Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

Tiểu luận: Ô nhiễm đất và sa mạc hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (788.22 KB, 31 trang )

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ & QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN MÔN
MÔI TRƯỜNG HỌC CƠ BẢN
TÊN ĐỀ TÀI
SVTH : NGÔ ANH TUẤN - 0771350
LỚP : ĐẠI HỌC MÔI TRƯỜNG 3B
GVHD : GIÁO SƯ-TSKH LÊ HUY BÁ
TPHCM – THÁNG 07 / 2009
1
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
Phần nội dung 2
I Ô nhiễm môi trường đất 2
1 Khái niệm chung về môi trường đất 2
2 Phân loại ô nhiễm môi trường đất 4
3 Hậu quả và thực trạng ô nhiễm môi trường đất 14
4 Biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường đất 15
II Sa mạc hoá 17
1 Khái niệm về sa mạc hoá 17
2 Hậu quả và thực trạng của sa mạc hoá 19
3 Biện pháp khắc phục và đế phòng sa mạc hoá 26
Phần kết luận 28
Danh mục sách tham khảo 29

2
PHẦN MỞ ĐẦU
Hoạt động của con người ngày càng mở ra nhiều lĩnh vực càng đa dạng thì chất
thải và ô nhiễm càng phức tạp càng nhiều lên. Ngày nay, chất thải không những đổ
ra sông biển làm ô nhiễm sông biển mà còn được chôn xuống đất ngày càng phổ
biến. Mặt khác giữa môi trường nước, môi trường không khí, biển cùng với môi


trường đất có một sự liên quan chặt chẽ với nhau, đặc biệt là giữa môi trường nước
và môi trường đất. Bởi vì, đất và nước luôn luôn đi với nhau. Nước ở trên mặt đất,
nước ở trong lòng đất, nước và đất giao thoa với nhau. Vì vậy ô nhiễm một trong
các môi trường thành phần đặc biệt là một trong hai môi trường đất và nước sẽ là ô
nhiễm cả hai. Sau đó, mối tương quan này biểu hiện giữa môi trường không khí
với đất. Các chất ô nhiễm không khí khi lắng tụ sẽ rơi vào môi trường đất như
mưa acid, H
2
SO
4
, HNO
3
, HCl, bụi kim loại, Pb, Cu. Ngược lại các chất làm tăng
15% hiệu ứng nhà kính như CH
4
, NO
2
, NO, H
2
S từ môi trường sinh thái đất. Có
một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất như : do chất thải nông nghiệp,
do chất thải công nghiệp, chất thải dân cư đô thị, chất thải phóng xạ. Bên cạnh đó,
trong hai thập kỷ qua, hiện tượng sa mạc hóa ngày càng rõ nét, lan rộng, đe
dọa nghiêm trọng đến cuộc sống của hàng tỷ người trên trái đất. Tình trạng sa
mạc hóa ngày càng gia tăng, kéo theo nhiều sự xáo trộn về kinh tế, xã hội, môi
trường… và ảnh hưởng đến sự phát triển của hầu hết quốc gia trên trái đất. Do đó
nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Sa mạc hoá và ô nhiễm môi trường đất”
để làm bài tiểu luận.
3
PHẦN NỘI DUNG

I. Ô nhiễm môi trường đất:
1. Khái niệm chung về môi trường đất:
1.1 Định nghĩa đất:
Đất là một thành phần của hệ sinh thái hoàn chỉnh, trên đó người ta khai thác
từ đất các yếu tố vô cơ, để rồi tổng hợp thành các chất dinh dưỡng của cây trồng.
Chúng ta thường xuyên tác động đến đất và tác động đó thường là tiêu cực, nên
phải bảo vệ đất khỏi bị hủy hoại nghiêm trọng cũng như khỏi bị ô nhiểm bởi các
chất thải rắn và lỏng, mà các vi sinh vật thải ra trên mặt đất ngày càng nhiều, nó
làm đảo lộn chu trình sinh quyển lớn dẫn đến mất cân bằng của các hệ sinh thái
trên mặt đất.
1.2 Khả năng tự làm sạch của đất:
Môi trường sinh thái toàn cầu và môi trường thành phần đều có một khả năng
đặc biệt là khả năng tự làm sạch. Đó là khả năng tự điều tiết các hoạt động của
môi trường thông qua một số cơ chế đặc biệt để giảm thấp ô nhiễm từ ngoài vào
để loại trừ, biến chất độc thành không độc. Đối với môi trường đất, khả năng tự
làm sạch cao hơn nhiều so với môi trường không khí và nước. Vì vậy, môi trường
đất thường chậm ô nhiễm hơn và ít độc hơn.
Bản chất của khả năng tự làm sạch:
Một trong những khả năng tự làm sạch là tính đệm của môi trường đất. Đó là
khả năng chống lại sự thay đổi của phản ứng pH của môi trường khi có tác nhân
bên ngoài làm tăng OH
-
hay H
+
hoặc Al
3+
. D0ó cũng là khả năng hấp phụ lớn của
môi trường đất: hấp phụ cơ học, hoá học, tao đổi và sinh học.
Điều kiện cần thiết để khả năng tự làm sạch phát huy tác dụng:
• Số lượng và chất lượng hạt keo trong đất, càng nhiều hạt keo (đặc biệt là

keo mùn) thì khả năng tự làm sạch cao vì tổng số T(Catrion trao đổi chất) sẽ lớn.
4
• Đất nhiều mùn, thành phần mùn nhuyễn chiếm đa số và giàu hiumic sẽ tốt
hơn giàu mùn acid fulvic, tốt hơn đất sét và tốt hơn đất cát.
• Tình trạng hiện tại của môi trường đất chưa bị ô nhiễm hoặc ô nhiễm ít thì
khả năng tự làm sạch sẽ cao.
• Sự thoát nước và giữ ẩm tốt của đất sẽ gia tăng tự làm sạch của môi trường
đất.
• Cấu trúc đất tốt (chủ yếu là cấu trúc dạng hạt hoặc dạng viên).
• Vi sinh vật giàu về số lượng và chủng loại cùng với điếu kiên môi trường
cho nó hoạt động (nhiệt độ 30 – 35
0
C và độ ẩm 70 – 80%)
• Khả năng oxi hóa tốt, chưa bị nhiễm mặn, phèn hoặc lầy, yếm khí.
• Các chất thải không quá lớn, thành phần không quá phức tạp, khó phân giải
thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ phát huy tác dụng.
Giới hạn của khả năng tự làm sạch:
• Phụ thuộc vào điều kiện môi trường: tính đệm của đất, khả năng hấp phụ,
lượng vi sinh vật, hạt keo…
• Phụ thuộc vào nồng độ các chất gây ô nhiễm. Nếu vượt quá nồng độ nào
đó, môi trường đất sẽ không còn khả năng tự làm sạch. Mặt khác, cấu trúc phân tử
và bản chất của chất ô nhiễm mang đặc thù riêng và trơ với đất thì khả năng tự làm
sạch của đất coi như rất thấp.
Mỗi loại môi trường sinh thái đất đều có một khả năng gọi là “ngưỡng tự làm
sạch”. Nếu vượt quá ngưỡng này thì khả năng tự làm sạch sẽ không còn nữa.
1.3 Ô nhiễm đất:
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người lam thay đổi
các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã sống trong
đất.
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền

móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con
người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào
5
hoạt động sản xuất nông
nghiệp để đảm bảo nguồn
cung cấp lương thực thực
phẩm cho con người. Nhưng
với nhịp độ gia tăng dân số và
tốc độ phát triển công nghiệp
và hoạt động đô thị hoá như
hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng
bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người.
2. Phân loại ô nhiễm môi trường đất:
2.1 Ô nhiễm môi trường đất do chất thải nông nghiệp
Bao gồm các loại chất thải như: phân bón,
thuốc trừ sâu, tàn tích sản phẩm và cây trồng
nông nghiệp, chất thải gia súc động vật và tàn
tích rừng. Trong chúng có những chất thải làm
cho đất phì nhiêu hơn. Tuy nhiên khi vượt quá
“ngưỡng tự làm sạch”, môi trường sinh thái
đất sẽ bị ô nhiễm nặng nề hơn.
 Ô nhiễm đất do nông dược và phân hoá học
Đây là 2 loại hoá chất quan trọng trong nông nghiệp, nếu sử dụng thích hợp sẽ
có hiệu quả rõ rệt đối với cây trồng. Nhưng nó cũng là con dao 2 lưỡi, sử dụng
không đúng sẽ lợi bất cập hại, một trong số đó là ô nhiễm đất.
 Ô nhiễm do phân bón
 Phân bón hóa học
Để tăng năng suất cây trồng, người ta thường bón thêm phân đạm vô cơ (N),
lân(P
2

O
5
) và kali (K
2
O). Nhưng trong đó, đáng chú ý nhất là đạm, một loại phân
mang lại hiệu quả rõ rệt nhất cho năng suất cây trồng nhưng cũng dễ gây ô nhiễm
cho môi trường đất do tồn dư của nó. Vì cây chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa 30%
6
lượng phân bón vào đất. Còn lại, phần thị bị rửa trôi, phần nằm lại trong đất, gây ô
nhiễm môi trường. Phần lớn nitrát phân bón được giữ lại trong môi trường đất.
Chúng sẽ ngấm dưới dạng NO
3
. Thêm vào đó, tính độc hại của nó còn biểu hiện
trong quá trình nitrat hóa:
2NH
4
+
+ 3O
2
=> 2NO
2
-
+ 2H
2
O + 4H
+
+ E
2NO
2
-

+ O
2
=> NO
2
-
+ E
Nó làm tăng tính chua của môi trường đất bởi vì dạng acid HNO
3
rất phổ biến
trong đất. Một số dạng phân bón hóa học khác gây ô nhiễm môi trường đất là phân
lân, với lượng lân cao, sẽ gây chua cho môi trường đất. Ví dụ trong phân super lân
thường có 5% acid tự do. Riêng lượng acid tự do H
2
SO
4
nào cũng đã làm môi
trường đất chua thêm. Mặt khác, các dạng phân hóa học đều là các muối của các
acid. Vì vậy khi hòa tan thường gây chua cho môi trường đất. Mặt khác sự tích lũy
cao các hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt
cơ lý tính. Đất nén chặt độ trương co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà
nông dân gọi là đất trở nên “chai cứng”, tính thông khí kém đi, vi sinh vật ít đi vì
hóa chất hủy diệt vi sinh vật.
 Phân hữu cơ
Phần lớn nông dân dùng phân hữu cơ như phân bắc, nước tiểu đều không qua
chế biến, nên gây ô nhiễm cho môi trường đất và gây hại cho động vật và con
người. Bởi trong phân rất nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng và các mầm
bệnh khác. Nếu bón vào đất chúng có điều kiện sinh nảy nở lan truyền qua nước
mặt, nước ngầm hoặc bốc hơi và không khí là ô nhiễm môi trường sinh thái:
• Gây ô nhiễm mùi
• Diệt một số vi sinh vật có lợi trong đất.

 Thuốc trừ sâu, bệnh
7
Chúng đều có khả năng gây ô nhiễm môi trường đất và hoạt ánh sinh học của
chúng sẽ là chất độc cho động vật và con
người. Nó có thể tồn tại lâu dài trong đất,
xâm nhập vào thành phần cây, nhất là tích
lũy ở quả, hạt, củ. Tác hại khác nữa của
thuốc trừ sâu gây bệnh là sự xâm nhập của
nó vào môi trường sinh thái đất làm cho cơ
lý tính của đất bị giảm sút, mức độ gây hại
này giống như là phân bón hóa học. Khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc trừ sâu
bệnh đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong môi trường sinh thái đất. Vì
vậy, nó làm cho hoạt tính sinh học của đất bị giảm sút. Theo điều tra của tổ chức
nông lương thế giới: năm 1965, có 182 loài côn trùng gây hại có khả năng kháng
thuốc, năm 1968, tăng lên 228 loài và đến 1979 lên tới 364 loài. Trong số 25 loài
sâu hại nông nghiệp chủ yếu ở các nông trường California Mỹ thì có 17 loài đã có
khả năng kháng đối với một hoặc vài loại thuốc, mỗi năm, số sâu hại kháng thuốc
này làm thiệt hại mấy chục triệu đôla cho nông nghiệp vùng này.
 Tàn tích rừng:
Tàn tích rừng sau khi thu hoạch gỗ hoặc phát quang rừng, phần bỏ đi gọi là
“slash”. Tàn tích này sau khi nằm lại trong môi trường đất sẽ phân hủy tạo mùn
cho đất. Nếu điều kiện phân giải tạo mùn ít thì khả năng chuyển hóa thành những
dạng khó tiêu và gây chua nhiều hơn. Điều này thể hiện ở rừng thông và rừng
savan. Nếu tàn tích rừng bị vùi lấp trong điều kiện yếm khí lâu ngày sẽ tạo ra các
đầm lầy than bùn hoặc than bùn phèn. Điều đó có nghĩa là tạo ra một môi trường
đất acid.
 Chất thải của súc vật
8
Những chuồng trại chăn nuôi gia súc nếu thu gom, xử lý không đảm bảo kỹ thuật
và vệ sinh môi trường thì sẽ là hiểm họa cho môi trường sinh thái, trong đó có môi

