Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

tiểu luận Những thành tựu của sử học thời Nguyễn và nguyên nhân khiến sử học nhà Nguyễn phát triển

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (190.19 KB, 16 trang )

Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dân téc Việt Nam có lịch sử lâu đời và việc nghiên cứu lịch sử dân téc
đã trải qua nhiều thời kì, giai đoạn khác nhau cũng đã thu được nhiều thành tựu
lớn. Do những điều kiện lịch sử xã hội nhất định chi phối, sử học mỗi thời kì,
giai đoạn có những đóng góp tích cực song cũng có những hạn chế nhất định.
Việc nghiên cứu lịch sử sẽ tạo được một truyền thống tốt, trở thành công cụ vũ
khí sắc bén phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặc biệt là
phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử hiện nay.
Sử học Việt Nam đặc biệt thời phong kiến có những đóng góp không nhỏ
cho sự phát triển của sử học nước nhà và việc nghiên cứu lịch sử thời kì này có
ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước. Sử học thời Nguyễn có vị trí
đặc biệt quan trọng bởi nó đạt được nhiều thành tựu rực rỡ và việc nghiên cứu
những thành tựu sử học thời Nguyễn sẽ giúp rất nhiều cho việc hình thành hệ
thống kiến thức lịch sử một cách đầy đủ và trọn vẹn.
Xuất phát từ những lý do trên mà tôi quyết định chọn đề tài cho tiểu luận
của tôi là “Những thành tựu của sử học thời Nguyễn và nguyên nhân khiến
sử học nhà Nguyễn phát triển” để thấy được những thành tựu rực rỡ của sử
học trong mét giai đoạn lịch sử của dân téc.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tìm hiểu những thành tựu sử học thời nhà Nguyễn tôi dùng hai
phương pháp nghiên cứu cơ bản của phương pháp luận sử học là Phương pháp
lịch sử và Phương pháp lôgíc để khôi phục miêu tả đúng bộ mặt sử học thời
Nguyễn trong điều kiện lịch sử xã hội nhất định.
Phương pháp lịch sử là phương pháp xem các hiện tượng, sự vật qua các
giai đoạn cụ thể của nó (ra đời, phát triển và tiêu vong) với mọi tính chất cụ thể
của nó.
Phương pháp lôgíc là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình
thức tổng quát nhằm phát hiện ra qui luật, bản chất, khuynh hướng chung trong


sự vận động của cái khách quan được nhận thức này.
Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp tiếp cận để tìm hiểu trực tiếp các
tác phẩm của thời đại, các tác giả, các khuynh hướng tư tưởng văn hoá để hiểu
được tính đa dạng của sử học thời Nguyễn.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi của một tiểu luận nhỏ tôi không có tham vọng trình bày
một cách cụ thể chi tiết về những thành tựu sử học mà triều Nguyễn đạt được.
Trong tiểu luận này tôi sẽ trình bày khái quát bối cảnh lịch sử của triều Nguyễn
rồi đi sâu vào một số tác phẩm sử học tiêu biểu của nhà Nguyễn.
Từ đó tôi cũng sẽ tìm hiểu lý do khiến sử học còng nh những ngành khoa
học xã hội khác dưới triều Nguyễn phát triển và ý nghĩa của sử học thời
Nguyễn đối với thời đại chúng ta.
1
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
IV. CẤU TẠO CỦA TIỂU LUẬN
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
B. NỘI DUNG
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
II. NHỮNG THÀNH TỰU SỬ HỌC TIÊU BIỂU CỦA NHÀ NGUYỄN
1.Những bộ sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn
1.1. Đại Nam thực lục
1.2. Đại Nam liệt truyện
1.3. Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục
1.4. Đại Nam quốc sử diễn ca
1.5. Hoàng Lê nhất thống chí
1.6. Lịch triều hiến chương loại chí

1.7. Đại Nam nhất thống chí
1.8. Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ
2. Những tác phẩm do cá nhân biên soạn
III. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA SỬ HỌC NHÀ NGUYỄN
IV. NGUYÊN NHÂN KHIẾN SỬ HỌC VÀ CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI KHÁC PHÁT
TRIỂN
C. KẾT LUẬN
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
B. NỘI DUNG
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT Nam DƯỚI THỜI NGUYỄN.
2
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
1852, sau khi đánh bại vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi lập ra
triều Nguyễn. Triều Nguyễn đã duy trì được sự thống trị của mình từ khi lên
ngôi đến năm 1885- khi triều Nguyễn đầu hàng làm tay sai cho thực dân Pháp.
Khi mới lên ngôi vua Gia Long đã xin triều đình Mãn Thanh cho đổi tên nước
và 1804 chính thức công bố tên nước là Việt Nam. 1838, Minh Mạng đã cho
đổi tên nước thành Đại Nam và tên này gắn suốt thời kì trị vì của nhà Nguyễn.
Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802- 1819), Minh Mạng (1820-
1840), Thiệu Trị (1841- 1847), Tự Đức (1848- 1883) kế tiếp nhau xây dựng và
củng cố nền thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến trong bối cảnh khủng hoảng,
suy vong. Các vua nhà Nguyễn tăng cường bộ máy đàn áp, thi hành chính sách
bóc lột nặng nề dẫn đến đời sống của nhân dân nhất là nông dân lâm vào cảnh
đói khổ. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân không ngừng nổ ra khắp nơi tiêu
biểu là cuộc khởi nghĩa của Vũ Đình Lục, Ba Vành, Cao Bá Quát…
Tuy nhiên, bên cạnh chính sách đàn áp, bóc lột nhân dân nhà Nguyễn
cũng ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa để củng cố sự thống trị của
mình. Đặc biệt là sự thống trị của nho giáo nhằm tạo ra sức sống cho chế độ.
Mọi chính sách của nhà Nguyễn đều dùa trên khuôn mẫu của Nho giáo mục

