Tải bản đầy đủ (.doc) (97 trang)

Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (498.56 KB, 97 trang )

Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANG MỤC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1: Hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước Error: Reference source not
found
Bảng 2.1: Cơ cấu GDP ở thị xã Từ Sơn. Error: Reference source not found
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
1
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Bảng 2.2: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2009: Error: Reference
source not found
Bảng 2.3: Tỷ lệ huy động GDP vào NSNN trên địa bàn thị xã

Error: Reference source not found
Biểu 1: Tình hình chi NSNN tại thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2009 Error:
Reference source not found
Bảng 2.4: Cơ cấu chi thường xuyên NSNN Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Tình hình chi ngân sách địa phương (Phân tích theo một số mục chủ yếu)

Error: Reference source not found
PHỤ LỤC 74
1, Bảng 1: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2007 Error:
Reference source not found
Nguồn: Báo cáo của phòng tài chính – kế hoạch thị xã Từ Sơn Error:
Reference source not found
2, Bảng 2: BÁO CÁO QUYÊT TOÁN THU NGÂN SÁCH NĂM 2008 Error:
Reference source not found
3, Bảng 3: Tình hình chi ngân sách thị xã Từ sơn giai đoạn 2005-2007 84


4, Bảng 4: QUYẾT TOÁN CHI NGÂN SÁCH CẤP THỊ XÃ TỪ SƠN NĂM 2008
(HĐND thị xã giao)

Error: Reference source not found
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
2
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NSNN : Ngân sách Nhà nước
NSĐP : Ngân sách địa phương
NS : Ngân sách
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
UBND : Ủy ban nhân dân
HĐND : Hội đồng nhân dân
KH : Kế hoạch
CSXH : Chính sách xã hội
GD – ĐT : Giáo dục – đào tạo
KHCN : Khoa học công nghệ
TDTT : Thể dục thể thao
XDCB : Xây dựng cơ bản
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
3
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Sau khi chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế Thế Giới năm 2008, hiện nay tất
cả các nước trên thế giới đều đang cố gắng đưa đất nước mình thoát khỏi khủng
hoảng và cùng với đó là sự phát triển đi lên của nền kinh tế. Để khôi phục lại một
nền kinh tế tăng trưởng cao, ổn định cần phải có các biện pháp và chính sách phù
hợp với từng quốc gia, trong đó đặc biệt phải kể tới các gói kích cầu mà chính phủ

các nước đưa ra. Khi đó ngân sách nhà nước với ý nghĩa là nội lực tài chính một
mặt giúp Nhà nước trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế, mặt khác vừa là
công cụ hữu hiệu để Nhà nước đưa ra các chính sách kích cầu hợp lý, kịp thời. Một
nước có nguồn lực ngân sách mạnh mẽ sẽ giúp chính phủ tốt hơn trong thực hiện
các hoạt động liên quan tới chức năng, nhiệm vụ của mình. Vì vậy ngân sách nhà
nước là một nhân tố vô cùng quan trọng cần được quản lý tốt nhằm tạo động lực
tiền đề cho sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và giữ vững an ninh – quốc phòng.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, đồng
thời thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nhằm hướng tới một nền
công nghiệp hiện đại. Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, công tác quản lý
ngân sách cũng có nhiều thay đổi phù hợp hơn. Việc phân cấp quản lý ngân sách đã
ngày càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho các chính quyền địa phương chủ động
hơn trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ công tác của mình.
Ngân sách huyện, thị xã có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại
và hoạt động của chính quyền huyện, thị xã và các cấp chính quyền cơ sở, đồng thời
là một công cụ để chính quyền cấp huyện, thị xã thực hiện quản lý toàn diện các
hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên, ngân sách cấp huyện, thị xã vẫn
chưa thể hiện được vai trò của mình đối với kinh tế địa phương. Việc thực thi phân
cấp ngân sách Nhà nước trên thực tế còn nhiều vướng mắc và không ít hạn chế.
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
4
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Mặc dù địa phương được trao quyền quản lý ngân sách nhiều hơn, song hầu hết địa
phương vẫn phụ thuộc nhiều vào các quyết định từ Trung Ương. Do vậy để chính
quyền thị xã thực thi được hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước
giao cho trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế Nhà nước, kinh tế địa
phương trên các lĩnh vực đặc biệt là nông nghiệp nông thôn tại địa bàn thì cần có
một ngân sách đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực và cấp bách nhất. Đó là
một mục tiêu phấn đấu đối với cấp thị xã. Vì thế cần thiết phải làm tốt công tác
phân cấp quản lý ngân sách cấp thị xã một cách hiệu quả để nó thực sự là một ngân

sách mạnh tạo điều kiện chủ động cho chính quyền địa phương thực hiện chức năng
nhiệm vụ của mình.
Trong thời gian thực tập tại phòng Kế hoạch – Tài chính thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh, với những kiến thức đã được học cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo:
TS.Vũ Thị Tuyết Mai và các cán bộ phòng kế hoạch – tài chính thị xã đã hướng dẫn
em về việc tìm hiểu và phân tích tình hình phân cấp quản lý ngân sách huyện, thị
xã. Do đó em đã lựa chọn đề tài: “Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp
thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Với đề tài mình đã chọn, em xin đưa ra mục tiêu nghiên cứu của mình. Đó là
khảo sát đánh giá phân cấp quản lý ngân sách trên đại bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh, từ đó đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện
phân cấp quản lý ngân sách cho thị xã trong giai đoạn tới.
- Về mặt lý luận: trên cơ sở hệ thống các lý luận về ngân sách để làm rõ vấn
đề phân cấp quản lý ngân sách thị xã. Với các khái niệm về ngân sách nhà nước và
vai trò của ngân sách nhà nước; phân cấp ngân sách nhà nước của nước ta hiện nay.
- Về mặt thực tiễn: đề ra các giải pháp nhằm tăng cường phân cấp quản lý
ngân sách cho thị xã Từ Sơn phù hợp với nhiệm vụ quản lý ngân sách cấp thị xã
cũng như nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
3. Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Về không gian: thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Về thời gian: thu thập số liệu từ năm 2005 – 2008.
4. Câu hỏi nghiên cứu:
Thế nào là phân cấp quản lý ngân sách?
Tại sao phải phân cấp quản lý ngân sách?
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
5
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Thực trạng quản lý ngân sách thị xã Từ Sơn giai đoạn 2006 – 2008 như thế nào?

