1
CÁC VẤN ĐỀ TRONG THI HỌC KỲ MÔN MÁC-LÊ 2
Vấn đề 1: Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa? 2
Vấn đề 2: Hàng hóa, hai thuộc tính của hàng hóa? 3
Vấn đề 3: lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa? 4
Vấn đề 4: Nội dung, yêu cầu, tác động của quy luật giá trị và cơ chế vận động của quy luật
giá trị trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa? 5
Vấn đề 5: Hàng hóa sức lao động? 6
Vấn đề 6: Giá trị thặng dư - quá trình sản xuất giá trị thặng dư và các kết luận được rút ra từ
sự nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư? 8
Vấn đề 7: Tư bản, bản chất của tư bản. Tư bản bất biến và tư bản khả biến? 10
Vấn đề 8: Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Giá trị thặng dư
siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối 11
Vấn đề 9: Thực chất, động cơ của tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích
lũy tư bản. Y nghĩa của việc nghiên cứu tích lũy và tái sản xuất mở rộng 13
Vấn đề 10: So sánh lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận vói giá trị thặng dư và tỷ suất giá trị thặng dư
15
Vấn đề 11: Những nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành tư
bản độc quyền? 16
Vấn đề 12: Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền 17
Vấn đề 13: Những nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền nhà nước 19
Vấn đề 14: Bản chất và những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước . 19
Vấn đề 15: Những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân và nội dung sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân? 21
Vấn đề 16: Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Ý
nghĩa nhận thức của vấn đề này? 22
Vấn đề 17: Vai trò của ĐCS trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN. Liên hệ vai trò
của ĐCS Việt Nam? 23
Vấn đề 18: Khái niệm và nguyên nhân của Cách mạng XHCN. Liên hệ Cách mạng XHCN ở
Việt Nam? 24
Vấn đề 19: Đặc điểm, thức chất của thời kỳ quá độ lên CNXH. Liên hệ ở Việt Nam? 25
Vấn đề 20: Những đặc trưng cơ bản của nhà nước XHCN. Liên hệ với những đặc trưng của
CNXH ở Việt Nam? 25
Vấn đề 21: Những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những giải pháp cơ
bản để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 26
Vấn đề 22: Khái niệm và những đặc trung của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Liên hệ với công
cuộc cải cách nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 27
Vấn đề 23: Những nội dung cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin. Liên
hệ với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay 28
Vấn đề 24: Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Những
thành tựu cơ bản của các nước xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn 1917-1991 và ý nghĩa của
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa 29
2
PHẦN 2: HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ PHƢƠNG THỨC SẢN
XUẤT TƢ BẢN CHỦ NGHĨA
Vấn đề 1: Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa?
Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa:
- Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, nghề khác nhau. Phân công lao
động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, chuyên môn hóa sản xuất.
Khi có phân công lao động xã hội thì mỗi người sản xuất chi tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định.
Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để đáp ứng nhu cầu của mình,
họ phải có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Hom nữa, phân công lao động xã
hội làm tăng năng suất lao động, sản phẩm dư thừa táng, mở rộng trao đổi hàng hóa.
Phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hoá. Phân công lao động xã hội càng phát
triển, thì sàn xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng phong phú. Tuy nhiên phân công lao động xã hội chỉ
mới là điều kiện cần chứ chưa đủ để sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại.
- Sự tách biệt tương đối vè mặt kinh tế giữa những người sản xuất
Sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất là do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất
mà trước tiên là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở
hữu sản phẩm lao động.
Sự tách biệt về kinh tế làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ
thống phân công lao động xã hội, nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Do đó, nếu người này
muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi mua bán hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời cả hai điều kiện trên. Nếu thiếu một trong hai điều kiện đó
thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm của lao động không mang hình thái hàng hóa.
Đặc trƣng và ƣu thế sản xuất hàng hóa:
- Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi mua bán, không phải sản xuất ra để tiêu dùng.
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội. Mâu thuẫn
giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng kinh tế trong sản xuất hàng
hóa.
Thứ ba, mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải là giá trị sử dụng.
- Ưu thế của sản xuất hàng hóa
Thứ nhất, sự phát triển của sản xuất hàng hóa làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên
môn hóa, hợp tác hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Từ đó, nó xóa
bỏ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động.
Thứ hai, tính tách biệt về kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất, kinh doanh
để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Muốn vậy họ phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng
cao chất lượng, cải tiến quy trình, mẫu mã hàng hóa, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ Từ đó, làm tăng năng suất
lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Thứ ba, sản xuất hàng hóa có ưu thế so với sản xuất tự cung tự cấp về quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ,
về khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội vì thế, sản xuất hàng hóa quy mô lớn là hình thức tổ chức kinh tế xã hội
hiện đại phù hợp với xu thế thời đại ngày nay.
Thứ tư, sản xuất hàng hóa là mô hình kinh tế mở, thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của xã hội.
Tuy nhiên, sản xuât hàng hóa không chỉ có những ưu thế mà còn có cả mặt trái như: phân hóa giàu nghèo,
khủng hoàng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát, tàn phá môi trường,…cần phải giải quyết.
3
Tóm lại, sản xuất hàng hóa là thành tựu của văn minh nhân loại, là hình thức sản xuất tiên tiến để tồ chức và
phát triền kinh tế - xã hội tiến bộ của loài người. Sự phát triển của sản xuất hàng hoá đã thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển nhanh chóng.
Vấn đề 2: Hàng hóa, hai thuộc tính của hàng hóa?
Khái niệm hàng hóa
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có ở dạng vật thể (hữu hình: lương thực, máy móc ) hoặc ở dạng phi vật thể (vô hình: dịch vụ
vận tải, dịch vụ chữa
bệnh ).
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
Hai thuộc tính của hàng hóa
- Giá trị sử dụng của hàng hóa
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thỏa mãn nhu câu nào đó của con người. Ví dụ, giá trị sử
dụng của vải là để may quần áo, của gạo là để ăn, điện thoại là để liên lạc
Một hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng khác nhau điêu đó phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiên
của nguyên vật liệu và tình độ khoa học - kỹ thuật sản xuất hàng hóa.
Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử đụng hay tiêu dùng hàng hóa, nó là nội dung vật chất của của
cải, không kể hình thức xã hội của của cải. Vì thế giá trị sừ dụng là phạm trù vĩnh viễn.
Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết phải có giá trị sử dụng. Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sừ
dụng cũng là hàng hóa. Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sừ dụng của nó phải là vật được
sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi.
- Giá trị của hàng hóa
Để tìm hiểu về giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một tỷ lệ về lượng mà giá trị sừ
dụng loại này được trao đổi với giá trị sừ dụng loại khác.
Ví dụ: 1m vải = 5 kg gạo
Cơ sở để vải và gạo trao đổi được với nhau là vì chúng đều là sản phẩm của lao động. Hao phí lao động là
cơ sở chung để so sánh vải với gạo, để xác định tỷ lệ trao đổi giữa chúng, nên thực chất của trao đổi hàng hóa
là trao đổi lao động.
Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tình trong hàng hóa. Như vậy, mặt chất cùa giá trị
là lao động, nên sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất kết tinh trong đó thì nó không có giá trị.
Sản phẩm nào có lượng lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá tri càng cao. Giá trị hàng hóa
biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất. Giá trị là phạm trù lịch sừ gắn liền vói nền sản xuất hàng
hóa.
Giá trị là nội dung, là cơ sở cùa giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên
ngoài. Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, thì giá trị hàng hóa là thuộc tính xã hội của hàng hóa.
- Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây là sự thống nhất của hai
mặt đối lập.
Sự thống nhất của giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa biểu hiện ở chỗ: bất kỳ một vật nào khi trở thành
hàng hóa đều phải có đủ cả hai thuộc tính trên, nếu thiếu một trong hai thuộc tính thì vật không phải là hàng
hóa.
Sự đối lập giữa giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa thể hiện ở chỗ: một hàng hóa muốn có giá trị sử dụng
tốt thì phải hao tốn nhiều lao động nên giá trị hàng hóa cao. Nhưng như thế sẽ rất khó bán được hàng, vì người
mua thường thích mua hàng hóa tốt và rẻ. Cho nên thường xảy ra mâu thuẫn giữa giá trị với giá trị sừ dụng
của hàng hóa, tức là mâu thuẫn giữa người bán với người mua. Nếu không giải quyết được mâu thuẫn giữa hai
4
thuộc tính hàng hóa thì người sản xuất sẽ / không bán được hàng hóa, không thu lại được lượng lao động hao
phí ỵ khi sản xuất hàng hóa, sẽ thua iỗ, còn người mua cũng không có được cái mình cần.
Vấn đề 3: lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?
Thƣớc đo lƣợng giá trị hàng hoá
Giá trị hàng hóa được xét về hai mặt chất và lượng. Chất của giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng kết tinh
trong hàng hòa. Còn lượng giá trị hàng hóa là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó.
Người ta đùng thòi gian lao động của người sản xuất làm thước đo lượng giá trị háng hóa. Trong thực tế,
một loại hàng hóa có thể do nhiều người sản xuất khác nhau làm ra, nên thời gian lao động của từng người sản
xuất (thời gian lao động cá biệt) là khác nhau. Vì thế, để xác định chính xác lượng giá trị hàng hóa phải dùng
“thời gian lao động xã hội cần thiết” để xác định.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuât ra một hàng hóa trong điều kiện bình
thường của xã hội, tức là với một tình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao
động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.
Thông thường, “thời gian lao động xã hội cần thiết” của một hàng hóa sẽ gần sát với thời gian lao động cá
biệt của người cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa đó cho thị trường.
Hai nhân tố ảnh hƣởng đến lƣợng giá trị hàng hóa
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng
không cố định. Sự thay đổi này tùy thuộc vào hai nhân tố là năng suất lao động và mức độ phức tạp hay giản
đơn của lao động.
- Năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng thời gian cần thiết để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và nầng suất lao động xã hội. Trên thị trường,
hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội, nên năng suất lao động ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa là
năng suất lao động xã hội.
Khi năng suất lao động xã hội tăng, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa giảm, lượng giá trị
của một đon vị hàng hóa sẽ giảm. Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa xuống, thì người ta
phải tăng năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động phụ thuộc vào nhiều nhân tổ như trình độ khéo léo của người lao động, sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất
Tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng giá trị hàng hóa.
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, căng thẳng của lao động. Khi tăng cường độ lao động thì lượng
giá tri của một đom vị sản phẩm không đổi. Còn khi tăng năng suất lao động thì lượng giá trị của một đom vị
sản phẩm giảm.
- Mức độ phức tạp của lao động
Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đom và lao động phức tạp.
Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào cũng có thể làm được. Lao
động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới
có thể tiến hành được.
Trong cùng một khoảng thời gian như nhau, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hom lao động giản đơn.
Nên trong trao đôi, người ta quy mọi lao động phức tạp thành bội số cùa lao động giản đom trung bình.
Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình.
Việc nghiên cứu này có ý nghĩa giúp người sản xuất hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa bằng cách tăng năng
suất lao động hoặc nâng cao trình độ người lao động, hay sử dụng nhiều lao động phức tạp trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
5
Vấn đề 4: Nội dung, yêu cầu, tác động của quy luật giá trị và cơ chế vận động của quy luật giá trị
trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa?
Tính tất yếu của quy luật:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và tra đổi hàng hóa. Ở đâu có sản xuất và trao đổi
hàng hóa thì ờ đó có quy luật giá trị hoạt động một cách khách quan, không tuỳ thuộc vào mong muốn của con
người.
