Cellulose (tiếng Việt phiên âm và viết xenlulo, xenlulozơ, xenluloza hoặc xenlulô) là
hợp chất cao phân tử được cấu tạo từ các liên kết các mắt xích β-D-Glucose, có công thức
cấu tạo là (C
6
H
10
O
5
)
n
hay [C
6
H
7
O
2
(OH)
3
]
n
trong đó n có thể nằm trong khoảng 5000-
14000, là thành phần chủ yếu cấu tạo nên vách tế bào thực vật. Trong gỗ lá kim, cellulose
chiếm khoảng 41-49%, trong gỗ lá rộng nó chiếm 43-52% thể tích.
Tính chất vật lý
Là chất màu trắng, không mùi, không vị. Cellulose không tan trong nước và các dung
môi hữu cơ thông thường. Tan trong một số dung dịch acid vô cơ mạnh như: HCl,
HNO
3
, một số dung dịch muối: ZnCl
2
, PbCl
2
,
Tính chất hóa học
Các mắt xích β-D-Glucose trong cellulose
Cellulose do các mắt xích β-D-Glucose liên kết với nhau bằng liên kết 1.4 Glucocid do
vậy liên kết này thường không bền trong các phản ứng thủy phân.
Tác dụng với dung dịch base và ứng dụng
Tác dụng với dung dịch acid vô cơ và ứng dụng
Tác dụng với dung dịch acid hữu cơ và ứng dụng
Quy trình sản xuất
Bột giấy có thể được sản xuất từ gỗ, sợi bông (dính hột), giấy tái sinh, vải và rơm, rạ, cỏ,
lanh, gai, đay, bã mía , có thể được sản xuất bằng phương pháp cơ học, phương pháp
hóa học và phương pháp nửa hóa học.
Bột giấy từ gỗ: gỗ được bóc vỏ, rửa, chặt thành từng mảnh trong máy băm, lọc qua máy
sàng rồi phân loại mảnh dăm theo kích cỡ đồng đều. Dăm gỗ sau đó có thể được xử lý
mài, nghiền, nấu (phương pháp cơ học) hoặc bằng hóa chất (phương pháp hóa học) tạo
thành bột giấy thô (chưa tẩy). Sau đó bột này mời được đưa đi tẩy trắng với mức độ tùy
theo yêu cầu, rồi pha loãng để đưa qua máy xeo cán thành giấy cuộn.
Phân loại
Theo nguyên liệu: Bột giấy từ gỗ và bột giấy phi gỗ; theo phương pháp chế biến: cơ học,
hóa học, bán cơ học; theo bước thực hiện: đã tẩy trắng và chưa tẩy trắng
1. Bột giấy tẩy trắng (bleached pulp): Bột giấy được tẩy trắng trong quá trình sản
xuất để có độ trắng ở mức cao
2. Bột giấy không tẩy trắng (unbleached pulp): Bột giấy không được tẩy trắng trong
quá trình sản xuất.
3. Bột giấy bán tẩy trắng (semi-bleached pulp): Bột giấy chỉ được tẩy trắng nhẹ và
có độ trắng ở mức thấp.
4. Bột giấy gỗ mềm : gỗ của các cây lá kim như tùng, bách, thông
5. Bột giấy gỗ cứng : gỗ của các cây lá bản
6. Bột giấy từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp cơ học
7. Bột giấy từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp nửa hóa học
8. Bột giấy phi gỗ (nonwood pulp): Bột giấy được sản xuất từ các loại nguyên liệu
không phải thân gỗ. Ví dụ: các loại tre, nứa; các phụ phẩm của cây lương thực
(rơm, rạ ); bã mía; các loại cỏ (lau, sậy, cỏ bàng ); các loại nguyên liệu của
ngành dệt (bông, lanh, gai ); các loại vỏ cây (dó, đay, dâu ). Các loại giấy
manila làm file folder chính là được sản xuất từ các nguyên liệu này.
9. Bột giấy không hòa tan , anpha-xenluylô (alpha cellulose): Phần bột giấy không
hòa tan trong dung dịch NaOH 17,5% ở nhiệt độ 20°C.
10. Bột giấy hòa tan (dissolving pulp): Bột giấy hóa học đã được tẩy trắng có hàm
lượng anpha-xenluylô cao. Loại bột giấy này được sử dụng để hòa tan trong các
dung môi thích hợp, chế biến ra dạng sản phẩm như xenlôphan, sợi nhân tạo
hoặc kết hợp với các loại hóa chất khác để tạo ra các dẫn xuất của xenluylô như
axetat, nitrat
11. Bột giấy từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp hóa học, loại không hòa tan
12. Bột giấy tái chế, từ bìa giấy, giấy phế thải hoặc phế liệu và các chất liệu sợi
cellulose khác
Bột giấy và do đó, giấy thường được đánh giá chất lượng qua thành phần xơ sợi. Sợi càng
dài thì chất lượng giấy càng bền, dai. Ngoài ra, người ta còn phân biệt bột giấy theo tỷ lệ
phần trăm thành phần bột tái chế.
Xác định trị số KAPPA - TCVN
4361:2002
BỘT GIẤY – Xác định trị số KAPPA
Pulp– Determination of KAPPA number
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM TCVN 4361:2002
1. Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định trị số
Kappa của bột giấy. Trị số Kappa liên quan trực tiếp
đến lượng lignin (độ cứng) hoặc khả năng tẩy trắng
của bột giấy.
Không có hệ số tương quan chung và rõ ràng giữa trị
số Kappa và hàm lượng lignin. Hệ số tương quan phụ
thuộc vào loại nguyên liệu và phương pháp tách loại
lignin. Với mỗi loại bột giấy có một hệ số xác định để
tính hàm lượng lignin có trong bột giấy theo trị số
Kappa.
Phương pháp này được áp dụng cho tất cả các loại bột
giấy hóa học và bán hóa học chưa tẩy trắng có hiệu
suất nấu dưới 60%. Tiêu chuẩn này cũng có thể áp
dụng cho bột giấy có hiệu suất nấu đén 70% đã được
sàng chọn tốt. Mức độ tách loại lignin của sản phẩm
bột giấy có hiệu suất cao được xác định theo ISO
3260.
Phương pháp này cũng được áp dụng để xác định trị số
kappa của bột giấy hóa học bán tẩy trắng. Lượng bột
giấy sử dụng tối đa là 10 g, giới hạn thực hành dưới
của phương pháp là trị số kappa bằng 5. Sự thay đổi
cách tiến hành được nêu trong phụ lục A.
2. Tiêu chuẩn viện dẫn
TCVN 4407:2001 Bột giấy–Xác định độ khô.
ISO 3260 Pulp – Determination of chlorine
consumption (degree of deligninfication).<Bột giấy-
Xác định lượng clo tiêu hao (mức độ tách loại lignin)>
3. Định nghĩa
Trị số Kappa của bột giấy(Kappa number of pulp)
Số mililit dung dịch kali permanganat 0,02 M (0,1 N)
tiêu hao cho 1g bột giấy (khối lượng khô tuyệt đối)
trong điều kiện xác định. Kết quả được hiệu chỉnh đến
giá trị tương ứng nhận được khi lượng permanganat
tiêu hao trong phép thử là 50%.