Giải pháp nào nhằm tăng cường phân cấp quản lý ngân sách trên địa bàn thị xã?
5. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, khảo sát, phân tích, so sánh…
6. Bố cục chuyên đề:
Chuyên đề thực tập này được chia thành 3 phần:
Phần I: Một số lý luận về phân cấp quản lý ngân sách cấp thị xã.
Phần II: Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Phần III: Giải pháp tăng cường phân cấp quản lý ngân sách thị xã.
Qua việc nghiên cứu đề tài, em đã thu nhận được nhiều kiến thức mới về phân
cấp quản lý ngân sách nói chung và ngân sách thị xã nói riêng cả về mặt lý luận và
thực tiễn. Tuy nhiên do kinh nghiệm thực tế còn hạn chế và thời gian hạn hẹp cho
nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em kính mong cô góp
ý, bổ sung cho em để chuyên đề của em được hoàn thiện và phong phú hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
6
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÂN
CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP THỊ XÃ
I. Ngân sách Nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
1. Ngân sách Nhà nước và vai trò của ngân sách Nhà nước
1.1. Khái niệm
Sự xuất hiện của Nhà nước và sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa đã là tiền đề
cho sự ra đời của NSNN. Cho đến nay, thuật ngữ “ngân sách Nhà nước” được sử
dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về
NSNN lại chưa thống nhất. Trên thực tế người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về
NSNN không giống nhau tùy theo quan điểm của mỗi người định nghĩa thuộc các
trường phái kinh tế khác nhau hoặc tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì NSNN là một văn
kiện tài chính trong đó mô tả các khoản thu và chi của Chính phủ được thiết lập

hàng năm.
Theo các nhà kinh tế học hiện đại thì đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
NSNN. Cụ thể như:
Các nhà kinh tế Pháp đưa ra quan điểm “NSNN là văn kiện được Nghị viện hoặc
hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó các nghiệp vụ tài chính của một tổ
chức công hoặc khu vực tư được dự kiến và cho phép”.
Các nhà kinh tế Trung Quốc lại cho rằng: “NSNN là kế hoạch thu – chi tài chính
hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”. Còn ở Nga
“NSNN là bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định
của quốc gia”.
Đối với Việt Nam, theo giáo trình lý thuyết tài chính đã định nghĩa“NSNN là
phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của
các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của
nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối
các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”.
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
7
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Hay “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy động
cho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó nhằm đảm bảo thực hiện chức
năng của nhà nước do hiến pháp quy định” – giáo trình quản lý tài chính công.
Theo giáo trình quản lý tài chính nhà nước lại viết: NSNN là một phạm trù kinh
tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hóa – tiền
tệ. Nói một cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa tiền tệ
là những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh và tồn tại của NSNN. NSNN là chỉ
các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước được thể chế hóa bằng pháp luật thực
hiền quyền luật pháp về NSNN còn quyền hành pháp giao cho chính phủ thực hiện.
Có thể nói đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN do cách tiếp cận và
nhìn nhận vai trò cũng như tác dụng của NSNN trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Song chung quy lại chúng ta thống nhất sử dụng định nghĩa NSNN theo luật NSNN

hiện hành như sau:
Theo điều 1 luật NSNN đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002
định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo
thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”. NSNN bao gồm ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các
Bộ, cơ quan ngang Bộ thuộc chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân
sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Như vậy có thể nói NSNN là một bảng dự toán bằng tiền các hoạt động thu và
chi của Nhà nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Trong đó có 2
khoản mục thu, chi được Quốc hội phê chuẩn.
Thứ nhất: đứng trên phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền
Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về
mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã
hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành
nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của
mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách
mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Theo
Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm: - Thuế, phí, lệ phí
do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; - Các khoản thu từ hoạt
động kinh tế của Nhà nước; - Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; -
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
8
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Các khoản viện trợ; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Cần lưu ý là
không tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trả như vay nợ và
viện trợ có hoàn lại.
Thứ hai chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước sao
cho hợp lý để thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ nhằm khuyến khích phát triển

kinh tế xã hội và đạt các mục tiêu quản lý của Nhà nước. Thực chất của nó là việc
cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chính phủ. Theo chức
năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm các khoản chi cho các hoạt động kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng như chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng,
chi bảo đảm xã hội.
Như vậy, hoạt động của NSNN chính là việc tạo nguồn thu và sử dụng nguồn
thu đó cho các hoạt động chi từ quỹ tiền tệ quốc gia, làm cho nguồn tài chính vận
động giữa một là chủ thể Nhà nước và một bên là các chủ thể kinh tế - xã hội khác
trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị. Trong quá
trình phân phối này làm xuất hiện các mối quan hệ tài chính bao gồm:
• Quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các chủ thể doanh nghiệp hoạt động sản
xuất kinh doanh.
• Quan hệ kinh tế NSNN với các hộ gia đình và dân cư.
• Quan hệ tài chính giữa NSNN và các đơn vị quản lý Nhà nước nằm trong
lĩnh vực sự nghiệp văn hóa xã hội, hành chính và an ninh quốc phòng.
• Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính.
Với các hoạt động và mối quan hệ đó chức năng của NSNN là công cụ để thực
hiện huy động và phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội. Đằng sau hoạt động thu
chi ngân sách bằng tiền là sự thể hiện quá trình phân bổ các yếu tố đầu vào cho quá
trình sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, NSNN là bộ phận tài chính của Nhà nước nên nó có chức năng
phân phối và chức năng giám đốc. Trong nền kinh tế thị trường việc phân bổ nguồn
lực được thực hiện chủ yếu trên hai kênh: kênh của lực lượng thị trường và kênh
của Nhà nước thông qua hoạt động thu chi của tài chính Nhà nước nói chung và
NSNN nói riêng, từ đó NSNN còn thể hiện chức năng điều chỉnh kinh tế - xã hội
thông qua các công cụ của nó.
1.2. Vai trò của ngân sách Nhà nước
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
9
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển

NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản
xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Do đó, NSNN
có vai trò vô cùng quan trọng nhất là trong cơ chế thị trường đầy biến động ngày
nay, nó được thể hiện cụ thể trên các khía cạnh cơ bản sau:
• Vai trò của NSNN trong việc điều tiết quản lý nền kinh tế, thúc đẩy phát
triển kinh tế
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi
vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo
điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Đồng thời tạo hành lang,
môi trường thuận lợi nhằm kích thích, tạo động lực cho phát triển hay ở việc gây
sức ép cản trở để hạn chế bớt những ảnh hưởng có hại. Nhà nước thực hiện chính
sách thuế để vừa kích thích lại vừa gây sức ép. Hoặc tạo điều kiện thuận lợi trên các
mặt tài chính để khuyến khích các thành phần kinh tế có doanh lợi trong đầu tư phát
triển. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế,
ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc
hạn chế sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí
đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then
chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng
của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh
nghiệp). Các khoản chi từ NSNN này nhằm phân bổ có hiệu quả các nguồn lực vào
các lĩnh vực then chốt, các lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa có điều kiện hoặc
không dám đầu tư vào…
Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các DNNN là một trong những biện pháp
căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh
không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách
cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm
bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý
hơn.

• Vai trò của NSNN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội
Nhà nước thực hiện phân phối tổng sản phẩm xã hội, ổn định và phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho ổn định chính trị đều phải thông
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
10
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
qua NSNN, từ đó đảm bảo các nhu cầu và điều kiện nhằm không ngừng hoàn thiện
bộ máy Nhà nước, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ và phát triển những thành
tựu đã đạt được trong sự nghiệp cách mạng.
Các khoản chi từ NSNN nhằm tiến tới các mục đích xã hội to lớn như trợ cấp
cho người nghèo, trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có
hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá
cho các mặt hàng thiết yếu, chi cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, chi cho
các mục tiêu quốc gia như kế hoạch hóa dân số, nước sạch, hỗ trợ đồng bào bão
lụt… nhằm tiến tới một xã hội văn minh và bình đẳng.
• Vai trò của NSNN trong việc góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát,
bình ổn giá cả thị trường
Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính
chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất
nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái
phiếu và chi tiêu của chính phủ. Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương
với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế
và chi tiêu của chính phủ.
2. Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
2.1. Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của
Chính quyền Nhà nước các cấp trong việc điều hành và quản lý NSNN, nhằm tập
trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách các nguồn thu của Nhà nước và phân phối,
sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chế độ pháp lý về phân cấp quản

lý NSNN là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phân định
quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực
NSNN và các quan hệ xã hội phát sinh trong qúa trình thực hiện việc phân giao
nguồn thu và chi của ngân sách các cấp. Do đó chế độ phân cấp quản lý ngân sách
cho địa phương phải thể hiện được các yêu cầu sau:
Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm quyền quyết định của Quốc
hội và sự điều hành thống nhất của Hội đồng Bộ trưởng đối với toàn bộ ngân sách
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
11
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Nhà nước; đề cao trách nhiệm, quyền chủ động, sáng tạo và khuyến khích thoả đáng
đối với chính quyền địa phương trong việc quản lý chặt chẽ, tăng thu và tiết kiệm
chi cho ngân sách Nhà nước.
Bảo đảm tính thống nhất của nền tài chính quốc gia. Uỷ ban Nhân dân các cấp
có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện
nghĩa vụ thu nộp ngân sách Nhà nước của các đơn vị kinh tế quốc doanh, kinh tế
tập thể, cá thể và tư nhân trên địa bàn; đồng thời, thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách
theo kế hoạch, chính sách, chế độ tài chính thống nhất do Trung ương quy định với
hiệu quả cao. Mọi khoản thu, chi của Nhà nước đều phải được phản ánh đầy đủ, kịp
thời, trung thực vào NSNN.
Chính quyền Nhà nước các cấp phải coi việc quản lý chặt chẽ NSNN là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu để chống lạm phát, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
trong giai đoạn hiện nay. Các ngành, các cấp cần phát huy tinh thần chủ động, sáng
tạo và trách nhiệm cao trong việc khai thác mọi tiềm năng của ngành và của địa
phương để phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo kế hoạch của Nhà
nước, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, góp phần vào việc tăng thu, triệt để
tiết kiệm chi, sớm tiến tới thăng bằng thu - chi NSNN.
Như vậy, quản lý Nhà nước về ngân sách là một trong những nội dung quan
trọng của công tác quản lý Nhà nước. Đó là sự tác động, điều chỉnh của Nhà nước

vào các quan hệ phát sinh trong việc quản lý và sử dụng NSNN thông qua các công
cụ pháp luật, chính sách nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực
tài chính quốc gia. Trong thời điểm hiện nay, Nhà nước ta đã và đang tiến hành cải
cách, đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy Nhà nước, chúng ta đã thu được nhiều
thành tựu rất có ý nghĩa nhưng hiện tượng vi phạm pháp luật, nạn tham nhũng và sử
dụng lãng phí nguồn NSNN còn khá phổ biến, rất nhiều bất cập tồn tại trong công
tác quản lý và sử dụng NSNN. Do đó, phân cấp quản lý Nhà nước về ngân sách
trong giai đoạn hiện nay là tất yếu để khắc phục những biểu hiện tiêu cực trên.
• Phân cấp quản lý NSNN nhằm đảm bảo cho việc tương thích giữa thẩm
quyền và trách nhiệm, giữa tổ chức bộ máy với việc cung cấp các nguồn lực và điều
kiện hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước, như vậy sẽ góp phần đảm bảo
hiệu lực và từng bước nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước.
• Phân cấp quản lý NSNN làm tăng quyền chủ động, tăng sự linh hoạt, khắc
phục sự thụ động, trông chờ và cơ chế xin cho trong hoạt động quản lý Nhà nước
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
12
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
của cấp chính quyền, của cơ quan Nhà nước cấp dưới đồng thời tạo điều kiện để các
cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương tập trung vào thực hiện chức năng chỉ đạo,
điều hành, xây dựng và hoạch định các kế hoạch, chính sách, pháp luật cũng như
vạch ra chiến lược quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
• Phân cấp quản lý NSNN tạo điều kiện tăng cường kiểm tra, thanh tra công
tác quản lý Nhà nước về ngân sách đối với hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước các
cấp từ đó góp phần làm lành mạnh, minh bạch nền tài chính Quốc gia.
• Phân cấp quản lý NSNN sẽ giúp cho việc xác định một cách rõ ràng thẩm
quyền và trách nhiệm giữa các cấp quản lý Nhà nước về ngân sách, đảm bảo giải
quyết kịp thời các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về ngân sách.
• Phân cấp quản lý NSNN góp phần quan trọng tạo môi trường đầu tư sản xuất
– kinh doanh, dịch vụ phát triển nền kinh tế trong điều kiện Việt Nam đã trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức thương mại WTO và ngày càng hội nhập sâu