đích là để duy trì sự thống trị bền vững của mình trên một nền tảng lạc hậu.
Chính điều này làm cho triều Nguyễn nhanh chóng lâm vào cuộc khủng hoảng
trên đầy đủ các mặt của đất nước cả về kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng…
Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến làm cho triều đình nhà Nguyễn
đứng trước yêu cầu cấp bách là phải canh tân đất nước. Vì vậy, triều đình đã
lắng nghe mà không thực hiện những đề nghị cải cách về nhiều mặt trong đó có
yêu cầu về cải cách giáo dục. Mặt khác do sù chi phối bởi tư tưởng Nho giáo
mà triều Nguyễn cũng quan tâm đến lịch sử, xem đó là kinh nghiệm quí báu
của đời xưa cho sự thống trị hiện tại của mình, cho việc rút từ quá khứ những
tấm gương lớn để trị nước an dân, để ru ngủ nhân dân trong đạo lý “trung quân
ái quốc”. Triều Nguyễn lại được tiếp thu di sản văn hoá to lớn quí báu trong đó
có sử học của 800 năm độc lập, tự chủ trước đó của nhân dân ta, của các triều
đại trước.
Trước hết, triều Nguyễn chăm lo tổ chức bộ máy chép sử để biên soạn
Quốc sử và sử của đương triều. Sách Đại Nam thực lục chép rằng “Năm Minh
Mệnh thứ hai (1861) đầu tiên mở ra sử quán, sai quan sử thần làm bộ Thực
lục…, chia ra làm Tiền biên và Chính biên, cân nhắc ý nghĩa và điều lệ để làm
khuôn phép cho nghìn muôn đời sau”
1
. Tiếp đó, hai mươi năm sau, vào năm
Thiệu Trị thứ nhất (1841), triều đình “bắt đầu đặt quan và thuộc viên ở sử quán.
Vua dụ rằng: Nước nào cũng có sử chép. Việc Êy đã có từ lâu, sử cốt chép
(1)
Lịch sử sử học của Phan Ngọc Liên chủ biên- NXB Đại học sư phạm-
2006, trang 119
lại chính sử để dạy bảo cho đời sau. Nay chuẩn cho lấy Quốc sử quán làm nơi
soạn sử. Về số nhân viên từ Chánh, Phó, Tổng tài cho đến các chức Toản tu,
3
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác

Biên tu, Khảo liệu, Tằng lục. Chuẩn giao cho đình thần hội đồng kén chọn sung
vào để làm. Các nhân viên được lấy vào không cứ là quan trong kinh hay ngoài
các tỉnh, người nào thực có tài năng về sử học, có thể làm nổi việc chép sử Êy,
chuẩn cho chọn mà tiến cử”
1

Bộ máy của Sử quán triều Nguyễn do Thiệu Trị lập ra vào năm 1874 có
hai Tổng tài là Trương Đăng Quế và Vũ Xuân Cẩn, hai phó Tổng tài là Nguyễn
Trung Mậu và Phạm Bá Đạt, bèn Toản tu, tám Biên tu, bốn Khảo hiệu, sáu
Đằng lục, bốn Thu trường kiêm Biên sự. Nhà vua giao cho sử quán phải soạn
tiếp bộ Đại Nam thực lục cho hoàn thành và tiến hành soạn chép bộ Đại Nam
liệt truyện.
Điều mà các vua nhà Nguyễn rất quan tâm là bên cạnh việc soạn sử của
vương triều mình, còn phải chăm lo biên soạn bộ sử chung của dân téc trên cơ
sở tiếp thu các thành tựu của đời trước, bổ sung sửa chữa phần cơ nghiệp nhà
Nguyễn, để giáo dục nhân dân, để mọi người phải hiểu nước nhà, chứ không
phải chỉ biết sử Trung Quốc. Năm 1855, vua Tự Đức ra chỉ dụ “Đời nào khởi
nghiệp tất phải có sử đời Êy. Nước Việt ta từ đời Hồng Bàng trở về sau, đời
Trần, đời Lê trở về trước, trong khoảng hơn mấy nghìn năm, chính trị hay dở,
nhân vật giỏi hay không giỏi, bờ cõi trong nước vẫn nguyên như cũ hay đổi
khác, chế độ chấn chỉnh hay đổ nát, sử cũ chép lại vẫn còn thiếu sót nhiều. Đến
nh hình thức văn từ và nghĩa lý, thể hiện trong sách sai lầm cũng không phải
Ýt ”
2
. Đặc biệt là phải có bộ Việt sử để đưa vào trong thi cử và cho rằng triều
đình có trách nhiệm trong việc chưa có bộ việt sử để dẫn đến tình trạng học trò
Ýt đoái hoài đến lịch sử nước nhà.
Triều đình qui định rõ chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền lợi của những
viên quan trong Viện Quốc sử. Chánh Tổng tài lo xem xét công việc chung.
Phó tổng tài đôn đốc công việc. Từ Toản tu trở xuống chia nhau biên soạn.

Giấy bót, đèn dầu và các vật dụng khác được qui định rõ ràng.
Nhờ tổ chức chặt chẽ nh vậy, nên công việc biên soạn Quốc sử bắt đầu
thu được nhiều kết quả, trong những năm đầu nửa đầu thế kỉ XIX. Tuy nhiên,
phải nửa sau thế kỉ XIX các bộ sử mới được hoàn thành.
Trong suốt thời kì thống trị của nhà Nguyễn từ 1802 đến 1945, lịch sử đã
trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Đặc biệt đây là thời kì thực dân Pháp nhòm
ngó và xâm lược Việt Nam cho nên sử học thời Nguyễn cũng thăng trầm theo
lịch sử. Trước khi Pháp vào xâm lược (tức trước 1858), sử học đạt được nhiều
thành tựu rực rỡ với các chính sách khuyến khích của các đời vua thời kì này.
(1)
Lịch sử sử học của Phan Ngọc Liên chủ biên- NXB Đại học sư phạm-
2006) trang 119
(2)
Nh trên, trang 120.
Từ sau năm 1858 trở đi là giai đoạn hoàn thành in Ên các tác phẩm lịch sử còn
việc biên soạn thêm là rất Ýt bởi nhà Nguyễn lúc này mải lo đối phó với thực
dân Pháp xâm lược. Ngoài những bộ sử chính thống do Quốc sử quán biên soạn
4
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
còn có rất nhiều bộ dã sử trong dân gian có giá trị rất lớn trong công tác nghiên
cứu lịch sử nước nhà.
II. NHỮNG THÀNH TỰU SỬ HỌC TIÊU BIỂU NHÀ NGUYỄN.
1. Những bộ sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn.
1.1. Đại Nam thực lục.
Đại Nam thực lục là bộ chính sử lớn nhất, quan trọng nhất của nhà
Nguyễn do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong vòng 88 năm mới hoàn
thành tính từ khi bắt đầu làm ( 1821-Minh Mệnh năm thứ hai) đến khi hoàn
thành và khắc in xong những quyển cuối cùng (1909- Duy Tân năm thứ ba).
Đại Nam thực lục chia làm hai phần là Tiền biên và Chính biên.

