Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Tác giả - tác phẩm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (119.19 KB, 20 trang )

Chính Hữu "Đồng chí"
1.Tác giả:
Nhà thơ Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc, sinh năm 1926. Năm 1946, ông
gia nhập Trung đoàn Thủ đôvà hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Chính Hữu hầu nh chỉ viết về ngời lính
và chiến tranh.
"Hiện Chính Hữu mới chỉ công bố: tập thơ Đầu súng trăng treo (1966), Thơ
Chính Hữu (1977), Tuyển tập Chính Hữu (1988). Thơ Chính Hữu giàu hình ảnh,
nhiều suy tởng, ngôn ngữ chon lọc, cô đọng. Ông thờng sử dụng thể thơ tự do, giàu
nhạc điệu, mà chủ yếu là nhạc điệu của nội tâm, vừa lắng đọng vừa có sức âm
vang. Chính Hữu làm thơ không nhiều nhng vẫn có một vị trí xứng đáng trong nền
thơ hiện đại Việt Nam, và một số bài thơ của ông thuộc số những tác phẩm tiêu
biểu nhất của thơ ca kháng chiến (Đồng chí, Đờng ra mặt trận, Ngọn đèn đứng
gác, Trang giấy học trò). Chính Hữu đợc tăng Giải thởng Hồ Chí Minh về Văn học -
Nghệ thuật năm 2000 (Nguyễn Văn Long, Từ điển văn học, Sđđ).
2.Tác phẩm:
Bài thơ Đòng chí đợc sáng tác đầu năm 1948, thể hiện những cảm xúc sâu xa và
mạnh mẽ của nhà thơ Chính Hữu với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc. Cảm
hứng của bài thơ hớng về chất thực của đời sống kháng chiến, khai thác cái đẹp và
chất thơ trong sự bình dị của đời thờng.
Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đôi gắn bó thắm thiết của những ngời nông dân
mặc áo lính trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong hoàn
cảnh khó khăn thiếu thốn, tình cảm đó thật cảm động đẹp đẽ.
Phạm Tiến Duật "Bài thơ về tiểu đội xe không kính"
1. Tác giả :
Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Trờng đại học s phạm Hà Nội, năm 1964, Phạm
Tiến Duật gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đờng Trờng Sơn và trở thành
một trong những gơng mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu
nớc.
Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc khánh


chiến chống đế quốc Mĩ qua các hình tợng ngời lính và cô thanh niên trên tuyến đ-
ờng Trờng Sơn. Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà
sâu sắc.
Các tác phẩm chính: Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970); Thơ một chặng đờng
(thơ, 1971); ở hai đầu núi (thơ, 1981); Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983);
Nhóm lửa (thơ, 1996);
Tác giả đ đã ợc nhận: giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1969 - 1970.
2. Tác phẩm :
Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm thuộc chùm thơ đợc tăng Giải Nhất
cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1969 - 1970.
trong bài thơ, tác giả đ thể hiện khá đặc sắc hình ảnh "anh bộ đội cụ Hồ" hiên ã
ngang, dũng cảm, trẻ trung và những chiếc xe không kính ngộ nghĩnh giữa tuyến đ-
ờng Trờng Sơn lịch sử thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ.
"Chỉ một tuần sau bài thơ ra đời, cả mặt trận có vô số tiểu đội xe không kính.
Sau này, vào những năm cuối cuộc kháng chiến, đ có những chiến sĩ lái xe tự lái ã
xe vỡ để mắt thờng nhìn trực tiếp mặt đờng chằng chịt hố bom cho rõ hơn dới ánh
sáng lù mù của chiếc đèn gần soi. Thậm chí, có ngời còn tháo cả cánh cửa buồng
lái để tiện cho việc xử lí tình huống khi xe bị máy bay AC130 săn đuổi - loại máy
bay bắn roc - ket hay đạn 27 li
vào mục tiêu di động bằng thiết bị dò âm thanh mặt đất và bằng kính nhìn có tia
hồng ngoại.
Mạn phép nói thêm cái chất thực của bài thơ để chúng ta hiểu rằng, một bài thơ
có nhiều khi vợt qua phạm trù cái đẹp văn chơng thuần túy, dâng cho cuộc sống
những giá trị thực tiễn lớn lao biết nhờng nào. Bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không
kính có cái m nh lực thần kỳ ấy, nó vừa mang tính chiến đấu nóng bỏng, tính thời ã
sự tức thời vừa mang tính lịch sử! Tất nhiên một bài thơ nh thếphải là tiếng nói của
cuộc sống thực hào hùng. Đó là tiếng nói chân thành, độc đao của ngời trong cuộc.
Nó nh một tuyên ngôn về lẽ sống của một thế hệ ngời Việt Nam!
Giờ đây mỗi lần có dịp đọc lại hay nghe ai đó đọc lên bài thơ này, không ít ngời
nh tôi lại bồi hồi nhớ về một qu ng đời chiến tranh ở đã ờng 9 - Nam Lào, nhớ về hình

ảnh anh Phạm Tiến Duật lần đầu đứng trớc anh em đơn vị D61. Anh đọc cho anh
em nghe bài thơnói về họ trớc giờ xuất kích. Đ hết câu cuối cùng của bài thơ mà ã
cả đơn vị còn lặng im, rồi phút chốc cùng vùng dậy, thoáng đ nhồi sau tay lái. Một ã
khoảng rừng già rộ lên, những cỗ xe dắt kín lá ngụy trang rùng rùng chuyển bánh
đi về hớng Nam đ định"ã
Huy Cận "Đoàn thuyền đánh cá"
1.Tác giả:
Nhà thơ Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận (1919-2005) .Huy Cận nổi tiếng
trong phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng(1940). Ông tham gia Cách mạng
từ trớc năm 1945 và sau cách mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong
chính quyền cách mạng, đồng thời là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền
thơ ca hiện đại Việt Nam. Huy Cận đợc Nhà nớc trao tặng Giải thởng Hồ Chí Minh
về Văn học và nghệ thuật( năm 1996).
Hơn sáu mơi năm Hoạt động văn học nói chung và làm thơ nói riêng, với gần hai
mơi thi phẩm thơ đi từ nỗi buồn "từ ngàn xa"đến niềm vui lớn hôm nay.
Huy Cận luôn gắn liền với mạch đời chung của dân tộc. Thơ Huy Cận vừa bám
lấy cuộc đời, vừa hớng tới những khoảng rộng xa của tạo vật và thời gian, vừa trăn
trở với cái chết, vừa nâng niu sự sống trớc qui luật tử sinh, vừa triết lý suy t, vừa
hồn nhiên thơ trẻ, vừa bay bổng l ng mạn, vừa hiện thực đời thã ờng, trong cái
khoảnh khắc hữu hạn của đời ngời vẫn muốn hóa thân vào cái vĩnh cửu, trờng
sinh(Trời mỗi ngày lại sáng, đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Những năm sáu mơi,
chiến trỡng gần đến chiến trờng xa, ngày hằng sống ngày hằng thơ, Ngôi nhà giữa
nắng, ta về với biển, Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ). Với ý thức vận động và sự
chuyển hóa giữa nhiều yếu tố trong hình tợng cái tôi trữ tình, Huy Cận đ tạo cho ã
mình một phong cách đặc sắc, độc đáo. Huy Cận đ tỏ ra sở trã ờng về thơ lục bát và
có đóng góp đáng kể trong sự mở rộng hình thức và nâng cao trí tuệ cho thơ theo
hớng suy tởng, vơn lên những khái quát rộng xa, giàu liên tởng trong những bài thơ
mở rộngl khuôn khổ , kích thớc.
Các tác phẩm chính : Lửa thiêng (thơ, 1940); Vũ trụ ca (thơ, 1942); Kinh cầu tự
(văn xuôi, 1942); Tính chất dân tộc trong văn nghệ (nghiên cứu, 1958); Trời mỗi