4. Hóa chất
Chỉ sử dụng hóa chất phân tích và nước cất hoặc nước
có chất lượng tương đương.
4.1. Axít sunphuríc: 2,0M (4N), dung dịch chứa
196,0 g axít sunphuríc (H
2
SO
4
p=1,84 g/ml) trong
một lít.
4.2. Kaliiôtdua: 1M ( 1N), dung dịch chứa 166 g
Kaliiôdua (KI) trong một lít.
4.3. Kali permanganat : dung dịch chuẩn 0,02M ±
0,001 M chứa 3,161 g Kali permanganat (KMnO
4
)
trong một lít nước.
4.4. Natri thiosulphat: 0,2M ± 0,0005M; 0,2M
(0,2N) tương đương với 49,64 g Natri thiosulphat
pentahydrat (Na
2
S
2
O
3
.5H
2
O) trong một lít.
4.5. Chỉ thị tinh bột : dung dịch có nồng độ 2 g/l.
5. Thiết bị, dụng cụ
Các thiết bị thông thường trong phòng thí nghiệm và :
5.1. Máy khuấy:
Máy khuấy có dạng cánh quạt được làm bằng thủy tinh
hoặc vật liệu không gỉ (có thể sử dụng cánh khuấy từ
được bọc bên ngoài bằng chất dẻo hoặc thủy tinh).
5.2. Thiết bị đánh tơi ướt
Thiết bị có tốc độ cao, có khả năng đánh tơi bột giấy
hoàn toàn và ít ảnh hưởng tới xơ sợi.
5.3. Bể ổn định nhiệt
Bể ổn định nhiệt có khả năng duy trì được nhiệt độ
trong cốc phản ứng ở 25
o
C ± 0,2
o
C.
5.4. Đồng hồ bấm dây
Đồng hồ có khả năng đo được 10 phút với độ chính
xác tới 1 giây.
6. Chuẩn bị mẫu
Xé khoảng 3g đến 10 g mẫu bột giấy khô gió được lấy
đại diện thành các mảnh nhỏ.
Trước khi cân mẫu thử, điều hòa ít nhất 20 phút để
mẫu có độ ẩm cân bằng với môi trường xung quanh.
7. Cách tiến hành
Cân lượng mẫu thử chính xác tới 0,001g sao cho lượng
kali permanganate tiêu hao xấp xỉ 50%. Lượng kali
permanganat tiêu hao phải nằm trong khoảng từ 30%
đến 70%. Tại cùng thời điểm đó tiến hành cân mẫu để
xác định độ khô theo TCVN 4407:2001.
Đánh tơi mẫu thử trong khoảng 500ml nước cất (lượng
nước không được lớn hơn 500ml) cho tới khi xơ sợi
phân tán hoàn toàn (không còn các bó xơ sợi). Tránh
dùng các phương pháp đánh tơi làm xơ sợi bị cắt ngắn.
Chuyển mẫu thử đã được đánh tơi vào cốc phản ứng
có dung tích 1500ml và dùng nước cất để rửa bộ phận
đánh tơi sao cho tổng thể tích là 790ml.
Đặt cốc phản ứng vào bể ổn định nhiệt, điều chỉnh sao
cho nhiệt độ ở 25
o
C ± 0,2
o
C trong suốt thời gian phản
ứng. Điều chỉnh tốc độ khuấy để xoáy nước có độ sâu
xấp xỉ 25mm trong dung dịch.
Dùng pipet lấy 100ml ± 0,1ml dung dịch kali
permanganat (4.3) và 100ml axít sunphuríc (4.1) cho
vào cốc có dung tích 250ml. Hỗn hợp ở nhiệt độ 25
o
C
được đổ nhanh vào mẫu thử và đồng thời bấm đồng
hồ bấm giây. Dùng ít nhất 10ml nước cất để rửa cốc
250ml và đổ nước rửa vào hỗn hợp phản ứng. Tổng
thể tích dung dịch là 1000ml. Sau 10 phút bổ sung
20ml dung dịch kaliiốtdua (4.2) bằng ống đong. Ngay
sau đó chuẩn iốt tự do sinh ra bằng dung dịch natri
thiosunphat (4.4). Tại cuối thời điểm chuẩn bổ sung
một vài giọt chỉ thị tinh bột (4.5), (xem chú thích).
Chú thích: Sự bay hơi của iôt ảnh hưởng rõ rệt lên trị
số kappa của bột giấy. Thời gian giữa lúc bổ sung
dung dịch kaliiốtdua tại cuối thời điểm phản ứng và
hoàn thành phép chuẩn độ tiếp theo sao cho ngắn
nhất có thể, đặc biệt là trong thí nghiệm trắng.
Tiến hành làm thí nghiệm trắng, tiến hành như trên
nhưng không có bột giấy. dung dịch kaliiốtdua có thể
được chon gay sau khi bổ sung hỗn hợp kali
permanganate và axít sunphuríc.
Tiến hành hai lần xác định nếu trị số kappa lớn hơn 20
thì kết quả của hai lần xác định đó phải nằm trong
khoảng ±1% giá trị trung bình. Nếu kết quả của hai
lần xác định sai khác nhau quá 2% thì phải tiến hành
thêm một lần xác định thứ ba và trị số kappa trung
bình sẽ được tính toán từ ba kết quả xác định (xem
8.1)
8. Tính toán và biểu thị kết quả
8.1. Tính toán kết quả
Trị số Kappa (X) được tính theo công thức sau:
(V
2
– V
3
) x c
Sử dụng nồng độ mol/l : V
1
= —————
0,02 x 5
(V
2
– V
3
) x c
Sử dụng nồng độ đương lượng (N) : V
1
=
—————
0,1
V
1
d
X =
———
m
trong đó:
V
1
là thể tích kali permanganat (4.3) tiêu hao trong
mẫu thử, tính bằng mililít.
V
2
là thể tích dung dịch natri thiosunphat (4.4) tiêu
hao trong mẫu trắng, tính bằng mililít.
V
3
là thể tích dung dịch natri thiosunphat (4.4) tiêu
hao trong mẫu thử, tính bằng mililít.
c là nồng độ của dung dịch natri thiosunphat tính bằng
mol/lít (hoặc nồng độ đượng lượng).
d là hệ số điều chỉnh tới 50% lượng kali permanganat
tiêu hao; d phụ thuộc vào giá trị của V
1
(xem bảng);
m là khối lượng khô tuyệt đối của mẫu thử, tính bằng
gam.
8.2. Biểu thị kết quả
Trị số kappa là giá trị trung bình của hai lần xác định
và được lấy với độ chính xác như sau:
Trị số kappa = 50, lấy chính xác tới 0,1 ; trị số kappa
= 100, lấy chính xác tới 0,5; trị số kappa > 100,
không lấy chữ số sau dấu phẩy.
