu giúp cho doanh
nghiệp có được vị thế trên thương trường. Thông qua Marketing giúp doanh nghiệp
định hướng thị trường cần sản xuất sản phẩm gì, cái gì thị trường cần chứ không
phải sản xuất cái mình có. Nhờ vậy, Marketing có tác dụng kích thích doanh nghiệp
sản xuất sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã hợp lý đáp ứng dược nhu cầu khách
hàng. Với các lợi thế trên Marketing đã mang lại những thắng lợi huy hoàng cho
nhiều doanh nghiệp.
- Marketing đã trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả. Bởi vì
trên thực tế, doanh nghiệp muốn chiến thắng cạnh tranh trên thương trường thì bằng
nhiều cách khác nhau. Nhưng biện pháp Marketing đã tạo điều kiện cho doanh
nghiệp phát huy lợi thế của mình trên cơ sở định hướng mục tiêu của doanh nghiệp
đáp ứng nhu cầu khách hàng thông qua chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính
sách phân phối, chính sách truyền thông và cổ động làm cho Marketing trở thành
công cụ hay nói cách khác người ta hay ví là “vũ khí cạnh tranh”.
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp
- Môi trường marketing là một tập hợp những lực lượng “không khống chế được”
mà các công ty phải chú ý đến khi xây dựng các hệ thống marketing - mix của
mình. Môi trường marketing của công ty là tập hợp những chủ thể tích cực và
những lực lượng hoạt động ở bên ngoài công ty và có ảnh hưởng đến khả năng chỉ
đạo bộ phận marketing, thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với các
khách hàng mục tiêu. Do tính chất luôn biến động, khống chế và hoàn toàn bất định,
môi trường marketing động chạm sâu sắc đến đời sống công ty. Những biến đổi
diễn ra trong môi trường này không thể gọi là chậm và có thể dự đoán trước được.

Nó có thể gây ra những điều bất ngờ lớn và những hậu quả nặng nề. Vì thế công ty
cần phải chú ý theo dõi tất cả những diễn biến của môi trường bằng cách sử dụng
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
vào mục đích này việc nghiên cứu marketing và những khả năng thu thập thông tin
marketing thường ngày bên ngoài công ty hiện có.
- Trong thực tế hoạt động trên thị trường có nhiều nhân tố tác động đến quá trình
thực hiện Marketing của doanh nghiệp (nhân tố chủ quan, khách quan, trực tiếp,
gián tiếp, bên trong, bên ngoài) nhưng cần chú ý các nhân tố cơ bản sau:
1.6.1 Các nhân tố vi mô :
• Môi trường doanh nghiệp:
Vì vậy các nhà quản trị marketing cần phải thương thảo và cộng tác mật thiết với
các bộ phận trong công ty nhằm thiết lập và thực thi tốt kế hoạch của mình. Sự liên
kết càng chặt chẽ sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động Marketing của doanh nghiệp.
• Các nhà cung ứng:
“Là những cơ sở và cá nhân kinh doanh cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho hoạt
động sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ của công ty và của các đối thủ cạnh tranh”
Nhà cung cấp giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Tuy
nhiên những biến đổi trong môi trường cung cấp có thể tác động đến hoạt động
Marketing của doanh nghiệp. Do vậy trước khi quyết định chọn mua yếu tố đầu
vào, công ty cần kiếm nguồn cung cấp, xác định rõ đặc điểm, chất lượng để lựa
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 13
Tài chính R & D
Marketing Lãnh đạo
cao cấp
B/P cung
ứng vật tư
Kế toán Sản xuất
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
chọn nhà cung cấp tốt nhất về chất lượng, uy tín về giao hàng, độ tin cậy và đảm