- Nội dung quy luật giá trị:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Yêu cầu của quy luật giá trị
Trong sản xuất hàng hóa, tuy mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của Iĩủnh, nhưng giá
trị hàng hóa được quyết định bởi hao phí lao động xã hội. Nên muốn thu hồi đủ hao phí lao động của mình và
có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh hao phí lao động cá biệt (giá trị cá biệt) của nủnh thấp hơn hao phí lao
động xẫ hội (giá trị xã hội) mà thị trường chấp nhận. Nghĩa là, giá trị cá biệt của hàng hóa phải nhỏ han hỡặc
bằng giá trị xã hội của hàng hóa.
Trong trao đổi hàng hóa cũng phải dựa tiên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là trao đổi phải
tuân theo nguyên tắc ngang giá.
Sự vận động của quy luật giá trị biểu hiện thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa. Vĩ giá cả là biểu hiện
bằng tiền của giá trị, nên trước hết giá cả phải phụ thuộc vào giá trị. Tiên thị trường, ngoài giá trị, giá cả hàng
hóa còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như cạnh tranh, cung - cầu, sức mua của đồng tiền làm cho giá
cả hàng hóa tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó.
Sự vận động của giá cả thị trường xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá
trị. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.
- Tác động của quy luật giá trị
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Điều tiết sản xuất là sự điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất vào các ngành kinh tế khác nhau thông qua tín
hiệu giá cả. Sự điều tiết này diễn ra tự phát theo sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường dưới tác
động cùa quy luật cung cầu. ở những ngành có mức cung nhỏ hơn mức cầu, thì giá cả hàng hóa lớn hơn giá
trị, nhà sản xuất cố lãi sẽ mở rộng quy mô sản xuất, kéo theo nguồn lực từ các ngành khác đổ xô vào ngành
này và ngược lại. Tác động này của quy luật giá trị làm thay đổi cơ cấu sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của
thị trường, nhưng cũng gây ra mất cân đối trong sản xuất.
Quy luật giá trị điều tiết lưu thông hàng hóa thông qua mệnh lệnh cùa giá cả trên thị trường. Khi giá cả thị
trường cao lên sẽ thu hút hàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, tạo ra sự di chuyển hàng hóa và làm
cho lưu thông hàng hóa thông suốt. Nó vừa điều hòa lưu thông hàng hóa, vừa gây ra xáo trộn bất ổn trên thị
trường do tính tự phát củanố.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuat xã hội
phát triển
Trong nền kinh tế hàng hóa, do điều kiện sản xuất khác nhau nên mỗi người sản xuất hàng hóa có hao phí
lao động cá biệt khác nhau. Người có hao phí lao động cá biệt thấp hom hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ
có lợi, thu được lãi cao. Ngược lại, người có hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội cần
thiết sẽ bất lợi, thua lỗ. Để giành được lọi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ thua lỗ, phá sản, người sản
xuất hàng hóa phải hạ hao phí lao động cá biệt của mình thấp hơn hao phí lao động xã hội mà thị trường chấp
nhận. Muốn vậy, người sản xuất phải ứng dụng kỹ thuật công nghệ mới, vật liệu mới, đổi mới quản lý nhằm
hạ thấp chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động. Tác động này của quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lượng sản
xuất xã hội phát triển.
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo.
Qua tác động của quy luật giá trị, những nhà sản xuất có hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao
động xã hội cần thiết sẽ phát tài, thu nhiều lợi nhuận và, cùng với thời gian, họ tích lũy lượng tài sản quy mô
6
lớn và trở thành tầng lớp giàu có trong xã hội. Ngược lại, nhưng nhà sản xuất không có điều kiện thuận lợi,
làm ăn kém còi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh sẽ thua lỗ, phá sản, trở nên nghèo khó.
Sự lựa chọn tự nhiên này vừa đào thải các yếu kém, vừa kích thích các nhân tố tích cực phát triển. Song về lâu
dài, làm cho khoảng cách giàu nghèo càng tăng, phân hóa xã hội thành tầng lớp giàu - nghèo.
Ý nghĩa nghiên cứu
Những tác động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn: phát
huy những tác động tích cực của quy luật giá trị sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cồn với những hạn chế của
quy luật giá trị, cần phải tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước để phát hiện những mặt tồn tại, mâu thuẫn
phát sinh, có những biện pháp đủ mạnh nhằm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế thị trường.
- Cơ chế vận động của quy luật giá trị trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa?
Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá. Vì giá trị là cơ sở của giá cả,
nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị. Hàng hoá nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại.
Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng
tiền. Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời với giá trị và lên xuống
xoay quanh trục giá trị của nó. Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoay quanh trục ẹiá trị của nó
chính là CO' chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá
trị phát huy tác dụng.
Vấn đề 5: Hàng hóa sức lao động?
Sức lao động và đỉều kiện để suc lao động trở thành hàng hóa
Theo O.Mác: “Sức lao động là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong một thân thể con người, trong nhân cách
sinh động của con người, thể lục và trí lục mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có
ích”.
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất. Nhưng không phải trong bất kỳ
điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hóa. Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa với những điều kiện lịch sử
nhất định sau:
Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán
sức lao động của nđnh như một hàng hóa (người nô lệ không có điều kiện này).
Thứ hai, người lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao
động của mình để sống (người nông dân không có điều kiện này).
Trong các hình thái xã hội trước CNTB chi có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa. Chi đến khi sản xuất
hàng hóa phát triển đến một trình độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ (sản xuất nhỏ, phường
hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện các điều kiện của hàng hóa sức lao động. Chính sự xuất hiện
của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trờ nên mang tính phổ biến và báo hiệu sự ra đời của
một thời đại mới trong lịch sử - thời đại TBCN, một thời đại mà sự tồn vong của nó gắn liền với thị trường
hàng hốa sức lao động.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động tồn tại trong con người và người ta chi có thể bán nố trong một khoảng thời gian
nhất định (thời gian ỉao động). Vì thế, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sức ỉao động khác với các hàng
hóa thông thường.
- Giá trị hàng hóa sức lao động
Giá trị hàng hốa sức lao động ỉà thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuấỉ ra sức lao
động. Do sức ỉao động chỉ tồn tại như năng ỉực sống của con người nên muốn tái sản xuất ra năng lực đó,
người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định để đảm bảo như cầu về ăn, mặc, ở, đi lại,
học tập, giải trí Ngoài ra, người lao động còn phải nuôi gia đình họ nữa. Vậy thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết ấy.
7
Hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt
cần thiết để nuôi người lao động và gia đình anh ta.
Khác với hàng hóa thông thường, giá trị hàng hóa sức lao động còn bao gồm cả yếu tố vật chất và yếu tố
tinh thần, lịch sử. Ngoài nhu cầu vật chất, người lao động còn có nhu cầu về tinh thân, văn hóa, giái trí, học
tập, giao tiếp Những nhu cầu đó thay đôi tùy theo hoàn cảnh lịch sử, điều kiện địa lý, phong tục tập quán,
trình độ văn minh của từng quốc gia.
Tóm lại, lượng giá trị hàng hoá sức lao động bao gồm những bộ phận sau:
+ Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động, duy trì đời
sống người lao động.
+ Chi phí đào tạo tay nghề của người lao động.
+ Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho gia đình anh ta.
Giá trị hàng hóa sức lao động là một đại lượng không cố định, mà tăng lên khi nhu cầu trung bình về hàng
hóa, dịch vụ của con người tăng hay khi yêu cầu kỹ thuật lao động táng và nó giảm khi năng suất lao động xã
hội tăng làm giảm giá trị hàng hốa tiêu dùng.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Giá trị sử đụng của hàng hốa sức lao động là khả năng thực hiện một loại lao động cụ thể nào đó và được thể
hiện ra trong quá trình lao động sản xuất. Quá trình tiêu dùng sức ỉao động vừa là quá trình sản xuất ra một
ỉoại hàng hốa nào đố, đồng thời là quá trình sáng tạo ra giá trị mới. Vì thế, hàng hóa sức lao động có thêm một
giá trị sử đụng đặc biệt nữa, là nó cố thể tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Phần lớn
hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt.
Giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động cũng là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn của công thức
chung của tư bản:
Công thức lưu thông tư bản T - H - T thực ra không phải chỉ có hai giai đoạn, mà gồm ba giai đoạn: mua -
sản xuất - bán. Nên tư bản không được sinh ra từ hai hoạt động mua - bán, không được sinh ra từ lưu thông,
mà được sinh ra trong quá tình sản xuất. Trong quá tình sản xuất, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của hàng hóa sức lao động, nên T‟ mới lớn hơn T. Tuy nhiên, vai
trò cần thiết của lưu thông là thực hiện việc mua được hàng hóa sức lao động và bán hàng hóa mới, nên tư bản
phải xuất hiện từ lưu thông.
- Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt
So sánh hàng hóa sức lao động với hàng hóa thông thường
+ Giống nhau: đều có hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị.
+ Khác nhau:
Hàng hóa thông thƣờng
Hàng hóa sức lao động
Cách thức trao đổi
Người mua và người bán hoàn toàn độc
ỉập vói nhau.
Người bán phải phục tùng người mua, hàng
hóa sức ỉao động chỉ bán trong một thời gian
nhất định, không bán đứt.
Cách sử dụng
Khi sử dụng hàng hóa thông thường thì
cả giá trị và giá trị sử dụng của nó đều
biến mất dần theo thời gian.
Còn quá trình tiêu dùng hàng hốa sức lao
động vừa là quá trình sản xuất ra một loại
hàng hóa nào đố, vừa là quá tình tạo ra một
giá trị mói.
8
Giá trị
Chi có yếu tố vật chất được xác định trực
tiếp bằng hao phí lao động sản xuất ra
hàng hốa.
Có cà yếu tố vật chất và tình thần, lịch sử
được xác định gián tiếp qua giá trị những tư
liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người
lao động và gia ánh.
Giá trị sử dụng
Có giá trị sử dụng thông thường
Có giá trị sử dụng thông thường và giá ùị sử
dụng đặc biệt: tạo ra một lượng giá trị mới
lớn hơn giá trị của nó.
Bản chất
Biểu hiện của của cải
Là nguồn gốc của sự giàu có, nguồn gốc của
giá trị thặng dư,
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
Nhờ sự phân biệt rạch ròi giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, C.Mác đã phát hiện ra giá trị
sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động. Do đó mà phát hiện ra nguồn gôc thực sự của giá trị thặng dư và
bí mật của phương thức kinh doanh TBCN.
Vấn đề 6: Giá trị thặng dư - quá trình sản xuất giá trị thặng dư và các kết luận được rút ra từ sự
nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư?
Giá trị thặng dƣ là gì?
Giá trị thặng dư là bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và
bị nhà tư bản chiếm không. Về bản chất, khái niệm giá trị thặng dư phản ánh mối quan hệ bản chất
nhất giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, đó là quan hệ bóc lột lao động làm thuê.
Đặc điểm của quá trình sản xuất giá trị thặng dƣ
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị; hơn nữa cũng không
phải là giá trị đom thuần mà là giá trị thặng dư (tức là giá trị tăng ứiêm). Mặt khác, quá trình sản xuất TBCN
là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sừ dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.
Đặc điểm của quá trình sản xuất TBCN:
Công nhân làm việc đưới sự kiểm soát của nhà tư bản, lao động của công nhân thuộc về nhà tư bản giống
như các yếu tố khác của sản xuất và được nhà tư bản sử dụng sao cho hiệu quả nhất.