trường đất. Vì chúng sẽ làm môi trường sinh thái đất mất khả năng tự làm sạch của
nó. Lúc này sự ô nhiễm môi trường đất trở nên trầm trọng. Các cơ quan hoạt động
môi trường đất bị tê liệt. Chất thải, vi trùng từ đó mà lan ra khắp nơi trong nứơc
ngầm, trong nước suối hay bay vào không khí. Các loại côn trùng như bọ hung, bọ
xít cũng có cơ hội phát triển và gây hại. Các loại nhặng và ấu trùng của nó được
môi trường đất tạo cơ hội, phát triển nhanh chống và gây hại tại đây.
2.2 Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do chất thải công nghiệp
Các chất thải công nghiệp dưới dạng chất thải rắn, lỏng và khí đều có ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái đất.
 Các loại khí thải công nghiệp và giao thông
Một số loại khói bụi có hại ngưng tụ cũng là nguyên nhân của ô nhiễm đất.
 CO: khi tiếp xúc môi trường sinh thái đất, CO có thể hòa vào không khí
đất, làm hại động vật trong đất. Một phần CO được hấp thụ trong keo đất, phần
còn lại tạo oxi hóa thành CO
2
nhờ vi sinh vật:
2CO
2
+ O
2
==> 2CO
2
+ E
Một phần khác CO sẽ tác dụng với OH hoặc với O
2
, O
3
và N
2
O trong không

khí đất để trở thành CO
2
. Tuy nhiên sự có mặt không nhiều của nó trong môi
trường sinh thái đất cũng làm tổn thất lớn đến sức sống của động vật.
9
Ví dụ, các vùng đất gần các nhà máy sản xuất hoá chất Photpho, Flo, luyện
kim dễ bị ô nhiễm vì khói bụi, hàm lượng flo chứa trong khoáng chất photpho sử
dụng ở các nhà máy phân hoá học thường là 2 – 4%, nếu khí thải không được xử
lý thích đáng, có thể làm cho một vùng hàng ngàn km2 đất xung quanh bị ô nhiễm
flo nặng. Ở gần các xưởng luyện kim, vì trong khí thải có chứa lượng lớn các chất
chì, cadimi, crom, đồng nên vùng đất xung quanh sẽ bị ô nhiễm bởi những chất
này. Đất ở 2 bên đường, thường có hàm lượng chì tương đối cao là sản phẩm của
khí thải động cơ.
 Mưa acid
Các chất khí độc hại trong không khí như ôxit lưu huỳnh, các hợp chất nitơ
kết tụ hoặc hình thành mưa axit rơi xuống đất làm ô nhiễm đất.
Những trận mưa acid đã làm tê liệt các họat động sinh thái môi trường đất,
trước hết làm phản ứng môi trường giảm xuống đột ngột ở tầng mặt, sau đó là một
loạt hoạt động hóa sinh học và vi sinh vật bị ngừng trệ. Những acid H
2
SO
4
, HNO
3
,
HNO
2
gọi là các “acid ngưng tụ”, các acid này xuất hiện trong các giọt sương mù,
nước đá. Ví dụ HNO
3

hình thành từ phản ứng của hơi NO
x
với hơi nước trong
không khí :
2N
2
O + O
2
=> 4NO
2NO + O
2
=> 2NO
2
2NO
2
+ H
2
O => HNO
2
+ HNO
3
Khi đó trong giọt mưa pH đã giảm xuống 2 hoặc thấp hơn. Những giọt mưa
này rơi vào đất sẽ ô nhiễm và gây hại môi trường đất.
 Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do công nghiệp chế biến thực phẩm và
sinh hoạt
10
Chất thải loại này bao gồm các quá trình
công nghiệp chế biến rau quả, thịt cá,
đông lạnh mà sản phẩm là phần hữu cơ
chiếm ưu thế. Nó có hai dạng :

 Dạng chất thải rắn : phần lớn
thành phần chúng chứa nhiều N, P, K
nếu được chế biến tốt sẽ là dạng phân bó.
Nhưng nếu đem chôn hoặc vứt bừa bãi
thì quá trình lên men làm ô nhiểm môi trường đất nhanh chống xuất hiện.
Tác động của chất thải rắn lên môi trường đất: quá trình bị giữ lại trong đất và
ngấm qua những lớp đất bề mặt của nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp làm cho sự tăng
trưởng và hoạt động của vi khuẩn trong
đất kém đi, tức là làm giảm quá trình
phân hủy các chất hữu cơ thành dinh
dưỡng cho cây trồng, trực tiếp làm
giảm năng suất canh tác và gián tiếp
làm cho đất bị thái hoá và bạc màu.
Ảnh hưởng của nước rò rỉ từ các bãi
chôn lấp đến đất đai là rất nghiêm
trọng, mang tính chất lâu dài và rất khó
khắc phục nếu nó ngấm theo mạch ngang. Chính vì vậy, để hạn chế và ngăn ngừa
khả năng gây ô nhiễm đất, chúng ta phải áp dụng các biện pháp an toàn trong công
tác chôn lấp rác, chủ yếu là lót nền và xây dựng thành chắn bằng các vật liệu
chống thấm để ngăn chặn khả năng thấm theo chiều ngang của nước rò rỉ; đồng
thời phải lắp đặt các hệ thống thu gom và xử lý nước rò rỉ.
 Dạng nước thải hữu cơ: các dạng này sẽ làm tăng thêm BOD trong
môi trường sinh thái đất. Những đo đạc cho biết có khi lên đến 10000 ppm; trong
lúc đó ngưỡng của BOD trong dung dịch là 20 ppm. Đồng thời đối với nó là hàng
loạt các vi sinh vật gây thối nồng nặc xuất hiện làm hại môi trường sinh thái.
11
 Ô nhiễm đất vì nước thải
Nguyên nhân là không biết cách lợi dụng một cách khoa học các loại nước thải
để tưới cho cây trồng. Sử dụng hợp lý nguồn nước thải tưới đồng ruộng sẽ tận
dụng được lượng Nitơ, Photpho, Kaki trong nước, có lợi cho cây trồng. Nhưng