rộng vào nền kinh tế quốc tế.
Với những tác dụng to lớn trên việc phân cấp quản lý NSNN thực sự là rất cần
thiết, đó là một phương pháp tốt để Nhà nước ta quản lý và sử dụng có hiệu quả và
tiết kiệm nguồn tài chính quốc gia. Đặc biệt đây chính là yêu cầu khách quan, tất
yếu trong lộ trình xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, từng bước
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2.2. Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là một công việc cấp thiết nhằm tăng tính chủ động,
sáng tạo cho các cấp địa phương trong công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã
hội. Do đó việc phân cấp NSNN cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
• Bảo đảm đúng quy định của Luật NSNN. Do việc phân cấp quản lý NSNN
đã được đưa vào Luật NSNN năm 1996 (được sửa đổi năm 2002) vì vậy để thực
hiện phân cấp NSNN cho trung ương và địa phương, cũng như đối với các cấp
chính quyền địa phương đều phải tuân thủ theo các quy định trong luật và các văn
bản hướng dẫn thi hành của cấp trên.
• Phân cấp tối đa các nguồn thu nhằm tăng quyền chủ động trong quá trình
quản lý và điều hành ngân sách phục vụ cho nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các cấp
chính quyền, nhất là cấp cơ sở, từ đó giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách cấp trên
(số trợ cấp từ ngân sách cấp trên). Kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
13
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
những tồn tại của việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ % phân chia các
nguồn thu giữa các cấp ngân sách trong thời gian qua.
• Đảm bảo nguyên tắc phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh và nhất là phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư từng vùng,
năng lực của đội ngũ các bộ để đạt được hiệu quả tốt nhất.
• Phân cấp nhiệm vụ chi bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội của các cấp
chính quyền.

• Không phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho các cấp ngân sách. Với
mỗi khoản thu thì phải được phân cấp theo tỷ lệ rõ ràng nhưng tùy theo điều kiện
hoàn cảnh kinh tế xã hội của địa phương để áp dụng tỷ lệ phân chia tránh trường
hợp phân nhỏ các nguồn thu mà trái lại nên khuyến khích giao các khoản thu 100%
cho cấp dưới.
2.3. Nội dung phân cấp quản lý NSNN
Hệ thống Nhà nước bao gồm nhiều cấp chính quyền trong đó NSNN được coi là
phương tiện vật chất chủ yếu để mỗi cấp chính quyền thực hiện các nhiệm vụ, chức
năng theo Hiến định và theo Luật định. Vì vậy phân cấp quản lý NSNN chính là sự
giải quyết các mối quan hệ về ngân sách giữa chính phủ trung ương và chính quyền
địa phương thông qua các mặt chủ yếu sau.
• Trước hết phải kể đến thẩm quyền NSNN. Phân định quyền hạn, trách nhiệm
của Chính phủ và chính quyền địa phương trong các vấn đề chủ yếu thuộc về
NSNN bao gồm: quyết định dự toán ngân sách, phân bổ dự toán ngân sách, phê
chuẩn quyết toán ngân sách, điều chỉnh dự toán ngân sách, ban hành chế độ, tiêu
chuẩn và định mức về NSNN.
• Tiếp theo là việc phân định nội dung cụ thể về từng nguồn thu, nhiệm vụ chi
giữa các NSNN. Cụ thể thực hiện phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương về nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN. Đó là xác định ngân sách
trung ương được thu những khoản gì và phải chi những khoản gì; ngân sách tỉnh,
ngân sách xã, ngân sách huyện được thu những khoản nào và phải chi những khoản
gì.
• Cuối cùng là việc quy định mối quan hệ giữa các cấp NSNN. Đó là quy định
các nguyên tắc về chuyển giao ngân sách của cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại.
Đây là một vấn đề cốt lõi của quá trình phân cấp NSNN vì thông qua số lượng, quy
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
14
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
mô cũng như cơ cấu chuyển giao giữa các cấp, người ta có thể đánh giá mức độ độc
lập và đi liền với nó là quyền tự chủ của ngân sách mỗi cấp trong hệ thống NSNN.