Đại Nam thực lục Tiền biên (còn gọi là Liệt thánh thực lục tiền biên) ghi
chép về sự nghiệp của 9 chóa Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (Thái tổ Gia
Dụ hoàng đế) vào trấn thủ Thuận Hoá(1558) đến hết đời Nguyễn Phóc Thuần
(Duệ Tông Hiếu định hoàng đế) tức là đến năm Nguyễn Phóc Thuần mất
(1777). Đại Nam thực lục tiền biên được khởi soạn năm 1821(năm thứ hai niên
hiệu Minh Mệnh) làm xong và hoàn thành việc khắc in năm 1844 (năm thứ tư
niên hiệu Thiệu Trị). Tổng tài của sách là Trương Đăng Quế và Vũ Xuân Cẩn.
Đại Nam thực lục chính biên ghi chép về lịch sử triều Nguyễn, từ Gia
Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỉ, mỗi kỉ là một đời vua.
1. Kỉ thứ nhất- đời Gia Long (Nguyễn Phóc Ánh) từ 1778 đến 1819.
Biên soạn trong 27 năm (từ 1821-1847). Tổng tài là Trương Đăng Quế và Vũ
Xuân Cẩn.
2. Kỉ thứ hai- đời Minh Mệnh (Nguyễn Phóc Đảm) từ 1820 đến 1840.
Biên soạn trong 20 năm (từ 1841- 1841). Tổng tài lần lượt có Trương Đăng
Quế rồi Phan Thanh Giản.
3. Kỉ thứ ba- đời Thiệu Trị (Nguyễn Miên Tông) từ 1841 đến 1847. Sách
khắc in xong năm 1879. Tổng tài là Trương Đăng Quế, Trần Tiễn Thành, Phan
Thanh Giản.
4. Kỉ thứ tư- đời Tự Đức (Nguyễn Hồng Nhiệm) từ 1847 đến 1883. Sách
khắc in xong năm 1879. Tổng tài Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn
Trọng Hợp.
5. Kỉ thứ năm- năm cuối đời Tự Đức và đời Kiến Phóc (Nguyễn Ưng
Đăng) từ 1883 đến 1885. Sách khắc in xong năm 1902. Tổng tài là Trương
Quang Đản.
6. Kỉ thứ sáu- đời Hàm Nghi (Nguyễn Ưng Lịch) và Đồng Khánh
(Nguyễn Ưng Xuỵ) từ 1885 đến 1888. Sách khắc in xong năm 1909. Tổng tài
là Cao Xuân Dục.
Ngoài sáu kỉ của Đại Nam thực lục chính biên kể trên, năm 2003 các nhà
nghiên cứu mới phát hiện thêm bản ghi chép tiếp theo của bộ sử này lưu lạc ở
Pháp gồm hai phần là Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỉ phụ biên và Đại

Nam thực lục chính biên đệ thất kỉ.
5
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
Đệ lục kỉ phụ biên, nghĩa là biên chép phụ vào Kỉ thứ sáu, kỉ chép về đời
Đồng Khánh, là phần viết về hai đời vua là Thành Thái (1889- 1907) và Duy
Tân (1907- 1916).
Đệ thất kỉ viết về đời Khải Định (1916- 1925). Khải Định ở ngôi 10 năm
nên trong Đệ thất kỉ có 10 quyển. Theo nguyên tắc đề ra trong Phàm lệ khi biên
soạn Đại Nam thực lục thì mỗi đời vua là một kỉ. Nhưng hai ông vua Thành
Thái, Duy Tân không được chép thành ki riêng mà chỉ chép phụ vào kỉ Đồng
Khánh.
“Trong tờ tấu của hai viên quan Tổng tài toản tu Quốc sử quán là Hồ Đắc
Trung, Cao Xuân Tiếu, đề ngày 6 tháng 11 năm Khải Định thứ bảy (1922), có
nói rằng nếu vua không có miếu hiệu (danh hiệu suy tôn sau khi mất để đặt thờ
ở nhà Thái miếu) thì được làm chính biên, còn vua không có miếu hiệu thì
không được làm riêng một kỉ, mà phụ chép vào kỉ trước, gọi là phụ
biên”
1
Thành Thái, Duy Tân là hai ông vua không có miếu hiệu, vì vào đời Khải
Định, khi biên soạn bộ sách này hai ông đang bị Thực dân Pháp đưa đi đày nên
trong Đại Nam thực lục chính biên chỉ được chép phụ vào kỉ Đồng Khánh và
gọi là Thành Thái phế đế phụ biên (ông ở ngôi 19 năm nên trong Phụ biên chép
về ông mỗi năm có 1 quyển cộng lại có 19 quyển) và Duy Tân phế đế phụ biên
(Duy Tân ở ngôi 10 năm nên có 10 quyển).
Khi biên soạn Đại Nam thực lục, Quốc sử quán triều Nguyễn đã phải sử
dụng một khối lượng lớn tài liệu gồm chiếu chỉ, sắc dụ, các bản tấu trình ở địa
phương và tài liệu lịch sử các triều đại trước. Coi trọng công tác tư liệu khi biên
soạn, vua Gia Long đã chỉ dụ: “Phàm sự tích cũ thì cần phải xem xét rộng rãi
để sẵn mà tham khảo…tưởng ở chốn đồng quê, các nhà quan cũ và các cụ già,

những điều ghi chép được, những điều tai nghe mắt thấy, hẳn có điều đáng
đúng…Lời nào có thể ghi vào sử được thì thưởng, thảng hoặc có can phạm huý
cũng không bắt tội…”. Vua Minh Mạng cũng khuyến khích việc sưu tầm tài
liệu: “vậy chuẩn cho quan dân trong ngoài, phàm nhà nào cất được những bản
biên chép điển cũ triều trước thì không kể tường hay lược, đem nguyên bản đến
nép hoặc đưa cho nhà nước sao chép đều có khen thưởng”
2
Đại nam thực lục
được biên soạn theo lối biên niên ghi chép các sự kiện về chính trị, kinh tế, an
ninh, quốc phòng, đối ngoại…xảy ra dưới thời các vua Nguyễn. Các vua là
nhân vật trung tâm của việc chép sử. Tuy nhiên, qua Thực lục chúng ta còn
thấy được nhiều mặt của đời sống xã hội nước ta lúc bấy giê: lễ tế Nam giao,
cày
(1)
Phát hiện mới sẽ được công bố: Phần tiếp theo trọn bộ của Đại Nam
thực lục chính biên- Trần Đưc Cường- Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3 năm
2004.
6
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
(2)
Quốc sử quán triều Nguyễn- Đại Nam thực lục- NXB Xã hội-1969-tập
5,trang 99- Trích theo Lịch sử sử học- Phan Ngọc Liên chủ biên- NXB Đại học
sư phạm-2006, trang122.
ruộng tịch điền, chú trọng an ninh quốc phòng, phát triển nông nghiệp, lịch sử
quan chế, khoa cử, tình hình các địa phương qua các chương sớ tâu lên nhà
vua.
Đặc biệt, Đại Nam thực lục lấy việc biên soạn chính xác làm chính cho
nên các tư liệu ghi chép về hành động cử chỉ của nhà vua do Viện Đô sát đảm
nhiệm được chuyển sang Quốc sử quán làm tư liệu mà không qua nhà vua. Vì