ngày lại sáng (thơ, 1958); Đất nở hoa (thơ, 1960); Bài ca cuộc đời (thơ, 1963); Hai
bài tay em (thơ; 1967); Phù Đổng Thiên Vơng
(thơ, 1968); Những năm sáu mơi (thơ, 1968); Cô gái Mèo (thơ; 1972);
Thiếu niên anh hùng họp mặt (thơ, 1973); Chiến trờng gần đến chiến trờng xa (thơ,
1973);Chiến trờng gần chiến trờng xa(Thơ, 1973);Những ngời mẹ, những ngời
vợ( thơ, 1974); Ngày hằng sốmg ngày hằng thơ(thơ,1975); Sơn Tinh, Thủy Tinh
(thơ, 1976) ; Ngôi nhà giữa nắng(thơ, 1978); Hạt lại gieo (thơ, 1984) ; Tuyển
tập( thơ, 1986);
2 . Tác phẩm:
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá thể hiện sự kết hợp giữa cảm hứng l ng mạn ã
và cảm hứng thiên nhiên, vũ trụ của nhà thơ Huy Cận.
Bài thơ đợc bố cục theo hành trình một chuyến ra khơicủa đoàn thuyền đánh cá.
Hai khổ đầu là cảnh lên đờngvà tâm trạng náo nức của con ngời, bốn khổ tiếp theo
là hoạt động của đoàn thuyền đánh cávà khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về trong
buổi bình minh của ngày mới.
Về hoàn cảnh sáng tác, nhà thơ Huy Cân nhớ lại: "Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá
của tôi đợc viết ra trong những tháng năm đất nớc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa x ã
hội. Không khí lúc này vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi. Cả tác
phẩm vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng
hôn và cả từ hoàng hôn cho đến binh minh. Đoàn thuyền đánh cá lấy thời điểm
xuất phát khác với lệ thờng, lúc mặt trời lặn và trở về trong ánh bình minh chói lọi.
Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề, tăm tối mà mang vẻ đẹp của
thiên nhiên tạo vật trong quy luật vận động tự nhiên của nó. ở đây tôi đ miêu tả ã
khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ. Nếu trớc cách mạng vũ trụ ta còn buồn thì
bây giờ vui, trớc là cách biệt xa cách với cuộc đời thì hôm nay lại gần gũi với con
ngời. Bài thơ của tôi là một cuộc chạy đua giữa con ngời và thiên nhiên và con ngời
đ chiến thắng. Tôi coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi con ngã ời trogn lao động với
tinh thần làm chủ với niềm vui. Bài thơ cũng là sự kết hợp giữa hiện thực và l ng ã
mạn. Chất hiện thực của khung cảnh lao động trên biển cả khi vùng biển đ về ta. ã
Và chất l ng mạn thì cũng không cần phải tã ởng tợng nhiều. ở giữa cảnh biẻn cao

rộng đó, với gió, với trăng, rồi bình minh và nắng hồng, và đặc biệt là sức ngời
trong lao động đều thực sự mang tính chất l ng mạn bay bổng "Thuyền ta lái gió ã
với buồm trắng" ; "Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời". Cảm hứng và hình ảnh ấy
rất thích hợp với lạo động trên biển. Tôi nghĩ rằng trong khung cảnh đó cũng không
thể viết khác đi. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đẹp của một ngày đẹp của một
ngày mới khi đoàn thuyền đang trở về, các khong thuyền đầy ắp cá. Mở đầu bài
thơ là hình ảnh "Mặt trời xuống biển" và kết thúc là hình ảnh "mặt trời đội biển" nhô
lên giữa sông nớc.
Thiên nhiên đ vận động theo một vòng quay của mặt trời và con ngã ời đ hoàn ã
thành trách nhiệm của mình trong lao động. Không có gì vui bằng lao động có hiệu
quả.
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá nằm trong cảm hứng chung của thơ tôi trong
những năm xây dựng chủ nghĩa x hội. Tôi viết bài thơ tã ơng đối nhanh, chỉ vài một
giờ của buổi chiều trên vùng biển Hạ Long. Bài thơ đợc viét liền mạch và ít phải
sửa chữa. Tôi nghĩ đó cũng không phải là chuyện ngẫu nhiên mà thực sự là cảm
hứng đ đã ợc tích tụ trên một đề tài quen thuộc của tôi và đợc viết ra trong không khí
rất vui của những năm tháng đầu xây dựng chủ
nghĩa x hội" (Huy Cận, Tác phẩm văn học, NXB Văn học, ã
Hà Nội, 2001).
Bằng Việt "Bếp lửa"
1. Tác giả:
Nhà thơ Bằng Việt (tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng), sinh năm 1941, quê ở
huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỉ
XXvà thuộc thế hệ các nhà thơ trởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu
nớc.
"Bằng Việt là một nhà thơ đợc bạn đọc biết đến từ phần thơ in chúng với Lu
Quang Vũ trong tập Hơng cây - Bếp Lửa (1968). Nỗi nhớ quê hơng dầu tiên thành
thơ là giành cho bếp lửa : "Bếp lửa chờn vờn sớng sớm - Một bếp lửa ấp iu nồng đ-
ợm" gắn với hình ảnh ngời bà và bên ngời bà là ngời cháu. Bài thơ nói về tình bà
cháu vừa sâu sắc , vừa thâm thía trong những năm đầu đất nớc đói kém, loạn lạc,

cuộc đời gian khổ khó khăn. Cảm xúc tinh tế, đợm buồn của ông về những kỷ niệm
về cuộc sống gia đình , về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam. Bài thơ
biểu hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi
con ngời, đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuôc đời.Mạch triết luận
thầm kín đợc khởi đầu từ bếp lửa còn đợc tiếp nối trong nhiều bài thơ khác nhơ trở
lại trái tim mình khi ông coi Thủ đô Hà Nội nh một cội nguồn tình cảm, cội nguồn
sức mạnh. Cùng với th gửi ngời bạn xa đất nớc, tình yêu và báo đông, Trở lại trái
tim, nhà thơ ghi lạiđợc những trạng thái phong phú của một tâm hồn thanh niên rất
mực mến yêu đất nớc, con ngời, nêu bật đợc một thủ đô hào hoa thanh lịch, trầm
tĩnh và anh hùng. Bằng Việt còn có những bài thơ khá tài hoa diên đạt những suy t
về những danh nhân văn hóa nhân loại nhơ: Béc- tô - ven, Pau - tốp xky, pli- xet-
xcai- a. Ngời đọc còn biết đến ông về những lo toan chu đáo, những bồi hồi thơng
nhớ của một ngời cha ở nơi xa chăm chú theo rõi từng bớc đi chập chững của đứa
con, trong bài thơ Về Nghệ An thăm con với lời thơ điềm đạm, kiệm lời mà có sức
vang xa. Có thể nói với 20 bài thơ trong tập thơ hơng cây- Bếp lửa Bằng Việt đ ã
phác họa đợc một triết luận thầm kín của riêng mình. Ông là một trong số không
nhiều nhà thơ trẻ đợc bạn đọc tin yêu ngay từ ban đầu của thơ. Thơ Bằng Việt th-
ờng nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi suy nghĩ, gây đợc một cảm giác gần
gũi, thân thiết đối với ngời đọc.Thơ ông thờng sâu lắng trầm t thích hợp với ngời đọc
trong sự trầm tĩnh vắng lặng. Đó là một dấu ấn riêng của thơ Bằng Việt, còn lu lại
trong ký ức ngời đọc" (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam, Sđđ).
Các tác phẩm chính : Hơng cây - Bếp lửa (thơ, in chung, 1968); Những gơng
mặt những khoảng trời (thơ, 1973); Đất sau ma (thơ, 1977); Khoảng cách giữa lời
(thơ, 1983); Cát sáng (thơ, 1986); Bếp lửa - khoảng trời (thơ tuyển, 1988); Phía
nửa mặt trăng chìm ( thơ, 1986); Lọ lem (dịch thơ ép - tu - sen - kô);
Tác giả đ đã ợc nhận: Giải Nhất Văn học - Nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài
thơ Trở lại trái tim mình; Giải thởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và
phát triển giao lu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa bình (Liên Xô) trao tăng năm 1982.
2. Tác phẩm:
- Bài thơ Bếp lửa đợc tác giả Băng Việt sáng tác năm 1963, khi là sinh viên đang