2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý NSNN chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, trong đó phải kể
đến các nhân tố cơ bản sau:
• Hình thức cấu trúc Nhà nước
Hình thức cấu trúc Nhà nước chính là sự phân chia cấu tạo Nhà nước thành các
đơn vị hành chính lãnh thổ từ đó xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ
quan Nhà nước với nhau và giữa các cơ quan Nhà nước trung ương với cơ quan
chính quyền địa phương. Với mỗi hình tức cấu trúc Nhà nước khác nhau thì tương
ứng với nó bộ máy Nhà nước cũng được phân chia thành từng cấp và được giao
nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong quản lý kinh tế - xã hội khác nhau.
Hiện nay trên Thế giới có hai hình thức cấu trúc Nhà nước chủ yếu đó là: Nhà
nước liên bang và Nhà nước đơn nhất (phi liên bang). Với Nhà nước liên bang tiêu
biểu như Đức, Mỹ, Canada… Đây là kiểu Nhà nước có từ hai hay nhiều thành viên
hợp lại, cơ quan quyền lực và cơ quan quản lý được tổ chức thành hai hệ thống
trong đó một hệ thống chung cho toàn bang và một hệ thống riêng của từng thành
viên. Đối với những nước này thì hệ thống NSNN được tổ chức thành ba cấp bao
gồm ngân sách liên bang, ngân sách các bang và ngân sách của các cấp địa phương
trực thuộc bang. Còn với kiểu Nhà nước đơn nhất như ở Pháp, Anh, Nhật… Theo
hình thức cấu trúc này thì Nhà nước có chủ quyền chung, cơ quan quyền lực và cơ
quan quản lý được thống nhất từ trung ương đến địa phương, tập trung quyền lực
cao ở cấp trung ương. Tương ứng với kiểu Nhà nước này thì hệ thống NSNN lại
bao gồm hai cấp là ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Trong đó mức
độ và giới hạn phần lớn tập trung cao ở ngân sách trung ương.
Như vậy có thể thấy rõ rằng đối với mỗi hình thức cấu trúc Nhà nước khác nhau
thì cách phân cấp và quản lý hành chính Nhà nước cũng khác nhau và kéo theo là
khác nhau trong phân cấp quản lý NSNN.
• Đặc điểm tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng vùng lãnh
thổ
Đây là những nhân tố ảnh hưởng rất nhiều tới việc phân cấp quản lý hành chính
Nhà nước. Với vùng hải đảo, vùng biên giới, vùng miền núi hay đồng bằng thì cách

quản lý hành chính đều khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, trình độ
dân trí của từng vùng. Bên cạnh sự khác biệt về điều kiện tự nhiên thì khác biệt về
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
15
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
trình độ kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến quản lý Nhà nước như sự khác biệt
giữa thành thị và nông thôn. Các yếu tố này hình thành nên sự phân cấp mang tính
đặc thù vì vậy tất yếu sẽ có sự phân cấp quản lý NSNN đặc biệt là trong phân cấp
quản lý NSNN về phận định nguồn thu, nhiệm vụ chi.
• Nhiệm vụ cung cấp hàng hóa công cộng
Cung cấp hàng hóa công cộng là một chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan
trọng của Nhà nước mà không thể ai thay thế được. Để việc cung cấp hàng hóa
công cộng, dịch vụ công cộng có hiệu quả nhất và đáp ứng được nhu cầu của nhân
dân thì cần phải được giao cho các cấp chính quyền thực hiện. Những hàng hóa,
dịch vụ này cần có nguồn vốn lớn, khả năng quản lý cao và mang tính chất quan
trọng như an ninh, quốc phòng… thường do chính quyền Nhà nước trung ương đảm
bảo, còn những hàng hóa mang tính phổ biến hơn thường giao cho chính quyền địa
phương thực hiện, đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả theo tình hình mỗi địa
phương. Mặt khác chính việc phân cấp trong cung ứng hành hóa và dịch vụ công
cộng chính là tiền đề để phân định rõ nhiệm vụ thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp,
từng địa phương thực hiện. Chính điều đó ảnh hưởng đến việc phân cấp quản lý
NSNN.
• Trình độ tổ chức và mức độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội
Việc phân cấp quản lý NSNN phải đi liền với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội
khác. Ở các cấp chính quyền khác nhau về trình độ tổ chức quản lý thì sự phân
công, phân cấp quản lý NSNN cũng phải khác nhau nhằm đảm bảo sử dụng hiệu
quả nhất nguồn NSNN.
3. Hệ thống ngân sách Nhà nước hiện nay
Hệ thống các cấp NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau
và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

thu – chi của từng cấp ngân sách.
Ở Việt Nam hiện nay, tổ chức hệ thống NSNN luôn gắn liền với tổ chức bộ máy
Nhà nước và vai trò của bộ máy đó trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
trên cơ sở Hiến pháp pháp luật. Phù hợp với mô hình chính quyền Nhà nước ta thì
hệ thống NSNN theo luật định cũng bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách
địa phương.
Trong đó ngân sách địa phương bao gồm:
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
16
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
- Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (được gọi chung là
ngân sách tỉnh).
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là
ngân sách huyện).
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã).
Sơ đồ 1: Hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước
Trong hệ thống NSNN của nước ta hiện nay thì ngân sách trung ương chi phối
phần lớn các khoản thu và chi quan trọng. Còn ngân sách địa phương được giao
nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương. Mỗi cấp chính
quyền có một phân cấp ngân sách riến nhằm cung cấp phương tiện vật chất cho
chính quyền đó hoạt động và thực hiện các chức năng của mình trên từng vùng lãnh
thổ. Quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống NSNN luôn tuân thủ các
nguyên tắc:
• NSNN tại Việt Nam hiện nay đã thực hiện phân định nguồn thu và nhiệm vụ
chi cụ thể cho ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Thực hiện phân chia
theo tỷ lệ phần trăm cho các khoản thu giữa các cấp ngân sách. Tỷ lệ phần trăm
phân chia các khoản thu và số bổ sung từ cấp trên cho cấp đưới ổn định trong vòng
3 – 5 năm gọi chung là thời kỳ ổn định ngân sách. Chính phủ trình Quốc hội thời kỳ
ổn định ngân sách giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương còn UBND
cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa các cấp

ngân sách địa phương. Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được phép
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
Ngân sách Nhà nước
Ngân sách địa phương
Ngân sách cấp tỉnh
Ngân sách cấp huyện
Ngân sách cấp xã
Ngân sách trung ương
17
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
sử dụng nguồn tăng thu cho ngân sách địa phương – phần mà ngân sách được
hưởng, để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội cần thiết trên địa bàn quản
lý của mình. Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách phải tăng khả năng tự cân đối đồng
thời phát triển ngân sách địa phương và thực hiện giảm dần số lượng bổ sung của
cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết cho cấp trên.
• Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo. Trong
trường hợp cần ban hành chính sách hoặc chế độ mới làm tăng các khoản chi ngân
sách sau khi dự toán thì phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả
năng cân đối của ngân sách từng cấp. Nếu cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy
quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải
chuyển kinh phí cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi đó.
• Thực hiện bổ sung ngân sách cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo công bằng,
phát triển cân đối giữa các vùng miền và các địa phương. Số bổ sung này là khoản
thu ngân sách cấp dưới.
• UBND các cấp được sử dụng nguồn ngân sách của mình để hỗ trợ cho các
đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường hợp: khi xảy ra thiên
tai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huy động
nguồn lực để đảm bảo ổn định tình hình kinh tế - xã hội.
Đặc biệt chú ý là ngoài việc bổ sung nguồn thu và thực hiện quyền nhiệm vụ chi
thì không được dùng ngân sách cấp này để chi cho ngân sách cấp khác.