vây, Thực lục cũng ghi được một số sự kiện khách quan, như “quân Xiêm trong
lòng thì sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”, hoặc ghi nguyên văn lời phê phán của
Tổng đốc Bình Phú Thân Văn Nhiếp về việc vua Tự Đức trước tình hình “đất
cũ bị mất giặc phương Bắc tràn qua, lũ hạn, nạn bão…dân không được nhờ để
sống…thế mà nhà vua vẫn xây Vạn Niên Cơ, mua đàn tây, tranh tây, tổ chức
vui chơi tốn kém”
1
1.2. Đại Nam liệt truyện
Đại Nam liệt truyện gồm ba phần: Đại Nam liệt truyện Tiền biên soạn từ
1841- 1852, Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập hoàn thành trong thời gian
1852-1899. Đại Nam liệt truyện nhị tập bắt đầu soạn từ 1895 và bắt đầu in
1909. Đại Nam liệt truyện chép tiểu sử, sự nghiệp của các hậu phi, hoàng tử,
công chóa, chư thần, cao tăng, Èn dật, nghịch tử gian thần ở mỗi đời vua.
1.3. Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Tự Đức chủ trì việc biên
soạn bắt đầu từ 1856 đến 1884 mới hoàn thành. Bộ Khâm định Việt sử thông
giám cương mục gồm có hai phần là Tiền biên và Chính biên. Phần Tiền biên
gồm có năm quyển chép từ Hùng Vương (1876- 258 trước công nguyên) đến
thời Mười hai sứ quân (966- 967). Phần Chính biên gồm 47 quyển chép từ thời
Đinh Tiên Hoàng (970- 979) đến thời Lê Mẫn Đế ( 1787- 1789).
Bộ Cương mục được tổ chức biên soạn chặt chẽ, chu đáo hơn hẳn so với
các bộ sử trước. Tham gia biên soạn có hơn 30 người và 12 người Đẳng tả với
những tên tuổi nổi tiếng nh Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế, Trương
Quang Đản…, nhà vua xem xét việc ghi chép và “ngự phê” một số nhân vật và
sự kiện lịch sử. Tự Đức còn gợi ý viết phần Phàm lệ và việc phân kì.
Các sử thần nhà Nguyễn rất coi trọng việc sưu tập tài liệu để viết. Năm
1856, Quốc sử quán đã “xin in ra nguyên bản bộ Đại Việt sử kí phát giao cho
để tra xét. Xin viện Tập hiền ở Nội các soạn ra những sách nên cần để đủ tra
cứu. Xin phái người ra Bắc kì để kiếm những sách dã sử của các nhà chứa sách
riêng và sự tích từ sau khi nhà Lê Trung Hưng, cùng là những phả kí tục biên

của các nhà có danh tiếng”
2
.Ngoài ra Quốc sử quán còn dùa trên 24 bộ chính sử
của Trung Quốc để tìm các tài liệu có liên quan đến nước ta.
Khi biên soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục, xuất phát từ
quan điểm chính thống cho rằng “lịch sử là tấm gương lớn”, “viết sử là để nêu
7
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
(1)
Lịch sử sử học- Phan Ngọc Liên chủ biên- NXB Đại học sư phạm,
trang 123.
(2)
Nh trên, trang 126.
gương cho mọi người”- từ vua đến dân chúng soi mà noi theo cho nên bộ sử
này có tên gọi nh vậy. Quan điểm nêu gương và soi gương qua lịch sử ở bộ
sách này hoàn toàn theo tiêu chuẩn cương thường đạo lý của Nho giáo để từ đó
xem xét đánh giá con người sự việc. Đây cũng là cách để giữ vững vương triều
nhà Nguyễn thông qua những tấm gương trong sử sách, tất cả những người
chống đối chóa Nguyễn, vua Nguyễn đều là giặc. Tuy nhiên, thông qua Cương
mục các nhà chép sử triều Nguyễn cũng thể hiện tinh thần yêu quê hương đất
nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự hào dân téc “Nước Đại Việt ta dựng bờ cõi ở
minh đô thủ trời, định rõ núi sông, nên đất đúc nên văn vật, vua chóa đời sau
thay đời trước, phong khí ngày càng mở mang, thời đại không giống nhau, quy
mô mỗi thời một khác, song mọi việc xảy ra ở nước mình, trên đất mình do
nước mình làm với tinh thần độc lập tự chủ”.
1
Cương mục là bộ sử cuối cùng do Quốc sử quán của một triều đại phong
kiến nước ta hoàn thành. Nó tập hợp được thành tựu của sử học Việt Nam trước
đó và đã có những đóng góp quan trọng về tư liệu và phương pháp chép sử.

Tuy vẫn chép sử theo lối biên niên, song Cương mục đã chú ý đến việc kết hợp
chép theo tuế thứ (chép thứ tự thời gian theo hệ can, chi của phép lịch xưa) và
niên thứ (theo thứ tự hàng năm của một nhà vua). Các nhà chép sử đã dùa theo
bộ Thông giám cương mục của Chu Hy đời Tống(1130- 1200), bộ Cương mục
triều Nguyễn đã nêu ra từng “Cương”, chép ra thành từng “mục”, tức ở phần
“cương” thì chép đại cương về sự việc, đến phần “mục” mới chép rõ chi tiết, sự
việc. Nhờ vậy mà người đọc nhận thức và tiếp thu lịch sử có hệ thống hơn. Bé
sử này cũng là cơ sở cho việc biên soạn nhiều sách sử thời Nguyễn.
1.4. Đại Nam quốc sử diễn ca.
Đại Nam quốc sử diễn ca bắt nguồn từ Sử kí quốc ngữ ca do nhiều người
viết và tham gia sửa chữa, từ khoảng thời Lê đến đầu những năm 70 của thế kỉ
XIX mới hoàn thành.
Loại lịch sử diễn ca đã có từ lâu và đã được nhân dân ta rất ưa chuộng.
Vua Tự Đức đã chú ý đến việc biên soạn loại sử sách này để phổ biến rộng rãi
trong nhân dân. Năm 1858, Lê Ngô Cát là người của Quốc sử quán được cử sửa
chữa quyển Sử kí quốc ngữ ca của một tác giả khuyết danh thời Lê, diễn ca
suốt từ thời Hồng Bàng đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê. Lê Ngô
Cát đã sửa chữa bổ sung và diễn ca tiếp phần lịch sử thời vua Lê, chóa Trịnh.
Về sau, Phạm Đình Toái đọc lại, sửa chữa, bổ sung, rút gọn thành một tác
phẩm có 2054 câu lục bát và đặt tên là Đại Nam quốc sử diễn ca in năm 1870-
1871.
Đại Nam quốc sử diễn ca là một loại sách lịch sử phổ thông, trích tóm tắt
những sự kiện lớn xảy ra từ thời Hồng Bàng đến thời Lê Chiêu Thống. Vì sách
8
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
đã được soạn theo mục đích của vua nên nó chỉ chủ yếu nhằm vào việc ca ngợi
công lao của nhà Nguyễn từ khi trấn thủ Đàng trong đến lúc thống nhất cả
nước, coi đó là “việc hợp lòng trời, lòng người” và không thấy được vai trò của
quần chúng nhân dân trong lịch sử.