8.3. Thí dụ tính toán
Khối lượng mẫu thử khô gió 2,200 g
Độ khô của mẫu 91,5%
Khối lượng mẫu thử khô tuyệt đối : (91,5/100) x
2,200 g = 2,013 g
Lượng dung dịch natri thiosunphat (4.4) tiêu hao trong
thí nghiệm trắng V
2
= 52,4 ml
Lượng dung dịch natri thiosunphat (4.4) tiêu hao trong
mẫu thí nghiệm V
3
= 21,0 ml
Nồng độ của dung dịch natri thiosunphat (4.4) c=
0,1910 mol/l
Lượng kali permanganat (4.3) tiêu hao trong mẫu thí
nghiệm là V
1
(52,4 – 21,0) x 0,1910
V
1
=
—————— = 60,0 ml
0,1
Hệ số hiệu chỉnh d = 1,022
60,0
x 1,022
Trị số kappa X =
—— — = 30 ml
2,013
9. Báo cáo thử nghiệm
Báo cáo thử nghiệm gồm các thông tin sau:
1) Viện dẫn theo tiêu chuẩn này;
2) Thời gian và địa điểm thí nghiệm;
3) Đặc điểm của mẫu thử;
4) Sự thay đổi cách tiến hành so với tiêu chuẩn
nếu áp dụng;
5) Số lần xác định thực hiện nếu như lớn hơn 2;
6) Kết quả trị số Kappa;
7) Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thử.
Phụ lục A
( Quy định )
Sự thay đổi cách tiến hành
Những thay đổi quy trình được trình bày trong phụ lục
này chỉ được sử dụng cho mục đích kiểm ta quá trình.
Các kết quả nhận được khi sử dụng quy trình thay đổi
cũng tương đương với kết quả của quy trình tiêu
chuẩn, nhưng không được coi là phù hợp tiêu chuẩn.
Sử dụng quy trình thay đổi phải ghi vào báo cáo thử
nghiệm.
A.1 Chuẩn bị mẫu thử
A.1.1 Bột giấy ướt đã được sàng chọn
Từ mẫu bột giấy ướt lấy đại diện, lọc qua phễu lọc
Buchner để có được từ 3g đến 10g bột giấy khô gió,
chú ý để không làm mất xơ sợi và các phần tử nhỏ.
Miếng bột giấy được để khô gió và xé thành các mảnh
nhỏ.
A.1.2 Bột giấy chưa được sàng chọn mà thông
thường phải sàng chọn trước quá trình tẩy trắng
hoặc các quá trình khác
Loại bỏ các phần thô của bột giấy bằng cách sàng
chọn. Phương pháp sàng chọn phải ghi trong báo cáo
thử nghiệm và phải lựa chọn phương pháp cho kết quả
tương đương với kết quả khi sàng chọn bột giấy trong
sản xuất. Sau đó tiến hành như A.1.1
A.1.3 Bột giấy chưa được sàng chọn mà thông
thường không phải sàng chọn trước các quá trình
tiếp theo
Rửa kỹ bột giấy, sau đó tiến hành như A.1.1
A.2 Những thay đổi cách tiến hành
Cách tiến hành như điều 7, trừ sự thay đổi cho phép
sau:
A.2.1 Sử dụng lượng mẫu thử và hóa chất ít hơn
Lượng hóa chất sử dụng : dung dịch kali permanganat
(4.3) 50ml, axít sunphuríc (4.1) 50ml, nước cất 400ml
và lượng bột giấy thích hợp. Trong trường hợp này, khi
lượng dùng chỉ bằng một nửa thì lượng dung dịch kali
permanganate tiêu thụ V
1
trong bảng (8.1) sẽ được đổi
là 2V
1
. Như vậy, nếu V
1
= 25ml khi đó 2V
1
= 50ml và
hệ số điều chỉnh d là 1,000. Cách tiến hành như trong
cách tiến hành chuẩn.
A.2.2 Đánh tơi bột giấy trong cốc phản ứng
Để đánh tơi bột giấy dễ dàng có thể ngâm mẫu trong
cốc phản ứng. Trong trường hợp sử dụng lượng nhỏ
hơn (xem A.2.1) sử dụng cốc phản ứng có dung tích 1
lít.
A.2.3 Hiệu chuẩn theo nhiệt độ phản ứng
Khi không có bể ổn định nhiệt, thì tiến hành đo nhiệt
độ của hỗn hợp bột giấy sau phản ứng 5 phút và thừa
nhận là nhiệt độ trung bình của phép thử. Nếu nhiệt
độ không lớn hơn 30
o
C và không nhỏ hơn 20
o
C thì hiệu
chỉnh trị số kappa theo công thức sau :
V
1
d
X =
——————
{ 1
+0,013(25-t) } m
trong đó t là nhiệt độ trung bình của phản ứng tính
bằng độ Celsius./.
Bảng 1 – Hệ số điều chỉnh d, được biểu thị là hàm
số của V
1
Xác định độ khô của bột giấy - TCVN
4407: 2001
BỘT GIẤY – XÁC ĐỊNH ĐỘ KHÔ
Pulps – Determination of dry matter
content
TIÊU CHUẨN VIỆT NAM TCVN 4407: 2001
1. Phạm vi áp dụng:
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác
định độ khô của bột giấy ẩm hoặc khô gió
không chứa một lượng đáng kể các chất có khả
năng bay hơi tại nhiệt độ sử dụng để sấy khô
( trừ nước). Phương pháp này được dùng để
xác định độ khô của các mẫu bột giấy được lấy
để thử các tính chất hóa học và vật lý trong
phòng thí nghiệm.
Phương pháp này không áp dụng để xác định
độ khô của bột giấy ở dạng nhão hoặc xác định
khối lượng thương phẩm ở lô bột giấy.
2. Định nghĩa:
Trong tiêu chuẩn này áp dụng các định nghĩa sau:
2.1 Độ khô: (dry matter content)
Độ khô của bột giấy là tỷ số giữa khối lượng của mẫu thử sau khi sấy khô tới lhối lượng không đổi tại nhiệt
độ 105oC ± 2oC trong điều kiện xác định và khối lượng của nó tại thời điểm lấy mẫu. Độ khô được biểu thị
bằng phần trăm.
3. Thiết bị, dụng cụ:
3.1 Cốc cân: Được làm bằng thủy tinh có nắp đậy khít với dung tích khỏang 50ml.
3.2 Tủ sấy: Có khả năng duy trì được nhiệt độ 105oC ± 2oC và có quạt gió thích hợp.
3.3 Cân: Có độ chính xác đến 0,001g.
3.4 Bình hút ẩm
4. Chuẩn bị mẫu
Cắt hoặc xé mẫu bột giấy thành các mảnh nhỏ có kích thước phù hợp. Để giữ trong túi nilon hoặc bình có
nút kín để độ ẩm của mẫu không thay đổi.
5. Cách tiến hành
Tất cả các phép cân đều lấy chính xác tới 0,001g. Cân khỏang 10g bột giấy trong cốc cân (3.1) đã sấy khô
và biết khối lượng. Sau đó mở nắp cốc cân và đặt cả cốc cân và nắp vào tủ sấy (3.2), sấy ở nhiệt độ 105oC
± 2oC với thời gian đủ để đạy khối lượng không đổi ( xem chú thích). Mẫu thử được coi là đạt khối lượng
không đổi, khi chênh lệch giữa hai lần cân liên tiếp không lớn hơn 0,1% khối lượng ban đầu của mẫu thử.
Thời gian sấy tối thiểu giữa hai lần cân liên tiếp bằng một phần hai thời gian sấy nhỏ nhất ban đầu.