II. Ngân sách thị xã và quản lý ngân sách thị xã
1. Ngân sách thị xã
1.1. Khái quát về ngân sách thị xã
Ngày 15/05/1978, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 108/CP xác định
quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp quận, huyện, thị xã về
quản lý tài chính ngân sách nhằm xây dựng quận, huyện, thị xã thành một cấp có cơ
cấu kinh tế hoàn chỉnh.
Đến ngày 19/11/1983, Hội đồng Bộ trưởng lại ra Nghị quyết số 138/HĐBT về
cải tiến phân cấp ngân sách địa phương nói rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm của
ngân sách quận, huyện, thị xã.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước ta tiến hành chuyển đổi mô hình kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, cùng với công cuộc đổi mới và tiến hành thực hiện công nghiệp hóa – hiện
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
18
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
đại hóa đất nước, ngân sách cấp thị xã xũng được xác định lại vai trò và nhiệm vụ
của mình. Ngày 27/11/1989 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị quyết số 186/HĐBT về
phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có ngân sách cấp thị xã. Tiếp đến
tại kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa IX đã khẳng định: Ngân sách quận – huyện – thị
xã là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên
phạm vi địa bàn quận, huyện, thị xã.
Như vậy, ngân sách cấp thị xã mang bản chất của NSNN, đó chính là các mối
quan hệ giữa các cấp ngân sách thị xã với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn trong
quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực cho thị xã và mối quan hệ đó được điều
chỉnh cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
1.2. Vai trò của ngân sách cấp thị xã
Ngân sách cấp thị xã cũng giống như ngân sách các cấp khác có vai trò quan
trọng đảm bảo chức năng Nhà nước, an ninh, quốc phòng, ổn định kinh tế thúc đẩy
phát triển đồng thời tạo ra công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Để hiểu rõ hơn

vai trò của nó ta có thể xét trên 3 khía cạnh:
• Ngân sách thị xã bảo đảm thực hiện vai trò Nhà nước, bảo vệ quốc phòng và
an ninh trật tự cấp thị xã
Là một cấp chính quyền nên thị xã cũng phải tổ chức ra cho mình một hệ thống
các cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng và quyền hạn Nhà
nước giao phó. Vậy để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động được cần phải có
một quỹ tài chính tập trung cho nó – đó chính là ngân sách cấp thị xã. Ngân sách
này tạo điều kiện cho thị xã chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhà nước ở
địa phương. Tùy theo phạm vị địa lý và tình hình kinh tế - xã hội trên từng thị xã
mà nhu cầu về ngân sách là khác nhau.
Trong các chức năng của Nhà nước, chức năng đảm bảo quốc phòng an ninh trật
tự, an toàn xã hội, đóng vai trò đặc biệt quan trọng do đó cũng rất cần có nguồn vốn
lớn. Để đảm bảo cho chức năng đặc biệt này, ngân sách thị xã cần phải có kế hoạch
cụ thể, chi tiết và có các khoản dự phòng hợp lý.
• Ngân sách thị xã là phương tiện bù đắp khuyết tật của thị trường, đảm bảo
công bằng xã hội.
Đây là vai trò không thể thiếu đối với ngân sách mỗi quốc gia. Khi hội nhập
càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tác động của nền kinh tế thị trường sẽ gây ra
nhiều mặt trái khó có thể lường trước được như: thất nghiệp, hố ngăn cách giàu
nghèo tăng, lừa đảo, chiếm đoạt, không quan tâm tới sức khỏe cho người già và trẻ
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
19
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
nhỏ, môi trường bị ô nhiễm nặng nề… Những điều đó tạo ra rất nhiều thách thức,
khó khăn cho nước ta. Do đó không chỉ cấp trung ương mà cả cấp thị xã luôn phải
theo dõi các báo cáo tổng hợp từ cấp phường để có biên pháp kịp thời giải quyết.
Bên cạnh việc quan tâm đến đời sống vật chất cho người lao động, thị xã phải
thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúng, cải tạo các
sân chơi, phương tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ. Cơ sở hạ tầng được nâng cấp, các
dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế phải giảm được chi phi cho người dân làm sao

để ai cũng được học hành và chăm sóc sức khỏe tốt. Muốn vậy luôn cần phải có
ngân sách thị xã và nguồn ngân sách phải dồi dào, đầy đủ.
• Ngân sách thị xã là công cụ thúc đẩy, phát triển và ổn định kinh tế
Nhằm thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính do Nhà nước đề ra, cấp thị xã
cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng theo đường
lối, chính sách chung mà cấp trung ương, cấp tỉnh đề ra. Sẽ không thể có một cơ cấu
kinh tế ổn định, phát triển nếu không có ngân sách làm công cụ. Vì vậy, các thị xã
cũng như các quận, huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình để định
hướng, hình thành cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và
kích thích phát triển. Đồng thời các thị xã phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư hỗ trỡ
về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trên địa bàn hoạt
động. Do đó, ngân sách thị xã là rất cần thiết.
2. Nguyên tắc quản lý ngân sách thị xã
Ngân sách thị xã chính là một cấp trong ngân sách địa phương và mang bản chất
của NSNN do đó quản lý ngân sách thị xã cũng cần phải tuân thủ theo các nguyên
tắc quản lý NSNN. Cụ thể đó là
• Nguyên tắc rõ ràng, trung thực, chính xác
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý NSNN. Nguyên
tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình
hoạt động của chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh đầy
đủ qua việc thực hiện chính sách tài chính địa phương. Nội dung cơ bản của nó bao
hàm việc tất cả mọi khoản thu, chi phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch NSNN, mọi
khoản chi phải được vào sổ và quyết toán rành mạch. Chỉ có kế hoạch ngân sách
đầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh
bạch của các tài khoản thu, chi. Nguyên tắc này đòi hỏi NSNN phải được xây dựng
rành mạch, có hệ thống. Các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
20
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
xác và phải đưa vào kế hoạch ngân sách, không được che đậy và bào chữa đối với