(1)
Lịch sử sử học- Phan Ngọc Liên chủ biên- NXB Đại học sư phạm,
trang 126
Đại Nam quốc sử diễn ca cũng đã diễn tả được lòng yêu nước và tự hào
dân téc của nhân dân ta. Các tác giả đã có những câu thơ hào hùng về truyền
thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm. Đây là một tác phẩm diễn ca
lịch sử có giá trị về mặt sử học và văn học.
1.5. Hoàng Lê nhất thống chí
Hoàng Lê nhất thống chí là một tác phẩm kí sự lịch sử nằm trong bộ sách
lớn Ngô gia văn phái ra đời vào đầu thế kỉ XIX. Tác giả của Hoàng Lê nhất
thống chí là thuộc dòng họ Ngô Thời ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai
nay là Hà Tây. Có nhiều ý kiến khác nhau về tác giả của tác phẩm này. Theo
Ngô gia thế phả thì Ngô Thời Chí, Ngô Thời Du đều có tham gia biên soạn
Hoàng Lê nhất thống chí. Một người khác có thể coi như sống đồng thời với
Ngô Thời Chí là Phạm Đình Hổ (1768- 1840), trong Vò trung tuỳ bót của mình
cũng nói Ngô Thời Chí “có soạn bộ Nhất thống chí”
1
Một số tài liệu khác lại ghi
là Ngô Thời Nhậm viết. Ngô Thời Nhậm đã đỗ tiến sĩ, có tài văn thơ, có cái
nhìn chính trị tiến bộ. Có ý kiến cho rằng Ngô Thời Nhậm viết cả 15 hồi của
Hoàng lê nhất thống chí, ý kiến khác lại cho rằng Ngô Thời Chí viết phần chính
biên gồm 7 hồi. Phần tục biên có 10 hồi thì 7 hồi do Ngô Thời Du viết.
Hoàng Lê nhất thống chí được viết theo kiểu “chương hồi”, ghi chép các
sự kiện lịch sử bên cạnh việc miêu tả tính cách nhân vật cho nên đây là tác
phẩm minh hoạ khá sinh động, đặc sắc bức tranh về xã hội Việt Nam trong 3
thập kỉ của thế kỉ XVIII và mấy năm đầu thế kỉ XIX. Tác giả đã làm sống lại
người thực, việc thực: vua chóa tranh giành quyền bính với nhau Trịnh Sâm bỏ
con cả lập con thứ, phe cánh Đặng thị Huệ lộng hành, loạn kiêu binh…Các tác
giả đã thể hiện thái độ khách quan trong việc miêu tả cảnh triều đình phong
kiến mục nát, dân tình khèn khổ và hình ảnh đẹp đẽ của anh hùng áo vải Quang

Trung nên có những lời lẽ trân trọng nhận xét xác đáng.
Với Hoàng Lê nhất thống chí, những sự kiện quan trọng xảy ra ở nước ta
suốt từ thời Lê Hiển Tông đến Gia Long đã được thuật lại khá trung thực và tỉ
mỉ. “Nếu hình dung chế độ phong kiến thời Lê Trịnh như một cái nhà, thì theo
Hoàng lê nhất thống chí, cái nhà Êy quả thật không còn cách gì có thể đứng
vững được nữa. Cột kèo đều mục ruỗng, mộng chốt hết thảy rã rời, nền móng
khắp nơi sụt lở, mối mọt đục từ bên trong đục ra”
2
. Là một quyển sử biên niên
viết theo hình thức văn học cho nên các nhân vật lịch sử được tác giả đề cập
đến được miêu tả hết sức sinh động “Lê Hiển Tông bên ngoài ra vẻ lắm: râu
rồng, mòi cao, tóc bạc, mắt phượng, đi nhẹ như nước, ngồi vững như non” thế
9
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
nhưng suốt 17 năm ở ngôi chỉ biết mua vui với cung nữ cam chịu bị Trịnh Sâm
đè nén “ Trời sai chóa phò ta. Chóa ghánh cái lo, ta hưởng cái vui. Mất chóa
tức cái lo
(1)
Lê Trí Viễn- Hoàng Lê nhất thống chí- NXB Khoa học xã hội- trang 8
(2)
Nh trên, trang 9
cái lo lại về ta, ta còn vui gì?”…
Tóm lại, ta có thể thấy rằng Hoàng lê nhất thống chí là một nguồn tư liệu
lịch sử quí báu ngoài giá trị văn học đích thực của nó.
1.6. Lịch triều hiến chương loại chí
Lịch triều hiến chương loại chí là công trình xuất sắc của nhà sử học
Phan Huy Chú được viết trong mười năm (1809- 1819),được chia làm 10 chí,
mỗi chí giới thiệu một mặt của sinh hoạt đời sống xã hội nước ta:
Địa dư chí: giới thiệu về điều kiện tự nhiên và địa lý lịch sử nước ta.