học ở nớc ngoài.
- Bài thơ gợi lại những kỉ niệm sâu sắc của ngời cháu về ngời bà vào tuổi ấu thơ
đợc ở cùng bà.
Khúc hát ru những em bé trên lng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm
1. Tác giả:
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, tại thôn Ưu Điềm, xà Phong
Hòa, huyện Phong Điềm, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quê gốc: làng An Cựu, x Thủy ã
An , thành phố Huế.Lúc nhỏ đi học ở quê, năm 1955 ra miền Bắc học tại trờng học
sinh miền Nam. Sau khi tốt nghiệp trờng Đại học S phạm Hà Nội năm1964, vào
miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế, tham gia quân đội ,
xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo ,làm thơ, cho đến năm 1975. Ông thuộc thế
hệ nhà thơ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc của dân tộc.
Nguyễn Khoa Điềm từng là Tổng th Ký Hội nhà văn Việt Nam (khóa V), Bộ trởng
bộ Văn hóa thông tin. Từ năm 2001, ông là ủy viên Bộ ChínhTrị, Bí th Trung ơng
Đảng, Trởng ban T tởng Văn hóa Trung ơng.
Nguyễn Khoa Điềm trởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
Tập thơ Đất ngoại ô và Trờng ca Mặt đờng khát vọng nhanh chóng khẳng định sự
đóng góp và tài thơNguyễn Khoa Điềm lúc bấy giờ. có thể nói thơ Nguyễn Khoa
Điềmlà thơ của một trí thức trẻ, giàu vốn sống thực tếvà vốn văn hóa,triết lý và trữ
tình, suy t và cảm xúc.
Các tác phẩm chính : Cửa thép (ký, 1972); Đất ngoại ô (thơ, 1973); Mặt đờng
khát vọng (trờng ca, 1974); Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986) ; Thơ Nguyễn
Khoa Điềm (thơ, 1990) ;
Nhà thơ đ đã ợc nhận: Giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập Ngôi nhà có
ngọn lửa ấm.
2 . Tác phẩm :
- Bài thơ Khuc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ đợc tác giả Nguyễn Khoa
Điềm sáng tác năm 1971, khi đang công tác ở chiến khu Thừa Thiên .
- Bài thơ đ thể hiện truyền thống yêu nã ớc thơng dân một cách đặc
sắc qua hình ảnh bà mẹ cõng con lên rẫy. những lời ngời mẹ ru con bộc lộ sâu sắc

tinh thần yêu nớc cùng ý chí quyết tâm đánh giặc đến cùng của đồng bào các dân
tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung.

Nguyễn Duy "ánh trăng"
1. Tác giả:
Nhà thơ Nguyễn Duy (tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ), sinh năm 1984, tại x ã
Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.
Tham gia cong tác từ 1965, làm tiểu đội trởng dân quân trực chiến khu vực Hàm
Rồng - Thanh Hóa. Năm 1966, nhập ngũ tại Bộ t lệnh Thông tin, lính đờng dây,
tham gia chiến đấu tại các chiến trờng : Khe Sanh - Đờng 9 -
Nam Lào. Từ năm 1967, chuyển khỏi quân đội về làm báo Văn nghệ Giải phóng.
Hiện công tác tại tuàn báo Văn nghệ .
Các tác phẩm chính: Cát trắng (thơ, 1973); ánh trăng (thơ, 1984); Nhìn ra bể
rộng trời cao (bút kí, 1985); Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985); Mẹ và em (thơ, 1987);
Đờng xa (thơ, 1989); Quà tặng (thơ, 1990); (thơ, 1994);
Tác giả đ đã ợc nhận: Giải Nhất thơ tuần báo Văn Nghệ (1973); Tặng thởng loại
A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (1985).
"Xuất hiện vào chặng cuối của chiến trang chống Mĩ cứu nớc, từ khoảng 1972
trở đi, Nguyễn Duy đ trở thành một gã ơng mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời
chống Mĩ. Cho đến nay, Nguyễn Duy vần là một trong số không nhiều nhà thơ "thời
ấy" con sung sức và đợc bạn đọc yêu thích. Có thể thấy tài năng và con đờng thơ
của ông phát triển và khẳng định gắn chặt với những tháng năm đầy những biến
động của lịch sử dân tộc. Những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, với chùm
thơ đăng trên báo Văn nghệ nảm 1972, Nguyễn Duy đ chiếm đã ợc lòng mến mộ
của độc giả. Nhà phê bình Hoài Thanh có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy
. Ông đ khẳng định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp "không gì so sánh đã ợc" ,
"Quen thuộc mà không nhàm chán" , "Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao
đẹp của những cuộc đời cần cù, gian khổ" , chất thơ của Nguyễn Duy chính là "cái
hiền hậu, một cái gì rất Việt Nam".
Sau chiến thắng năm 1975, Nguyễn Duy vần say sa và tiếp tục con đờng thơ

của mình. Tiếng thơ của ông ngày càng đậm đà, ổn định một phong cách, một
giọng điệu quen thuộc mà hấp dẫn ngời đọc. Tập thơ nổi bật của Nguyễn Duy là
tập ánh trăng (1984). Tập thơ đợc coi là một bớc tiến trong thơ Nguyễn Duy , tập
thơ đ đã ợc tặng Giải A của Hội Nhà văn Việt Năm 1984 (cùng với tập thơ hoa trên
đá của Chế Lan Viên) ánh trăng tiếp tục viết về bộ đội, về cuộc đời ngời lính sau
chiến tranh với những vần thơ tha thiết và thấm thía, những trăn trở băn khoăn (ánh
trăng, nghe tắc kè kêu trong thành phố ). Cũng ở tập thơ này, Nguyễn Duy còn
dành nhiều bài thơ viết về tuổi thơ, ruộng đồng cây cỏ, những vùng quê với những
con ngời thân thuộc bằng một tình cảm tha thiết nặng tình, nặng nghĩa (Đò Lèn,
Tuổi thơ, Cầu Bố, Ông già sông Hậu, Gửi Huế, Lời của cây, Sông Thao, Đà Lạt
một lần trăng, ). Vần tiếp tục chất giọng ca dao đậm đà, thân thuộc nhiều bài
trong ánh trăng viết theo thể lục bát hết sức nhuần nhị, ngọt ngào nhiều khi khó mà
nbiết phân biệt đợc những bài ca dao (Từ điển tác giả tác phẩm văn học Việt Nm
dùng trong nhà trờng).
2. Tác phẩm:
Bài thơ ánh trăng đợc xem nh là niềm thôi thúc của tác giả, nhớ về cội nguộn và
ý thức trớc lẽ sống thủy chung.
Kim Lân "Làng"
1. Tác giả:
Nhà văn Kim Lân ( tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài), sinh năm 1920, quê gốc:
thôn Phù Lu, x Tân Hồng, huyện Tiên Gơn, tỉnh Bắc Ninh.Hiện sống ở Hà Nội. ã
Nhà văb Kim Lân đ qua hoạt động văn hóa cứu quốc, trong kháng chiến chống ã
thực dân Pháp công tác ở chiến khu Việt Băc. Từng là ủy viên Ban phụ trách Nhà
xuất bản văn học, Trờng bồi dỡng những ngời viết trẻ, tuần báo văn nghệ Nhà xuất
bản Tác phẩm mới.
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. trong những năm 1941-1944, ông
viết khá đều trên những tờ báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Thế giới
nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh làn quê cùng với cuộc sóng, thân
pận ngời nông dân. Những tác phẩm đầu tay (Đứa con ngời vợ lẽ, Đứa con ngời cô
đầu, Cô Vịa, Ngời kép già ) ít nhiều có tính chất tự truyện nhng vẫn có ý nghĩa x ã

hội nhất định. Những con ngời ở quê hơng ông, thân tiết ruột thịt với ông, từ cuộc
sống đói nghèo lam lũ trực tiếp bớc vào tác phẩm, tự nó toát ý nghĩa hiện thực,
măc dù nhà văn vẫn cha thật sự tự giác về điều đó.
Kim Lân viết hay về những cái gọi là "thú đồng quê" hay "phong lu đồng ruộng"
Đó là những thú vui lành mạnh mang màu sắc văn hóa truyền thống
của ngời dân quê nh đánh vật, nuôi chó săn, gà chọi, thả chim Những truyện của
Kim Lân viết về phong tục ( Đuổi tà, Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn, Pháo
Đồng Kị, Thổi ống sùy đồngTông chim cả Chuống Ông Cản Ngũ ) hấp dẫn không
chỉ vì cung cấp đợc những tri thức về phong tục mà chủ yếu là nhà văn đ làm hiện ã
lên đợc cuộc sống và con ngời của làng quê Việt Nam cổ truyền, tuy nghèo khổ,
thiếu thốn mạ vẫn có nhiều thú vui thanh lịch. Những con ngời thật thà, chất phác,
nhng thông minh hóm hỉnh và tài hoa đ đặt tất cả niềm say mê của mình vào ã
những thú vui giản dị mà tao nh tinh tế ấy, chẳng khác gì những tâm hồn nghệ sĩ ã
say mê sáng tạo nghệ thuật.
Sau 1945, Kim Lân vẫn tiếp tục viết vê làng quêViệt Nam. Ông thờng viết về
những cảnh tội nghiệp, cuộc sống khốn khó đến cùng cực của ngời nông dân duới
chế đọ cũ và đổi đời của họ nhờ cách mạng. Trong số những tác phẩm nói về đè
tài này Lanngf, Vợ nhặt xứng đáng thuộc loại những
truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam( Từ điển văn học).
Các tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng( truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí
(truyện ngắn, 1962)
2. Tác phẩm :
Truyện ngắn Làng đợc nhà văn Kim Lân viết trong thời kì đầu cuộckháng chiến
chống thực dân Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí văn nghệ năm 1948.