tất cả các khoản thu chi NSNN, không được phép lập quỹ đen hay ngân sách phụ.
• Nguyên tắc công khai minh bạch
Về mặt chính sách, thu chi NSNN là một chương trình hoạt động của Chính phủ
được cụ thể hóa bằng số liệu. NSNN luôn phải được quản lý công khai, được minh
bạch để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm. Do đó tại mỗi thị xã, mỗi vùng
đều quán triệt tinh thần “Dân biết, dân làm, dân kiểm tra”. Nguyên tắc công khai
này được thể hiện trong suốt chu trình NSNN và phải được áp dụng cho tất cả các
cơ quan tham gia vào chu trình NSNN.
• Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách
Nguyên tắc này bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà
nước. Biểu hiện cụ thể thông qua hoạt động thu – chi của NSNN. Mọi khoản thu –
chi của NSNN phải tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN và phải được dự
toán hàng năm và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Tất cả các khâu trong
chu trình NSNN khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của cơ
quan quyền lực Nhà nước
Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế - xã hội
của thị xã. Hoạt động kinh tế - xã hội của thị xã là nền tảng của hoạt động NSNN
cấp thị xã. Bên cạnh đó hoạt động NSNN lại phục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội,
đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế - xã
hội.
• Nguyên tắc cân đối
Cân đối ngân sách bao giờ cũng là một đòi hỏi quan trọng. Nguyên tắc này chỉ
ra rằng các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp.
UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn NSNN bằng cách đưa ra
các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản
chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền
kinh tế có khả năng đáp ứng.
3. Nội dung quản lý ngân sách thị xã
3.1. Quản lý lập dự toán ngân sách
Quản lý quá trình lập dự toán ngân sách chính là quản lý các quy trình lập dự

toán có theo đúng luật ngân sách hay không, đồng thời kiểm tra chất lượng bản dự
toán ngân sách có phù hợp với các yêu cầu và quy định không. Để lập một bản dự
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
21
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
toán ngân sách hoàn chỉnh cần phải dựa trên những căn cứ và các yêu cầu nhất
định.
• Căn cứ để lập bản dự toán ngân sách thị xã
Lập dự toán NSNN phải dựa trên nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội,
đảm bảo an ninh, quốc phòng của Đảng và chính quyền địa phương trong năm kế
hoạch và những năm tiếp theo; dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thị
xã trong năm kế hoạch. Đây vừa là các cơ sở, căn cứ để đảm bảo nguồn thu cho
NSNN, vừa là nơi sử dụng các khoản chi tiêu của NSNN.
Lập dự toán NSNN phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực
hiện kế hoạch ngân sách của các năm trước đó, đặc biệt là năm báo cáo.
Lập dự toán ngân sách luôn phải căn cứ vào các chính sách, chế độ, định mức cụ
thể về thu, chi tài chính Nhà nước. Do lập dự toán NSNN là xây dựng các chỉ tiêu
thu, chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu này chỉ có thể xây dựng sát và đúng đặc biệt
phải tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính Nhà nước
thông quan hệ thống pháp luật và các văn bản pháp lý khác của Nhà nước.
• Yêu cầu của một bản dự toán ngân sách thị xã
Với các căn cứ kể trên thì yêu cầu của một bản dự toán ngân sách thị xã trước
hết phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, khi đó dự toán ngân sách mới
mang tính hiện thực và có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, tiền đề cho việc thực hiện tốt NSNN.
Dự toán ngân sách phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm
của chính sách tài chính thị xã trong thời kỳ tới và yêu cầu của Luật NSNN. Hoạt
động NSNN là nội dung cơ bản của chính sách tài chính do vậy, lập dự toán phải
thể hiện được đầy đủ và đứng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính
thị xã như: trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu; thứ tự và cơ cấu bố trí các nội

dung chi tiêu. Bên cạnh đó, NSNN hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu của
Luật NSNN nên ngay từ khâu lập dự toán ngân sách cũng phải thể hiện đầy đủ các
yêu cầu của Luật NSNN bao gồm: xác định phạm vi, mức độ của nội dung các
khoản thu, chi; thực hiện phân định thu, chi giữa các cấp ngân sách.
3.2. Chấp hành dự toán ngân sách
Đây là khâu quyết định đến sự ảnh hưởng của NSNN cấp thị xã đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Vì vậy công tác này rất quan trọng. luôn cần
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
22
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
phải bám sát vào dự toán để tổ chức quản lý việc chấp hành các khoản thu và khoản
chi trên địa bàn thị xã.
• Trong thu ngân sách
Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi
chung là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN. Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền
hạn là: phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật, chịu sự chỉ
đạo, kiểm tra của UBND thị xã và sự giám sát của HĐND thị xã về công tác thu
ngân sách trên địa bàn; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên tuyên truyền, vân động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa
vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật ngân sách và các quy định khác của Pháp
luật.
Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách
nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp
đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào NSNN.
• Trong chi ngân sách
Chi ngân sách gồm hai khoản mục lớn là chi thường xuyên và chi cho đầu tư
phát triển. Sau khi UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán tiến hành
phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc.
Chi ngân sách là công việc vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình phát triển kinh tế xã hội và có tác dụng lâu dài ở tầm vĩ mô. Vì vậy cần đánh

giá tính hiệu quả của chi ngân sách qua các chỉ tiêu, chỉ số bao gồm cả định tính và
định lượng. Điều đó sẽ giúp cho các nhà phân tích đúng đắn hơn, đánh giá chính
xác hơn tính hiệu quả của chi ngân sách và giúp chi ngân sách đúng dự toán, tiết
kiệm và đạt hiệu quả.
Nội dung cơ bản của chi thường xuyên ngân sách thị xã bao gồm: chi cho các
hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao, khoa học và
công nghệ, văn hóa xã hội; chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước,
chi cho hoạt động hành chính Nhà nước, chi cho quốc phòng – an ninh và trật tự an
toàn xã hội, chi khác.
Quản lý chi thường xuyên của ngân sách thị xã luôn phải tuân theo các nguyên
tắc: nguyên tắc quản lý theo dự toán, nguyên tắc hiệu quả, tiết kiệm, nguyên tắc chi
trực tiếp qua kho bạc Nhà nước.
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
23
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
Nội dung cơ bản của chi cho đầu tư phát triển lại dựa trên nguyên tắc quản lý
cấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản như cấp phát vốn trên cơ sở thực
hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệu thiết kế,
dự toán. Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế
hoạch. Cấp phát vốn đầu tư xây dựng này được thực hiện bằng hai phương pháp cấp
phát không hoàn trả và có hoàn trả. Nó chỉ được thực hiện theo đúng mức độ thực tế
hoàn thành kế hoạch và phải thực hiện giám đốc bằng tiền với việc sử dụng vốn
đúng mục đích có hiệu quả vốn đầu tư.
3.3. Quyết toán ngân sách
Thứ nhất, việc thực hiện quyết toán ngân sách trước hết là quản lý về số liệu
quyết toán NSNN có đảm bảo các quy định sau hay không
- Số quyết toán thu NSNN là số thu đã được thực nộp hoặc hạch toán thu
NSNN qua Kho bạc Nhà nước. Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh
toán hoặc đã thanh toán chi theo quy định.
- Kho bạc Nhà nước cấp thị xã có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán

gửi phòng tài chính – Kế hoạch thị xã để lập báo cáo quyết toán. Kho bạc xác nhân
số liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toán của ngân sách các cấp, đơn vị sử
dụng
- Ngân sách cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí ủy quyền
của ngân sách cấp trên và báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình. Cuối năm phòng
tài chính – kế hoạch được ủy quyền lập báo cáo quyết toán kinh phí ủy quyền theo
quy định gửi Sở tài chính.
Thứ hai, quản lý việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản thì hết năm kế
hoạch, chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư năm theo biểu mẫu quy định
trong chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị chủ đầu tư. Nội dung báo cáo quyết toán
vốn đầu tư hoàn thành bao gồm nguồn vốn đầu tư thực hiện dự án đến ngày khóa sổ
lập báo cáo quyết toán, chi phí đầu tư đề nghị quyết toán, chi tiết theo cơ cấu xây
lắp, thiết bị, chi tiết theo từng hạng mục, khoản mục chi phí đầu tư; xác định chi phí
đầu tư thiệt hại không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư.
Thứ ba là quản lý quyết toán các khoản chi thường xuyên. Việc quản lý này thực
hiện được trước hết là phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các
loại báo cáo đó đến các cơ quan có thẩm quyền. Số liệu trong báo cáo quyết toán
phải đảm bảo trung thực, chính xác, đặc biệt báo cáo quyết toán hàng năm của các
đơn vị dự toán trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn phải có
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
24
Chuyên đề thực tập Khoa : Kế hoạch & Phát triển
sự xác nhận của Kho bạn nhà nước. Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán
không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu. Cơ quan kiểm toán Nhà
nước thực hiện kế hoạch kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo
quyết toán NSNN các cấp, cơ quan đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật.
Cuối cùng quản lý trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán năm của
các đơn vị dự toán.
4. Sự cần thiết phải tăng cường phân cấp quản lý ngân sách thị xã
Như đã nói ở trên ta có thể thấy thị xã là một cấp quản lý hành chính, nối liền

mối quan hệ giữa trung ương và địa phương. Chính quyền cấp thị xã đã được trao
quyền phân cấp về quản lý hành chính nhằm thực hiện tốt hơn các chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với địa phương. Để chính quyền thị xã có thể
thực hiện tốt chức năng nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cần phải có
một nguồn lực tài chính đủ mạnh. Vì vậy ngân sách cấp thị xã cần luôn luôn phải
được phân cấp quản lý chặt chẽ đảm bảo sao cho hiệu quả nhất.
Phân cấp quản lý NSNN cấp thị xã là việc làm quan trọng nhằm nâng cao tính
độc lập tự chủ về ngân sách của thị xã. Đồng thời nâng cao tinh thần tự chịu trách
nhiệm của cơ quan quản lý cấp thị xã trước cơ quan quản lý cấp tỉnh và trung ương.
Nhất là trong công cuộc cải cách hành chính nước ta hiện nay thì phân cấp quản lý
ngân sách là một nhiệm vụ quan trọng do đó cần tăng cường công tác phân cấp
quản lý ngân sách cho cấp thị xã cho phù hợp với năng lực quản lý và khả năng
phát triển kinh tế xã hội của thị xã.
Phân cấp quản lý NSNN cấp thị xã giúp cho Nhà nước quản lý hiệu quả nguồn
thu và nhiệm vụ chi của chính quyền địa phương cấp thị xã. Phân cấp nguồn thu tạo
cho thị xã có sự chủ động về nguồn tài chính và cố gắng hơn trong việc tổ chức
thực hiện thống nhất thu ngân sách. Song song với đó là phân cấp nhiệm vụ chi
nhằm giúp thị xã có những khoản chi hiệu quả và tiết kiệm, không gây ra tình trạng
lãng phí, thất thoát. Các khoản chi này phải được tính toán đầy đủ theo định mức
nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Khi tăng cường phân cấp NSNN cho cấp thị xã sẽ tăng thêm quyền quyết định
về các khoản thu, chi NSNN của chính quyền thị xã trên địa bàn địa phương mình.
Những quyết định này giúp cho thị xã thực hiện các hoạt động quản lý nguồn
NSNN phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó chính
quyền cũng sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm tronng các quyết định phê duyệt
Sinh viên : Nguyễn Văn Toàn Lớp : Kế hoạch 48B
25

×