Nhân vật chí: trình bày tiểu sử của các vua chóa, quan lại, các nho sĩ,
tướng lĩnh, những người trung hiếu tiết nghĩa theo quan niệm phong kiến.
Quan chức chí: nói về chế độ quan chức của các thời đại.
Lễ nghi chí: nghiên cứu các hình thức tế lễ ở triều đình, phẩm phục của
vua chóa, quan lại các cấp.
Khoa mục chí: tìm hiểu tỉ mỉ về chế độ thi cử qua các triều đại và những
người đậu từ tiến sĩ trở lên.
Quốc dụng chí: ghi chép về chế độ thuế khoá và tài chính của các triều
đại.
Hình luật chí: nói về pháp chế đã tồn tại trong lịch sử.
Binh chế chí: nói về chế độ và tổ chức quân đội của các đời.
Văn tịch chí: giới thiệu về sử sách bằng chữ Hán và chữ Nôm.
Bang giao chí: nói về chính sách ngoại giao và lịch sử quan hệ đối ngoại
của các triều đại phong kiến nước ta với Trung Quốc.
Sự phân chia này là sự phân chia toàn bộ tri thức thu thập được về đất
nước, con người đến tổ chức, thiết kế, tinh thần, ngoại giao của nước ta. Trình
tự này vừa thể hiện tính hệ thống khoa học, vừa đầy đủ, toàn diện. Mỗi chí
được trình bày theo trình tự chung: những nét tổng quát, đại cương về vấn đề
được nêu ở chí, sau đó đi sâu vào nội dung cụ thể thuộc về lịch sử và cơ cấu
của bộ môn tri thức Êy.
Tác giả đã có thái độ khách quan khi viết Lịch triều hiến chương loại chí
“Khai xét dấu tích đời xưa mà không nói thêm, phân tích mọi việc bằng lý lẽ để
tìm ra lẽ phải, có chỗ tường tận mà không đến nỗi rườm rà, có chô sơ lược mà
nắm được cốt yếu, khiến cho công nghiệp chế tạo của các đời rõ rệt đủ làm
bằng chứng”
1
. Điều này thể hiện tính khoa học trong nghiên cứu của Phan Huy
Chú. Tính khoa học còn được biểu hiện ở phương pháp sưu tầm tài liệu cẩn
10
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội

khác
thận, tránh những nhầm lẫn, chủ quan, có ghi chú xuất xứ của mỗi tư liệu trích
dẫn.
Đọc Lịch triều hiến chương loại chí ta thấy nổi bật ở đây là tinh thần dân
téc ý thức tự chủ. Trong lời tựa, ông đã khẳng định “Nước Việt Nam ta từ thời
(1)
Trích theo Phan Ngọc Liên- Lịch sử sử học- NXB Đại học sư phạm-
trang 133
Đinh, Lê, Lý, Trần, phong hội đã mở, đời nào cũng có chế độ của đời Êy. Đến
thời Lê kiến thiết kĩ càng, phép tắc đầy đủ, thanh danh của nước ta và văn hoá,
nhân tài đều thịnh, không kém gì Trung Hoa”.
1
Phan Huy Chú cũng thể hiện tư tưởng tiến bộ khi nhận xét các chính
sách của triều đại phong kiến. Ông đứng trên lợi Ých của quần chúng nhân dân,
của đất nước để phê phán tệ nép tiền để được bổ nhiệm làm quan. Ông chủ
trương việc đúc tiền phải do nhà nước quản lý mà không giao cho tư nhân.
Chính vì cách nhìn nhận khách quan khoa học của mọi vấn đề trong xã
hội mà Lịch triều hiến chương loại chí đã được coi như là bộ bách khoa toàn
thư của nước ta trong đó có nhiều tài liệu lịch sử quí báu cho các nhà nghiên
cứu.
1.7. Đại Nam nhất thống chí
Đại Nam nhất thống chí là bộ sách viết về địa lý- lịch sử do Quốc sử
quán triều Nguyễn biên soạn từ 1865 đến 1882 hoàn thành dưới thời vua Tự
Đức. Đại Nam nhất thống chí ghi chép về tình hình các mặt của các tỉnh trong
cả nước, từ Lạng Sơn đến Hà Tiên.
Năm 1909, năm Duy Tân thứ ba, triều đình Huế lại sai Quốc sử quán
soạn lại bộ Đại Nam nhất thống chí mới chỉ nói về các tỉnh thuộc Trung kì còn
đất Nam kì được coi là thuộc địa của Pháp, đất Bắc kì là bảo hộ của Pháp nên
không được nhắc đến.
Như vậy, bộ Đại Nam nhất thống chí dưới thời Tự Đức là bộ sách đầy đủ

nhất và được chia ra thành các mục giống như Đại Thanh nhất thống chí của
Trung Quốc: phương vi, phân dã, kiến trí, diên cách, phủ huyện, hình thế, khí
hậu, phong tục, thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn…
Ngoài ra Đại Nam nhất thống chí còn có những quyển chép riêng về Cao Miên,
Xiêm La…Đây được xem là bộ sách lịch sử địa lý đầy đủ nhất của nước ta còn
lại đến ngày nay.
1.8. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một bộ sách được biên soạn dưới
triều Nguyễn theo thể loại Hội điển. Thể loại này được đặt ra nhằm ghi chép lại
các điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động
của một triều đại, một Nhà nước.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một công trình có quy mô thuộc
loại đồ sộ nhất trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Bé
sách này được Nội Các triều Nguyễn biên soạn từ năm 1891.
11
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
Nội Các là cơ quan bên cạnh Quốc sử quán chuyên giữ việc Ên chương,
giấy tờ, sổ sách của các cơ quan trong thiết chế triều đình. Nhưng Nội Các triều
Nguyễn còn được giao một số nhiệm vụ mang đậm tính chất sử học nh ghi lại
lời nói và việc làm của vua, chép việc làm của các bộ, viện…và điển chế của
nhà nước đã đem thi hành. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là công trình lớn
nhất, có giá trị nhất.
(1)
Trích theo Phan Ngọc Liên- Lịch sử sử học- NXB Đại học sư phạm-
trang 133.
Bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ gồm 262 quyển, làm theo chỉ dụ
của nhà vua các năm Thiệu Trị thứ ba (1843), Thiệu Trị thứ sáu (1846), Tự
Đức thứ ba (1850) và đến năm Tự Đức thứ tư (1851) làm xong. Sách biên tập
tất cả các dụ chỉ, sắc lệnh, chiếu chỉ…đã đem thi hành từ năm Gia Long thứ