Nguyễn Thành Long "Lặng lẽ Sa Pa"
1. Tác giả:

Nhà văn Nguyễn Thành Long ( 1925-1991), quê ở huyện Duy Xuyệ tỉnh Quảng
Nam, viết văn từ thời kì kháng chiến chống thợc dân Pháp, Ông là cây bút chuyên

về truyện ngắn,
Tập trung nhiệt thành ngợi ca những con ngời lao động mới, dám nghĩ dám làm,
không sợ khó khăn gian khổ, say mê trong lao động sáng tạo, nhn hậu và tha thiết
yêu cuộc sống Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn ngời đọc bằng văn trong
sáng, giàu chất thơ, nhẹ nhàng thoải mái, cốt truyện tởng nh đơn giản mà giàu ý
nghĩa khái quát, Lặng lẽ Sa Pa là
truyện ngắn tiêu biểu nh thế. Truyện viết về một thị x nhỏ bé của tỉnh Lào Cai luônã
chìm đắm trong sơng mù: Sa Pa. Đén với nới ấy là những con ngời thật: một anh
thanh niên làm công tác khí tợng thủy văn trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét, một cô
kĩ sơ nộng nghiệp mới ra trờng, một bác lái xe già đ chạy suốt 30năm trên tuyến đã -
ờng Sa Pa, một họa sĩ đi thực tế chuyến cuối cùng - của cuộc đời công tác trớc khi
nghỉ hu, bốn gơng mặt tiêu biểu, bốn tính cách khác nhau: anh thanh niên đầy
nhiệt huyết bộc trực, chân thành, cô kĩ s trẻ hồn nhiên nhng kín đáo tế nhị, ông họa
sĩ trầm tĩnh sâu lắng, còn bác lái xe thì sôi nổi, vui tính Họ tình cờ gặp nhau trên
con đờng tới Sa Pa mà bỗng trở nên gần gũi và thân thiết nh một gia đình. Tuy tính
tình và nghề nghiệp khác nhau, nhng tất cả đều có chung một tâm hồn trong sáng,
tinh tế, một suy nghĩ lành mạnh sâu sắc và nhất là họ có chung một thái độ sống,
lao động, lầm việc và cống hiiến hết mình cho Tổ quốc một cách vô t hồn nhiên,
âm thầm và lặng lẽ.Đó là một truyện ngăn hay tiêu biểu cho phong cách của
Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng kín đáo mà rất sâu sẵcvà thấm đẫm chất thơ (Từ
điiển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trờng ).
Các tác phẩm chính: Bát cơm cụ Hồ( 1953); Chuyện nhà chuyện xởng( 1962);
những tiếng vỗ cánh(1967); Giũa trong xanh(1972); Nửa đêm về sáng(1978); Lí
Sơn mùa tỏi(1980); Sáng mai nào, xế chiều nào(1984)
2. Tác phẩm:
Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa đợc nhà văn Nguyễn Thành Long viết năm 1970 sau
chuyến đi Lào Cat của tác giả.
Thông qua một tình huống gặo gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ s trẻ với anh
thanh niên làm công tác ở trạm khí tợng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, tác giả
khẳng định vẻ đẹp của con ngời lao động và ý nghĩa của những công việc thầm

lặng.
Nguyễn Quang Sáng "Chiếc lợc ngà"
1. Tác giả :
Nhà văn Nguyễn quang Sáng sinh năm 1932, qua ở huyện Chợ Mới, tỉnh An
Giang. Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt
động ở chiến trờng Nam Bộ. Từ sau năm 1954
tập kết ra bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Trong thời kì kháng chiến
chống Mĩ cứu nớc, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác
văn học.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch
bản phim và hầu nh chỉ viết về cuộc sống và con ngời Nam bộ trong hai cuộc
kháng chiến cũng nh sau hòa bình.
"Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị , mộc mạc nhng sâu sắc, viết để "phục
vụ ngay, để đánh trả lại kẻ thù từng miếng từng nhát thật sâu" . Ông đ khắc họa ã
những hình ảnh chân duung thực, đẹp đẽ của những con ngời miền Nam kháng
chiến. Đó là hình ảnh những ngời dân Sài Gòn đánh địch ngoan cờng theo "kiểu
Sài Gòn" ( Chị Nhung, Sài Gòn dới tầng khói) đó là những ngời nông dân đồng
bằng sông Cửu Long nh anh Báy Ngàn bình thản ngồi hút thuốc sau khi quần nhau
mấy lần hút chết với giặc
( Một chuyện vui) hay anh Ba Hoành trong Quán rợi ngời câm cắn răng chụi đựng
những trận tra tấn của kẻ thù đến hóa câm, bốn năm ở nhà với vợ trông nom một
quán rợi ven sông và âm thầm chuẩn bị lực lợng cho ngày đống khởi Trong
những năm kháng chiến, tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng đ có tác dụng to lớn ã
trong việc cổ vũ, động viên sức chiến đấu mạnh mẽ của nhân dân miền Nam, củng
cố niềm tin yêu của cả nớc đối với đồng bào nơi thành đồng Tổ quốc" ( Từ điển tác
giả, tác phẩm văn xuôi dùng trong nhà trờng)
Với thể loại truyện ngắn, qua nhiều tác phẩm, ông đ khẳng định một phong ã
cách đậm đầ chất Nam bộ từ việc xây dựmh khung cảnh thiên nhiên đến kháec
họa tính cách con ngời.
Các tác phẩm chính: Con chim vàng ( 1957); Ngời quê hơng (truyện ngắn,1958);

Nhật kí ngời ở lại (tiểu thuyết,1962); Đất lửa (1963); Câu chuyện bên trận địa pháo
(truyện vừa,1966); Chiếc lợc ngà (truyện ngắn 1966); Bông cẩm thạch (truyện
ngắn, 1969); Mùa gió chớng ( tiểu thuyết, 1975); Ngời con đi xa (truyện ngắn
1977); Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985); Bàn thờ tổ của một cô đào (truyện
ngắn, 1985); Tôi thích làm vua
(truyện ngắn, 1988); Paris - tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990); Con mèo Fujita
(truyện ngắn, 1991); Mùa gió chớng (1977, kịch bản phim); Cánh đồng hoang
(1978, kịch bản phim); Cho đến bao giờ (1982); Mùa nớc nổi
(1986); Dòng sông hát (1988); Câu nói dối đầu tiên (1988); Thời thơ ấu (1995);
Giữa dòng (1995); Nh một huyền thoại (1995);
Tác giả đ đã ợc nhận : Giải thởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống nhất
(1995); Giải thởng cuộc thi truyên ngắn Tạp chí văn nghệ quân đội (1959); Giải th-
ởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà Văn (1985); Giải thởng thởng Hội Nhà Văn
Việt Nam 1993; Huy chơng vàng Liên hoan phim toàn quốc (1980); Huy chơng
vàng Liên hoan phim ở Matxcơva (1981); Huy chơng bạc Liên hoan phim toàn
quốc (1980).
2. Tác phẩm:
Truyện chiếc lợc ngà đợc nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966 tại chiến
Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chông đế quốc Mĩ của nhân dân ta đang
diễn ra quyết liệt.
Đây là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng.
Băng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắà xây dựng tình huống bất ngờ, tác
giả đ thể hiện một cách cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu.ã
Chế Lan Viên "Con cò"
1. Tác giả:
Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 - 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở
Cam Lộ - Quảng trị. Trớc CM tháng 8, Chế Lan Viên đ nổi tiếng trong phong trào ã
Thơ Mới qua tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đ có những đóng góp lớn vào những ã
thành tựu của văn học kháng chiến, ông là một trong những tên tuổi hành đầu ở
nền thơ Viết Nam thế kỉ XX .