Sau khi sấy, đậy nắp cốc cân và chuyển vào bình hút ẩm để nguội trong 45 phút. Sau khi làm nguội, hơi
mở nắp cốc cân và đóng lại ngay để cân bằng áp suất giữa trong và ngòai cốc cân. Cân cốc cân và mẫu
thử có trong cốc.
Chú thích: - Trong khi sấy không cho các mẫu thử mới vào tủ sấy. Thời gian sấy lần đầu không nhỏ hơn 3
giờ và không lớn hơn 16 giờ.
Tiến hành thử hai mẩu song song.
6. Biểu thị kết quả:
Độ khô (X) tính bằng phần trăm, theo công thức sau:
m1
X = x 100%
m2
trong đó:
m1 là khối lượng của bột giấy trước khi sấy, tính bằng gam;
m2 khối lượng của bột giấy sau khi sấy, tính bằng gam;
Lấy kết quả chính xác đến một chữ số sau dấu phẩy.
7. Báo cáo thử nghiệm
Báo cáo thử nghiệm gồm các thông tin sau:
1. Viện dẫn theo tiêu chuẩn này;
2. Thời gian và địa điểm thử nghiệm;
3. Đặc điểm của mẫu thử,
4. Kết quả, tính bằng phần trăm;
5. Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả thử nghiệm.
Nh p kh u b t gi y tháng 01 n m 2010 gi m m nhậ ẩ ộ ấ ă ả ạ Th Sáu, ngày 12/03/2010 ứ
Theo s li u th ng kê, nh p kh u b t gi y v Vi t Nam tháng 01 n m 2010 đ t trên 6 ố ệ ố ậ ẩ ộ ấ ề ệ ă ạ
ngàn t n v i tr giá 3,95 tri u USD, gi m 71,1% v l ng và gi m 66,7% v tr giá so ấ ớ ị ệ ả ề ượ ả ề ị
v i tháng tr c, còn so v i cùng k n m 2009 c ng gi m 41,6% v l ng và gi m ớ ướ ớ ỳ ă ũ ả ề ượ ả
24,4% v tr giá. Trong tháng 01/2010 có t t c 10 th tr ng cung c p b t gi y cho ề ị ấ ả ị ườ ấ ộ ấ
n c ta. Trong đó, M là th tr ng cung c p b t gi y chi m t tr ng cao nh t, chi m ướ ỹ ị ườ ấ ộ ấ ể ỷ ọ ấ ế
t i 52,3% t ng l ng b t gi y nh p kh u c a c n c, đ t 3,3 ngàn t n v i tr giá 2,12ớ ổ ượ ộ ấ ậ ẩ ủ ả ướ ạ ấ ớ ị
tri u USD, t ng 66,8% v l ng và t ng 55,83% v tr giá so v i tháng 01/2009.ệ ă ề ượ ă ề ị ớ
I. Thị trường thế giới
Do nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu khiến thị trường bột giấy thế giới liên tục tăng.
+ Giá bột kraft loại gỗ mềm tẩy trắng miền Bắc (NBSK) tại châu âu tăng tiếp 0,69% so với tuần
trước, đạt mức 855,42 USD/tấn. Giá bột BHK cũng tăng 0,23% lên 758,21 USD/tấn.
+ Tại thị trường Mỹ, giá bột gỗ mềm tẩy trắng miền Bắc (NBSK) cũng tăng 0,13% so với giá tuần
trước, đạt 875,23 USD/tấn.
+ Giá Bột kraft gỗ cứng tẩy trắng tại thị trường Trung Quốc cũng tăng 0,4% so với tuần trước đạt
mức 722,86 USD/tấn
Thị trường bột giấy lại tiếp tục nóng lên trong tháng 3/2010 khi nhiều nhà sản xuất tiếp tục nâng
mức giá bán. Mới đây nhà cung cấp Suzano Papel e Celulose cho biết sẽ tăng giá bột kraft bạch
đàn tẩy trắng (BEK) trên toàn thế giới 30 USD/tấn, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3. Mức giá cụ
thể sẽ là 790 USD/tấn ở Châu Âu, 750 USD/tấn tại Trung Quốc và 820 USD/tấn ở khu vực Bắc
Mỹ.
Tương tự, nhà sản xuất bột giấy Canfor Pulp, Domtar và nhà sản xuất Northern Pulp Nova Scotia
(NPNS)cũng sẽ tăng giá bột kraft loại gỗ mềm tẩy trắng miền Bắc (NBSK) 30 USD/tấn bắt đầu từ
ngày 1 tháng 3. Theo đó, giá bột NBSK tại Bắc Mỹ sẽ là 910 USD/tấn và ở châu Âu là 890
USD/tấn. Tại Trung Quốc, giá bột NBSK dự kiến trong khoảng 780 - 790 USD/tấn. Ngoài ra, 30
USD/tấn cũng là mức tăng mà Cty áp dụng ở các nước châu Á khác.
Ngoài ra, một nhà cung cấp khác là Sodra cũng cho biết sẽ tăng 30 USD/tấn cho loại bột gỗ mềm
từ ngày 1 tháng 3 lên 890 USD/tấn ở khu vực châu Âu.
Cùng với nhiều nhà sản xuất khác, một công ty của Chile là Arauco công bố cho các khách hàng
ở Trung Quốc sẽ tăng giá 3 loại bột bắt đầu từ tháng 3 tới. Cụ thể, giá bột thông đỏ tẩy trắng sẽ
tăng 40 USD lên 750 USD/tấn, C&F. Giá bột kraft không tẩy (UBK) cũng bị đẩy 40 USD lên 650
USD/tấn. Đối với bột bạch đàn tẩy trắng (BEK), Arauco dự kiến tăng 30 USD lên 730 USD/tấn.
Bên cạnh đó, hai nhà sản xuất bột giấy của Brazil là Fibria và Cenibra cũng thông báo sẽ tăng
giá bột bạch đàn tẩy trắng (BEK) 30 USD/tấn trên toàn thế giới. Do đó mức giá mới sẽ là 820
USD/tấn ở Bắc Mỹ, 790 USD/tấn ở Châu Âu và 750 USD/tấn ở Châu Á, bao gồm cả ở Trung
Quốc.