nhất (1802) đến năm Tự Đức thứ tư (1851). Người tham gia toản tu sách này,
“ngoài các tổng lý giám tu nh Miên Định, Miên Nghi, Vũ Xuân Cẩn, Trương
Đăng Quế, Phan Thanh Giản…có các quan lại cả 6 bộ và các nha, mỗi bộ
khoảng 15 người”
1
.
Đây là bộ sách quý chứa đựng một khối lượng đồ sộ những kiến thức, sử
liệu chân xác, đặc biệt là về thiết chế và hoạt động của nhà nước Việt Nam
dưới triều Nguyễn. Do vậy, để nghiên cứu toàn diện xã hội Việt Nam nửa đầu
thế kỉ XIX bên cạnh những bộ sử chính thống nh Đại Nam thực lục,… không
thể không dùng đến những sử liệu đáng tin cậy nh Khâm định Đại Nam hội
điển sự lệ cung cấp. Trong chõng mực nhất định, bộ sách này có giá trị minh
chứng cho một trình độ văn minh của dân téc Việt Nam đã đạt được trong một
quốc gia vừa hoàn chỉnh về lãnh thổ, độc lập và tiền tư bản, vào nửa đầu thế kỉ
XIX, trước khi trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân phương Tây. “Bộ
sách này đã phác hoạ trước mắt chúng ta một hình ảnh tương đối phong phó và
đa dạng về một xã hội Việt Nam truyền thống (đặc biệt là về phương diện tổ
chức bộ máy hành chính quốc gia từ Trung ương đến địa phương) vào đêm
hôm trước của xã hội Việt Nam hiện đại”
2
2. Những tác phẩm cá nhân biên soạn.
Bên cạnh những sách sử chính thống của Quốc sử quán triều Nguyễn,
vào nửa sau thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX còn xuất hiện nhiều nhà sử học với
những tác phẩm cá nhân có giá trị. Tiêu biểu:
Vũ Phạm Khải (1807- 1870) đã từng làm Toản tu Quốc sử quán và tham
gia biên soạn Đại Nam thực lục. Ông có quan điểm lịch sử khá tiến bộ, chép sử
phải tôn trọng sự thật, gạt bỏ định kiến hẹp hòi, tiếp thu cái mới. Ông đã đề
nghị nghiên cứu lịch sử các nước láng giềng và đã viết bé Chiêm Thành kí
nhưng nay đã bị thất lạc.
12

Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
Nguyễn Đức Đạt (1823- 1887) đỗ Thám hoa, viết cuốn Việt sử thăng
bình. Ông viết theo thể hỏi đáp lịch sử từ thời Kinh Dương Vương đến Tây
Sơn. Ông có quan điểm bảo thủ phục vụ vương triều Nguyễn.
Nguyễn Thông (1827- 1894) giữ chức khảo duyệt trong Quốc sử quán.
Ông đã viết cuốn Việt sử cương giám khảo lược. Đây là cuốn sách khảo cứu,
phê bình lịch sử đầu tiên của nước ta.
Phạm Thận Duật (1825- 1885), quê Ninh Bình là người đẫ kiểm duyệt
lần cuối bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
Ngoài ra còn có các tác phẩm sử học ra đời vào nửa cuối thế kỉ XIX như
Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quảng in năm 1990,
Nghệ An chí của Bùi Dương Lịch, Thanh Hoá tỉnh chí của Ngô Bá Sĩ. Đây
còng
(1)
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tập I- NXB Thuận Hoá-1993-
trang3
(2)
Nh trên, trang 5
là thời kì thực dân Pháp đã chiếm xong Nam kì, biến vùng này là thuộc địa của
chúng, một số tri thức tây học phục vụ trong bộ máy chính quyền thực dân
cũng nghiên cứu và biên soạn lịch sử và tất nhiên là để phục vụ cho chính
quyền thực dân đô hộ. Trong số này nổi lên Trương Vĩnh Ký đã viết Lịch sử
An Nam, Lịch sử Trung Quốc, Địa dư Nam kì
3. Những hạn chế của sử học nhà Nguyễn
Sử học thời Nguyễn lấy Khổng giáo làm nền tảng bởi Nguyễn Ánh lên
ngôi từ phương Nam xa xôi, trị vì một quốc gia rộng lớn, không dễ gì tạo được
sự thoả hiệp giữa tính chính thống của triều đại. Do vậy, Nguyễn Ánh cố duy
trì tư tưởng Nho giáo để trãi buộc tầng líp quan lại trung thành với triều
Nguyễn trên cơ sở học thuyết của Khổng Tử. Chính vì vậy mà sử học thời

Nguyễn mang nặng ảnh hưởng của sử học Trung Hoa.
Việc biên soạn các bộ sử dưới thời Nguyễn diễn ra rất chậm chạp. Ngay
bộ sử biên niên của triều đại là Đại Nam thực lục rất cần thiết phải hoàn thành
sớm để thuyết phục thần dân về vai trò chính thống của triều Nguyễn cũng phải
mất gần một thế kỉ mới hoàn thành (88 năm từ 1821 đến 1905). Không chỉ Đại
Nam thực lục mà hầu hết các bộ sử dưới triều Nguyễn đều được hoàn thành
vào nửa cuối của thế kỉ XIX, khi mà thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt
Nam.
Nội dung các cuốn sử dưới thời Nguyễn đều nhằm mục đích ca tụng
vương triều “Vua Minh Mạng nhấn mạnh nhiệm vụ của Quốc sử quán là phải
ra sức đề cao hơn nữa công lao của các tiên tổ họ Nguyễn, vì nhờ công lao tổ
tiên ngày trước và sự phù trợ của tổ tiên con cháu hôm nay mà đế nghiệp nhà
Nguyễn ngày càng củng cố vững chắc, dư sức cai quản một lãnh thổ rộng lớn
chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, dư sức đè bẹp mọi mưu đồ phản loạn, dù
với danh nghĩa nào”.
1
Chính vì thế cho nên có những chỗ lịch sử bị xuyên tạc,
việc nhận định đánh giá thiếu công minh, khách quan. Ví dô, trong Khâm định
Việt sử thông giám cương mục khi bình luận về chiến công của Ngô Quyền
13
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Tự Đức phê rằng “Ngô
Quyền gặp được nguỵ triều Nam Hán là một nước nhỏ, Hoằng Thao là thằng
hèn kém, nên mới có được trận thắng trên sông Bạch Đằng. Đó là một việc may
có gì đáng khen”
2
. Với tư tưởng chính thống, Khâm định Việt sử thông giám
cương mục đã liệt kê tất cả những ai chống chóa Nguyễn, vua Nguyễn là giặc
là nghịch thần. Tây Sơn bị coi là nguỵ triều. Mục đích biên soạn của bộ Khâm