"17 tuổi với tập thơ Điêu tàn, Chế lan Viên đ làm nên "một niềm tin kinh dị "trên ã
thi đài của Việt Nam đầu thế kỉ. Bộc lộ bằng một cảm xúc khác thờng, quay lng lại
với thực lại hiện hữu: "hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh - Một vì sao trơ trọi cuối trời
xa - Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh - những u phiền đau khổ với buồn lo". Chế
Lan Viên tìm về quá khứ của dân tộc Chăm cũng là một cách diễn tả tâm trạng
mình về hiện thực của dân tộc.
Phần tích cực lẫn hạn chế trong hồn thơ Chế Lan Viên giao thao trên những nội
buồn, giấc mơ, những dằn vặt về sự tồn tại của chính mình. Khi những quan điểm
Điêu tàn đến Vàng sao đ không còn phù hợp, Chế Lan Viên rơi vào thần bí, bế ã
tắc. Chỉ còn một cách lựa chọn là hớng cảm xúc của chủ thể sáng tạo và yêu cầu
mới, Chế Lan Viên đ bắt gặp ngọn nguồn của sáng tạo sau CM tháng 8 1945.ã
Với Gửi các anh, tập thơ viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp Chế
Lan Viên đ cố gắng tiếp cận với hiện thực cách mạng. Những ở đây, con ngã ời
công dân và con ngời nghệ sĩ vẫn cha gặp nhau, bản sắc thi sĩ cha kịp định hình.
Chỉ đến ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên mới thực sự "từ thung lũng đau thơng
đến cánh đông vui", làm nên một gơng mặt thi nhân tài hoa vào độc đáo trong nền
thơ ca cách mạng Việt Nam. Từ đây cho những bài thơ cuối đời, cái tôi trữ tình
trong thơ Chế Lan Viên luôn vận động vào phát triển, thống nhất trong đa dạng.
Thơ Chế Lan Viên đ tạo đã ợc một sức mạnh ám ảnh đối với ngời đọc trên cả hai
phơng diện cảm xúc và trí tuệ. Với ý thức phục vụ cáh mạng, phục vụ cuộc sống
bằng thi ca, thơ Chế lan Viên đ muốn là tiếng nói thi ca lịc sử đất nã ớc trong thời đại
mới. Trong những cảm hứng từ vĩ mô đến vi mô có cả chim báo b o, có cả hai ngàyã
thờng, có đối thoại mới lẫn độc thoại với chính mình.
Chế Lan Viên là nhà thơ có công đầu trong việc cách tân câu thơ Việt Nam.
Ông đ làm một cuộc cách mạng về câu thơ, dòng thơ, khuôn khổ, phạm vi câu thơã
cũ bị phá vỡ. Thay vào đó, là các bài thơ tự do xuất hiện ngày càng nhiều với
những câu thơ dài ngắn xen lẫn nhau với các cặp phạm trù đối lập nhằm biểu đạt ý
tởng lớn của bài thơ. Chế lan Viên đa diện, đa chiều, nhiều tầng ngữ nghĩa, chủ
yếu thể hiện ở chiều sâu, ở tần triết lí, có sự gặp gỡ của hai nền thơ ca phơng Tây
và phơng Đông.Chế Lan Viên còn là một trong số những nhà thơ hiếm hoi là thơ tứ

tuyệt thành công nhất trong thơ ca Việt Nam hiên đại, kết hợp hài hòa giữa cái đẹp
truyền thống và hiện đại" (từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho
nhà trờng,sdd)
Các tác phẩm chính: Điêu tàn (1937); Gửi các anh (1954); ánh sáng và phù sa
(1960); Hoa ngày thờng,Chim báo bão (1967); Những bài thơ đánh giặc (1972);
Đối thoại mới (1973); Hoa trớc lăng Ngời (1976); Hái theo mùa (1977); HoaTrên
đáTuyển tập Chế Lan Viên (hai tập 1985); Di cảo I (1994); Di cảo II (1995). Về văn
xuôi có các tập ký: Thăm Trung Quốc (1963); Những ngày nổi giận (1966); Giờ
của số thành (1977); Nói chuyện văn thơ (1960); Phê bình Văn học (1962); Vào
nghề (1962); Suy nghĩ và bình luận (1971); Bay theo đờng dân tộc đang bay
(1976); Nghĩ cạnh dòng thơ (1981); Từ gác Khuê văn đến quán trung tân
( 1981);
Tác giả đ nhận đã ợc huân chơng độc lập hạng 2 (năm 1988) Giả thởng Hồ Chí
Minh về văn học và nghệ thuật (1996); Giải A giải thởng của Hội nhà văn Việt Nam
năm 1985( Tâp thơ Hoa trên đá ); Giải thởng hội nhà Văn Việt Nam 1994 (Di cảo I
và Di cảo II ).
2. Tác phẩm :
Bài thơ Con cò đợc rút trong tập Hoa ngày thờng ,Chim báo b o (1967). thông ã
qua hình tợng con cò- một hình ảnh quên thuộc của những lời hát ru trong ca dao -
tác giả muốn đề cao ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và muốn khẳng định ý nghĩa
lời ru đối vơí cuộc đời mỗi con ngời.
Thanh Hải "Mùa xuân nho nhỏ"
1. Tác giả :
Nhà thơ Thanh Hải (1930 - 1980) quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế. Ông hoạt động văn nghệ trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân
Pháp rồi chống đế quốc Mĩ và là một trong số những cây bút có công xây dựng nền
văn học cách mạng ở mirnf Nam thời kì đầu.
Các tác phẩm chính: Những đồng chí trung kiên (1962); Huế mùa xuân (tập 1,
1970; tập 2, 1975); Dấu võng Trờng Sơn (1977); Mùa xuân đất này (1982); Thanh
Hải thơ tuyển tập (1982);

2. Tác phẩm:
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ thể hiện niềm yêu mến thiết thavới cuộc sống, với đất
nớcvà ớc nguyện chân thành của tác giả về một cuộc sống hàng ngày càng tơi đẹp
hơn.
Viễn Phơng "Viếng lăng Bác"
1. Tác giả:
Nhà thơ Viễn Phơng sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang. Ông là một trong
những cây bút ccó mặt sớm nhất của lực lợng Văn nghệ Giải phóng ở miền Nam
thời kì chống Mĩ cứu nớc. Thơ Viễn Phơng còn nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, khá quen
thuộc với bạn đọc thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ.
Các tác phẩm chính: Chiến thắng Hòa Bình (trờng ca, 1953); Anh hùng mìn gạt
(tập truyện kí, 1968); Mắt sáng học trò (tập thơ, 1970); Lời di chúc
(trờng ca, 1972); Nh mây màu xuân (tập thơ, 1978); Sắc lụa Trữ la (tập truyện,
1988); Phù sa quê mẹ (tập thơ, 1991); Quê hơng địa đạo (tập truyên và kí);
Tác giả đ đã ợc nhận: Giải Nhì Giải thởng Cửu Long Nam Bộ (1954); Giải Nhì
Cuộc thi viết cho thiếu nhi do Mặt trận tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức;
Giải thởng Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh; Tăng thởng ủy ban toàn quốc Liên
hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam.
2. Tác phẩm:
- Bài thơ Viếng lăng Bác đợc viết khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đợc xây dựng
xong, đất nớc thống nhất, đồng bào miền Nam đ có thể thực hiện đã ợc mong ớc ra
viếng Bác. Trong niềm xúc động vô bờ của đoàn ngời vào lăng viếng Bác, Viễn Ph-
ơng đ viết bài thơ này.ã
Hữu Thỉnh "Sang thu"
1. Tác giả:
Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh năm 1942, quê ở huyên Tam Dơng, tỉnh Vĩnh Phúc.Hữu
Thỉnh sinh ra trong một gia đình nông dân có truyền thống Nho
học. Đ trải qua tuổi ấu thơ không dễ dàng, chỉ thực sự đã ợc đi học từ sau hòa bình
lập lại(1954). Tốt nghiệp phổ thông (1963), sau đó vào bộ đội Tăng - thiết giáp và
nhiều năm tham gia chiến đấu tại các chiến trờng Đờng 8- Nam Lào (1970-1971) ,