Tham khảo giá giấy và bột giấy tại châu Âu. Mỹ và Trung Quốc ngày 23/02/2010
So tuần trước (%)So đầu 2010 (%)So đầu 2009 (%)Ch ng lo iủ ạ
Tại thị trường châu ÂuĐVTNgày
23/02/2010
Bột gỗ mềm tẩy trắng phương Bắc USD/tấn 855,82 0,69 1,08 91,12
Bột kraft gỗ cứng tẩy trắng USD/tấn 758,21 0,23 0,78 95,18
Euro/tấn769,61-0,15-0,32-6,49656,47-
0,30-0,44-5,84Gi y tráng nhấ ẹ
Giấy photocopy khổ A4
Euro/tấn
637,66 -0,05 -0,08 -7,89
USD/tấn875,230,130,5532,56Euro/tấn
106,630,743,3340,93Euro/tấn93,430,5
92,86142,05Euro/tấn317,100,941,431
3,25Euro/tấn331,580,961,5413,25Euro
/tấn350,250,590,793,30Euro/tấn633,0
00,120,07-4,48438,78-0,070,69-
1,18Giấy in báoEuro/t nấ
Bột gỗ mềm tẩy trắng Phương Bắc
Tại thị trường Mỹ
Giấy báo cũ. tạp chí cũ
Giấy hòm hộp các tông cũ
Giấy làm lớp sóng
Testliner 3
Testliner 2
Giấy lớp mặt - mặt trắng
Giấy cao cấp tráng phấn
Euro/tấn
441,39 -0,56 -3,57 -14,15
576,431,321,32-23,04Giấy in báo 30
lbEuro/t nấ
Giấy làm lớp mặt
USD/tấn
540,76 1,35 1,35 -23,24
Tại thị trường Trung QuốcUSD/t nấ
Giấy in báo 27 lb
Bột kraft gỗ cứng tẩy trắng USD/tấn 722,86 0,40 0,40 85,66
Bột kraft gỗ cứng tẩy trắng RMB/tấn 4.934,25 0,29 0,30 85,34
II. Nhập khẩu bột giấy tháng 01 năm 2010 giảm mạnh
Theo số liệu thống kê, nhập khẩu bột giấy về Việt Nam tháng 01 năm 2010 đạt trên 6 ngàn tấn
với trị giá 3,95 triệu USD, giảm 71,1% về lượng và giảm 66,7% về trị giá so với tháng trước, còn
so với cùng kỳ năm 2009 cũng giảm 41,6% về lượng và giảm 24,4% về trị giá.
Trong tháng 01/2010 có tất cả 10 thị trường cung cấp bột giấy cho nước ta. Trong đó, Mỹ là thị
trường cung cấp bột giấy chiểm tỷ trọng cao nhất, chiếm tới 52,3% tổng lượng bột giấy nhập
khẩu của cả nước, đạt 3,3 ngàn tấn với trị giá 2,12 triệu USD, tăng 66,8% về lượng và tăng
55,83% về trị giá so với tháng 01/2009.
Trong khi đó, lượng bột giấy nhập về từ Indonesia và Singapore giảm khá mạnh, giảm 9 đến 10
lần so với với lượng bột giấy nhập về tháng 01/2009.
Giá bột giấy nhập khẩu trung bình tháng 01/2010 đạt 625 USD/tấn, tăng 75 USD/tấn so với giá
nhập tháng 12/2009 và tăng 24,9% so với giá nhập cùng kỳ năm trước. So với tháng 01/2009 giá
nhập khẩu bột giấy về từ các thị trường chính đều giảm. Trong đó, Mỹ giảm 47 USD/tấn,
Indonesia giảm 70 USD/tấn, Singapore giảm 37 USD/tấn.
Sản xuất bột giấy
Xử lý cơ học
/>Holzschleifer.jpg
* Bột gỗ mài trắng: được mài từ gỗ đã được bóc vỏ trong các máy mài gỗ.
* Bột gỗ mài nâu: hình thành khi các cuống cây được thấm ướt trong các nồi nấu trước
khi được mài.
* Bột nhiệt cơ: được sản xuất từ phế liệu gỗ được băm nhỏ và vỏ bào của các xưởng cưa.
Theo phương thức TMP (thermo-mechanical pulp), hay "bột nhiệt cơ", chúng được làm
thấm ướt ở 130°C. Các liên kết linhin (lignin) nhờ vậy bị yếu đi. Sau đó nước được thêm
vào và các miếng gỗ này được nghiền trong các máy nghiền (refiner). Nếu hóa chất được
sử dụng thêm vào trong lúc thấm ướt phương pháp này được gọi là phương pháp CTMP
(chemo-thermo- mechanical pulp), hay "bột hóa nhiệt cơ".
Nếu chỉ dùng các phương thức cơ để sản xuất, thành phần của bột gỗ không phải là các
sợi cellulose mà là các liên kết sợi đã được mài và nghiềm nhỏ ra. Để có thể lấy được sợi
nguyên thủy phải dùng đến các biện pháp xử lý gỗ bằng hóa học
Xử lý hóa học:
Các mảnh gỗ được xử lý hóa học bằng cách nấu. Sau khi nấu 12 đến 15 tiếng các sợi sẽ
được tách ra khỏi các thành phần cứng đi cùng với cellulose. Nhìn theo phương diện hóa
học, gỗ bao gồm:
* 40% - 50% cellulose
* 10% - 55% hemicellulose
* 20% - 30% linhin (lignin)
* 6% - 12% các hợp chất hữu cơ khác
* 0,3% - 0,8% hợp chất vô cơ
Tùy theo hóa chất được dùng để nấu, người ta phân biệt ra các phương pháp kiềm, sunfit
(sulfit) và sunfat (sulfat). Phần linhin còn sót lại sau khi nấu sẽ làm cho bột giấy có màu
vàng hay nâu vì thế mà phải rửa sạch và tẩy bột giấy.
Sản lượng sản xuất bột giấy theo phương pháp hóa học ít hơn là sản xuất bột gỗ. Các sợi
cellulose có ưu điểm là dài hơn, bền và mềm mại hơn. Các sợi cellulose từ các cây lá kim
thường dài khoảng 2,5 cho đến 4 mm, sợi từ các cây lá rộng dài khoảng 1 mm.
Bột giấy sunfat so với bột giấy sunfit thì dài hơn và bền hơn vì thế chủ yếu được sử dụng
để làm giấy in và giấy viết có độ trắng cao. Bột giấy sunfit đa số được dùng để sản xuất
các loại giấy vệ sinh mềm.
Bột giấy cần phải được tẩy để làm giấy trắng. Bột giấy sunfat thông thường được tẩy
bằng clo, vì thế mà nước thải sẽ nhiễm các hợp chất cácbon của clo. Bột sunfit được tẩy
bằng hiđrô perôxít hay bằng ôxy. Kỹ thuật thân thiện hơn với môi trường, thay thế tẩy
bằng clo dùng ôxy và điôxít clo. Bột giấy tẩy không có clo có độ bền của sợi kém hơn là
tẩy bằng clo, nhưng do ít ô nhiễm đến môi trường hơn nên ngày càng được dùng nhiều
hơn.
Phương pháp organocell sản xuất bột giấy không có lưu huỳnh và vì thế mà thân thiện
với môi trường hơn. Các mảnh gỗ được nấu với hỗn hợp nước và mêtanol (methanol) có
cho thêm dung dịch kiềm qua nhiều giai đoạn dưới áp suất và ở nhiệt độ đến 190°C. Qua
đó linhin và hemicellulose được hòa tan ra. Sau đó phải rửa sạch qua nhiều giai đoạn rồi
tẩy và tháo nước.
Mêtanol và kiềm được lấy lại qua một phương pháp tái chế được tiến hành song song với
sản xuất bột giấy. Ngoài ra còn thu được linhin và hemicellulose không chứa lưu hùynh
được sử dụng tiếp tục trong công nghiệp hóa học.
Các phương pháp khử mực giấy loại có mục đích chính là nhằm loại bỏ các hạt mực cũng
như các chất phụ gia khác như chất độn, các hạt mang màu trong quá trình tráng phủ ra
khỏi thành phần sơ xợi.