bảo giá thấp.
Trong trường hợp nhà cung ứng thiếu một chủng loại vật tư hay có những sự kiện
như: bãi công, khủng hoảng kinh tế, …. làm rối loạn đến việc cung ứng là lịch gửi
hàng cho các khách đặt hàng. Nếu nhà cung ứng cung cấp không đúng thời điểm thì
trong kế hoạch ngắn hạn sẽ bỏ lỡ những khả năng tiêu thụ và trong kế hoạch dài hạn
sẽ làm mất đi thiện cảm của khách hàng đối với công ty. Trên cơ sở đó, các doanh
nghiệp cần xây dựng kế hoạch cung ứng và lựa chọn các hình thức cung ứng thích
hợp và có hiệu quả cho doanh nghiệp mình.
• Khách hàng:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hướng đến mục tiêu cuối cùng là đáp ứng và
thoả mãn được nhu cầu của khách hàng. Khách hàng nhân tố quyết định quá trình
hoạt động kinh doanh của công ty, khách hàng càng nhiều thì thị trường tiêu thụ
càng lớn, quy mô kinh doanh công ty càng mở rộng. Vì vậy nhiệm vụ của người
làm Marketing là phải có khả năng nhận biết đúng khách hàng mục tiêu của mình.
Các loại thị trường khách hàng cơ bản:
- Thị trường người tiêu thụ: là những cá nhân và gia đình mua hàng hoá và dịch
vụ để tiêu dùng cho chính họ.
- Thị trường kỹ nghệ: là những tổ chức mua hàng hoá và dịch vụ cho công việc
sản xuất của họ để kiếm lời hoặc để hoàn thành các mục tiêu khác.
- Thị trường người bán lại: là những tổ chức mua hàng hoá, dịch vụ để bán lại
kiếm lời.
- Thị trường các cơ quan Nhà nước: là những tổ chức Nhà nước mua hàng hoá và
dịch vụ để tạo ra các dịch vụ công cộng hoặc để chuyển nhượng những hàng hoá
và dịch vụ này cho những người cần đến chúng.
- Thị trường quốc tế: là những người mua ở nước ngoài gồm người tiêu thụ,
người sản xuất, người bán lại, các cơ sở Nhà nước ở nước ngaòi.
• Các đối thủ cạnh tranh
Xét về mặt chiến lược: đối thủ cạnh tranh được hiểu là tất cả những đơn vị cùng với
doanh nghiệp giành đồng tiền của khách hàng.
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 14

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
Mọi công ty đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Do đó, muốn phát hiện tất cả các
đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp mình thì cách tốt nhất là tiến hành nghiên cứu
khách hàng quyết định mua hàng hoá như thế nào? Thông thường có 4 loại đối thủ
cạnh tranh chủ yếu sau:
- Đối thủ cạnh tranh trên phương diện thoả mãn mong muốn của khách hàng.
- Đối thủ cạnh tranh trên phương diện loại hàng cạnh tranh
- Đối thủ cạnh tranh trên phương diện mặt hàng cạnh tranh
- Đối thủ cạnh tranh trên phương diện nhãn hiệu cạnh tranh
Trong quá trình nghiên cứu về các đối thủ cạnh tranh cần:
• Xác định đối thủ cạnh tranh trực tiếp tức là những đối thủ có khả năng hoán đổi
lớn nhất vị trí của mình so với đối thủ cạnh tranh
• Xác định thị trường mục tiêu của từng đối thủ cạnh tranh
• Xác định điểm mạnh, điểm yếu của từng đối thủ cạnh tranh
1.6.2 Các nhân tố vĩ mô:
• Các yếu tố về kinh tế
Các yếu tố về kinh tế tác động khá tích cực đến doanh nghiệp. Nếu môi trường kinh
tế thuận lợi thì các doanh nghiệp phải nắm bắt ngay thời cơ để đầu tư và phát triển
ngược lại nếu môi trường kinh tế không thuận lợi thì doanh nghiệp phải điều chỉnh
sao cho phù hợp với tình hình mới.
Các nhà làm Marketing cần hiểu rõ về:
- Những biến đổi trong lợi tức thực tế chịu ảnh hưởng của tỷ lệ lạm phát và thất
nghiệp
- Đặc điểm về tiết kiệm, thu nhập của người tiêu dùng
- Sự thay đổi trong kết cấu chi tiêu của người tiêu thụ
• Các yếu tố về kỹ thuật
Doanh nghiệp muốn kinh doanh đạt hiệu quả cao thì sản phẩm chất lượng phải tốt
đi đôi với vấn đề này chính là vấn đề công nghệ và kỹ thuật. Nếu sản phẩm được áp
dụng công nghệ tiên tiến, có nhiều chức năng giá thành rẻ sẽ dễ cạnh tranh trên thị
trường. Nếu sản phẩm có chất lượng kém công nghệ lạc hậu khó có thể cạnh tranh