Quảng Trị (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh.
Năm 1981, sau khi tốt nghiệp trờng viết văn Nguyễn Du( khóa 1), Hữu Thỉnh về
làm phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội. ông đợc bầu vào Ban Chấp
hành Hội nhà Văn Việt Nam từ khóa III(1983) đến nay. Hiện là Chủ tịch Hội Nhà
văn Việt Nam, Phó Chủ t5ịch Hội liên hiệpVăn học - Nghệ thuậtViệt Nam, đại biểu
Quốc hội khóa X, XI.
"Trớc khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đ là một ngã ời lính, sống thậy sự cuộc sóng của
mình giữa lòng cuộc chiến đấu của dân tộc, Hình tợng ngời lính và hiện thực lớn
lao, sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đ trở thành nguồn cảm ã
hứng chủ đạo cho các tập thơ của Hữu Thỉnh. Ngay ở tập thơ âm vang chiến hào,
Hữu Thỉnh đ có một giọng điệu riêng chân thật trong cảm xúc, tinh tế và có nhiều ã
tìm tòi trong cách biểu hiện. Sức bền của đất, Trên một chiếc xe tăng và Chuyến
đò đêm giáp ranh là những bài thơ đợc nhiều ngời biết tiếng. Một trong những đặc
điểm đa đến sự thành công trong thơ Hữu Thỉnh là sự vận dụng nhuần nhuyễn và
linh hoạt những câu tục ngữ , ca dao dân gian. Nét đặc trng này cũng là một điểm
mạnh và là yếu tố cơ bản hình thành cá tính thơ Hữu Thỉnh làm nên nét đặc sắc
cho thơ ông. Trờng ca Đờng tới thành phố đời đ thực sự đánh dấu một giai đoạn ã
trởng thành của thơ Hữu Thỉnh. Hiện thực của mỗi thời chiến trận đ đã ợc thể hiện
với một quy môvà chiều dày hơn hẳn những tác phẩm ở những giai đoạn trớc.
Bằng những hình tợng tiêu biểu đầy cảm xúc, chặng đờng dẫn đến chiền thắng của
dân tộc đợc miêu tả và lí giải hợp lí, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, trong đó có khá
nhiều những câu thơ tài hoa xúc động. Trờng ca Biển viết về đảo Trờng Sa là một
cuộc đối thoại khôn cùng giữa con ngời và biển cả. Nhiều suy nghĩ và chiêm
nghiệm sâu sắcvề cuộc đời đ đã ợc thể hiện trong đó. Trớc đây những câu thơ hay
của Hữu Thỉnh thiên về cảm. Bây giờ câu thơ của ông đậm màu triết luận, có sức
nặng của suy nghĩ và chiêm nghiệm. Chất lợng thơ Hữu Thỉnh thể hiện một quá
trình phấn đấu
không ngừng. Tập Th mùa đông là một nỗ lực tự vơn lên mình của ông"(từ điển tác
giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trờng Sđđ)
Các tác phẩm chính: âm vang chiến hào (in chung 1975); Đờng tới thành

phố (trờng ca, 1979); Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung); Th mùa
đông (1984) ; Trờng ca Biển (1984); Từ chiến hào đến thành phố (1985);
Tác giả đ đã ợc nhận : Giải nhất cuộc thi thơ báoVăn nghệ(1976), Giải thởng Hội
Nhà văn Việt Nam(1980,1995); Giải thởng văn học ASEAN
(1999); Giải thởng Nhà nớc (2001);
Hữu Thỉnh có nhiều bài thơ hay về con ngời và cuộc sống nông thôn.
2. Tác phẩm:
Bài thơ Sang thu đợc tác giả sáng tác năm 1977, thể hiện những cảm nhận tinh
tế của nhà thơ trớc biến thái của thiên nhiên từ hạ sang thu.
Y Phơng "Nói với con"
1. Tác giả:
Nhà thơ Y Phơng tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sớc, sinh năm 1948, tại x Lăng ã
Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, hiện ở Hà Nội. Ông là Hội viên hộI Nhà
văn Việt Nam(1988).
Y Phơng nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981 chuyển về
công tác tại Sở Văn hóa-Thông tin Cao Bằng.
Thơ Y Phơng nh một bức tranh thổ cẩmđan dệt những màu sắc khác nhau,
phong phú và đa dạng, nhng trong có màu sắc chủ đạo, âm điệu chính là bản sắc
dân tộc rất đậm nét và độc đáo. Nết độc đáo đó nằm ở cả nội dung và hình thức.
Với Y Phơng, thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt nam nói chung, có thêm
một giọng điệu mới, một phong cach mới. (Từ điển tác giá tác phẩm văn học Việt
Nam dùng trong nhà trờng).
Các tác phẩm chính: Ngời hoa núi(kịch bản sân khấu, 1982);Tiếng hát tháng
giêng(thơ, 1986); Lửa hồng một góc( thơ in chung, 1987);Lời chúc
(thơ,1991); Đàn then (thơ, 1996)
Tác giả đ nhận đã ợc: giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ quân dội; Giải thởng
loại A Giải thởng văn học 1987 của hội nhà văn Việt Nam
2. Tác phẩm:
Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Nói với con, nhà thơ Y Phơng cho biết:
Những năm cuối bảy mơi đầu tám mơi của thế kỉ XX , đời sống tinh thần và vật

chất của nhân dân ta cả nớc nói chung, nhân đan cả nớc nói chung, nhân dân các
dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng, vô cùng khó khăn thiếu thốn. Bởi vì đất nớc ta
vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ lâu dài và cục kì gian khổ. Hiện
thực x hội ấy đ tác động sâu sắc đến đời sống con ngã ã ời. Đại bộ phận nhân dân ta
vẫn kiên trì khắc phục và tìm mọi cách để vợi qua để duy trì đời sống. Họ vẫn tồn
tại và không ngừng sinh trởng là không phải nhờ vào phép màu của lợng siêu
nhiên nào mà chỉ dựa vào sức mạnh tinh thần của truyền thống văn hóa từ ngàn
đời mà ông cha ta để lại.
Cuối năm 1975, tôi cũng mới từ mắt trận trở về, sau tám năm đánh giặc xa
nhà nay trở về lấy vợ sinh con trong bối cảnh túng thiếu bần hàn chung của
toàn x hội. Nhìn cách con cầm bát cơm ăn không thịt cá mà lòng xót đau khôn tả. ã
Bởi chúng tôi cũng nh nhiều gia đình cán bộ khác chỉ sống bằng đồng lơng quá ít
ỏi. Hàng hoá khan hiếm, giá cả leo thang từng ngày đến chóng mặt. Bên cạnh cái
tốt của những ngời làm ăn lơng thiện, không ít những con ngời bị tha hóa biến chất.
Họ buôn bán lận, lợi dụng khẽ hở của nhà nớc móc lối làm ăn phi pháp. ở miền
Nam, một bộ phận nhỏ công chức dới thời ngụy quyền Sài Gòn không chịu đợc đ ã
tìm mọi cách để vợt biên trốn ra nớc ngoài.
Từ hiện thực khó khăn ngày ấy, tôi làm bài thơ này để tâm sự với chính mình,
động viên mình, đồng thời là để nhắc nhở con cái sau này.
Nguyễn Minh Châu "Bến quê"
1.Tác giả:
- Nhà văn Nguyễn Minh Châu ( 1930- 1989) sinh tại làng Thôi, x Quỳnh Hải, ã
huyện Quỳnh Lu, tỉnh Nghệ An. Ông là hội viên hội nhà văn Việt Nam (1972).
- Hoạt động văn học của Nguyễn Minh Châu khá phong phú và có những thành
công đáng trân trọng. Chỉ riêng về lĩnh vực sáng tac, nhiều tác phẩm của ông đ trởã
thành đề tài tìm hiểu của hàng trăm bài báo, bài nghiên cứu và những chuyên luận
khoa học trong và ngoài nớc. Đọc lại những trang viết cảu ông, đọc lại những bài
viết về ông, có thể thấy rằng: về cuộc đời và sự nghiệp vă học của Nguyễn Minh
Châu còn tiềm ẩn nhiều vấn, nhiều ngợi ý có khả năng hứa hẹn cho việc tiếp tục
tìm hiểu, nghiên cứu ở những bình diện và phơng pháp tiếp cận mới. (Nguyễn