Hai phương pháp khử mực giấy loại (de-inking) được sử dụng phổ biến rộng rãi ngày nay
trên thế giới là phương pháp tuyển nổi (flotation) và rửa (washing). Phương pháp tuyển
nổi thích hợp với các hạt mực và các hạt phụ gia có kích thước từ 10 đến 250 µm trong
khi phương pháp rửa thích hợp với kích thước hạt mực và phụ gia từ 30 µm trở xuống.
Ngày nay phần lớn các nhà máy tái chế giấy loại thường ứng dụng cả hai phương pháp
khử mực bằng tuyển nổi và rửa trong quá trình sản xuất.
Xử lý bột trước khi sản xuất giấy
Bột giấy được nghiền trong các máy nghiền (refiner) trước khi đưa qua máy giấy. Bên
trong máy nghiền dung dịch bột giấy đậm đặc chảy qua giữa một trục lăn có dao và các
dao gắn cố định. Sợi sẽ được cắt (nghiền thô) hay ép (nghiền tinh) tùy theo các điều
chỉnh dao. Hai đầu của sợi cellulose sẻ bị tưa ra giúp cho các sợi liên kết với nhau tốt hơn
khi tấm giấy hình thành.
Các loại giấy hút nước, có thể tích cao và mềm mại hình thành từ các sợi được nghiền thô
như giấy thấm. Sợi được nghiền tinh được dùng để sản xuất các loại giấy cứng và bền, ít
thấm nước có tính trong suốt thí dụ như giấy vẽ kỹ thuật. Ngoài ra khi nghiền các sợi
cellulose còn có thể được cắt ngắn đi. Chiều dài của sợi và cách nghiền bột quyết định
chất lượng của giấy.
Máy sản xuất giấy:
/>Papiermaschine.jpg
Giấy được tạo thành tấm trên máy sản suất giấy. Dung dịch bột giấy (99% là nước) sau
khi được làm sạch nhiều lần chảy lên lưới của máy lưới dài. Trên lưới này phần lớn nước
chảy thoát đi và cấu trúc của tờ giấy bắt đầu thành hình. Bên dưới lưới có đặt máy hút
nước để giúp thoát nước. Giấy sản xuất công nghiệp có hai mặt: mặt lưới và mặt láng, các
sợi giấy hầu như đều hướng về một chiều: chiều chạy của lưới. Sau đó giấy được ép rồi
đưa qua phần sấy tiếp theo là được ép láng và cuộn tròn.
Chất độn
Ngoài sợi cellulose ra bột giấy còn được trộn thêm đến 30% các chất độn:
* Cao lanh (China clay)
* Tinh bột
* Blanc fixe
* Điôxít titan
* Phấn
Các chất độn làm đầy phần không gian giữa các sợi giấy và làm cho giấy mềm mại và có
bề mặt láng hơn. Thành phần của chất độn sẽ quyết định độ trong suốt hay độ mờ đục của
giấy. Để chống không lem mực phải cần đến keo
Nguồn :http ://wikipedia.org
Cellulose làm sao mà hòa tan trong nước hay dung môi được !? Chắc chắn khi bạn đọc
tựa đề này, bạn sẽ đặt câu hỏi đó. Đúng vậy, cellulose là nguyên liệu hữu cơ phổ biến
nhất trong thiên nhiên vì nó là thành phần của gỗ , màng tế bào, cỏ cây hoa lá
Cellulose là một polymer có chứa nhóm chức hydroxy và ether trên các đơn vị là vòng 6
ether như bạn thấy trong hình vẽ cấu trúc phân tử của cellulose.
Cellulose có một mật độ lớn các nhóm hydroxy và lại cấu trúc dạng chuỗi polymer. Các
nhóm hydroxy và cả ether tương tác với nhau theo liên kết hydro , lại thêm sự xoắn xít
của ma trận polymer , nên polymer có độ bền cơ học cao , gần như không có nhiệt độ
nóng chảy và nhiệt độ thủy tinh. Đồng thời , cellulose không hòa tan trong nước và hầu
hết dung môi hữu cơ do những liên kết nội phân tử trên mạng polymer .
Trong công nghiệp , để xử lý cellulose , người ta thường không tìm cách hòa tan trực tiếp
bằng dung môi (thực chất thì một số dung dịch muối Lithium chloride trong dung môi
hữu cơ như dimethylforamide (DMF) hoặc DMP (dimethylpyrrolidinone) có thể hòa tan
được khoảng 15 wt% cellulose nhưng việc thu hồi là quá phức tạp). Cellulose được xử lý
gián tiếp bởi quy trình phổ biến nhất là Rayon được C.F.Cross và E.J.Bevan phát minh từ
năm 1891.
Cho đến hiện nay, quy trình Rayon vẫn được dùng để sản xuất cellulose dạng tinh mà chủ
yếu nhất vẫn là ứng dụng trong tạo ra các loại vải cotton chất lượng cao.
Ảnh : Một số phương pháp cũ để hòa tan cellulose trên lý thuyết.
Những năm gần đây, chủ đề cellulose dissolution một lần nữa được "hâm nóng" và thu
hút đáng kể các nhà nghiên cứu bởi phát hiện cellulose có thể hòa tan trong ionic liquids.
Một yếu tố quan trọng để chọn ionic liquids hòa tan được cellulose là anions. Nguyên tắc
của ionic liquid khi hòa tan cellulose là các anion đóng vai trò như những hydrogen
bonding donor (cho liên kết hydrogen) mạnh , làm phá vỡ những liên kết hydro nội phân
tử của cellulose .
Ionic liquid được biết đến đầu tiên là 1-ethyl-2-methyl-imidazolium chlode (EmimCl)
như các bạn thấy cấu trúc phân tử của cation mang số 13 trong hình (R1 ,R2 là hai nhóm
ethyl và methyl) :
Sau khi trộn cellulose và EmimCl , làm nóng lên 100
o
C thì EmimCl nóng chảy , đồng
thời tại nhiệt độ này, các anion Cl
-
bắt đầu tương tác với các nhóm OH , cộng với tác
động khuyấy cơ học sẽ làm cellulose và EmimCl hòa tan lại thành dạng gel trong suốt .
Yếu tố cơ bản ở đây chính là kích thước lớn của cation 1-ethyl-3-methyl-imidazolium
khiến cho muối quaternary ammonium này có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn 100oC (tính
chất của ionic liquid) , và anion cloride đóng vai trò như một hydrogen bonding donor .
Ngoài các ionic liquids với anion Cl
-
, chúng ta còn có các anion khác cũng được phát
hiện đóng vai trò giúp ILs hòa tan cellulose , thậm chí còn tốt hơn do những ILs của các
anion này có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn nhiều so với Cl
-
-based ILs . Ví dụ như acetate ,
HCO
3-
, formate Đặc điểm chung là có nhóm carbonyl C=O tương tác mạnh với nhóm
OH .
Hỗn hợp gel IL-cellulose có thể được tái thu hồi bằng cách hòa tan IL trong nước hoặc
dung môi hữu cơ và cellulose sẽ kết tủa . Lấy ví dụ nếu chúng ta cho một hỗn hợp gel
cellulose - EmimCl chảy thành dòng nhỏ dạng sợi vào nước , thì EmimCl sẽ hòa tan
trong nước , để lại một sợi cellulose với hình dạng tùy ý sử dụng .
Nhưng cũng lưu ý rằng , nếu nhiệt độ vượt 100
o
C thì cellulose rất dễ phân hủy nhanh
chóng trong ionic liquids.