định Việt sử thông giám cương mục là nêu gương cho mọi người soi nhưng
sách đã mắc không Ýt những hạn chế về việc khôi phục lại quá khứ lịch sử của
dân téc mà các triều đại trước phần nào đạt được trong sách sử đã biên soạn.
(1)
Thêm một luận điểm về những bộ sử chính thống của triều Nguyễn
qua luận án tiến sĩ của nhà sử học Philippe Langlet- PGS Nguyễn phan Quang,
Phạm văn Hoàng- Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn, NXB Khoa học
xã hội, 1995
(2)
Trích theo Phan Ngọc Liên- Sdd- trang 124
Đối tượng nghiên cứu của sử học lúc này là cuộc đời và sinh hoạt của
vua quan do quan điểm phong kiến chi phối cho nên không đề cập đến một lực
lượng lớn của xã hội là quần chúng nhân dân. Viết sử chủ yếu là ghi chép lại
những việc đã xảy ra chứ chưa phát hiện được ra quy luật phát triển của lịch sử
và chủ yếu dùa vào yếu tố thần thánh, gắn với “ý trời”. Ví dô nh khi Nguyễn
Ánh gặp nạn năm 1782 đã có một con thuồng luồng xuất hiện dẫn đường cho
Nguyễn Ánh thoát nạn…
III. NGUYÊN NHÂN KHIẾN SỬ HỌC VÀ CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI
KHÁC PHÁT TRIỂN DƯỚI TRIỀU NGUYỄN.
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định nhưng những thành tựu của sử
học thời Nguyễn có đóng góp không nhỏ và không thể thiếu trong dòng chảy
lịch sử dân téc. Để có những công trình sử học đồ sộ lưu lại cho đời sau các nhà
biên soạn lịch sử đã phải mất rất nhiều công sức và trí tuệ để tạo ra những công
trình này. Tất nhiên việc biên soạn là điều bắt buộc của mỗi triều đại lịch sử bởi
sử học chính là công cụ của chính trị, biên soạn lịch sử là để khẳng định triều
đại mình. Nhưng không phải thời đại nào trong lịch sử dân téc sử học cũng đạt
được nhiều thành tựu nh dưới triều đại nhà Nguyễn. Sù phát triển của sử học
nói riêng hay của các ngành khoa học xã hội nói chung dưới triều Nguyễn có
những lý do nhất định. Sau đây tôi xin mạnh dạn nêu ra vài nguyên nhân khiến
sử học và các ngành khoa học xã hội khác phát triển dưới triều Nguyễn.

Thứ nhất, nhà Nguyễn thiết lập trong khi chế độ phong kiến Việt Nam
đang suy tàn. Để khẳng định và duy trì sự thống trị của mình nhà Nguyễn đã
phải ra sức khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, giáo dục, củng cố sự phát
triển của Nho giáo nhằm tạo sức sống cho chế độ. Chính những chính sách này
của nhà Nguyễn là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của sử học và các ngành
khoa học xã hội khác.
14
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
Thứ hai, do sù chi phối của tư tưởng Nho giáo quan tâm đến lịch sử, coi
lịch sử là kinh nghiệm quý báu của đời xưa cho sự thống trị hiện tại của mình,
cho việc rót ra từ quá khứ những tấm gương lớn để trị nước an dân, để ru ngủ
nhân dân trong đạo lý của Nho giáo. Chính vì vậy mà các vua nhà Nguyễn từ
Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tù Đức…đều rất chú trọng đến việc biên
soạn lịch sử đặc biệt là bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam
thực lục…
Thứ ba, các vua nhà Nguyễn muốn thông qua sử sách phải khẳng định
cho được triều Nguyễn là đại diện chính thống của dân téc sau khi Tây Sơn bị
lật đổ. Chính vì vậy mà các vua nhà Nguyễn đều quan tâm tới việc biên soạn
các bộ sách lịch sử. Đặc biệt năm 1821 dưới triều vua Minh Mệnh đã cho lập
Quốc sử quán để chuyên biên soạn sách sử. Nhờ vậy mà triều Nguyễn đã biên
soạn được rất nhiều sách sử có giá trị đến muôn đời sau.
Đây là những nguyên nhân cơ bản khiến cho sử học triều Nguyễn phát
triển và đạt nhiều thành tựu rực rỡ. Tuy nhiên, ta cũng không thể không kể đến
công lao của các nhà sử học tiêu biểu Phan Huy Chú, Phạm Thận Duật…
những người đã đóng góp không nhỏ cho nền sử học nước nhà.
C. KẾT LUẬN
Nh vậy, trong lóc chế độ phong kiến Việt Nam đang suy tàn ở thế kỉ XIX
nhưng sử học Việt Nam dưới triều Nguyễn vẫn đạt được những thành tựu rực
rỡ. Đây là thời kì sử học Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển trên cơ sở quan điểm

phong kiến phục vô triều đình và là những thành tựu cuối cùng của sử học
phong kiến Việt Nam. Những thành tựu sử học còng chính là biểu hiện của tinh
thần yêu nước, lòng tự hào dân téc và cũng phần nào thể hiện sự trung thực,
thẳng thắn của những người chép sử.
Những thành tựu sử học của nhà Nguyễn gắn liền với sự phát triển của
văn hóa Việt Nam. Đây là một bộ phận không thể thiếu tạo nên bản sắc văn hoá
Việt ở thế kỉ XIX. Các tác phẩm lịch sử không chỉ được biên soạn bởi các nhà
viết sử của nhà nước mà còn có cả các tác giả dân gian, chính điều này đã làm
phong phú thêm lịch sử dân téc. Tất cả các tác phẩm lịch sử đều nhất quán theo
quan điểm chung là lấy lịch sử làm tấm gương cho đời sau, phục vụ vương
triều phong kiến, khẳng định sự chính thống của thời đại. Sử học nhà Nguyễn
cũng vẫn sử dụng phương pháp viết sử theo thể biên niên, cương mục và thực
lục. Tuy nhiên trong nhiều tác phẩm sự việc thật cũng đã được nhiều nhà chép
sử đề cập đến để đến ngày nay chóng ta vẫn bíêt được việc xưa xảy ra nh thế
nào.
15
Thành tựu sử học thời Nguyễn và nguyên nhân phát triển của sử học và các ngành khoa học xã hội
khác
Mặc dù vẫn còn hạn chế của cách viết sử thời phong kiến và lại trong
điều kiện lịch sử đặc biệt là nửa sau thế kỉ XIX triều Nguyễn phải chống chọi
với giặc Pháp xâm lược nhưng sử học Việt Nam vẫn có những đóng góp to lớn
cho nền sử học nước nhà, là một giai đoạn không thể thiếu trong tiến trình phát
triển của nền sử học Việt Nam.
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lịch sử sử học Việt Nam- Phan Ngọc Liên chủ biên- NXB Đại học sư
phạm- 2006.
2. Hoàng Lê nhất thống chí- NXB Khoa học xã hội
3. Những vấn đề văn hoá xã hội thời Nguyễn- NXB Khoa học xã hội-
1995.
4. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ- Tập 1- NXB Thuận Hoá- 1993.

5. Đại Nam nhất thống chí- Tập 1- NXB Thuận Hoá- 1997
6. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử sè 3 năm 2004.
16

×