trên thị trường.
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
- Tốc độ phát triển của trình độ kỹ thuật mới đã thay thế vị trí cũ. Bên cạnh sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật mới thì nó cũng gây những hậu quả to lớn và lâu dài
mà không phải bao giờ cũng thấy trước được
- Sự rút ngắn chu kỳ sống sản phẩm
- Đầu tư R& D trong ngành
• Các yếu tố về chính trị và pháp luật
Các yếu tố về chính trị và pháp luật đều tác động mạnh đến doanh nghiệp, nếu vấn
đề pháp luật của một nước thông thoáng thì sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư, và sẽ đầu tư
vào nước đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, dễ
dàng tạo bước tiến để đổi mới công nghệ và tăng khả năng cạnh tranh. Ngược lại,
nếu luật pháp một nước không thông thoáng hay không rõ ràng nó sẽ là rào cản đối
với các doanh nghiệp trong nước
• Các yếu tố về văn hoá
Các yếu tố về văn hoá là yếu tố các nhà đầu tư cần phải quan tâm đến, nó có ảnh
hưởng rất lớn đến sản phẩm của doanh nghiệp, các sản phẩm phải phù hợp với thị
hiếu và những đòi hỏi của khách hàng theo một chuẩn mực nào đó.
1.7 Các yêu cầu cần đạt được trong hoạt động Marketing của doanh nghiệp
1) Hoạt động Marketing của doanh nghiệp phải phát huy tiềm năng thế mạnh của
doanh nghiệp trên thương trường. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi thế cả do đó
thực hiện Marketing để phát huy thế mạnh doanh nghiệp, nâng cao tính cạnh tranh
trên thị trường là vấn đề cần thiết. Phát huy lợi thế thì đòi hỏi hoạt động Marketing
phải cụ thể để tạo ra sự khích lệ thúc đẩy các yếu tố trong doanh nghiệp phát triển.
Tiềm năng, thế mạnh của doanh nghiệp luôn gắn liền hạn chế, yếu kém cũng như
đe doạ. Do đó, thực hiện hoạt động Marketing để đẩy lùi nguy cơ và hạn chế điểm
yếu của doanh nghiệp hết sức thiết yếu.
2) Phải thực hiện có hiệu quả các nội dung của Marketing và đặc biệt hoàn thiện
chính sách marketing- mix(chính sách sản phẩm, giá, phân phối, cổ động) để tạo ra

khả năng phát triển của doanh nghiệp thông qua hoạt động Marketing. Bởi vì có đạt
được yêu cầu này mới làm cho vai trò và vị trí Marketing ngày càng thể hiện rõ nét
đó là quá trình đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến các yêu cầu của người tiêu
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
dùng để có các biện pháp Marketing phù hợp. Đây là một yêu cầu không kém phần
quan trọng mà trong quá trình thực hiện Marketing doanh nghiệp cần phải tuân thủ.
3) Marketing phải thu hút khách hàng, luôn hướng về khách hàng thông qua hoạt
động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp. Khách hàng là tài sản lớn nhất của doanh
nghiệp do đó muốn tài sản này phát triển thì phải quan tâm đến yêu cầu Marketing.
Khách hàng luôn luôn tính toán lợi ích của họ khi đặt lợi ích và thoả mãn nhu cầu.
Vì vậy, khách hàng là động lực mạnh mẽ gắn với doanh nghiệp và quyết định sự tồn
tại của doanh nghiệp mà trước hết thông qua hoạt động Marketing. Marketing là
phối hợp các hình thức, phương pháp ngày càng đa dạng hoá đáp ứng nhu cầu
khách hàng.
4) Quá trình thực hiện Marketing của doanh nghiệp là phải đạt mục tiêu đề ra tăng
doanh thu, giảm chi phí và tạo ra lợi nhuận ngày càng tăng để doanh nghiệp có thể
tồn tại bền vững trên thương trường. Bởi vì mục tiêu Marketing cũng nhằm đạt yêu
cầu là doanh nghiệp phải có lãi để tồn tại và phát triển trên thị trường. Đó chính là
yêu cầu cấp thiết nhưng cũng là mục tiêu của doanh nghiệp cần hướng đến.
5) Công tác Marketing trong doanh nghiệp phải có tính hệ thống, liên tục và xuyên
suốt hoạt động để gắn doanh nghiệp với người tiêu dùng. Để Marketing thực hiện
có hiệu quả thì yêu cầu nó phải có tính liên tục và phải có tính hệ thống. Các hoạt
động của nó phải luôn luôn gắn chặt để tạo sức mạnh tổng hợp trong quá trình thực
hiện Marketing.
1.8 Sự cần thiết khách quan phát triển hoạt động Marketing của doanh nghiệp
Marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp với thị trường. Đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
hướng theo thị trường, biết lấy thị trường, nhu cầu và ước muốn của khách hàng
làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh. Do vậy, marketing

đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp. Phát triển hoạt
động Marketing là cần thiết trong doanh nghiệp vì những lí do sau:
- Nâng cao hoạt động Marketing là yêu cầu mang tính quy luật đòi hỏi doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nâng cao Marketing và thực tế cho thấy
doanh nghiệp phát triển hoạt động Marketing thì phát triển bền vững và ngược lại.
Vì vậy, phải phát triển hoạt động Marketing để nâng cao hiệu quả trên thị trường
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
- Xuất phát từ vai trò Marketing đó là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu
dùng tạo tiền đề cho doanh nghiệp phát triển đúng hướng và hiệu quả, vì thế doanh
nghiệp phát triển tốt hoạt động Marketing mới hiệu quả.
- Do quá trình quốc tế hoá và cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải
đẩy mạnh hoạt động Marketing và thu hút khách hàng càng nhiều càng tốt (chứ
không phải trực tiếp tiêu diệt nhau) và chiến thắng Marketing là chiến thắng quan
trọng nhất.
- Để có thể tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường thì đòi hỏi doanh ghiệp
phải nghiên cứu nhu cầu khách hàng cải tiến sản phẩm và đưa ra nhiều sản phẩm
phong phú đa dạng. Vì vậy, thực hiện hoạt động Marketing phải xuyên suốt các lĩnh
vực, các công việc.
- Thực trạng hiện nay cho thấy, công tác Marketing ở các doanh nghiệp còn yếu,
chưa quan tâm đúng mức do vậy phải đổi mới công tác Marketing để đáp ứng và
thoả mãn nhu cầu khách hàng.
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
GIẢI PHÁP VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG MINH TRONG THỜI GIAN 3 NĂM
(2006-2008)
2.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng liên
quan đến hoạt động Marketing

Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256 km
2
, dân số năm 2008 là 822.300 người, gồm 6
quận và 2 huyện.
Bên cạnh đó Đà Nẵng còn là cửa vào của các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới
được UNESCO công nhận như Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, cố đô Huế,
Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn.
Khi việc tự do hóa thương mại và đầu tư khu vực ASEAN được thực hiện thì vị trí
của thành phố cảng sẽ là một lợi thế quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho Đà Nẵng
mở rộng giao lưu kinh tế với các nước, tạo lực để thành phố trở thành trung tâm của
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động
lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Với lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng phát triển kinh tế, du lịch phong phú, đa
dạng, Đà Nẵng có nhiều lợi thế và điều kiện thuân lợi để nhà đầu tư phát triển hoạt
động kinh doanh và hoạt động Marketing
 Về tốc độ phát triển kinh tế
Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học và
công nghệ của miền Trung và cả nước với mức tăng trưởng kinh tế liên tục và khá
ổn định gắn liền với các mặt tiến bộ trong đời sống xã hội, cơ sở hạ tầng phát triển,
đô thị được chỉnh trang, vv…
Tốc độ tăng GDP bình quân trong giai đoạn 2001-2006 đạt 12.47%, năm 2008 tăng
11,04%. Hiện nay có hơn 10.000 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang
hoạt động tại thành phố. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 tăng 17,6% so với
năm 2007. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là thủy sản, săm lốp cao su, dệt may,
giày, cơ khí, vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ Công nghệ thông tin, đặc
biệt là công nghiệp phần mềm, hiện đang được thành phố tập trung phát triển trở
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
thành một trong những ngành kinh tế chủ lực có hiệu quả kinh tế cao và đóng góp

đáng kể vào sự tăng trưởng GDP của thành phố.