Sản phẩm do lao động của công nhân làm ra, thuộc sở hữu của nhà tư bản với tư cách là người chủ sở hữu tư
liệu sản xuất, chứ không thuộc về công nhân.
Để hiểu rõ quá trình sản xuất TBCN, ta xem xét ví dụ sau.
Ví dụ sản xuất giá trị thặng dư
Giả định để sản xuất ra 10 kg sợi, cần có 10kg bông và công nhân phải làm việc trong 6 giờ, hao mòn máy
móc là 2$/6h. Trong một giờ người công nhân sẽ tạo ra một lượng giá tri là 0,5$/h.
Giả định rằng một ngày lao động là 12 giờ, hao phí thời gian lao động cá biệt bằng với hao phí thời gian lao
động xã hội cần thiết, và giả định giả cả các yếu tố sản xuất như sau :
Giá của 10kg bông: 10$
Hao mòn máy móc trong 6 giờ: 2$
Giá cả hàng hóa sức lao động/ngày (12h): 3$
Xem xét 6 giờ đầu của quá trình sản xuất
9
Nếu quá trình lao động ngưng ở đây thì nhà tư bản không thu được giá trị thặng dư. Nhưng nhà tư bản mua
hàng hóa sức lao động trong 12 giờ, nên quá trình lao động sản xuất vẫn tiếp tục trong 6 giờ sau, lúc này nhà
tư bản không phải trả công cho công nhân rữa.
Như vậy, toàn bộ chi phí sản xuất mà nhà tư bản bỏ ra là 27$, còn giá trị của sản phẩm mới (20kg sợi) do
công nhân sản xuất ra trong 12giờ lao động là 30$. Chênh lệch giữa giá trị sản phẩm mới với chi phí sản xuất
tư bản là 3$, chính là giá trị thặng đư. (T‟ - T = m = 3). Phần chênh lệch đó không phải do nguyên vật liệu,
hay máy móc thiết bị, vì bộ phận này được chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm mới. Mà 3$ giá trị thặng
dư này là do chêch lệch giữa giá trị mói do sức lao động tạo ra với số tiền mua hàng hóa sức lao động (6$ - 3$
= 3$).
Điều đó cho thấy, giá trị thặng dư không phải do tiền của nhà tư bản tạo ra, mà chi do sức lao động của
người công nhân tạo ra. Nhờ có giá trị thặng dư mà dền ứng ra ban đầu của nhà tư bản đã chuyển thành tư
bản.
Các kết luận rút ra từ việc nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dƣ
Một là, phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất ra (20kg sợi) ta thấy cố hai phần: giá trị những tư liệu sản
xuất nhờ lao động cụ thể của công nhân mà được bảo toàn và dì chuyển vào sản phẩm mói, gọi là giá trị cũ, ký
hiệu là c (trong ví dụ là 24$). Giá trị do lao động trừu tượng của công nhấn tạo ra trong quá trình sản xuất gọi
là giá trị mới, ký hiệu là (v+m), (trong ví dụ là 6$). Phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nố bằng
giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư (v+m).
LĐSX - TLSX + SLĐ
Giá trị hàng hóa = giá trị cũ + giá trị mới = c + (v+m)
Chỉ phí sản xuất
Giá trị sản phẩm mói
Mua 10kg bông:
10
Giá trị của 10 kg bông :
10
Hao mòn máy móc/6h:
2
Hao mòn máy móc/6h:
2
Mua H sức lao động/12h :
3
Giá trị mới do SLĐ tạo ra:
3
Tổng cộng:
15$
Tổng cộng:
15$
Chỉ phí sản xuất
Giá trị sản phẩm mới
Mua 10kg bông:
10
Giá trị của 10kg bông:
10
Hao mòn máy móc/6h:
2
Hao mòn máy móc/6h:
2
Mua H sức lao động/12h :
0
Giá trị mói do SLĐ tạo ra:
3
Tổng cộng:
12$
Tổng cộng:
15$
Vậy chi phí sản xuât 20kg sợi trong một ngày lao động là:
Chỉ phí tư bản
Giá trị sản phẩm mới
Mua 20kg bông:
20
Giá trị của 20kg bông:
20
Hao mòn máy móc/6h:
4
Hao mòn máy móc/6h:
4
Mua H sức lao động/12h:
3
Giá trị mới do SLĐ tạo ra:
6
Tổng chí phí tư bản:
27$
Tổng giá trị thu về:
30$
10
Giá trị thặng dư là bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân làm thuê tạo ra và
bị nhà tư bản chiếm không. Quá trình sản xuất giá tri thặng đư là quá trình tạo ra giá trị kéo dài quá cái điểm ở
đó giá trị sức lao động được hoàn lại bằng một vật ngang giá mới.
Vì thế quan hệ giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê thực chất là quan hệ bóc lột giá trị thặng dư, chứ
không phải chỉ là quan hệ thuận mua vừa bán.
Hai là, ngày lao động gồm hai phần là thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư.
Thời gian lao động tất yếu là phần ngày lao động mà người công nhân tạo ra một lượng giá trị ngang với giá
trị sức lao động của mình. Lao động trong khoảng thời gian lao động tất yếu gọi là lao động tất yếu.
Thòi gian ỉao động thặng dư là thời gian còn lại của ngày lao động sau khỉ đã trừ đi thời gian ỉao động tất
yếu. Lao động trong khoảng thời gian đố gọi ỉà lao động thặng dư.
Ý nghĩa của kết luận này là chỉ ra không phải nhà tư bản trả cho công nhân toàn bộ giá trị của ngày lao
động, mà chỉ trả có phần ỉhời gian lao động tất yếu. Đây là cơ sở quan trọng cho cuộc đấu tranh đòi tăng
lương. Thực chất của cuộc đấu tranh đòi tăng lương là đấu tranh đòi tăng phần thởi gian lao động tất yếu và
giảm thờỉ gian lao động thặng dư trong ngày lao động.
Ba là, việc nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng đư đã giải thích được mâu thuẫn của công thức chung
của tư bản: “Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu
thông vì:
Tư bản không xuất hiện trong lưu thông mà tư bản lớn lên trong sản xuất, nhờ giá trị sử dụng đặc biệt của
hàng hóa sức lao động mà tạo ra giá trị thặng dư. Nên tư bản lớn lên nhờ vào việc bóc lột súc lao động của
công nhân làm thuê.
Tư bản phải xuất hiện trong lưu thông: tư bản phải nhờ lưu thông để mua được hàng hốa sức lao động và
bán được hàng hóa mói sản xuất để thu hồi giá trị thặng dư chứa trong đó.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dƣ
Bằng một ví dụ hết sức đơn giản, rõ ràng, đầy thuyết phục, C.Mác đã vạch rõ bí mật của quá trình sản xuất
TBCN. Chỉ ra nguồn gôc thực sự của giá trị thặng dư - nguôn gôc của sự giàu có của các nhà tư sản - là sự
chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân làm thuê tạo ra. Vì thế mà học thuyết giá trị thặng đư được coi là
“hòn đá tảng” trong toàn bộ học thuyết kinh tế của C.Mác.
Cũng qua đố mà vạch rõ quan hệ cơ bản giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê là quan hệ bốc lột giá trị
thặng dư, chứ không phải là quan hệ mua - bán, thuê mướn sức lao động, hay quan hệ người góp của - người
góp công.
Vấn đề 7: Tư bản, bản chất của tư bản. Tư bản bất biến và tư bản khả biến?
- Khái niệm và bản chất của tư bản
Tư bản có nhiều hình thức thể hiện như tiền, tư liệu sản xuất, hàng hoá, con người Khi sử dụng chứng vào
việc mang lại giá trị thặng đư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê; thì tiền, tư liệu sàn xuất, hàng hoá, con
người trờ thành tư bản. Như vậy, tư bản không phải là một vật, mà là một quan hệ sản xuất nhất định giữa
người và người, nó có tích chất tạm thời trong lịch sử.
Qua nghiên quá trình sản xuất giá trị thặng dư có thể đi đến định nghĩa chính xác về tư bản như sau: Tư bản
ỉà giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê.
Bản chất của tư bản phản ánh quan hệ sản xuất xã hội, trong đố giai cấp tư sản chiếm đoạt gi á trị thặng dư
do giai cấp công nhân sáng tạo ra. Hay nói cách khác, bản chất của tư bản là quan hệ bóc lột giữa giai cấp tư
sản và giai cấp công nhân.
- Căn cứ và ý nghĩa phân chia tư bản sản xuất thành tư bản bất biến và tư bản khả biến
Muốn tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là biến
tư bản tiền tệ thành các yếu tố cùa quá trình sản xuất, gọi là tư bản sản xuất.
C.Mác chia tư bản sản xuất thành hai bộ phận: tư bản bất biến và tư bản khả biến.
- Tư bản bất biến
11
Trước hết, xét bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất, bao gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
nguyên vật liệu, nhiên liệu Giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của công nhân bảo toàn và di
chuyển vào giá trị của sản phẩm. Cái bị tiêu dùng của tư liệu sản xuất là giá trị sừ dụng, kết quả của việc tiêu
dùng đó là tạo ra một giá trị sử dụng mới. Còn giá trị của tư liệu sản xuất được bảo toàn dưới dạng giá trị sử
dụng mới chứ không phải được sản xuất ra.
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo toàn và di chuyển vào sản
phẩm, tức là không thay đổi về lượng giá trị. (Ký hiệu là c).
- Tư bản khả biến
Bộ phận tư bản dùng để mua hàng hóa sức lao động thì lại khác. Một mặt, giá trị của nó chuyển thành giá trị
các tư liệu sinh hoạt của công nhân và biến mất trong quá trình tiêu dùng của người công nhân và gia đình anh
ta. Mặt khác, trong quá trình lao động sản xuất, lao động trừu tượng của công nhân lại tạo ra một lượng giá tộ
mới lớn hom giá trị của sức lao động. Lượng giá trị mới bao gồm giá trị của sức lao động và giá trị thặng đư
(v+m). Như vậy, bộ phận tư bản dùng để mua hàng hóa sức lao động đã không ngừng chuyển hóa từ đại lượng
bất biến thành một đại lượng khả biến, vì đã táng lên về lượng ưong quá tình sản xuất
Tư bản khả biến là bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu
tượng cùa công nhân làm thuê mà tăng lên, tức thay đổi về lượng gọi là tư bản khả biến (ký hiệu là v).
Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa đã giúp C.Mác tìm ra chìa khóa để làm căn cứ
cho sự phân chia tư bản sản xuất thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Bộ phận tư bản bất biến thì được
lao động cụ thể của công nhân không thay đổi về lượng giá trị, còn giá trị của bộ phận tư bản khả biến nhờ lao
động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên.
Ý nghĩa của việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến cho thấy không phải toàn bộ tư bản sản xuất
(toàn bộ chi phí tư bản ban đầu bỏ vào sản xuất) tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, mà chi có lao động
trừu tượng của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, tức là chi có bộ phận tư bản khả
biến mới tham gia vào việc tạo ra giá tri thặng dư. Nếu không có sự phân chia này, người ta sẽ nhầm tưởng
toàn bộ tư bản sản xuất tạo ra giá trị thặng dư, dẫn đến quan niệm cho rằng quan hệ giữa giai cấp tư bản và
công nhân quan hệ người góp của, người góp công.