Từ những thực tế trên , một ý tưởng gần đây được thu hút nghiên cứu và đã thành công .
Có tổng cộng khoảng 200 patents và bài báo quốc tế SCI về đề tài "water-soluble
cellulose" (cellulose hòa tan trong nước). Đó là dùng một số ILs hòa tan được cellulose
nhưng đồng thời cũng phản ứng với các nhóm OH để khiến cho anion hoặc cation của
ILs liên kết với cellulose trên mạng phân tử polymer . Điều đó khiến cho mạng cellulose
trở thành một "ionic polymer" hòa tan trong nước .
Kết luận : cellulose là một nguyên liệu phổ biến có thê ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực
nhưng cho đến nay, việc xử lý cellulose bị khó khăn vì cellulose rất khó hòa tan . Ionic
liquids được xem là rất tiềm năng khi có thể hòa tan được từ 10-20 wt% cellulose .
Cellulose làm sao mà hòa tan trong nước hay dung môi được !? Chắc chắn khi bạn đọc tựa đề này,
bạn sẽ đặt câu hỏi đó. Đúng vậy, cellulose là nguyên liệu hữu cơ phổ biến nhất trong thiên nhiên vì nó
là thành phần của gỗ , màng tế bào, cỏ cây hoa lá Cellulose là một polymer có chứa nhóm chức
hydroxy và ether trên các đơn vị là vòng 6 ether như bạn thấy trong hình vẽ cấu trúc phân tử của
cellulose.
Cellulose có một mật độ lớn các nhóm hydroxy và lại cấu trúc dạng chuỗi polymer. Các nhóm hydroxy
và cả ether tương tác với nhau theo liên kết hydro , lại thêm sự xoắn xít của ma trận polymer , nên
polymer có độ bền cơ học cao , gần như không có nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ thủy tinh. Đồng thời
, cellulose không hòa tan trong nước và hầu hết dung môi hữu cơ do những liên kết nội phân tử trên
mạng polymer .
Trong công nghiệp , để xử lý cellulose , người ta thường không tìm cách hòa tan trực tiếp bằng dung
môi (thực chất thì một số dung dịch muối Lithium chloride trong dung môi hữu cơ như
dimethylforamide (DMF) hoặc DMP (dimethylpyrrolidinone) có thể hòa tan được khoảng 15 wt%
cellulose nhưng việc thu hồi là quá phức tạp). Cellulose được xử lý gián tiếp bởi quy trình phổ biến
nhất là Rayon được C.F.Cross và E.J.Bevan phát minh từ năm 1891.
Cho đến hiện nay, quy trình Rayon vẫn được dùng để sản xuất cellulose dạng tinh mà chủ yếu nhất
vẫn là ứng dụng trong tạo ra các loại vải cotton chất lượng cao.
Ảnh : Một số phương pháp cũ để hòa tan cellulose trên lý thuyết.
Những năm gần đây, chủ đề cellulose dissolution một lần nữa được "hâm nóng" và thu hút đáng kể
các nhà nghiên cứu bởi phát hiện cellulose có thể hòa tan trong ionic liquids.
Một yếu tố quan trọng để chọn ionic liquids hòa tan được cellulose là anions. Nguyên tắc của ionic
liquid khi hòa tan cellulose là các anion đóng vai trò như những hydrogen bonding donor (cho liên kết
hydrogen) mạnh , làm phá vỡ những liên kết hydro nội phân tử của cellulose .
Ionic liquid được biết đến đầu tiên là 1-ethyl-2-methyl-imidazolium chlode (EmimCl) như các bạn thấy
cấu trúc phân tử của cation mang số 13 trong hình (R1 ,R2 là hai nhóm ethyl và methyl) :
Sau khi trộn cellulose và EmimCl , làm nóng lên 100
o
C thì EmimCl nóng chảy , đồng thời tại nhiệt độ
này, các anion Cl
-
bắt đầu tương tác với các nhóm OH , cộng với tác động khuyấy cơ học sẽ làm
cellulose và EmimCl hòa tan lại thành dạng gel trong suốt .
Yếu tố cơ bản ở đây chính là kích thước lớn của cation 1-ethyl-3-methyl-imidazolium khiến cho muối
quaternary ammonium này có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn 100oC (tính chất của ionic liquid) , và
anion cloride đóng vai trò như một hydrogen bonding donor .
Ngoài các ionic liquids với anion Cl
-
, chúng ta còn có các anion khác cũng được phát hiện đóng vai trò
giúp ILs hòa tan cellulose , thậm chí còn tốt hơn do những ILs của các anion này có nhiệt độ nóng
chảy thấp hơn nhiều so với Cl
-
-based ILs . Ví dụ như acetate , HCO
3-
, formate Đặc điểm chung là
có nhóm carbonyl C=O tương tác mạnh với nhóm OH .
Hỗn hợp gel IL-cellulose có thể được tái thu hồi bằng cách hòa tan IL trong nước hoặc dung môi hữu
cơ và cellulose sẽ kết tủa . Lấy ví dụ nếu chúng ta cho một hỗn hợp gel cellulose - EmimCl chảy thành
dòng nhỏ dạng sợi vào nước , thì EmimCl sẽ hòa tan trong nước , để lại một sợi cellulose với hình
dạng tùy ý sử dụng .
Nhưng cũng lưu ý rằng , nếu nhiệt độ vượt 100
o
C thì cellulose rất dễ phân hủy nhanh chóng trong
ionic liquids.
Từ những thực tế trên , một ý tưởng gần đây được thu hút nghiên cứu và đã thành công . Có tổng
cộng khoảng 200 patents và bài báo quốc tế SCI về đề tài "water-soluble cellulose" (cellulose hòa tan
trong nước). Đó là dùng một số ILs hòa tan được cellulose nhưng đồng thời cũng phản ứng với các
nhóm OH để khiến cho anion hoặc cation của ILs liên kết với cellulose trên mạng phân tử polymer .
Điều đó khiến cho mạng cellulose trở thành một "ionic polymer" hòa tan trong nước .
Kết luận : cellulose là một nguyên liệu phổ biến có thê ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực nhưng cho
đến nay, việc xử lý cellulose bị khó khăn vì cellulose rất khó hòa tan . Ionic liquids được xem là rất
tiềm năng khi có thể hòa tan được từ 10-20 wt% cellulose .
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 26, 2008, 02:34:01 AM gửi bởi NguyenDinhQuan »
Bột giấy
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm ki ế m
Máy nghiền bột giấy
Bột giấy trong quy trình sản xuất giấy công nghiệp
Gỗ đang chờ nghiền thành bột
Bột giấy là vật liệu dạng xơ sợi, được chế biến từ các loại nguyên liệu thực vật, với mục
đích chủ yếu nhằm sản xuất giấy.
Xơ sợi gỗ làm bột giấy
Mục lục
[ẩ n ]
• 1 Quy trình s ả n xu ấ t
• 2 Phân lo ạ i
• 3 Thu ộ c tính c ủ a b ộ t gi ấ y
• 4 Xem thêm
• 5 Liên k ế t ngoài
[sửa] Quy trình sản xuất
Bột giấy có thể được sản xuất từ gỗ, sợi bông (dính hột), giấy tái sinh, vải và rơm, rạ, cỏ,
lanh, gai, đay, bã mía , có thể được sản xuất bằng phương pháp cơ học, phương pháp
hóa học và phương pháp nửa hóa học.
Bột giấy từ gỗ: gỗ được bóc vỏ, rửa, chặt thành từng mảnh trong máy băm, lọc qua máy
sàng rồi phân loại mảnh dăm theo kích cỡ đồng đều. Dăm gỗ sau đó có thể được xử lý
mài, nghiền, nấu (phương pháp cơ học) hoặc bằng hóa chất (phương pháp hóa học) tạo
thành bột giấy thô (chưa tẩy). Sau đó bột này mời được đưa đi tẩy trắng với mức độ tùy
theo yêu cầu, rồi pha loãng để đưa qua máy xeo cán thành giấy cuộn.
[sửa] Phân loại
Theo nguyên liệu: Bột giấy từ gỗ và bột giấy phi gỗ; theo phương pháp chế biến: cơ học,
hóa học, bán cơ học; theo bước thực hiện: đã tẩy trắng và chưa tẩy trắng
1. Bột giấy tẩy trắng (bleached pulp): Bột giấy được tẩy trắng trong quá trình sản
xuất để có độ trắng ở mức cao
2. Bột giấy không tẩy trắng (unbleached pulp): Bột giấy không được tẩy trắng trong
quá trình sản xuất.
3. Bột giấy bán tẩy trắng (semi-bleached pulp): Bột giấy chỉ được tẩy trắng nhẹ và
có độ trắng ở mức thấp.
4. Bột giấy gỗ mềm : gỗ của các cây lá kim như tùng, bách, thông
5. Bột giấy gỗ cứng : gỗ của các cây lá bản
6. Bột giấy từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp cơ học
7. Bột giấy từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp nửa hóa học
8. Bột giấy phi gỗ (nonwood pulp): Bột giấy được sản xuất từ các loại nguyên liệu
không phải thân gỗ. Ví dụ: các loại tre, nứa; các phụ phẩm của cây lương thực
(rơm, rạ ); bã mía; các loại cỏ (lau, sậy, cỏ bàng ); các loại nguyên liệu của
ngành dệt (bông, lanh, gai ); các loại vỏ cây (dó, đay, dâu ). Các loại giấy
manila làm file folder chính là được sản xuất từ các nguyên liệu này.
9. Bột giấy không hòa tan , anpha-xenluylô (alpha cellulose): Phần bột giấy không
hòa tan trong dung dịch NaOH 17,5% ở nhiệt độ 20°C.
10. Bột giấy hòa tan (dissolving pulp): Bột giấy hóa học đã được tẩy trắng có hàm
lượng anpha-xenluylô cao. Loại bột giấy này được sử dụng để hòa tan trong các
dung môi thích hợp, chế biến ra dạng sản phẩm như xenlôphan, sợi nhân tạo
hoặc kết hợp với các loại hóa chất khác để tạo ra các dẫn xuất của xenluylô như
axetat, nitrat
11. Bột giấy từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp hóa học, loại không hòa tan
12. Bột giấy tái chế, từ bìa giấy, giấy phế thải hoặc phế liệu và các chất liệu sợi
cellulose khác
Bột giấy và do đó, giấy thường được đánh giá chất lượng qua thành phần xơ sợi. Sợi càng
dài thì chất lượng giấy càng bền, dai. Ngoài ra, người ta còn phân biệt bột giấy theo tỷ lệ
phần trăm thành phần bột tái chế.
[sửa] Thuộc tính của bột giấy
• Ph ầ n tr ă m tro
• Độ tr ắ ng
• Độ sáng
• Tính d ẫ n đi ệ n
• T ỷ l ệ rác th ả i
• Độ dài s ợ i
• Ch ỉ s ố Kappa : Chỉ số Kappa là chỉ số đặc trưng cho độ cứng, khả năng tẩy trắng
của bột giấy, được mô tả trong TAPPI T236.
• Độ b ề n xé
• Độ n h ớ t
[sửa] Xem thêm
• Gi ấ y
• Gi ấ y vi ế t
• Gi ấ y dó
• Gi ấ y đi ệ p
• Gi ấ y in phun
• Gi ấ y can
• Gi ấ y in ti ề n
[sửa] Liên kết ngoài
Bài viết
này có
nhiều
yêu cầu
chú
thích
ngu ồ n
g ố c
chưa
được
áp đ
ứng.
Xin giúp
c ả i thi ệ n
bài vi ế t
bằng cách
chú giải từ
các nguồn
có uy tín
để người
đọc có thể
ki ể m
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Công nghi ệ p s ả n xu ấ t b ộ t
gi ấ y
ch ứ ng
đ ượ c
thông tin.
Những
câu văn
hay đoạn
văn
không có
chú thích
ki ể m
ch ứ ng
đ ượ c có
thể bị
thay thế
hoặc xóa
đi bất cứ
lúc nào.
Ti ng Vi t:ế ệ
Mục lục
[ẩ n ]
•
•
•
•
•
•
•
•
Quyể
n
sách
của
Beha
im ,
linh
mục
trưởn
g ở
Pass
au, là
các
ghi
chép
tay
trên
giấy
lâu
đời
nhất
ở
Đức
1225
Giấy
Nhật
Was
hi
Văn kiện giấy lâu đời nhất ở Pháp
Một
tờ
giấy
vẽ
Giấy
là
một
loại
vật
liệu
được
làm
từ
chất
xơ
dài
từ
vài
mm
cho
đến
vài
cm,
thườ
ng
có
nguồ
n
gốc
thực
vật,
và
được
tạo
thàn
h
mạn
g
lưới
bởi
lực
liên
kết
hiđrô
khôn
g có
chất
kết
dính.
Thôn
g
thườ
ng
giấy
được
sử
dụng
dưới
dạng
nhữn
g lớp
mỏn
g
nhưn
g
cũng
có
thể
dùng
để
tạo
hình
các
vật
lớn
(papi
er-
mâch
é).
Trên
nguy
ên
tắc
giấy
được
sản
xuất
từ
bột
gỗ
hay
bột
giấy.
Loại
giấy
quan
trọng
nhất
về
văn
hóa
là
giấy
viết.
Bên
cạnh
đó
giấy
được
sử
dụng
làm
vật
liệu
bao
bì,
trong
nội
thất
như
giấy
dán
tườn
g,
giấy
vệ
sinh
hay
trong
thủ
công
trang
trí,
đặc
biệt
là ở
Nhật
và
Trun
g
Quốc
.
Trướ
c khi
phát
minh
ra
giấy,
con
ngườ
i đã
ghi
chép
lại
các
văn
kiện
là
các
hình
vẽ
trong
các
hang
động
hoặc
khắc
lên
các
tấm
bia
bằng
đất
sét,
và
sau
đó
nữa
là
ngườ
i ta
dùng
da để
lưu
trữ
các
văn
kiện.
Kể
từ
khi
ngườ
i
Trun
g
Quốc
phát
minh
ra
giấy
vào
năm
105,
giấy
đã
bắt
đầu
được
sử
dụng
rộng
rãi ở
Trun
g
Quốc
và
mãi
cho
đến
năm
750
kỹ
thuật