Qua sơ đồ về tốc độ phát triển các ngành, ta có thể thấy được tốc độ phát triển tăng
của các ngành qua các năm.
 Về nguồn nhân lực
Đà Nẵng có nguồn nhân lực dồi dào (nguồn lao động chiếm hơn 50% dân số thành
phố), chủ yếu là trẻ, khỏe. Số lao động có chuyên môn kỹ thuật đã qua đào tạo
chiếm gần một phần tư lực lượng lao động. Đà Nẵng là một trong những tỉnh thành
trong cả nước có các chỉ số phát triển giáo dục cao với hệ thống giáo dục khá hoàn
chỉnh, tạo nền tảng thuận lợi và vững chắc cho việc phát triển nguồn nhân lực của
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
thành phố nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất
lượng cuộc sống. Hệ thống các trường này thực hiện chuyên ngành đào tạo trên hầu
hết các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin, kinh tế, quản trị kinh
doanh, ngoại ngữ và sư phạm
Trung tâm Công nghệ phần mềm Đà Nẵng hiện là một trong những đơn vị sản xuất
phần mềm hàng đầu tại Việt Nam và là trung tâm đào tạo công nghệ thông tin hàng
đầu của khu vực miền Trung. Trong những năm qua, Trung tâm Công nghệ phần
mềm Đà Nẵng đã hợp tác chặt chẽ với các công ty của Ấn Độ (Aptech) và Nhật Bản
(AOTS) để đào tạo lập trình viên, kỹ thuật viên và kỹ sư công nghệ thông tin đạt
trình độ quốc tế.
Ngoài ra thành phố còn có khoảng 55 trung tâm dạy nghề thường xuyên cung cấp
các khóa đào tạo ngắn hạn về tin học, may công nghiệp, cơ khí, điện - điện tử, kỹ
thuật xây dựng, vv
Đây cũng là một lợi thế cạnh tranh của thành phố trong thu hút đầu tư và phát triển
kinh doanh.

Đà Nẵng hôm nay là một thành phố có môi trường văn hoá lành mạnh, có nếp sống
văn minh đô thị, trình độ dân trí được nâng cao, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Do

đó, có nhiều doanh nghiệp đến hoạt động kinh doanh; môi trường cạnh tranh gay
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
gắt trong nhiều lĩnh vực nên thực hiện hoạt động Marketing để doanh nghiệp nâng
cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững là hết sức cần thiết.
2.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Giải pháp và
Công nghệ Thông Minh
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Cổ phần Giải pháp và Công nghệ Thông Minh được thành lập vào ngày 10
tháng 03 năm 1998.
Tên giao dịch: SMART SOLUTION AND TECHNOLOGY CORPORATION
Tên viết tắt: SST CORP.
Trụ sở chính: 89 Nguyễn Thị Minh Khai - Q. Hải Châu - Tp. Đà Nẵng
Điện thoại: 0511.3843438 * Fax: 0511.3843439
Website: www.sst.vn
Email:
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 3203002092 do Sở Kế hoạch và Đầu tư
thành phố Đà Nẵng cấp.
2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.2.2.1 Chức năng
Công ty Cổ phần và Giải pháp Công Nghệ Thông Minh được thành lập với chức
năng chính là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ lĩnh vực công nghệ thông tin- viễn
thông với các loại hình cụ thể như sau:
* Sản xuất và gia công phần mềm.
* Kinh doanh, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị viễn thông và tin học.
* Tư vấn, xây lắp các hệ thống thông tin.
* Tư vấn các giải pháp và chuyển giao công nghệ.
* Kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng. Quảng cáo thương mại.
* Dịch vụ công nghệ thông tin.
 Các sản phẩm và dịch vụ chủ lực

1) Sản phẩm và giải pháp phần mềm
Quản lý Doanh nghiệp
o Giải pháp Ứng dụng Thương mại điện tử (Web Application)
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
o Hệ thống Quản lý tổng thể doanh nghiệp (.NET Dekstop / Web Application)
o Hệ thống Thông tin quản lý doanh nghiệp (Web Application)
o Phần mềm Quản lý nhân sự (.NET Dekstop Application)
o Phần mềm Quản lý quan hệ khách hàng (Web Application)
o Phần mềm Quản lý Tài chính dự án (.NET Dekstop Application)
o Phần mềm Quản lý đầu tư (.NET Dekstop Application)
o Hệ thống Quản lý khách sạn (.NET Dekstop Application)
Chính phủ điện tử - Tin học hóa hành chính nhà nước
o Cổng thông tin điện tử (Portal)
o Dịch vụ công cấp phép đăng ký kinh doanh trực tuyến (Web Application)
o Hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành (.NET)
o Giải pháp quản lý thông tin giáo dục (Web Application)
Giải pháp chuyên ngành
o Hệ thống quản lý thông tin cấu hình mạng viễn thông – NTMS
o Tư vấn và cung cấp giải pháp quẩn lý cho các khu công nghiệp, khu kinh tế
o Và thực hiện các dự án theo yêu cầu của khách hàng: các hệ thống quản lý,
website…
2) Cung cấp giải pháp và thiết bị CNTT & VT
Giải pháp hạ tầng kết nối.
o Tư vấn thiết kế, triển khai thi công lắp đặt các hệ thống mạng
o Kết nối mạng không dây (Wireless)
o Mạng riêng ảo cho kết nối người dùng ở xa, văn phòng chi nhánh (VPN)
o Mạng diện rộng (WAN)
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm

o Hệ thống mạng nội thị (Metro) dựa trên giải pháp Canopy kết nối không dây
của Motorola.
Giải pháp hệ thống mạng tích hợp trong doanh nghiệp
o Thiết kế và thi công các giải pháp mạng tích hợp ứng dụng cho quản lý doanh
nghiệp: AD, File and Printing Server, Mail…
o Cung cấp dịch vụ IT on Demand đáp ứng yêu cầu quản trị hệ thống mạng
theo yêu cầu cho các doanh nghiệp nhằm giảm thiểu chi phí đầu tư cho lĩnh
vực CNTT (TCO).
o Cung cấp thiết bị phần cứng, máy trạm, máy chủ, thiết bị mạng
o Hệ thống an ninh tổng thể cho mạng doanh nghiệp: Firewall, Internet
Security, Antivirus…
Cung cấp các sản phẩm phần mềm có bản quyền
o Đại lý phân phối các sản phẩm phần mềm đóng gói của các hãng như
Microsoft, McAffe, Adobe, Symantec, Kaspersky
o Các hệ thống phần mềm ứng dụng chuyên ngành CamCad, PowerWare
Dịch vụ viễn thông
o Đo kiểm hoạt động của hệ thống CNTT - Viễn thông.
o Hiệu chỉnh thiết bị.
o Hệ thống tổng đài VoIP cho phép tiết kiệm chi phí thông tin liên lạc và đem lại
hiệu quả tối đa trong truyền thông doanh nghiệp.
o Thiết lập hệ thống giám sát hoạt động của trạm BTS (Camera quan sát, hệ
thống cảm biến cháy nổ, nguồn điện)
Hệ thống an ninh
o Giải pháp Camera quan sát theo dõi từ xa hoặc qua mạng nội bộ hỗ trợ cung
cấp bằng chứng bằng hình ảnh lưu giữ.
o Hệ thống chấm công bằng thẻ từ, chấm công bằng vân tay.
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thế Tràm
o Hệ thống quản lý vào ra, khoá cửa điện tử.
3) Cung cấp và khai thác dịch vụ gia tăng

Hợp tác với các đối tác là các ISP, doanh nghiệp viễn thông cung cấp các dịch vụ
gia tăng về SMS, Thương mại điện tử, Quảng cáo online, Web hosting… dựa trên
các giải pháp của SST phát triển.
Kỹ năng công nghệ và quy trình quản lý chất lượng phần mềm.
SST tập hợp lực lượng chuyên viên phát triển phần mềm trẻ và năng động, có khả
năng thích ứng nhanh cũng như chịu được áp lực cao, với nhiều chuyên viên có từ 3
đến 8 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực công nghệ khác nhau, tập trung vào hai
mảng chính: .NET và J2EE.
Các công nghệ phát triển hệ thống trên nền .NET
 Hệ điều hành: Microsoft Windows (nhiều phiên bản khác nhau).
 Công cụ lập trình và thiết kế Web chủ yếu: Microsoft Visual Studio 6.0,
Microsoft Visual Studio 2005, Microsoft Visual Studio.NET, Macromedia
Dream Waver, v.v
 Ngôn ngữ lập trình / công nghệ chính: VB.NET, ASP.NET, C#,
HTML/DHTML, XML/XSL, CSS, VBScript, JavaScript, WebService, VB,
C++.
 Middleware / Server / Component: Microsoft .NET framework, Microsoft
SharePoint Service, Microsoft SharePoint Portal Server, Microsoft Content
Management Server, Microsoft Transaction Server / COM+, IIS, ADO.NET,
LDAP (Microsoft Active Directory, Open LDAP).
Các công nghệ phát triển hệ thống trên nền Java 2 Enterprise Edition
 Hệ điều hành: Microsoft Windows (nhiều phiên bản khác nhau), Red Hat
Linux (nhiều phiên bản khác nhau), Mandrake Linux (nhiều phiên bản khác
nhau).
 Công cụ lập trình và thiết kế Web chủ yếu: Borland JBuilder, NetBeans
Studio, Sun Java Studio, Eclipse, IBM Visual Age, Macromedia DreamWaver,
v.v
SVTH: Lê Thị Hồng Vân – Lớp B13QTH Trang 25

×