Vì thế sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ bản chất bóc lột của CNTB là quan hệ bóc lột
giá trị thặng dư của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê.
- Vai trò của tư bản bất biến - tư bản khả biến trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư
Quá trình sản xuất TBCN là sự thống nhất giữa quá tình sản xuất giá trị sử dụng và quá trình sản xuất giá trị
thặng dư. Vì thế, muốn tiến hành sản xuất cần cố đủ cả hai bộ phận ỉà tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là
cần cả hai bộ phận tư bản bất biến và tư bản khả biến, không thể thiếu bộ phận tư bản nào.
Trong đó, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất giá trị thặng dư, bộ phận này
góp phần quyết định năng suất lao động, trình độ kỹ thuật của sản xuất, qui mô sản xuất Còn tư bản khả biến
có vai trò quyết định trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư, vì nó chính là bộ phận tư bản lớn lên, nếu không
có người lao động thì dù máy móc thiết bị có tối tân, hiện đại đến mấy cũng không thể tự vận hành được. Vì
thế việc sử dụng lao động chất lượng cao và phân công lao động hiệu quả, hợp lý có vai trò cực kỳ quan trọng.
Vấn đề 8: Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Giá trị thặng dư siêu
ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
Các phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ trong chủ nghĩa tƣ bản
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đỗi
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất chủ nghĩa tư bản, kỹ thuật còn thấp thì phương pháp chủ
yếu để tăng giá trị thặng đư ỉà kéo dài độ dài của ngày ỉao động.
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện trên cơ sở kéo
dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân, trong điều kiện thời gian ỉao động tất yếu không đổi.
Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối.
Ví dụ:
12
Giả sử ngày lao động là 10 giờ, được chia thành thờỉ gian ỉao động tất yếu là 5 giờ, thời gian lao động thặng
dư là 5 giờ.
Tỷ suất giá trị thặng dư m‟ 1 = 5/5 = 100% (ngày lao động 10 giờ).
Nếu nhà tư bản kéo dài ngày lao động thành 11 giờ, trong khi thòi gian lao động tất yếu không đổi, nên thời
gian lao động thặng dư táng thành 6 giờ.
Tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên m‟2 = 6/5 = 120% (ngày lao động 11 giờ).
Nhờ phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối mà tỷ suất giá trị thặng dư đã táng từ 100% lên 120%.
Phương pháp này bị giới hạn về độ dài ngày lao động (không thể quá 24 giờ) và giới hạn về thể lực, tinh
thần của người lao động (không thể làm việc suốt 24 giờ). Ngoài ra, những cuộc đấu tranh ngày càng mạnh
mẽ của giai cấp công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm đã đạt kết quả là tối đa chỉ 8 giờ/ngày; nên không thể
kéo dài mãỉ độ dài ngày lao động.
Tuy nhiên, cho đến nay phương pháp này vẫn được sử dụng cùng với sự biến tướng của nó là táng cường độ
lao động, lao động gia công, làm việc ngoài giờ.
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện bằng cách rút
ngắn thời gian lao động tất yếu, để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư, dựa trên cơ sở
tăng năng suất lao động xã hội, trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Giá trị thặng dư được sản xuất bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối.
Ví dụ:
Giả sử ngày lao động là 10 giờ, được chia thành thời gian lao động tất yếu là 5 giờ, thời gian lao động thặng
dư là 5 giờ.
Thì tỷ suât giá trị thặng dư m‟ I = 5/5 = 100% (thời gian lao động tất yếu 5 giờ)
Giả sừ nhà tư bản rút ngắn thời gian lao động tất yếu xuống Igiờ còn 4giờ, thì thời gian lao động thặng dư sẽ
táng tương ứng thành 6 giờ.
Thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tảng thành m‟2 = 6/4 = 150% (thời gian lao động tất yếu 4 giờ).
Như vậy tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 150%, nhanh hom nhiều so với phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư tuyệt đối.
Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động, bằng cách giảm giá trị các tư liệu
sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân. Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cách tăng năng suất trong
các ngành sản xuất các tư liệu sinh hoạt đó. Tức là tăng năng suất ỉao động xã hội.
Vậy, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối được thực hiện bằng cách táng năng suất lao động xã
hội, nên khá tốn kém và chi phí cao, nhưng bù lại năng suất lao động lại có thể tăng vô hạn và tỷ suất giá trị
thặng dư rất cao. Trong CNTB, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ
yếu.
Lịch sừ phát triển của lực lượng sản xuất và cùa tăng năng suất xã hội dưới CNTB đã trải qua ba giai đoạn:
hợp tác giản đơn, công trường thủ công, đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột
giá trị thăng dư tương đối.
13
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng
cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê.
- Giá trị thặng dư siêu ngạch
Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao
động trong xí nghiệp của mình nhằm hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội cùa hàng hóa,
nhờ vậy họ thu được giá tri thặng dư siêu ngạch.
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá
trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
Xét từng trường hợp, giá tri thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại
nhanh chóng mất đi. Nhưng xét toàn bộ xã hội thì giá tri thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường
xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản, là động lực trực tiếp và mạnh nhất
thúc đẩy cạnh tranh, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới quản lý .nhằm tăng năng suất lao
động, hạ thấp giá trị hàng hóa.
Giá trị thặng dư siêu ngạch ỉà hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
So sánh giữa giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch:
Giá trị thặng dư tương đối
Gỉá trị thăng dư siêu ngạch
Giống nhau
Đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động
Khác nhau
Tăng năng suất lao động xã hội
Tăng năng suất lao động cá biệt
Toàn bộ các nhà tư bản thu được
Một số nhà tư bản thu được
Biểu hiện quan hệ bóc lột của toàn
bộ giai cấp tư sản đối với toàn bộ
giai cấp vô sản
Vừa biểu hiện quan hệ giữa tư bản và
lao động làm thuê, vừa biểu hiện quan
hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản
Trên cơ sở đó C.Mác cho rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương
đối, vì chúng đều giống nhau về phương pháp sản xuất, đó là đều dựa vào biện pháp táng năng suất lao động.
Giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên việc tăng năng suất lao động xã hội, còn giá trị thặng dư siêu ngạch lại
dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt. Mặt khác, năng suất lao động xã hội thường xuyên táng lên do sự
cạnh tranh giữa các nhà tư bản, làm cho năng suất lao động cá biệt thường chuyển hóa thành năng suất lao
động xã hội nên giá trị thặng dư siêu ngạch có thể chuyển hóa thành giá trị thặng dư tương đối.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu: các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư chỉ ra các phương pháp bóc lột
TBCN. Mặt khác, việc nghiên cứu này cũng có ý nghĩa trong việc tìm hiểu các biện pháp gia tăng năng lực
sản xuất, vì suy cho cùng, xã hội nào cũng cần phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động để đáp ứng nhu cầu
không ngừng tăng lên của con người, vấn đề thực chất mà C.Mác phê phán CNTB là việc chiếm đoạt giá trị
thặng dư của giai cấp tư sản tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn, chứ không phải phê phán việc táng năng
suất lao động.
Vấn đề 9: Thực chất, động cơ của tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư
bản. Y nghĩa của việc nghiên cứu tích lũy và tái sản xuất mở rộng
Thực chất động cơ tích lũy tƣ bản và các nhân tố ảnh hƣởng đến quy mô tích lũy tƣ bản:
Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và tiếp diễn một cách liên tục không ngừng.
Sản xuất hiểu theo nghĩa rộng cũng có nghĩa là tái sản xuất. Có hai loại tái sản xuất: tái sản xuất giản đom
và tái sản xuất mở rộng.
14
Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ. Loại hình này là đặc trưng của
sản xuất nhỏ.
Tái sản xuất mở rộng là quá dinh sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước. Loại hình này là đặc trưng
của sản xuất nhỏ.
Nét điển hình của CNTB là tái sản xuất mở rộng, vì khát vọng không giới hạn về giá tri thặng dư thúc đẩy
nhà tư bàn không ngừng mở rộng quy mô sản xuất. Muốn vậy, phải biến một bộ phận giá trị thặng dư thành tư
bản phụ thêm. Đó chính là quá trình tích lũy tư bản.
Thực chất, động cơ của tích lũy tƣ bản
Tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản.
Thực chất của tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư. Hay tích lữy tư bản là tái sản xuất ra tư bản với
quy mô ngày càng mở rộng.
Ví dụ về tích lũy tư bản:
Giả sử tỉ suất giá trị thặng dư m‟= 100%, tư bản ứng trước là 120 được phân chia như sau:
Năm thứ nhất qui mô sản xuất là: (80c + 40v + 40m).
Với 40m thu được, nhà tư bản chỉ dành cho tiêu dùng cá nhân 10m, còn 30m dùng để tích lũy, mở rộng sản
xuất. Nên tư bản ứng trước táng từ 120 lên 150, trong đó phần táng thêm 30m được chia thành 20c và l0v.
Vì thế, năm thứ hai qui mô sản xuất là: (80+20)c + (40+10)v + 50m = lOOc + 50v + 50m
Với 50m thu được, nhà tư bàn lại dành 20m cho tiêu dùng cá nhân, còn 30m đê tích lũy, mở rộng sản xuất.
Nên tư bản tăng từ 150 lên 180, và phần táng thêm 3Om được chia thành 20c và lOv.
Năm thứ 3 qui mô sản xuất tiếp tục tăng: (80+20+20) c 4 (40+10+10) V + 60m = 120c + 60v + 60m.
Cứ tiếp tục tích lũy tư bản, để tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản sẽ ngày càng thu được nhiều giá trị thặng dư
hơn và lại càng có điều kiện để tăng tích lũy tư bản nhiều hơn, nên qui mô tư bàn ngày càng lớn lên. Sự hình
thành các công ty khổng lồ ngày nay là bằng chứng khẳng định điều đố.
Động cơ thúc đẩy tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng là quy luật giá trị thặng dư và sự cạnh tranh giữa
các nhà tư bản. Việc theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch thúc đẩy các nhà tư bản không ngừng tích lũy.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến quy mô tích lũy tƣ bản
Ngoài việc phụ thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng đư thành tích ỉũy và tiêu dùng, thì quỉ mô
tích lũy tư bản còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Trình độ bóc lột sức lao động, nhà tư bản nâng cao tình độ bóc lột giá trị thặng dư bằng cách cắt xén tiền
lương, kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động để tăng khối lượng giá trị thặng dư. Bằng cách này nhà
tư bản không cần ứng thêm máy móc thiết bị mà chỉ cần mua thêm nguyên liệu, tận dụng công suất máy móc,
giảm hao mòn vô hình
- Trình độ năng suất lao động xã hội, năng suất lao động càng lớn thì giá trị thặng dư thu được càng lớn,
càng có nhiều giá trị thặng dư để tích lũy tư bản.
- Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản được sử dụng và tư bản đã tiêu dung, chênh lệch giữa tư bản
được sử dụng và tư bản tiêu
dừng phản ánh trình độ hiện đại của máy móc thiết bị. Sự chênh lệch này càng lớn, thì năng suất lao động
càng cao.
Quy mô của tư bản ứng trước, quy mô tư bản ứng trước càng lớn thì giá trị thặng dư thu được càng lớn, điều
kiện để tích lũy tư bản càng lớn.
Ý nghĩa của việc nghiên cửu
Việc nghiên cứu tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng cho phép rút ra những kết luận vạch rồ hơn bản chất
bốc lột tư bản chủ nghĩa.
- Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư. Mặt khác, tích lũy tư bản làm cho tư bản được
tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản. C.Mác cho rằng, tư bản úng trước chỉ là giọt nước
trong dòng sông tư bản tích ỉũy.
15
- Quá trình tích lũy tư bản dã biến quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hoá thành quyền chiếm đoạt tư bản
chủ nghĩa.
Như vậy, nguồn gốc của sự giàu có của các nhà tư bản không phải do họ làm ra, mà do giá trị thặng dư của
công nhân làm thuê tạo ra. Cho nên giai cấp tư sản đã làm giàu trên sức lao động của giai cấp công nhân.
Quá trình tái sản xuất càng mở rộng càng đem lại nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản thì đố cũng chính là
phần lao động không công của người công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện để bóc lột chính
người công nhân. Vì thế, C.Mác khẳng định, trong cuộc đấu banh xóa bỏ giai cấp tư sản, giai cấp công nhân
chỉ đòi lại lao động của mình.
Hơn nữa, chế độ tư hữu TBCN khư khư bảo vệ quyền chiếm đoạt của giai cấp tư sản chính là bảo vệ chế độ
bóc lột lao động làm thuê. Vì thế, muốn xóa bỏ tận gốc chế độ bóc lột lao động làm thuê phải xóa bỏ chế độ tư
hữu TBCN, xây dựng chế độ sở hữu công cộng đoi với tư liệu sản xuất.
Ngoài ra, việc nghiên cứu tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng cũng chỉ ra cách thức phát triển của nền sản
xuất xã hội. Chỉ có tích lũy và tái sản xuất mở rộng mới có thêm nhiều của cải, mới phát triển được lực lượng
sản xuất xã hội
Vấn đề 10: So sánh lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận vói giá trị thặng dư và tỷ suất giá trị thặng dư
So sánh giữa lợi nhuận và giá trị thặng dƣ
Lợi nhuận (p) là sổ dền lời mà nhà tư bản thu được sau khi bán hàng hoá do sự chênh lệch giữa giá cả hàng
hốa và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Lợi nhuận (p) = giá cả hàng hóa - k
Nếu giá cả = giátrịthìp = giátrịH-k = (c + v + m)-(c + v) = m, như vậy ỉợi nhuận chỉ là hình thức biến tướng
của giá ỉrị thặng dư.
So sánh giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư:
Giống nhau: Cả ỉợi nhuận và giá trị thặng dư đều cố chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công
của công nhân.
Khác nhau: Phạm trừ giá trị thặng dư phản ánh đúng nguồn gốc và bản chất của nố ỉà kết quả của sự chiếm
đoạt lao động không công của công nhân. Phạm trù lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hốa của
giá trị thặng dư, nố phản ánh sai lệch bản chất quan hệ giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê.
Mặt khác, do các nhân tố tác động lên giá cả (cung cầu, cạnh tranh ), nên cố sự khác nhau về lượng giữa lợi
nhuận và giá trị thặng dư:
Khi giá cả = giá trị thì lợi nhuận = giá trị thặng dư
Khi giá cả > giá trị thì lợi nhuận > giá trị thặng dư
Khi giá cả < giá trị thì lợi nhuận < giá trị thặng dư
Phạm trù lợi nhuận đã che dấu bản chất quan hệ bốc lột giữa tư bản và công nhân làm thuê. Nó gây ra sự
lầm tưởng giá trị thặng đư hay lợi nhuận ỉà do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) tạo ra.
So sánh giữa tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dƣ
Tỷ suất lợi nhuận (p‟) là tỉ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước.
Công thức p‟ = m/ (c + v) X100%
Tỷ suất giá trị thặng dư (my) là tỉ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến tương ứng để sản
xuất ra số giá tri thặng dư đó.
Công thức m‟ = m/v X100%
Giữa tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư khác nhau cà về chất và lượng.
Về chất: Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân; còn tỷ suất lợi
nhuận chỉ phản ánh hiệu quả đầu tư của tư bản ứng trước. Tỷ suất lợi nhuận là con số thuần túy kinh tế cho
biết đầu tư vào đâu sẽ có lợi hơn mà thôi.
Về lượng: Tỷ suất lợi nhuận luôn nhỏ hom tỷ suất giá trị thặng dư rất nhiều, vì mẫu số (c + v) lớn hom nhiều
lần V.
16
Vì thế, tỷ suất lợi nhuậrl*che đậy hoàn toàn quan hệ bóc lột TBCN.
Những nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất lợi nhuận
- Tỷ suất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn và ngược lại.
- Cấu tạo hữu cơ của tư bản
Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư không đổi, nếu cấu tạo hữu cơ tư bản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận
càng giảm và ngược lại.
- Tốc độ chu chuyển của tư bản
Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản càng lớn thì tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm càng táng lên, do đó tỷ suất
lợi nhuận cũng càng tăng.
- Tiết kiệm tư bản bất biến
Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư yà tư bản khả biến không đổi, nếu tư bản bất biến càng nhỏ thì tỷ
suất lợi nhuận càng cao.
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận giúp phân tích các biện pháp làm tăng lợi
nhuận kinh doanh.
Vấn đề 11: Những nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành tư bản độc
quyền?
Thứ nhất, sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất, hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn.
Thứ hai, vào 30 năm cuối thế kỷ XIX những thành tựu khoa học - kỹ thuật mói xuất hiện được ứng dụng
vào sản xuất ở các ngành luyện gang thép, hóa chât; máy móc mới ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy
tiện ; phát triển các phương tiện vận tải mói: ô tô, tàu thủy, máy bay, đặc biệt là đường sắt Một mặt, những
thành tựu khoa học kỹ thuật mới làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí nghiệp phải có quy mô
lớn; mặt khác, nó dẫn đến táng nang suât lao động, tăng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất
lớn.
Thứ ba, trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tắc động của các quy luật kinh tế TBCN như
quy luật giá tộ thặng dư, quỵ luật tích lũy tư bản, quy luật cạnh tranh, cung cầu ngày càng mạnh mẽ, làm
biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.
Thứ tư, cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiên kỹ thuật, tăng quy mô tích lũy để
thắng thế trong cạnh trạnh. Đồng thời, cạnh tranh gay gắt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còn
các nhà tư bản lớn phát tài, làm giàu với số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngày càng to lớn.
Thứ năm, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới tư bản năm 1873, làm phá sản hàng loạt các xí nghiệp vừa
và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
Thứ sáu, sự phát triển của hệ thống tín dụng TBCN trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất,
nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền.
Từ những nguyên nhân trên, V.I.Lênin khẳng định: “ Cạnh tranh tự do đẻ ra tập trung sản xuất và tập trung
sản xuất này, khi phát triền đến mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền”1.
Trong những riăm 1900, ở Mỹ, Đức, Anh, Pháp đều có tình hình là, các xí nghiệp lớn chỉ chiếm khoảng 1 %
tổng số xí nghiệp, nhưng chiếm hơi % tổng số máy hơi nước và điện lực, gần V2 tồng số công nhân và sản
xuất ra gần Vi tổng số sản phẩm.
Sự tích tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp đẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền.
Bởi vì, một mặt, do có ít xí nghiệp lớn nên dễ dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác, xí nghiệp có quy mô lớn,
kỹ thuật cao nên cạnh tranh với nhau sẽ rất gay gắt, quyết liệt, khó đánh bại đối thủ, chi phí và thiệt hại trong
cạnh tranh rất lớn; Do đó đẫn đến khuynh hướng các xí nghiệp lớn thỏa hiệp với nhau, chia nhau nắm độc
quyền từng ĩĩnh vực.
17
Các tổ chức độc quyền hình thành dưới nhiều hình thức, với nhiều mức độ từ thấp lên cao. Những điều đó
đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của CNTB là CNTB độc quyền, trong đó, quan hệ độc quyền là chủ
yếu, thay thế quan hệ cạnh tranh tự do.
Vấn đề 12: Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Tập trung sản xuất và các tẩ chức độc quyền
Tích tụ và tập trung sản xuất cao độ dẫn đến hình thành các tồ chửc độc quyền là đặc điểm kinh tế cơ bản
cùa chủ nghĩa đế quốc.
Trong những năm 1900, ở Mỹ, Đức, Anh, Pháp đều có tình hình là các xí nghiệp lớn chỉ chiếm khoảng 1%
tổng số xí nghiệp, nhưng chiếm hơi 3A tổng số máy hơi nước và điện lực, gần Vi tổng số công nhân và sản
xuất ra gần Vỉ tổng số sản phẩm.
Sự tích tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp đẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền.
Bởi vì, một mặt, do có ít xí nghiệp lớn nên dễ dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác, xí nghiệp có quy mô lớn,
kỹ thuật cao nên cạnh tranh với nhau sẽ rất gay gắt, quyết liệt, khó đánh bại đối thủ, chi phí và thiệt hại trong
cạnh tranh rất lớn; do đó dẫn đến khuynh hướng các xí nghiệp lớn thỏa hiệp với nhau, chia nhau nắm độc
quyền từng Enh vực.
Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay phần lớn việc sản
xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa nào đó nhằm mục đích thu được lợi nhuận độc quyền cao.
Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hóa, các liên minh độc quyền hình thành theo liên kết ngang, nghĩa là
mới chi liên kết những doanh nghiệp trong cùng một ngành, nhưng về sau theo mối liên hệ dây chuyền, các tổ
chức độc quyền đã phát triển theo liên kết dọc, mở rộng ra nhiều ngành khác nhau. Những hình thức độc
quyền phát triển từ thấp lên cao: Cácten, Xanhđica, Tờ rớt, Côngxoócxiom.
Tư bản ỉàỉ chính và bọn đầu sỏ tài chính
Quá tình tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng cũng giống như trong công nghiệp, do quá trình cạnh
tranh các ngân hàng nhỏ và vừa bị thôn tính dẫn đến hình thành các ngân hàng lớn. Khi sản xuất trong ngành
công nghiệp tập trung ở mức cao, thì các ngân hàng nhỏ không đủ tiềm lực để phục vụ yêu cầu của cáo tổ
chức độc quyền công nghiệp, nên họ tìm đến các ngân hàng lởn. Trong điều kiện đó, các ngân hàng nhỏ phải
tự sáp nhập hoặc bị ngân hàng lớn thôn tính. Quá trình này dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền ngân
hàng.
Sự xuất hiện, phát triển của các tổ chức độc quyền ngân hàng dã làm thay đổi quan hệ giữa tư bản ngân hàng
và tư bản công nghiệp, làm cho ngân hàng bắt đầu có vai trò mới. Ngân hàng từ chỗ chỉ là trung gian trong
việc thanh toán và tửi dụng, nay đã nắm được hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội nên có quyền lực vạn năng,
khống chế mọi hoạt động của nền kinh tế TBCN. Dựa trên địa vị người chủ cho vay, độc quyền ngân hàng cừ
đại diện của mình vào các cơ quan quản lý của độc quyền công nghiệp để theo dõi việc sử dụng tiền vay, hoặc
trực tiếp đầu tư vào công nghiệp. Tnrớc sự khống chế và chi phối ngày càng xiết chặt của ngân hàng, một quá
trình xâm nhập tương ứng trở lại của các độc quyền công nghiệp vào ngân hàng cũng diễn ra. Các tổ chức độc
quyền công nghiệp cũng tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua cổ phần của ngân hàng lớn để
chi phối hoạt động của ngân hàng, hoặc lập ngân hàng riêng phục vụ cho mình. Quá trình độc quyền hóa trong
công nghiệp và trong ngân hàng xoắn xuýt với nhau và thúc đẩy lẫn nhau làm nảy sinh một loại tư bản mới,
gọi là tư bản tài chính.
“Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn
nhất, với tư bản của liên minh độc quyền các nhà công nghiệp” .
Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền, chi phối toàn bộ đòi sống
kinh tế và chính trị của toàn xã hội tư bản gọi là đầu sỏ tài chính.
Đầu sỏ tài chính thiết lập sự thống trị của mình thông qua chế độ tham dự. Thực chất của chế độ tham dự là
một nhà tư bản tài chính lớn có số cổ phiếu khống chế, thống tri được công ty mẹ, rồi dùng vốn của công ty
mẹ để mua cổ phiếu khống chế, thống trị được các công ty con, cứ thế tiếp tục dùng vốn của các công ty con
18
để mua cổ phiếu khống chế, thống trị được các công ty cháu Nhờ có chế độ tham dự và phương pháp tổ
chức tập đoàn theo kiểu móc xích, mà bằng một lượng đầu tư nhỏ, các nhà tư bản độc quyền tài chính có thể
khống chế và điều tiết được một lượng tư bản lớn gấp nhiều lần.
Ngoài “chế độ tham dự” các đầu sỏ tài chính còn sử dụng những thủ đoạn như: lập công ty mới, phát hành
trái khoán, kinh doanh công trái, đầu cơ chúng khoán ở sở giao dịch, đầu cơ ruộng đất để thu được lợi nhuận
độc quyền cao.
Thống trị về kinh tế là cơ sở để các đầu sỏ tài chính thống tri về chính trị và các mặt khác, về mặt chính trị,
các đầu sỏ tài chính chi phối mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, biến nhà nước tư sản thành công cụ
phục vụ lợi ích cho chúng. Sự thống trị ấy đã làm nảy sinh chù nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt và nhiều
thứ chủ nghĩa phản động khác, cùng chạy đua vũ trang gây chiến tranh xâm lược để áp bức, bóc lột các nước
đang phát triển và chậm phát triển.
Xuất khẩu tư bản:
Xuất khẩu tư bản là mang tư bản ra đầu tư ở nước ngoài để sản xuất giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu
tư bản.
Xuất khẩu tư bản là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền, vì ở các nước tư bản phát triển đã tích lũy
được khối lượng tư bản lớn và nảy sinh tình teng “thừa tư bản” tương đối, cần tìm nơi đầu tư có nhiều lợi
nhuận hơn đầu tư trong nước. Trong khi đó ở các nước lạc hậu về kinh tế, giá đất đai thấp, tiền lương thấp,
nguyên liệu rẻ, tỷ suất lợi nhuận cao nhưng lại thiếu tư bản đầu tư. Vì thế, xuất khẩu tư bản là tất yếu.
Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu: xuất khẩu tư bản hoạt động (đầu tư trực tiếp)
và xuất khẩu tư bản cho vay (đầu tư gián tiếp). Xuất khẩu tư bản trực tiếp là đưa tư bản ra nước ngoài để trực
tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao. Xuất khẩu tư bản gián tìêp là cho vay để thu lợi tức. Xét về chủ sở hữu, tư
bản có thể phân tích thành xuất khẩu tư bản tư nhân và xuất khẩu tư bản nhà nước.
Việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất TBCN ra nước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành
trưởng sự thống trị, bóc lột, nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi toàn the giói.
Sự phân dũa thế giới về kỉnh tế giữa các tổ chức độc quyền
Quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển, việc xuất khẩu tư bản tăng lên cả về quy mô và phạm vi hoạt
động, tất yếu dẫn đến sự phân chia thế giới về mặt kỉnh tế giữa các tập đoàn tư bản độc quyền và hình thành
các tổ chức độc quyền quốc tế.
Lịch sừ phát triển của CNTB đã chứng tỏ thị trường trong nước luôn luôn gắn với thị trường ngoài nước.
Trong giai đoạn chù nghĩa tư bản độc quyền, thị trường ngoài nước còn có ý nghĩa đậc biệt quan trọng đối với
các nước đế quốc. Một mặt, do lực lượng sản xuất phát triển cao đòi hỏi ngày càng phải cố nhiều nguồn
nguyên liệu và nơi dêu thụ; mặt khác, do thèm khát lợi nhuận siêu ngạch thúc đẩy tư bản độc quyền tăng
cường bành trướng ra nước ngoài, cần có thị trường ổn định thường xuyên.
Sự đụng độ trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền quốc gia cố sức mạnh kinh tế hùng hậu lại được
sự ủng hộ của nhà nước “của mình” và các cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chứng tất yếu dẫn đến xu hướng
thỏa hiệp, ký kết các hiệp định, để củng cố địa vị độc quyền của chúng trong những ĩĩnh vực và những thị
trường nhất định. Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế.
Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cƣờng quốc đế quốc
Sự phân chia thế giới về kinh tế được củng cố và tăng cường bằng việc phân chia thế giới về lãnh thổ. Các
cường quốc đế quốc ra sức xâm chiếm thuộc địa, bời vì thuộc địa là nơi bảo đảm nguồn nguyên liệu và thị
trường thường xuyên; là nơi tương đối an toàn trong cạnh tranh, bảo đảm thực hiện đồng thời những mục đích
về kinh tế, quân sự và chính trị. Từ sau năm 1880, những cuộc xâm chiếm thuộc địa bắt đầu phát triển mạnh.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nước đế quốc đã hoàn thành việc phân chia lãnh thổ thế giới. Đe
quốc Anh chiếm được nhiều thuộc địa nhất, sau đó đến Nga và Pháp. Số dân thuộc địa của Pháp lại nhiều hom
số dân thuộc địa của 3 nước Đức, Mỹ, Nhật cộng lại.
19
Sự phân chia lãnh thổ xuất phát từ quy luật phát triển không đều của CNTB, tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh
đòi chia lại thế giới. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914-1918, cuộc
Chiến tranh thế giói lần thứ hai 1939-1945 và các cuộc chiến tranh cục bộ.
Năm đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc có liên quan chặt chẽ với nhau nói lên bản chất của chủ
nghĩa đế quốc về mặt kinh tế là sự thống trị của độc quyền, về mặt chính trị là hiếu chiến, xâm lược.
Vấn đề 13: Những nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền nhà nước
CNTB độc quyền chuyển thành CNTB độc quyền nhà nước là khuynh hướng tất yếu. Đến những năm 50
của thế kỷ XX, CNTB độc quyền nhà nưóc trở thành một thực thể rõ ràng. Sự hình thành CNTB độc quyền
nhà nước do các nguyên nhân sau:
Một là, quá trình tích tụ và tập tiling tư bản ngày càng lớn kéo theo tích tụ và tập trung sản xuất càng cao,
tạo ra những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối từ một trung
tâm. Hơn nữa, lực lượng sản xuất xã hội hóa ngày càng cao mâu thuẫn gay gắt vói hình thức chiếm hữu tư
nhân TBCN, tất yếu đòi hỏi phải cố một hình thức mới của quan hệ sản xuất để lực lượng sản xuất phát triển.
Hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đã ỉàm xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc
quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm, ít lợi nhuận,
nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng. Do đố, nhà nước tư sản phải đứng ra đảm nhiệm kinh doanh các
ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư nhân kỉnh doanh các ngành khác cổ lợi hơn.
Ba là, sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản với giai cấp
vô sản và nhân dân ỉao động. Nhà nước phải có những chính sách để xoa dịu những mâu thuẫn đó.
Bốn là, cùng với xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của các liên minh độc quyền quốc
tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích với các đối thủ trên thị trường thế giới mà
từng các tổ chức độc quyền không thể tự giải quyết nổi. Từ đó, đòi hỏi nhà nước tư sản phải tham gia vào điều
tiết các quan hệ chính trị và kinh tể quốc tế.
Ngoài ra, chiến tranh thế giói cùng với tham vọng giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh, việc đối phó với
xu hướng phát triển hệ thống xã hội chủ nghĩa làm cho nhà nước tư bản độc quyền phải can thiệp vào hoạt
động kinh tế.
Vấn đề 14: Bản chất và những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Bản chất của chủ nghĩa tƣ bản độc quyền nhà nƣớc
CNTB độc quyền nhà nước là sự két hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của
nhà nước tư sản thành một thiết chế và thể chế thống nhất. Trong đó, nhà nước tư sản bị phụ thuộc vào các tổ
chức độc quyền và can thiệp vào các quá trình kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu
nguy cho CNTB.
CNTB độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của CNTB độc quyền. Nó là sự thống nhất của ba
quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau: táng sức mạnh của các tổ chức độc quyền; tăng vai trò can thiệp của nhà
nước vào kinh tế; kết hợp sức mạnh kinh tế của độc quyền tư nhân với sức mạnh chính trị của nhà nước trong
một thể thống nhất và bộ máy nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền.
Trong cơ cấu của CNTB độc quyền nhà nước, nhà nước đã trở thành một tập thể tư bản khổng lồ. Nhà nước
vừa là chủ sở hữu những xí nghiệp cững tiến hành bóc lột lao động làm thuê như một nhà tư bản thông
thường; đồng thời nhà nước còn có chức năng chính trị và các công cụ tòn áp xã hội như quân đội, cảnh sát
Cho nên, nhà nước đó là nhà nước của các nhà tư bản, là nhà tư bản tập thể. Vì thế, CNTB độc quyền nhà
nước là một quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội chứ không phải là một chính sách trong giai đoạn độc quyền của
CNTB.
Sự phát triên của CNTB độc quyền nhà nước làm cho vai trò cùa nhà nước tư sản có sự biến đổi, nhà nước
không chỉ can thiệp vào nền sản xuất xã hội bằng thuế, luật pháp mà còn có vai trò tổ chức và quản lý các
doanh nghiệp nhà nước, điều tiết bằng các đòn bẩy kinh tế vào quá trình tái sản xuất. CNTB độc quyền nhà
nước là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất TBCN nhằm duy trì sự tồn tại của CNTB làm cho
CNTB thích nghi với điều kiện lịch sừ mới.
20
Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tƣ bản độc quyền nhà nƣớc
1. Sự kết hợp về nhân sự giữa tổ chức độc quyền và nhà nước
Sự kết hợp về nhân sự giữa tồ chức độc quyền và nhà nước là sự thâm nhập của các nhà tư bản độc quyền
vào bộ máy nhà nước và ngược lại. V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh, sự liên minh cá nhân cửa các ngân hàng với
công nghiệp, được bổ sung bằng sự liên minh cá nhân của ngân hàng và công nghiệp với chính phủ: “Hôm
nay là bộ trưởng, ngày mai là chủ ngân hàng; hôm nay là chủ ngân hàng, ngày mai là bộ trưởng”.
Sự kết hợp về nhân sự được thực hiện thông qua các hội chủ xí nghiệp; chúng trở thành lực lượng chính trị,
kinh tế to lợn, là chỗ dựa cho CNTB độc quyền nhà nước. Các hội chủ xí nghiệp hoạt động như là các cơ quan
tham mưu cho nhà nước, chi phối đường lối kinh tế, chính trị của nhà nước tư sản nhằm lái hoạt động nhà
nước theo hướng có lợi cho tầng lớp tư bản độc quyền. Thông qua các hội chủ, một mặt, các đại biểu của các
tổ chức độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác nhau; mặt khác, các quan chức và
nhân viên chính phủ được cài vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, giữ những chức vụ trọng yếu
chính thức hoặc danh dự, hoặc trở thành những người đỡ đầu của các tổ chức độc quyền. Sự xâm nhập lẫn
nhau này đã tạo ra những biểu hiện mới trong mối quan hệ giữa các tổ chức độc quyền và cơ quan nhà nước từ
trung ương đến địa phương.