Trọng Hoàn, Nguyễn Minh Châu- về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục 2001).
Các tác phẩm chính : Cửa sông (tiểu thuyết, 1967) ; Những vùng trời khác nhau
( Tập truyện ngắn, 1970) ; Dấu chân ngời lính (tiểu thuyết, 1972) ; Từ giã tuổi thơ
(tiểu thuyết, 1974) ; Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) ; Lửa từ những ngôi nhà (tiểu
thuyết,1977) ; Những ngày lu lạc (tiểu thuyết, 1981); Những ngời đi từ trong rừng
ra (tiểu thuyết, 1982) ; Ngời đàn bà trên chiến tàu tốc hành ( Tập truyện ngắn,
1983) ; Đảo đá kì lạ ( 1985) ; Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, 1987) ; Chiếc thuyền
ngoài xa ( Tập truyện ngắn, 1987) ; Cỏ lau ( Tập truyện vừa, 1989) ; Trang giấy
chiếc đèn ( tiểu luận phê bình, 1994) ;
Tác giả đ đã ợc nhận : Giải thởng bộ quốc phòng ( 1984, 1989) ; Giải thởng hội
nhà văn Việt Nam ( 1988, 1989) ; Giải thởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật
( 2000) .
2. Tác phẩm:
Truyện ngắn Bến Quê in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh
Châu, xuất bản năm 1985. Trong truyện ngắn này, ngòi bút của nhà văn hớng vào
đời sống thế sự nhân sinh thờng ngày với những xhi tiết sinh hoạt đời để phát hiện
đợc chiều sâu của cuộc sống với bao quy luật và nghịch lý, vợt ra khỏi cách nhìn,
cách nghĩ trớc đây của cả x hội và của ã
chính tác giả.
Lê Minh Khuê "Những ngôi sao xa xôi"
1.Tác giả :
Nhà văn Lê Minh Khuê sinh năm 1949 tại x An Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh ã
Hóa ; Hội viên hội nhà văn Việt Nam ( 1980).
Tốt nghiệp phổ thông trung học, Lê Minh Khuê tham gia đội thanh niên xung
phong chống Mĩ cứu nớc. Những năm tháng vất vả gian nan mà hào hùng ở ngoài
tuyến lửa đ tạo cảm hứng ch những sáng tác của chị sau này. Năm 1969 , chị là ã
phóng viên Tiền phong. Năm 19723- 1977, phóng viên đài phát thanh Giải phóng
và sau đó là đài truyền hình Việt Nam.Từ 1978 đến nay, nhà văn Lê Minh Khuê là
biên tập viên nhà xuất bản Hội Nhà văn.
Là nhà văn sở trờng về truyện ngắn, từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh

Khuê đ bám sát những biến chuyển của đời sống, đề cập đến nhiếu vấn đề bức ã
xúc của x hội thời điểm mới. ã Ngòi bút miêu tả tâm lí của Lê Minh Khuê khá sắc
sảo, nhất là khi miêu tả tâm lí phụ nữ.
Các tác phẩm chính: Cao điểm mùa hạ ( 1978) ; Đoàn kết (1980) ; Thiếu nữ mặc
áo dài xanh (1984) ; Một chiều xa thành phố (1987) ; Em đã không quên (1990) ;
Bi khịch nhỏ (1993) ; Trong làn gió heo may (1998) ;
Tác giả đ đã ợc nhận: Giải thởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987
( tập truyện ngắn: Mội chiều xa thành phố).
2. Tác phẩm:
Truyện Những ngôi sao xa xôi viết về ba cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm
vụ phá bom ở một cao điểm trong thời kì cuộc chiền tranh trống đế quốc Mĩ đang
diễm ra khốc liệt. Miêu tả các cô gắi hằng ngày, hằng giờ đối mặt với nguy hiểm nh-
ng hấ dẫn của truyện không phải ở những chi tiết, sự kiện hòi hộp, nóng bỏng mà ở
khả năng miêu tả đời sống tâm hồn con ngời khá sinh động, sâu sắc của tác giả.
Sử dụng t liệu
Tiết 46 : Đồng chí - Chính Hữu
* Chốt kiến thức về tác giả:
- Chính Hữu hầu nh chỉ viết về ngời lính và chiến tranh.
- Thơ Chính Hữu cảm xúc dồn nén. ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm xúc.
* Hoàn cảnh sáng tác bài thơ:
Dẫn lời tâm sự của Chính Hữu :
"Vào cuối năm 1947, tôi tham gia chiến dịch Việt Bắc Phải nói chiến dịch rất gian
khổ. Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên ngời bộ quần áo cảnh, đầu không mũ,
chân không giày, ăn uống rất kham khổ. Tôi cũng phải có trách nhiệm chăm sóc
anh em thơng binh vào chôn cất một số tử sĩ. Sau trận đó, tôi ốm phải nằm lại điều
trị, đơn vị cử một đồng chí ở lại săn sóc tôi. Trong khi ốm, nằm ở nhà sàn heo hút,
tôi làm bài thơ đồng chí.
* Khi phân tích bài thơ :
Đến đoan thơ nói về sự chia sẻ khó khăn, thiếu thốn của cuộc đời ngời lính dẫn lòi
Chính Hữu:

"Tôi thấy lúc nàylàm thơ cao xa quá là vô trách nhiệm với ngời cũng chiến đấu và
hi sinh với mình tôi hiểu quí mến ngời đồng đội của tôi nên tiếng nói thơ ca giản dị
mà chân thật."
* Khi phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo", dùng lòi tâm sự của nhà thơ:
"Trong chiến dịch, nhiều đêm có trăng. Đi phục kích giặc trong đêm, trớc mắt tôi,
chỉ có ba nhân vật: khẩu súng, vần trăng và ngời bạn chiến đấu. Ba nhân vật hòa
quyện với nhau tạo ra hình ảnh : "Đầu súng trăng treo"
* Đến phần tổng kết bài đa ra lời bình của nhà thơ Vũ Quần Phơng:
"Đồng chí, hai từ ấy trong ngôn ngữ chúng ta nửa thế kỉ nay là tiếng xng hô của
những ngời cùng chung lí tởng cộng sản. Nhng bài thơ Đồng chí lại không gợi một
vấn đề chính trị mà diễn đạt lòng ngời". (Thơ với lời bình)
Tiết 47: Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật
* Chốt kiến thức về tác giả:
- Một trong những gơng mặt trẻ tiêu biểu của thể hệ các nhà thơ từ thời chống Mĩ.
- Thơ tập trung thể hiện hình tợng ngời lính và cô thanh niên xung phong.
- Thơ Phạm Tiến Duật có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch và
màu sắc.
* Hoàn cảnh sáng tác bài thơ, dẫn ra lời của Phạm Tiến Duật :
"Hồi ấy, xe từ chiến trờng ra, đờng xá gập ghềnh, bom đạn liên miên, một chiếc xe
lành là không có, toàn là xe rơi, vỡ kính. Những anh lái xe dạn dày kinh nghiệm
khiến tôi rất thích. Chính con ngời, thích cách ăn nói. Đến cả cử chỉ bình dị: thò tay
ra cửa bắt tay đồng đội cũng đầy ấn tợng. Thế là tôi viết một mạch xong bài thơ.
Khi viết, cũng có ý dành tặng cho một anh bạn trong đơn vị.
* Khi phân tích khổ cuối, vẫn là lời tâm sự của nhà thơ:
- "Hình ảnh cuối cùng tỏa lên bài thơ, làm bài thơ lung linh một ý nghĩa, một tình
yêu. Phải chỉ cần có "một trái tim", một trái tim yêu nớc, một lòng khát khao giải
phónh miền Nam thì tất cả nhũng cái thiếu hụt đâu cso hề gì. Vậy đó, khí phách
ngang tàn mà vẫn tha thiết yêu thơng".
* Cuối bài, nhắc tới lời của Phạm Tiến Duật:
"Tôi thích bài thơ, thích cái vẻ ngang tàng, khí phách, thích cái chất kiêu hùng

trong vẻ giản dị nhất của nhân vật".
Tiết 51: Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận
* Chốt kiến thức về tác giả, tác phẩm:
- Một trong những nhà thơ tiêu biểu cảu nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
- Thơ Huy Cận vừa bám lấy cuộc đời, hớng tới khoảng rộng xa của tạo vật; vừa
bay bổng l ng mạn vừa hiện thực đời thã ờng.
- Bài thơ đoàn thuyền đánh cá thể hiện sự kết hợp giữa cảm hứng l ng mạn và ã
cảm hứng thiên nhiên vũ trụ của nhà thơ Huy Cận.
* Về hoàn cảnh sáng tác, nhà thơ Huy Cận nhớ lại:

"Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của tôi đợc viết ra trong những năm tháng đất nớc
bắt đầu xây dựng chủ nghĩa x hội. Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, ã
nhà thơ cũng thấy rất phấn khởi".
* Khi phân tích hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ, Huy Cận viết:
"Khung cảnh trên biển khi mặt trời tất không nặng nề tăm tối mà mang cả vẻ đẹp
của thiên nhiên tạo vật trong qui luật vận động tự nhiên của nó. ở đây, tôi đ miêu ã
tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ . Nếu trớc cách mạng vũ trụ ca còn
buồn thì bây giờ vui, trớc là tách biệt với cuộc đời thì hôm nay gần gũi với con ngời".
* Để khẳng định "Đoàn thuyền đánh cá" là bài ca lao động, dẫn lời của

Huy
Cận:

"Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi trong lao động vói tinh thần làm chủ,
với niềm vui".
Tiết 61, 62 : Làng - Kim Lân
* Chốt kiến thức về tác giả:
- Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn.
- Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu nh chỉ
viết về sinh hoạt làng quê cảnh ngộ ngời nông dân.