nếu như nước ô nhiễm chưa qua xử lý cần thiết, tưới bừa bãi, thì có thể đưa các
chất có hại trong nguồn nước vào đất gây ô nhiễm.
Việc lợi dụng nước thải để tưới ruộng gây ô nhiễm đất, ảnh hưởng tới người và
gia súc có ở mọi quốc gia. Sự kiện “Cadimi” xảy ra ở Nhật Bản năm 1955 là một
ví dụ. Nông dân ở vùng núi Phú Sĩ một thời gian dài đã sử dụng nước thải của một
nhà máy luyện kẽm gần đó để tưới ruộng, Cadimi chứa trong nước thải tích luỹ
dần trong lúa gạo ở khu vực này. Hậu quả là những người nông dân bị chứng đau
nhức các khớp xương, 34 người chết, 280 người tàn phế. Theo một điều tra nông
thôn Nhật Bản, năm 1970, diện tích đất ô nhiễm do nước ở Nhật là 190.000 ha,
làm thiệt hại 22 tỷ Yên.
Trong những năm 70, nông dân Ấn Độ cũng sử dụng tràn lan các nước thải
thành thị chưa qua xử lý để tưới ruộng, khiến cho khả năng sản xuất của đất giảm,
gây hại tới sức khoẻ nông dân. Theo một báo cáo, tỷ lệ nhiễm các bệnh về đường
ruột ở người do nông phẩm ở những khu vực này cao hơn gấp 3 lần những nơi
khác.
 Tác hại của gley hóa đến môi trường sinh thái đất
• Mất đạm do khử nitrat thành N
2
bay đi.
• Tạo phản ứng môi trường chua hơn vì nhóm axit hữu cơ và phân giải yếm
khí.
• Sản sinh chất độc H
2
S là ngộ độc rễ thực vật nhất là rễ lúa, giết chết động
vật và một số vi sinh háo khí trong môi trường đất.
12
• Quá trình giải phóng các chất khí CH
4
, NO
2

, NO, CO
2
đã đóng góp vào
15% hiệu ứng nhà kính.
2.3 Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do chất thải đô thị
Người ta có thể xử lý rác bằng chế
biến phân hữu cơ, chôn hoặc đốt, nhưng
bằng cách gì như hiện nay thì môi trường
sinh thái đất cũng sẽ bị ảnh hưởng. Sự
tạo thành khí CH
4
trong điều kiện yếm
khí sẽ gây thêm chất độc cho môi trường
sinh thái đất và sau đó nếu không sử
dụng gas này, nó sẽ bốc lên và tăng hiệu ứng nhà kính. Sự phân giải cũng gây ô
nhiễm như các sản phẩm trung gian hoặc vi khuẩn gây hại cho đất và nước ngầm
nếu chôn rác không đúng kỹ thuật.
 Ô nhiễm môi trường đất từ các bãi rác và hầm cầu tự hoại
Ở thành phố lớn vấn đề xử lý các bãi rác là một khó khăn không nhỏ. Ở đây ta
xét về bãi rác gây cho môi trường đất:
Mùi hôi thối gây cho không khí đất ngột
ngạt ảnh hưởng đến động vật trong đất.
Các chất độc sinh ra và trong quá trình lên
men khuếch tán và thấm vào đất, nằm lại ở
trong đó.
Nước rỉ ra từ các bãi rác và hầm cầu là ô nhiễm trầm trọng về mặt sinh học.
Các chất thải kim loại nặng từ các bãi rác thấm vào đất.
2.4 Ô nhiểm đất do thiên nhiên và do các tác nhân sinh học
 Ô nhiễm phèn :
Phèn tồn tại trong đất chứa nhiều độc chất Al

3+
, Fe
3+
, SO
4
2-
phèn cũng có thể do
nước phèn từ nơi khác gây nhiễm phèn cho môi trường sinh thái đất. Quá trình thứ
nhất gọi là quá trình phèn hóa, quá trình thứ hai gọi là quá trình nhiễm phèn. Dù
nguyên nhân nào thì trong dung dịch đất lượng độc chất Al
3+
, Fe
2+
, SO
4
2-
, cũng rất
13
cao và pH môi trường xuống thấp, khả năng trao đổi và khả năng đệm của môi
trường đất bị phá vỡ nên khả năng tự làm sạch của đất bị giảm sút; từ đó môi
trường đất bị ô nhiểm nặng, động vật, thực vật, vi sinh vật bị tiêu diệt hàng loạt.
Nếu ô nhiễm nhiều phèn nhôm thì tình độc càng mạnh và nhanh hơn phèn sắt, tính
đa dạng sinh học của môi trường không còn nữa.
 Ô nhiễm mặn :
Do nước biển, trong nuớc biển chứa chủ yếu là muối NaCl, nó bị tràn vào do
vỡ đập hay sóng thần hay do mạch nước ngầm theo mao dẫn lên lớp mặt làm ô
nhiễm môi trường đất. Gây hại chủ yếu ở nồng độ muối vượt quá 1% sẽ gây chết
cho cây cối và các ion Na
+
và Cl

-
quá cao. Môi trường đất được xem là ô nhiểm
mặn khi nồng độ tổng số muối tan > 0.3%, trong đó muối Cl
-
> 0.15% và Na
+

hàm lượng trên meq/ gr, sau giờ bị ngập nước mặn hoặc bị bốc mặn lên mặt. Nồng
độ cao của muối gây hạn sinh lý cho thực vật và tiêu diệt vi sinh vật cùng động vật
trong môi trường đất.
 Ô nhiễm môi trường đất đầm lầy và tăng hiệu ứng nhà kính:
Các đầm lầy là nơi tập trung một kim lọai nặng Fe, Al, Cd, Hg, Cd, Zn …
Những vùng có kênh rạch thành phố đổ vào không có một cây nào mọc được
chính vì ô nhiểm kim lọai nặng và quá nhiều hơi độc. Quá trình phân giải yếm khí
không hoàn toàn chất hữu cơ sinh ra CO
2
, CH
4
, NO
x
và hơi nuớc. Các chất khí này
từ môi trường sinh thái đất bay vào không khí tăng thêm lượng CO
2
, CH
4
và hơi
nước. Đó là những chất gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng
lên. Mối hiểm họa toàn cầu. Các nhà khoa học đã chứng minh tất cả các khí ô
nhiểm môi truờng đất và nông nghiệp đã đóng góp vào 15% hiệu ứng nhà kính.
 Ô nhiễm do phóng xạ:

Nguyên nhân của ô nhiễm phóng xạ trong đất là do các chất phóng xạ có sẵn
trong thành phần địa chất, chất thải phóng xạ từ các nhà máy điện hoặc chất thải
phóng xạ từ các trung tâm nghiên cứu khoa học. Có hai loại chất thải phóng xạ:
• Phóng xạ tự nhiên gồm có Uranium, Radi, Teri… có sẵn trong lòng đất.
Trong điều kiện môi trường thuận lợi, các nguyên tố này phân rã và tạo ra phóng
14
xạ với nồng độ cao và gây hại môi trường đất. Sự tác hại này thường xảy ra ở
những vùng mỏ phóng xạ nơi tập trung một lượng phóng xạ khá cao.
• Phóng xạ nhân tạo: do các thảm họa từ các nhà máy điện hạt nhân, các vụ
thử hạt nhân… gây hại cho môi trường. Chúng thấm xuống nước ngầm, đất tiếp
xúc với nước sinh hoạt và gây hại cho con người và môi trường trong nhiều năm
liền.
2.5 Ô nhiễm môi trường đất do dầu
 Tác hại của dầu lên môi trường đất:
Biểu hiện các mặt sau đây:
• Khi trên bề mặt có một lớp dầu bao phủ, dù rất mỏng, chỉ 0.2 – 0.5 mm,
cũng đủ làm cho môi trường đất “ngạt thở”, thiếu không khí vì các quá trình trao
đổi khí bị cắt đứt. Kết quả là các vi sinh vật (vi sinh vật, động thực vật) đều bị
thiếu oxi, dẫn đến chết. Lớp dầu này cũng ngăn quá trình trao đổi năng lượng mặt
trời của môi trường đất.
• Khi dầu đã thấm vào trong đất, chúng là một chất ghét nước, nên chúng đẩy
tất cả nước ra ngoài, làm cho môi trường đất hầu như không còn nước. Mặt khác,
chúng cũng chiếm chỗ hết tất cả các lỗ hỏng kể cả phi mao quản và mao quản, đẩy
hết không khí ra ngoài.
Như vậy, môi trường đất giảm thiểu lượng không khí và, gây nguy hại cho hệ
sinh thái.
• Khi dầu xâm nhập vào đất, chúng làm thay đổi kết cấu, đặc tính lý học và
hóa học của đất. Chúng biến các hạt keo thành “trơ”; không có khả năng hấp phụ
trao đổi nữa. Nó đã làm dung dịch đất bị phân “tướng” rõ: ưa dầu và ghét dầu, mất
tính đệm, tính oxi hóa, độ dẫn điện và dẫn nhiệt thay đổi mạnh. Tính trương co,

tính dính giảm thiểu.
• Dầu thấm qua đất đến mạch nước ngầm sẽ làm ô nhiễm, gây hại nguồn
nước ngầm.
• Dầu là những hợp chất hữu cơ cao phân tử có đặc tính diệt sinh vật.
15
Vì vậy, bất cứ ở đâu khi có dầu thấm vào môi trường đất, chúng đều tiêu diệt
một cách trực tiếp hầu hết các thực vật, động vật nhất là vi sinh vật (trừ một số
sinh vật ăn được dầu).
Rõ ràng tác hại của dầu là rất lớn, có thể biến đất thành đất chết.
• Ảnh hưởng đến sự nảy mầm của cây trồng: dầu thô làm chậm và làm giảm
tỷ lệ nảy mầm, nghĩa là trồng trọt trên đất ô nhiễm dầu mà không bón thêm chất
dinh dưỡng sẽ làm cho tỷ lệ nảy mầm thấp hơn so với cây trồng trên đất không bị
ô nhiễm.
• Ảnh hưởng của dầu đến sự phát triển của cây trồng: ô nhiễm dầu có sự
tương quan chặt chẽ với tất cả những thông số phát triển của cây trồng. Sự khác
nhau trong chiều cao của cây giữa vùng đất không bị ô nhiễm và đất bị ô nhiễm
dầu (không bổ sung chất dinh dưỡng) khác nhau từ 24% - 33% so với đối
chứng(chiều cao cực đại của cây được ghi nhận).
• Tác động của dầu đến môi trường đất: sự tác động của dầu lên môi trường
đất chủ yếu bằng cách kiềm hãm quá trình vận chuyển, bay hơi và phân hủy sinh
học diễn ra trong đất. Tác dụng của lực hấp dẫn kéo các chất lỏng theo chiều đi
xuống (ngược với lực giữ lại các chất lỏng đó) nên sẽ xảy ra sự hấp thụ trên hạt
khoáng hoặc nằm trong các lỗ hổng cấu trúc của đất.
3. Hậu quả và thực trạng ô nhiễm môi trường đất:
3.1Hậu quả:
Ô nhiễm và suy thoái môi trường đất gây ra rất nhiều tác hại.
Trước hết, phải kể đến hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất bị mất do trầm
tích và rửa trôi theo các dòng nước. Thông thường, hàm lượng các chất dinh
dưỡng (N, P, K) trong trầm tích đất cao gấp 10 lần trong đất do các chất này bị hoà
tan và trôi đi. Giá trị lượng dinh dưỡng bị mất đi có thể được tính thông qua lượng

dinh dưỡng cần bổ sung vào.
Khi đất xuống cấp, khả năng giữ nước của đất cũng sẽ bị yếu đi, tổn thất nước
mưa tăng lên và do đó xói mòn cũng tăng theo. Người ta tính được rằng, khi lượng
16
mưa thất thoát 20-50% tổng lượng mưa thì lượng đất bị xói mòn sẽ tăng lên 8-
10%.
Xói mòn đất còn làm cho các chất ưa nước dễ tan hơn, những phần màu mỡ dễ
bị rửa trôi hơn.
Như vậy, suy thoái và ô nhiễm môi trường đất có thể gây ra hàng loạt các tác
hại cho môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội.
3.2 Tình trạng môi trường đất ở Việt Nam
Theo bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường. 1994 thì môi trường của nước
ta bị suy thoái và ô nhiễm trầm trọng. Trong đó có suy thoái và ô nhiễm về đất. Có
hơn 13 triệu đất suy thoái, đất trồng đồi núi trọc. Đô ẩm cao, mưa nhiều, bão lớn
nên các quá trình suy thoái diễn ra nhanh chóng, nhất là vùng đất dốc không có
rừng che phủ. Các chất dinh dưỡng bị rữa trôi có thể đến 150 -170 tấn/ha/năm ở
đất dốc 20 – 220. Ngoài ra hàm lượng khoáng vi lượng rất ít, pH giảm, lớp mặn bị
kết vón, đá ong hóa dẫn tới khả năng mất canh tác. Ngoài việc đất mất canh tác,
hay giảm độ phì nhiêu của đất, thì việc sử dụng không hợp lý đất và nước trên các
lưu vực sẽ gây hiện tượng bồi lấp dòng sông, lòng hồ, cửa biển. Ở miền Trung gió
đẩy các cồn cát duyên hải vào đất liền gây suy thoái đất trầm trọng. Ở đồng bằng
Bắc Bộ và Nam Bộ, hàng trăm hàng ngàn ha đất màu mỡ đã bị nhiễm mặn và
nhiễm phèn. Đất còn bị xói lở các vùng dân cư ven sông, ven biển. Ngoài ra đất
còn bị suy thoái hoặc ô nhiễm do khai thác nông nghiệp quá đáng, không bù đắp
đủ số chất khoáng lấy đi qua nông sản. Việc dùng phân tươi để bón ruộng hay việc
dùng các chất độc hại làm ô nhiễm đất
4. Biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường đất:
17
Chống ô nhiễm đất đang là vấn đề bức thiết đặt ra cho nhiều quốc gia. Một số
biện pháp cơ bản hiện nay là:

• Khống chế các chất thải rắn, lỏng, khí.
• Mở rộng và phát triển công nghệ tuần hoàn kín hoặc xử lý chất thải để giảm
hoặc loại bỏ các chất gây ô nhiễm;
• Khi lợi dụng nước thải để tưới ruộng, cần nắm được thành phần chất ô
nhiễm, hàm lượng và trang thái, khống chế số lượng nước tưới hoặc thực hiện xử
lý chần thiết;
• Khống chế việc sử dụng nông dược hoá học, hạn chế sử dụng các thuốc có
độc tính cao, khả năng tồn tại lớn, phát triển các loại thuốc nông nghiệp mới có
hiệu quả cao, độc tính thấp, lượng tồn trữ ít.
• Bón phân hoá học một cách hợp lý.
• Tích cực áp dụng rộng rãi các kỹ thuật sinh học phòng trị sâu hại, lợi dụng
các loài chim có ích, côn trùng có ích và một số vi sinh vật gây bệnh để chống lại
các loại sâu hại, biện pháp này đang được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng.
Biện pháp khắc phục
Khắc phục ô nhiễm dầu trong đất có nhiều cách, nhưng có thể có nhiều cách,
nhưng có thể có các cách chủ yếu sau:
• Cày xới lên và xử lý tầng đất ô nhiễm để nó tiếp xúc với không khí cho bay
hơi hay vì vi sinh vật phân hủy.
• Xử lý đất bằng hóa chất
• Trồng cây ưa dầu, có khả năng chịu đuợc nồng độ dầu.
• Thí nghiệm các cách khác nhau, chọn ra phương pháp thích hợp.
• Bốc lớp đất bị ô nhiễm (nếu mỏng) đưa đi xử lý.
• Tạo cho đất khả năng tự làm sạch, hoặc bằng tiếp xúc không khí hoặc vi
sinh vật, hoặc bằng rửa trôi, chuyển hóa êm dịu.
II. Sa mạc hoá:
18
1. Khái niệm về sa mạc hóa:
1.1 Định nghĩa sa mạc hoá:
Sa mạc hóa là sản phẩm cuối cùng của sự thoái hóa tài nguyên môi trường (soil
degradation) xảy ra ở vùng khô và bán khô. Đây là kết quả của sự thay đổi thời

tiết, khí hậu và sự tác động của con người.
Suốt những năm 1968 – 1973, nạn sa mạc hóa đã diễn ra chủ yếu do sự chăn
thả quá mức. Sa mạc Sahara đang tiến dần vào vùng Sahel với tốc độ trung bình
khoảng 50 km/ năm.
1.2 Nguyên nhân sa mạc hoá:
Sa mạc hóa gần đây là kết quả của sự tác động qua lại giữa hạn hán (bao gồm
cả các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, . . . ) và việc sử dụng tài nguyên môi
trường không hợp lý (do áp lực của con người trong việc khai thác đất đai).
1.3 Cơ chế chung của sự sa mạc hoá:
• Mở rộng và tăng cường sử dụng đất trên những vùng đất khô cằn, làm nông
nghiệp khi đất còn ẩm ướt (gồm cả chăn nuôi, trồng trọt, và khai thác rừng).
• Sự xói mòn do gió hoặc do nước.
• Sự thay đổi khí hậu, thời tiết.
• Sự chăn thả tăng lên trong những năm đất còn ẩm ướt làm cho mặt đất rắn
chắc lại và số lượng thú nuôi tăng nhanh gây áp lực cho cây trồng lâu năm.
Kết quả là mặt đất bị phô ra vào mùa khô và gió dễ dàng xói mòn bề mặt.
19
• Hoạt động canh tác trong những năm ẩm ướt làm tăng sự thoát hơi nước và
tăng sự xói mòn do gió vào mùa khô. Trong những năm khô hạn sau đó, vấn đề
xói mòn do gió làm cho khả năng tích lũy nước tầng mặt giảm xuống. Việc giảm
số lượng các cây lâu năm cũng làm cho nước ngầm tụt xuống ngay cả mùa khô
cũng như mùa khô.
Nhìn chung, sa mạc hóa là một trong những quá trình mà tiềm năng sản xuất
của đất khô hay bán khô bị giảm đi một cách đáng kể.
1.4 Các mức độ sa mạc hoá:
 Năng suất sản xuất giảm 10 – 25%: sa mạc hóa bắt đầu.
 Năng suất sản xuất giảm 25 – 50%: sa mạc hóa trung bình.
 Năng suất sản xuất > 50%: sa mạc hóa nghiêm trọng, trong những
trường hợp này có sự xuất hiện các rãnh hay các ụ cát lớn.
Sa mạc hóa và việc lạm dụng đất đai ở một số nơi (x 1000km

2
)
Những vùng
đất khô có
thể bị sa mạc
hóa
DT sa mạc
hóa nhẹ và
trung bình
DT sa mạc
hóa mạnh và
nhiều
Tổng DT bị
sa mạc hóa
Châu Phi
Châu Á
Châu Úc
Châu Âu
Bắc Mĩ
Nam Mĩ
Tổng cộng
1286
1671,8
663,3
299,7
732,4
516,6
5169,2
245,3
326,7

86
94,6
72,2
72,8
897,6
74
43,7
1,6
4,9
7,1
6,3
137,6
319,3
370,4
87,6
99,5
79,3
79,1
1035,2

20
2. Hậu quả và thực trạng của sa mạc hoá:
2.1 Hậu quả:
2.1.1 Về mặt sinh thái học:
Do điều kiện khí hậu ở sa mạc rất khắc nghiệt, cho nên ở đây khá nghèo nàn về
chủng loại động - thực vật, hay nói cách khác, đa dạng sinh học ở đây là rất thấp.
Sự đa dạng về loài của động - thực vật có liên quan rất mật thiết tới nhau và có
lên quan trực tiếp tới lượng mưa. Nhìn dưới góc độ sinh thái học thì lượng mưa là
yếu tố rất quan trọng vì nó quyết định đến năng suất cây trồng và sự phong phú, đa
dạng của sinh vật. Lượng mưa có thể được xem như là nhân tố giới hạn chủ yếu

đến các quá trình sinh học cùng với các yếu tố
khác: nhiệt độ, dinh dưỡng làm giới hạn đến năng
suất sinh khối,vì thế giới hạn tính phong phú và đa
dạng của động - thực vật.
Ở sa mạc chỉ có những thực vật có tính thích
nghi cao mới có thể tồn tại: xương rồng, các cây
gai, cây bụi nhưng khả năng cho sinh khối của
chúng rất thấp.
Sự nghèo nàn của thực vật đã làm cho động vật không có điều kiện phát triển.
Một số loài động vật đặc trưng như chuột, một số loài bò sát, đà điểu… có cuộc
sống gắn liền với lượng sinh khối thực vật là các trảng cỏ, cây thân bụi… thì có
khả năng tồn tại nhưng tình trạng đa dạng sinh học vẫn rất nghèo nàn. Các động
vật ở sa mạc cần có khả năng thích nghi cao để có thể tồn tại trong điều kiện khắc
nghiệt do khí hậu sa mạc gây ra.
Ví dụ: đà điểu sống ở những vùng khô cằn ở
châu Phi do có kích thước lớn nên không thể
tránh được cái nắng gay gắt và chúng phản ứng
lại bằng cách thở hổn hển và dựng đứng lông
vào ban ngày. Nếu có gió thì chúng không thở
21
mạnh nữa mà chỉ dựng đứng bộ lông tưa thớt trên lưng. Khi đó, hơi nóng sẽ mật đi
do đối lưu nhiệt. Vào ban đêm, khi nhiệt độ hạ thấp xuống thì bộ lông trên lưng
chúng xẹp lại để tạo ra một tầng cách ly nhiệt để ổn định thân nhiệt.
Ngoài ra, tại những nơi đang bị sa mạc hóa dữ dội thì tính đa dạng sinh học
cũng bắt đầu bị giảm sút,tiểu khí hậu thay đổi theo chiều hướng khắc nghiệt hơn
trạng thái ban đầu, hạn hán liên tiếp xảy ra và đe dọa đến đời sống động - thực
vật…Tất cả những yếu tố trên đã tác động mạnh mẽ vào mặt đất, làm cho mặt đất
ngày một xấu đi, mất dần các chức năng canh tác và chức năng giá đỡ cho động -
thực vật, tạo ra một sự du nhập giống loài mới có thể thích nghi cao hơn với điều
kiện khí hậu mới.

2.1.2 Về mặt xã hội:
Sa mạc hóa kéo theo sự thiếu hụt trầm trọng
lương thực, thực phẩm.
Thực tế, tốc độ tăng sản lượng lương thực,
thực phẩm cao nhờ công nghệ sinh học, tuy nhiên
sự phân chia không đều dẫn đến một số nơi lạm
dụng và khai thác đất thiếu khoa học. Thế giới
đang đối mặt với một vấn đề nan giải, đó là: “dân số gia tăng theo cấp số nhân còn
lương thực, thực phẩm gia tăng theo cấp số cộng”. Để giải quyết các vấn đề trên
thì không có cách nào khác hơn là con người phải tấn công vào tự nhiên, bắt tự
nhiên phục tùng ý muốn điên rồ của mình. Vì vậy, diện tích đất sa mạc hóa ngày
càng tăng lên, đất canh tác giảm xuống. Nạn đói và tranh chấp xảy ra, môi trường
xã hội xuống cấp. Đó là hậu quả về mặt xã hội của nạn sa mạc hóa.
2.2 Thực trạng sa mạc hoá:
2.2.1 Thế giới với vấn đề sa mạc và hoang mạc hóa:
Theo Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) Ban Ki Mun, Một trong những
thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt là hiện tượng sa mạc hóa. Đây là
một vấn đề toàn cầu đang tác động đến 1/3 trái đất và đe dọa cuộc sống của 1,2 tỷ
người trên hành tinh.
22
Vào tháng 6/2007, LHQ đã tiến hành một cuộc nghiên cứu và kết quả thu được
thật sự đáng lo ngại. Tình trạng sa mạc hóa
đang gia tăng với tốc độ báo động, gấp đôi
so với những năm 1970. Theo tính toán, đến
năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh tác ở
châu Phi, 1/3 diện tích đất canh tác ở châu Á
và 1/5 diện tích đất canh tác ở Nam Mỹ không còn sử dụng được.
Trên thế giới, vùng bị sa mạc hóa nhiều nhất là Trung Á và Nam sa mạc Sa-ha-
ra, nơi đại bộ phận dân chúng đều sống trong cảnh nghèo khổ và phải đối mặt với
tình trạng xâm thực của cát bụi.

Châu Á có hơn 1,7 tỉ ha đất khô cằn và bán khô cằn. Những vùng đất bị khô
hạn và thoái hoá bao gồm các sa mạc rộng lớn ở Trung quốc, Pakistan, Mông Cổ,
Iran, Ấn Độ, Nepal và Lào. Ước tính, 67% “nước ảo” dùng để sản xuất nông
nghiệp; 23% dùng cho chăn thả gia súc gia cầm và 10% dùng trong ngành sản xuất
công nghiệp. Sri Lanka và Nhật Bản là 2 quốc trong tốp các nước phải nhập khẩu
Virtual Water
Vào thập niên 1930 tại Hoa Kỳ, vì quá tải chăn nuôi mục súc và canh nông ở
vùng Đại Bình nguyên Bắc Mỹ cùng với cơn hạn hán dài hạn, kết quả là trận
"Dust Bowl" vĩ đại làm hư hại đất canh nông và hàng chục nghìn người phải xiêu
tán. Sau đó với nhiều cải tiến về lối canh tác đất và sử dụng nước con người đã
phản ứng kịp thời nên vấn nạn Dust Bowl không còn tái diễn. Tuy vậy ở những
quốc gia đang phát triển nạn sa mạc hóa vẫn tiến hành, ảnh hưởng đến hàng chục
triệu người.
Nạn nhân mãn và phép hỏa canh làm rẫy ở vùng nhiệt đới là nguyên do chính
của nạn phá rừng. Khi đã mất thảm thực vật, hậu quả là đất đai bị soi mòn, mất
chất màu và cuối cùng là biến thành sa mạc. Hiện tượng này rõ nhất ở vùng cao
23
nguyên Madagascar nơi 7% diện tích là đất cằn đồi trọc, không còn khả năng
trồng cấy được nữa.
Nạn quá tải mục súc là vấn nạn ở Phi châu như vùng núi Waterberg ở Nam Phi
và dải Sahel. Sa mạc Sahara hiện nay đang tiến dần về phía nam với tốc độ 45
km/năm.
Các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Trung Hoa,
Tajikistan, Afghanistan, Turkmenistan, Iran và Uzbekistan cũng bị ảnh hưởng
nặng. Riêng Kazakhstan kể từ năm 1980, gần 50% diện tích trồng trọt đã bị bỏ
hoang vì đất quá cằn trong tiến trình sa mạc hóa.
2.2.2Việt Nam với sa mạc hoá:
Hiện nay, Việt Nam vẫn còn khoảng
9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hóa
(chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất đai

trên toàn quốc), trong đó có 5,06 triệu ha
đất chưa sử dụng, khoảng 2 triệu ha đất
đang được sử dụng đã bị thoái hóa nặng và
hơn 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao. Độ phì nhiêu của đất đang bị giảm
xuống do xói mòn, rửa trôi, đá ong hoá, chua mặn hoá. Tài nguyên rừng cũng bị
suy giảm đáng kể. Nếu như năm 1943 Việt Nam có tỷ lệ che phủ của rừng là 43%
thì sau nhiều nỗ lực khắc phục các nguyên nhân mất rừng suốt 60 năm qua, tỷ lệ
che phủ hiện nay mới chỉ là 37,6% (Số liệu công bố tháng 12/2006). Rừng bị tàn
phá đặc biệt nghiêm trọng vào hai thời kỳ: 1960 - 1970 và 1976- 1990. Rừng bị
mất đã làm tăng diện tích đất hoang hoá, kéo theo sự giảm sút đáng kể các hệ sinh
thái, làm suy thoái vùng đầu nguồn. Bên cạnh đó, ô nhiễm nguồn nước ngày càng
tăng do tình trạng lạm dụng hoá chất trong nông nghiệp, do quản lý chất thải công
nghiệp và sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh môi trường. Tài nguyên nước ngầm
24
đang bị cạn kiệt dần về số lượng, suy giảm về chất lượng. Nguy cơ thiếu nước
trong những thập kỷ tới rất cao. Trong 10 năm gần đây, do ảnh hưởng của thời tiết
nắng nóng và khô hạn, nạn hạn hán đã hoành hành ở một số nơi, nhất là ở miền
Trung, Tây Bắc và Tây Nguyên. Đặc biệt, đợt hạn hán kéo dài 9 tháng liền trong
năm 2004-2005 trên diện rộng đã gây ra hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông
lâm nghiệp của nhiều địa phương, trong đó địa bàn bị ảnh hưởng nhiều nhất là
miền Trung và Tây Nguyên. Sự cố nứt đất và trượt lở đất cũng xảy ra ngày một
nghiêm trọng hơn, nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc và miền Trung.
Các kết quả khảo sát đã ghi lại 51 điểm sụt lở làm mất hàng năm 350 ha đất với
thiệt hại ước tính hàng ngàn tỷ đồng. Theo dự báo thì số lượng sụt lở còn tiếp tục
gia tăng và tổng diện tích đất bị mất có thể lên tới 10.000 ha. Bên cạnh đó, việc
khai thác tài nguyên biển, phát triển nuôi trồng thuỷ sản không có sự kiểm soát
chặt chẽ ở một số địa phương cũng là yếu tố gây mất rừng phòng hộ ven biển, làm
suy thoái đất đai và nguồn nước. Nước và đất ven biển đã bắt đầu bị ô nhiễm với
mức độ ngày càng tăng.
Việt Nam có sa mạc cục bộ, đó là các dải cát hẹp trải dài dọc theo bờ biển

miền Trung, tập trung ở 10 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận với diện tích
khoảng 419.000 ha và ở Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 43.000 ha. Theo
thống kê trên bản đồ của FAO và UNESCO, Việt Nam có khoảng 462.000 ha cát
ven biển (chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc) và 87.800 ha
trong số này là các đụn cát, đồi cát lớn di động. Trong gần 40 năm qua, quá trình
25

×