2. Sự hình thành và phát triển sở hữu tư bản độc quyền nhà nước
Sở hữu độc quyền nhà nước là sở hữu tập thể của giai cấp tư bản độc quyền có nhiệm vụ ùng hộ và phục vụ
lợi ích của tư bản độc quyền nhằm duy tri sự tồn tại của CNTB. Nó tăng cường mối quan hệ giữa sờ hữu nhà
nước và sở hữu độc quyền tư nhân đồng thời làm gia tăng sở hữu nhà nước.
Sở hữu nhà nước không chỉ bao gồm những động sản và bất động sản cho hoạt động của bộ máy nhà nước,
mà gồm cả những doanh nghiệp nhà nước trong các Enh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông
vận tải, giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội
Sở hữu nhà nước được hình thành dưới nhiều cách thức khác nhau: xây dựng doanh nghiệp nhà nước bằng
vốn ngân sách; quốc hữu hốa các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại; nhà nước mua cổ phần của các xí
nghiệp tư nhân; mở rộng xí nghiệp nhà nưóe bằng vốn tích lũy của xí nghiệp tư nhân .
Sở hữu nhà nước thực hiện các chức năng quan trọng sau:
Một là, mở rộng sản xuất TBCN, bảo đảm địa bàn rộng lớn cho sự phát triển của CNTB bằng việc tham gia
vào những ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn yà tình độ nghiên cứu khoa học cao; hoặc đầu tư vào các ngành sản
xuất cố nguy cơ thua lỗ.
Hai là, giải phóng tư bản của tổ chức độc quyền từ những ngành ít lãi để đưa vào những ngành kinh doanh
cố hiệu quả hom.
Ba là, làm chỗ dựa về kinh tế cho nhà nước để nhà nước điều tiết một số quá trình kinh tế phục vụ lợi ích
của tầng lớp tư bản độc quyền.
Như vậy, sở hữu nhà nước phản ánh xuyên tạc bán chất của chế độ sở hữu tư nhân TBCN, vì nó biểu hiện ra
như “có tính xã hội”; song thực tế nó vẫn là sở hữu tư bản tập thể của tư bản độc quyền, chứ không phải là sở
hữu xã hội.
3. Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản
Sự tham gia của nhà nước tư sản vào việc điều tiết quá tình kinh tế thông qua hệ thống điều tiết kinh tế của
nhà nước, là một tổng thể những thiết chế và thể chế kinh tế của nhà nước. Nó bao gồm bộ máy quản lý gắn
với hệ thống chính sách, công cụ có khả năng điều tiết sự vận động của toàn bộ nền kỉnh tế quốc dân, toàn bộ
quá bình tái sản xuất xã hội theo hướng có lợi cho tầng lớp tư bản độc quyền.
Biểu hiện rõ nét nhất trong sự điều tiết kinh tế của CNTB độc quyền nhà nước là các chính sách kinh tế trên
nhiều lĩnh vực bao gồm: chính sách khắc phục khủng hoảng chu kỳ, chính sách kìm chế lạm phát, chính sách
tăng trường kinh tế, chính sách xã hội, chính sách kinh tế đối ngoại .Các công cụ chủ yếu nhà nước tư sản
dùng để điều tiết kỉnh tế và thực hiện các chính sách kỉnh tế là: ngăn sách nhà nưóc, thuế, hệ thống tiền tệ - tín
21
dụng, các doanh nghiệp nhà nước, kế hoạch hóa hay chương trình kinh tế và các công cụ hành chính – pháp
lý.
PHẦN 3: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI:
Vấn đề 15: Những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân và nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân?
1. Những đặc trung của giai cấp cống nhân theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin)
Trên cơ sở nghiến cứu quy luật kinh tế của xã hội TBCN, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ tính tất yếu
diệt vong của phương thức sản xuất TBCN và sự thay thế tất yếu của phương thức sản xuất cộng sản chủ
nghĩa mà lực lượng duy nhất cố thể tiến hành cuộc cách mạng xã hội để thực hiện sủ mệnh lịch sử đó ỉà giai
cấp công nhân.
Khái niệm giai cấp công nhân được C.Mác và Ph.Ảngghen dùng các thuật ngữ khác để biểu đạt, như: gừii
cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, gmi cấp công nhân đại công nghiệp nhưng tất cả các thuật ngữ đó đều
chi ra hai đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, về phương thức lao động của giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân là những tập đoàn người ỉao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất
có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại, có trình độ xã hội hóa cao (đây là đặc trưng cơ bản phân biệt
người công nhân hiện đại với người lao động thời trước). Nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng phát triển,
máy móc ngày càng nhiều, năng suất lao động ngày càng cao, làm cho công trường thủ công phá sản, những
người thợ thủ công và nông dân bị mất việc buộc phải gia nhập vào hàng ngũ công nhân: „Tất cả các giai cấp
khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công
nghiệp, còn giai cấp vô sản là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiẹp” (C.Mác và Ph.Ăngghen).
Như vậy, giai cấp công nhân là người lao động công nghiệp, ra đời và phát triển cùng với nền sản xuất đại
công nghiệp.
Thứ hai, về địa vị của giai cấp công nhân trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN
Trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN, công nhân là những người không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán
sức lao động, đi làm thuê cho giai cấp tư sản để kiếm sống. Đặc trưng này khiến cho giai cấp công nhân trở
thành giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, lực lượng xã hội đối kháng với giai cấp tư sản.
Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.LLênin đã hoàn thiện khái niệm giai cấp công nhân và
làm rõ hơn vai trò của nó trong quá trình lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH.
2. Nhận thức về những đặc trung của giai cấp công nhân trên thế giói hiện nay
Ngày nay, với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ từ nửa sau thế kỷ XX, giai cấp công
nhân ở các nước TBCN phát triển đã có một số sự thay đổi nhất định so với trước đây:
Về phương thức lao động y công nhân trong thế kỷ XIX chủ yếu là lao động cơ khí, lao động chân tay, thì
nay đã xuất hiện một bộ phận công nhân của những ngành ứng dụng công nghệ ở trình độ phát triển cao, do
vậy công nhân có trình độ tri thức ngày càng cao.
Về phương diện đời sống, công nhân ở các nước tư bản phát triển đã có những thay đổi quan trọng, đó là
một bộ phận công nhân đã có một số tư liệu sản xuất nhỏ để cùng vói gia đình làm thêm trong các công đoạn
phụ cho các xí nghiệp chính; một bộ phận nhỏ công nhân đã có cổ phần trong các xí nghiệp TBCN. Tuy
nhiên, trong thực tế số cổ phần và tư liệu sản xuất của giai cấp công nhân chi chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, còn
tuyệt đại bộ phận tư liệu sản xuât, sô cô phân trong các nước TBCN vẫn nằm trong tay các nhà tư bản lớn. Vê
cơ ban, hai thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân không thay đôi, họ vẫn là lực lượng lao động công
nghiệp tiên tiến, làm ra phần lớn của cái của xã hội tư bản nhưng họ vẫn là những người vô sản, không có
hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản và bị bóc lột ¿á trị thặng dư.
Ở các nước đi theo con đường XHCN, về cơ bản giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đã làm
cách mạng XHCN, giành chính quyền và đang tien hành xây dựng CNXH, họ thật sự trở thành những người
làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, địa vị kinh tế và chính trị của họ có những thay đổi căn
bản.
22
Như vậy, chỉ khi nào giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử thì mới tự giải phóng mình trong
sứ mệnh giải phóng nhân loại và thực sự trở thành người chủ chân chính cùa xã hội.
3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực
lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai, do vậy, về mặt khách
quan là giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xoá bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ mọi
chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN và CSCN.
Việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cần phải tói qua hai bước: Bước thứ nhất, giai cấp vô
sản chiêm lấy chính quyền, trở thành giai cấp thống trị. Bước thứ hai, giai cấp vô sản tiến hành tổ chức xây
dựng xã hội mới - xã hội XHCN và CSCN. Hai bước này quan hệ chặt chẽ với nhau, giai cấp công nhân
không thực hiện được bước thứ nhất thì cũng không thực hiện được bước thứ hai, nhưng bước thứ hai là quan
trọng nhất để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sừ của mình.
Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp được các tầng lớp nhân dân
lao động, tiến hành cuộc cách mạng xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mới về mọi mặt kinh tế, chính trị và
văn hoá, tư tưởng. Đó là một quá tình lịch sử hết sức lâu dài và khố khăn.
Vấn đề 16: Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Ý nghĩa
nhận thức của vấn đề này?
a. Địa vị kinh tế - xã hội của gừd cấp công nhân trong xã hội tư bản
Giai cấp công nhân là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”. Nen sản xuất tư bản càng hiện đại,
giai cấp công nhân càng phát triển. Được “trí thức hóa ”, họ là lực lượng làm ra phàn lớn của cải cho xã hội,
nhưng họ vẫn là người không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất và là người làm thuê, chịu sự bốc lột của giai
cấp tư sản. Giai cấp công nhân đối lập trực tiếp về lợi ích cơ bản với giai cấp tư sản; trong khi giai cấp tư sản
muốn duy trì chế độ tư hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất; ngược lại, giai cấp công nhân lại muốn xóa bỏ
chế độ sở hữu đổ, giành chứih quyền về tay mình và xây dựng xã hội mới không còn chế độ người bóc lột
người.
Giai cấp công nhân gắn với nền sản xuất đại công nghiệp, môi trường làm việc, sinh sống tập trung, điều
kiện đó giúp cho họ đoàn kết chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho mình mà những người
lao động khác không có ưu thế đó.
Giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích đại đa số quần chúng nhân dân lao động, do đó,
tạo cho họ khả năng đoàn kết với các giai cấp, tầng lớp lao động khác trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư
sản, giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội.
b. Những đặc điểm chính trị - xã hội của giai cấp công nhân
Do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bàn làm chỏ giai cấp công nhân có những
phẩm chất ưu việt han các giai cấp khác, những phẩm chất ấy là:
Thứ nhất, là giai cấp tiên phong cách mạng, vì họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, được trang bị
bởi lý luận khoa học, cách mạng, luôn đi đầu trong mọi phong trào cách mạng để thực hiện mục tiêu xây dựng
xã hội mới tiến bộ, nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo quần chứng cách mạng.
Thứ hai, là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để. Họ làm cách mạng đến cùng, xóa bỏ tận gốc chế độ
người bóc lột người, vì họ chỉ có thể đứợc giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội.
Thứ ba, là giai cấp có ý thức tổ chức, kỷ luật cao. Chính hệ thống sản xuất mang tính chất dây chuyền hiện
đại, nhịp độ làm việc khẩn trương và kỷ luật lao động nghiêm ngặt cùng với cuộc sống đô thị, tập trung rèn
luyện cho giai cấp công nhân eó tính tổ chức, kỷ luật cao. Tính tổ chức, kỷ luật cao càng thể hiện rõ khi thành
lập được chính đảng của giai cấp công nhân, giúp họ thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.