* Về hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn Làng, trong "nghĩ về nghề văn", Kim

Lân viết :
"Nhng Làng có đợc một chút chú ý của ngời đọc là do cảm xúc
khát khao, buồn khổ của chính tôi. Đó là cái lõi của truyện. Tôi cần viết, phải viết,
viết cho tâm trạng chính mình lúc bấy giờ. Truyện Làng là một trong
những truyện tôi viết diện trên sự thật hoàn toàn mà hoàn toàn không phải là sự
thật. Sự thật về những tin đồn gợi đến nhũng cái gì sâu sa hơn, đó là tình yêu nớc,
là niềm tự hào về làng nớc mình Tình yêu của tôi đối với vốn làng cũng nh đối với
cách mạng là nguồn cảm hứng sâu sắc khi tôi viết Làng".
(Nhà văn nói về tác phẩm)
Khi phân tích nỗi đau đớn tủi nhục của ông Hai, GV dẫn lời của nhà văn:
"Khi xây dựng nhân vật ông Hai,tôi nấn nhiều đến tính khoe làng của ông ta Tôi
muốn nói ông Hai yêu làng, tự hào về làng mình. Nhng càng yêu làng, tự hào về
làng thì khi làng theo Tây mới tô đậm cái đau, cái nhục của ông Hai lên. Cái đau,
cái nhục ấy chính là long yêu làng, yêu nớc của l o". ã
(Nghĩ về nghề văn)
Khi nói về tiêu dề của truyện ngắn Làng, nhà văn Kim Lân tâm s :
"Làng- một cái tên rất giản dị không hiểu tại sao tôi lại đặt nh thế. Có lẽ đặt Làng
là vừa đủ. Tôi thích đặt nh thế".
Tiết 58 : ánh trăng - Nguyễn Duy
* Dẫn vào bài mới :
Nguyễn Duy thuộc nhà thơ quân đội trởng thànhtrong cuộc kháng chiến chống
Mĩ cứu nớc. Thế hệ này đ từng trải qua bao thử thách, gian khổ nhân dân, của ã
đồng đội trong chiến tranh, từng sống gắn bó cùng thiên nhiên, núi rừng tình nghĩa.
Nhng khi đ ra khỏi thời đạn bom, nã ớc nhà thống nhất khi đợc sống trong hòa bình
giữa những tiện nghi hiện đại, không phải ai cũng nhớ những gian lao, những kỉ
niệm nghĩa tình của thời đ qua. Bài thơ ánh trăng là một giật mình của Nguyễn ã
Duy trớc cái điều vô tình dễ có ấy.
* Khi phân tích khổ thơ thứ hai trong bài:

"Vầng trăng hiện lên với vẻ đẹp hoang sơ mà gần gũi. Trăng hồn nhiên nh trẻ
thơ, trăng chân thành nh bạn hữu, cái "vần trăng tình nghĩa" ấy đ tã ùng khiến tác
giả "ngỡ không bao giờ quên" ánh trăng vẫn len lỏi, quấn quýt và có phần nồng
nàn, đậm sắc hơn nh đ xuất hiện những biến chuyển trong lời tâm sự của thi nhân ã
"ngỡ không bao giờ quên"
(Văn bồi dỡng học sinh giỏi THPT_NXB Đại học quốc gia
HN)
* Dẫn lời của Nguyễn Thị Minh Phơng cho phần tổng kết, nâng cao vấn đề:
"Đọc ánh trăng của Nguyễn Duy, ngời đọc nh một lần đợc đối diện với chính
mình và cũng đồng thời giao cảm với một tâm hồn đáng chân trọng. Vẫn còn trong
thơ trên cao, vầng trăng tròn vành vạnh, vẫn còn vơng vấn đa đây ánh trăng mát
nhẹ nhàng. im ắng quấn quyện trong tâm hồn mỗi chúng ta".
(Văn bồi dỡng học sinh giỏi THPT_NXB
Đại học quốc gia Hà Nội)
Tiết 121: Sang thu - Hữu Thỉnh.
* Chốt kiến thức về tác giả:
- Thơ Hữu Thỉnh có một giọng điệu riêng, chân thực trong cảm xúc tinh tế và có
nhiều tìm tòi trong cách biểu hiện.
- Ông là một nhà thơ viết nhiều, viết hay về những con ngời, cuộc sống ở nông
thôn; về mùa thu. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vẫn v-
ơng trớc đất trời trong trẻo đang biến chuyển, nhẹ nhàng.
* Khi chuyển ý phân tích từ khổ 1, 2 sang khổ thơ thứ 3, dẫn lời Vũ Nho:
"Hai khổ thơ trên rất đẹp về mặt tạo hình, rất tinh trong cảm nhận, nh hai cành
biếc của một cây thơ lạ. Nhng khổ thơ thứ ba là cái gốc của cây thơ đó
là nơi để cho hai nhánh thơ trên tựa vào để khoe sắc, tỏa hơng. Khổ thơ thứ ba
đem đến cho bài thơ một vẻ đẹp mới, làm trọn vẹn thêm cái ý sang thu của hồn ng-
ời cha đợc rõ ở hai câu thơ trên".
(Đi giữa miền thơ, NXB Văn học Hà Nội)
* Đến phần, tổng kết bài,dẫn lời của Nguyễn Xuân Lạc:
"Chỉ với ba khổ thơ, 12 câu thơ năm chữ, anh đ vẽ ra đã ợc bức tranh sang thu

đúng, đẹp, có tình, lại có chiều sâu suy nghĩ".
(Báo giáo dục và thời đại số 114
ra ngày thứ 5, 22 - 9 - 2005)
Tiết 122: Nói với con - Y Phơng.
* Dẫn vào bài mới:
"Thơ Y Phơng là tiếng hát ngợi ca con ngời và cuộc sống miền núi (Tiếng hát
tháng giêng), là sự thức tỉnh ý thức và tinh thần dân tộc (Lời chúc), là sự khẳng
định sức sống mạnh mẽ của dân tộc mình (Đàn then). Thơ Y Phơng lúc nào cũng
thoát lên tình yêu và lòng nhân ái. Thắm thiết và mạnh mẽ hơn cả trong thơ Y Ph-
ơng là tình yêu quê hơng làng bản Yêu quê hơng tứuc là yêu dân tộc mình, tự
hào gắn bó với dân tộc mình, đó cũng là một cảm hứng lớn trong thơ Y Phơng".
(Từ điển tác giả tác phẩm Văn học Việt Nam dùng cho nhà trờng).
* Về hoàn cảnh ra đời bài thơ "Nói với con", Y Phơng cho biết:
"Những năm cuối bảy mơi, đầu tám mơi của thể kỉ XX, đời sống tinh thần, vật
chất của nhân dân cả nớc nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số nói riêng, vô
cùng khó khăn Từ hiện thực khó khăn ngày ấy, tôi làm bài thơ này để tâm sự với
chính mình, động viên mình, đồng thòi nhắc nhở con cái sau này"
* Đến phần tổng kết bài:
"Thơ Y Phơng nh một bức tranh thổ cẩm đan dệt những màu sắc khác nhau,
phong phú và đa dạng, nhng trong đó có một màu sắc chủ đạo, một âm điệu chính
là bản sắc dân tộc rất đậm và độc đáo".
(Từ điển tác giả tác phẩm Văn học Việt Nam dùng cho nhà trờng).
Y Phơng thấu hiểu và bởi vậy lột tả đợc cái hồn trong bản sắc của ngời dân tộc
miền núi. Cha nói với con hay chính là lòi trao gửi thế hệ.
(Đỗ Ngọc Thắng - T liệu văn 9)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×