Thứ tư, là giai cấp có bản chất quốc tế. V.LLênin đã chỉ ra: Tư bản là lực lượng quắc tế muốn thắng nó cần
phải có sự liên minh quốc té. Giai cấp tư sản không chỉ bóc lột giai cấp công nhân ở một nước mà bóc lột giai
cấp công nhân ở nhiều nước, sản phẩm được tạo ra là kết quả của công nhân và người lao động tại nhiều quốc
23
gia, vì thế giai cấp công nhân không chi có khả năng đoàn kết giai cấp mình mà còn liên minh với các giai cấp
khác và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sừ.
Ý nghĩa về mặt nhận thức
Các nhà lý luân của chủ nghĩa Mác-Lênin đã dựa vào những điều kiện khách quan đã nêu ra và luận giải sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Trong tắt cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ duy
nhất giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử và đủ điều kiện xóa bỏ CNTB, từng bước xây dựng CNXH tiến tới
CNCS trên phạm vi toàn thế giới.
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi tầng
lớp xã hội, làm cho giai cấp công nhân có sự biến đồi nhất định về cơ cấu; mặt khác, CNTB đang có sự điều
chỉnh để thích nghi và tạm thời có bước phát triển. Song, tất cả những điều đó không làm thay đổi địa vị kinh
tế - xã hội và đặc điểm chính trị-xã hội của giai cấp công nhân. Do đó, giai cấp công nhân vẫn là giai cấp duy
nhất có sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ CNTB, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân
và toàn thể nhân ỉoại khỏi mọi áp bức bất công, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản văn minh.
Vấn đề 17: Vai trò của ĐCS trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN. Liên hệ vai trò của ĐCS
Việt Nam?
Vai trò của Đảng Cộng sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định trước tiên trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân.Bởi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản,chừng nào và chỉ khi nào giai cấp công nhân tự tổ chức ra
chính Đảng của mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh thì mới đảm bảo giành được thắng lợi trọn vẹn,hoàn thành
được sứ mệnh lịch sử của mình.Để thực hiện được vai trò lãnh đạo đó,Đảng Cộng sản phải có những nhiệm
vụ hết sức to lớn sau đây :
Đề ra đường lối chiến lược,sách lược đúng đắn và phù hợp để dựa vào đường lối chiến lược,sách lược đó mà
Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo đối với toàn xã hội.
Đảng phải biết tổ chức tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng
để biến đường lối,chủ trương của Đảng thành hiện thực,thành những giá trị vật chất và tinh thần để mang lại
ấm no hạnh phúc cho nhân dân.
Làm tròn những nhiệm vụ và vai trò nói trên là Đảng Cộng sản đã hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân.
Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo V.I. Lênin, ở các nước tư bản quy luật hình thành của của đảng cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân, nhưng trong mỗi nước, sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử, tùy theo
điều kiện của mỗi nước. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác t Lênin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng ta ra đời đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công
nhân, làm cho cách mạng nước Việt Nam có sự phát triển về chất.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên
tắc tập trung dân chù làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
công nhân và nhân dân lao động làm mục đích tối cao của mình.
Hơn 80 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành xuất sắc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dẩn và trong quá trình thực hiện cách mạng XHCN, Đảng đã khẳng định vai trò lãnh đạo vững
chắc của mình, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng nước ta vươt qua nhiều khó khăn, thừ thách và đạt được những
thắng lợi to lớn đạc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước từ 1986 đến nay.
Hiện nay, phát huy thành tựu đạt được sau những năm đổi mới, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh. Với phẩm chất và năng lực của mình, chứng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
với sự nghiệp cách mạng và sự phát triển của dân tộc ta là không có lực lượng nào có thể thay thế được.
24
Vấn đề 18: Khái niệm và nguyên nhân của Cách mạng XHCN. Liên hệ Cách mạng XHCN ở Việt
Nam?
1. Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng nhằm thay thế chê độ TBCN lỗi thời bằng chế độ XHCN;
trong cuộc cách mạng đó, giai câp công nhân là giai cấp lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động
xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Theo nghĩa hẹp, cuộc cách mạng về chính trị - giành chính quyền.
Theo nghĩa rộng, cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh lực nhằm xây dựng CNXH, tiến tói CNCS.
2. Nguyên nhân và tiến trình của cách mạng xã hộỉ chủ nghĩa
Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xã hội chủ nghĩa là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất
xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất.
Mâu thuẫn này đã diễn ra thường xuyên, biểu hiện ngày càng gay gắt và trở thành mâu thuẫn cơ bản của chế
độ TBCN. Trong lữih vực kinh té, tính tổ chức, tính kế hoạch cao trong từng doanh nghiệp ngày càng tăng
mâu thuẫn với tính vô tổ chức của sản xuất toàn xã hội. Quy luật cạnh tranh, tính chất vô chính phủ trong sản
xuất dưới CNTB dẫn tới khủng hoảng kinh tế thừa và nạn thất nghiệp. Để khắc phục tình trạng ấy, giai cấp tư
sản đã có những biện pháp điều chỉnh, nhưng đó chỉ là những biện pháp để giai cấp tư sản duy trì quan hệ sản
xuất khi nó không còn phù hợp với lực lượng sản xuất đã xã hội hóa, chứ không thể giải quyết triệt để mâu
thuẫn cơ bản của CNTB. Sự phù hợp thật sự với tính chất xã hội hóa ở trình độ ngày càng cao cùa lực lượng
sản xuất chỉ có thể là sự thay thế quan hệ sản xuất TBCN bằng quan hệ sản xuất XHCN và phải thông qua
cuộc cách mạng XHCN.
Tuy nhiên, cuộc cách mạng XHCN không tự diễn ra mà là kết quả của sự giác ngộ của giai cấp công nhân
và quần chúng nhân dân lao động. Giai cấp công nhân đã dựa trên sự tiếp thu lý luận khoa học, cách mạng của
chủ nghĩa Mác - Lenin, tự mình tổ chức ra chính đảng, tiến hành tuyên fruyen vận động quần chúng nhân dân
đứng lên lật đổ chế độ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Cách mạng XHCN nổ ra và thành công còn phụ thuộc vào thời cơ cách mạng, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa
yếu tố bên trong và bên ngoài. Bên trong, giai cấp thống trị cũ đã suy yếu, mâu thuẫn nội bộ, xâu xé lẫn nhau;
giai cấp lãnh đạo cách mạng đã trưởng thành và các tầng lớp nhân dân đứng về phía lực lượng cách mạng, sẵn
sàng tham gia và hy sinh cho cách mạng. Bên ngoài, có sự đồng tình, ủng hộ của phong trào cách mạng và lực
lượng tiến bộ trên thế giới, kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch quốc tế.
Tiến trình cách mạng: Cách mạng XHCN trải qua hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là thực hiện cuộc cách
mạng về chính trị - giành chính quyền; giai đoạn thứ hai, dùng chính quyền của mình xây dựng xã hội mới.
3. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Cách mạng XHCN ở Việt Nam là một quá trình với hai giai cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cách mạng
xã hội chủ nghĩa
a. Giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Sau khi thực dân Pháp xâm lược, nước ta trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân ta đã tiến hành
nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và chế độ phong kiến, song vì không có đường lối đúng đắn
và thiếu tổ chức có lý luận cách mạng khoa học lãnh đạo, nên các phong trào đều thất bại. Sau khi Đảng Cộng
sản Việt Nam thành lập (1930) và lãnh đạo, với đường lối đúng đắn và phương pháp phù hợp, cách mạng
nước ta đã giành được những thắng lợi vĩ đại: Cách mạng tháng Tám (1945); tiếp theo, chúng ta tiến hành
thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, hoàn thành xuất sắc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
b. Giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Đảng ta xác định “làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Trên thực tế, sau khi giải phóng, miền Bắc
đã bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH và trở thành hậu phương lớn cho dền tuyến lớn miền Nam đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược. Từ sau 1975, cả nước cùng đi lên CNXH. Mặc dù sự nghiệp cách mạng gặp nhiều khó
khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng
25
cảm và đổi mới đã vượt qua mọi khó khăn, đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong thời kỳ đổi mới (từ
1986 đến nay) và tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Vấn đề 19: Đặc điểm, thức chất của thời kỳ quá độ lên CNXH. Liên hệ ở Việt Nam?
Đặc điểm của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là sự tồn tại những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh
những nhân tố mới của CNXH trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau fren tất cả các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội. Cụ thể:
Trên lĩnh vực kinh tế: tồn tại nền kinh té nhiều thành phần, các thành phần kinh tế này tồn tại trong mối
quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau, có những mâu thuẫn cần được giải qúyết trong suốt thời kỳ
quá độ.
Trên lĩnh vực chính trị: kết cấu xã hội - giai cấp cũng đa dạng, phức tạp, trong xã hội tồn tại nhiều thành
phần giai cấp với trình độ và ý thức khác nhau, có những lợi ích thống nhất nhưng cũng có mâu thuẫn, các
giai cấp, tầng lớp này vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau.
Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa: còn tồn tại nhiều yếu tố tư tưởng văn hóa khác nhau, có các yếu tố văn hóa
cũ và các yếu tố mới đang hình thành đan xen trong đời sống xã hội, chứng thường xuyên đấu tranh với nhau.
Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH chính là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới -
xã hội XHCN, đó là thời kỳ cải biến cách mạng lâu dài, khó khăn và phức tạp.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản đã bị đánh bại, không còn là giai
cấp thống trị và những thế lực chống phá CNXH với giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động.
Trong thời kỳ quá độ, cuộc đấu tranh diễn ra trong điều kiện giai cấp công nhân đã nắm được chính quyền
nhà nước, quản lý tất cả các Enh vực của đời sống xã hội. Cuộc đấu tranh diễn ra với những nội dung, hình
thức mới trong tắt cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
Tóm lại, thời kỵ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới - xã hội xã
hội chủ nghĩa, được bắt đầu khi giai cấp công nhân giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, kết thúc
khi xây dựng xong cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về thời kỳ quá độ và các loại hình quá độ, thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam là thời kỳ quá độ “đặc biệt của đặc biệt” (quá độ gián tiếp hay quá độ bỏ qua từ xã hội
thuộc địa, nửa phong kiến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, sau
khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Thời kỳ quá độ lên CNXH ở miền Bắc diễn ra từ sau
1954 và thực hiện trên phạm vi cả nước sau năm 1975 đến nay.
Do điểm xuất phát thấp khi bước vào thời kỳ quá độ, trên cơ sở một nền kinh tế tiểu nông, văn hóa xã hội
lạc hậu, chưa thực hiện công nghiệp hóa, lại bị hậu quả chiến tranh nặng nề và thường xuyên bị kẻ thù phá
hoại, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ chuyển biến cách mạng vô cùng khó khăn
phức tạp và lâu dài, trước hết phải xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mà nhiệm vụ trung tâm là tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp tục sự nghiệp đổi mới toàn diện nhằm đưa nướe ta tiến lên thực hiện mục tiêu:
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Vấn đề 20: Những đặc trưng cơ bản của nhà nước XHCN. Liên hệ với những đặc trưng của CNXH ở
Việt Nam?
1. Những đặc trƣng cơ bản của xã hội XHCN
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, xã hội XHCN là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội
CSCN, có những đặc trưng cơ bản sau:
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội XHCN là nền sản xuất công nghiệp hiện đại phát triển từ những tiền đề
vật chất - kỹ thuật của CNTB nhưng có trình độ cao hơn so với CNTB.
Xã hội XHCN đã xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất.