Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

LỊCH SỬ LIÊN XÔ VÀ LIÊN BANG NGA SAU THẾ GIỚI THỨ HAI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (439.57 KB, 65 trang )

LÊ PHỤNG HOÀNG
______________
SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
KHOA LỊCH SỬ
Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
2007
1
I. THỜI CẦM QUYỀN CỦA STALIN (1945 – 1953).
1. Sức mạnh vượt bậc của Liên Xô sau chiến tranh.
Ngày 22.6.1945, đúng 4 năm sau ngày chiến tranh Xô-Đức bùng phát, tại Quảng
trường Đỏ đã diễn ra cuộc diễu binh mừng chiến thắng. Tuy Hội đồng Quốc phòng nhà
nước – cơ quan nắm toàn bộ quyền lực trong thời gian chiến tranh – còn hoạt động
đến ngày 4.9.1945, nghóa là cho đến sau ngày nước Nhật quân phiệt kí văn kiện đầu
hàng không điều kiện (2.9.1945), chiến tranh thực ra đã kết thúc thắng lợi vào ngày
9.5.1945, khi đại diện quân đội Đức quốc xã bại trận kí vào văn kiện đầu hàng không
điều kiện trước sự hiện diện của nguyên soái Zhukov và các chỉ huy đồng minh khác.
Tuy ra khỏi cuộc chiến tranh trong tư cách người chiến thắng, đất nước và người
dân xô viết phải trả một cái giá khủng khiếp cả về vật chất và nhân mạng.
Hơn 17.000 thành phố và thò trấn và hơn 7 vạn làng mạc bò phá huỷ, làm cho 25
triệu người mất nhà ở, gần 3,2 vạn cơ sở công nghiệp, 6,5 vạn km đường sắt, gần
10 vạn nông trang tập thể, gần 1.900 nông trường quốc doanh bò tàn phá, trên
11.000 mỏ than (sản xuất 130 triệu tấn) bò phá huỷ toàn bộ hay một phần, 7 triệu
ngựa, 17 triệu gia súc có sừng bò giết Tính ra tổng số thiệt hại vật chất ước tính
2.600 tỉ rúp, tương đương 30% tài sản quốc gia, tương ứng với 7 năm lao động. So
với các nước tham chiến khác, tổn thất vật chất của Liên Xô ước tính tương đương
vốn đầu tư cho 4 kế hoạch 5 năm đầu tiên, hay 5 lần thu nhập quốc dân năm 1941,
chiếm 50% của cả châu Âu, còn nều so với từng nước thì gấp 4 lần của Đức, 5 lần
của Ba Lan, 10 lần của Nhật, 42 lần của Pháp, 70 lần của Anh và 88 lần của Mó.
Mất mát lớn lao hơn cả chính là con người: gần 27 triệu, trong đó có 8,6 triệu quân
nhân. Số tổn thất này tương ứng 15% dân số xô viết đương thời và chiếm trên 40%
tổn thất toàn thế giới.


Tính ra chiến tranh đã kéo lùi sự phát triển kinh tế của Liên Xô ít nhất là 10
năm. Sản lượng gỗ và xi măng năm 1945 chỉ bằng mức năm 1928 – 1929, sản lượng
máy kéo, dầu mỏ, gang – bằng mức các năm 1930 – 1933, sản lượng than, thép và kim
loại đem bằng mức các năm 1934 – 37; sản phẩm nông nghiệp chỉ đạt 60% mức trước
chiến tranh; diện tích đất canh tác và số đầu gia súc giảm khoảng 25 – 30% so với
trước chiến tranh.
Bù lại, những tổn thất kinh khủng về người và vật chất đã khiến Liên Xô vươn
lên thành đại cường thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mó. Sức mạnh tăng vọt của Liên Xô
được thể hiện trước hết qua sự mở rộng về mặt lãnh thổ.
2
Liên Xô là cường quốc chiến thắng duy nhất có lãnh thổ được mở rộng thêm
nhiều sau chiến tranh.
Sau những sự kiện quân sự và chính trò từ 1939 đến 1940 liên quan đến Nghò
đònh thư phân chia phạm vi ảnh hưởng xô-Đức (23.8.1939), Liên Xô đã giành lại
được phần lớn các lãnh thổ đã tách khỏi nước Nga trong thời kì nội chiến (1918 –
1920): miền đông ba Lan trở về với hai nước cộng hoà xô viết Ukraina và
Belorussia thuộc Liên Xô; 3 nước vùng Baltic là Litva, Latvia và Estonia đã trở
thành nước Cộng hoà xô viết; các vùng Bessabaria và Bắc Bukovina táchkhỏi
Rumania trở thành nước Cộng hoà xô viết Moldavia; eo đất Karelia của Phần Lan
trở thành nước Cộng hoà xô viết Karelia; vùng Ruthenia của Tiệp Khắc, được
Hitler giao cho Hungary, nay thuộc nước cộng hoà xô viết Ukraina của Liên Xô.
Sau ngày Đức đầu hàng, Liên Xô đã giành được miền Bắc Đông Phổ với thành
phố thủ phủ Konigsberg của nước Đức, để lập thành tỉnh Kaliningrad thuộc nước
Cộng hoà xô viết Liên bang Nga. Sau khi tham gia chiến tranh chống Nhật, Liên
Xô đã giành được những đất đai của đế quốc Nga bò Nhật chiếm trong chiến tranh
Nga-Nhật (1904 – 1905): miền Nam đảo Sakhalin và quần đảo Kurile, giành lại
quyền kiểm soát và sử dụng các hải cảng Lữ Thuận, Đại liên và đường sắt trường
Xuân ở mãn Châu (Trung Quốc). Nhìn chung, Liên Xô đã mở rộng thêm 682.000
km
2

, tăng thêm khoảng 23 triệu dân so với 27 triệu người bò chết trong chiến
tranh
(1)
.
Dù không phải tất cả các đất đai sáp nhập vào Liên Xô sau chiến tranh đều
được các cường quốc Đồng minh chính thức công nhận tại các Hội nghò thượng đỉnh
Yalta và Potsdam, nhưng do sức mạnh của Liên Xô thời hậu chiến, không một nước
liên quan nào, kể cả Hoa Kì tỏ ra dám thách thức công khai tính hợp pháp của đường
biên giới của Liên Xô được xác lập sau chiến tranh
(2)
.
Về ngoại giao, đòa vò và uy tín của Liên Xô đã lên đến tột đỉnh trên trường quốc
tế.
Trước chiến tranh, Liên Xô có quan hệ ngoại giao với chỉ 25 nước; chiến tranh
kết thúc, số quốc gia công nhận Nhà nước xô viết đã tăng lên đến 51. Liên Xô có mặt
tại tất cả các hội nghò quan trọng của các nước đồng minh diễn ra trong thời chiến, kể
cả hai hội nghò có ý nghóa quyết đònh là Yalta và Potsdam. Liên Xô là một trong năm
nước thành viên thường trực của HĐBA LHQ và là nước thành viên LHQ duy nhất
được trao 3 phiếu tại ĐHĐ của tổ chức này.
Ảnh hưởng của Liên Xô vượt ra khỏi cương giới đất nước và được xác lập vững
chắc ở Đông Âu, trước hết bằng sự có mặt của một số lượng không nhỏ các đơn vò
1
()
Chi tiết của phần được mở rộng thêm (số trong ngoặc là dân): của Phần Lan 44,1 (0,5); của Ba Lan
178,1 (11); của Romania gồm 2 miền Bessabaria 44,3 (3,2) và Bắc Bucovina 10,4 (0,5), các xứ Baltic:
Estonia 47,4 (1,1), Latvia 65,8 (1,9) và Litva 55,7 (2,9), Tamou-Touva 165,7 (0,06), Đông Phổ 11,6
(0,3), Ruthénic của Tiệp Khắc 12,7 (0,72), Nam đảo Sakhalin 36 (0,40 và quần đảo Kuril 10,2 (0,02).
2
()
Năm 1975, tất cả các nước châu Âu (ngoại trừ Albania), cùng với Hoa Kì và Canada, đã kí vào

"Đònh ước chung cuộc" của Hội nghò Helsinki công nhận tính bất khả xâm phạm của các đường biên
giới hiện tồn của tất cả các quốc gia châu Âu
3
Hồng quan ở Đông Đức, Đông o, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Romania, Bulgaria,
Bắc Iran, Mãn Châu (Trung Quốc), Bắc Bán Đảo Triều Tiên Ảnh hưởng của Liên
Xô còn được mở rộng đến các nước Tây Âu, trước hết bằng ảnh hưởng của đảng Cộng
sản Liên Xô đến các đảng cộng sản bản đòa. Vò thế đòa-chính trò của Liên Xô ở châu
Âu đã được tăng cường bởi các chuyển biến vừa nêu.
Ra khỏi cuộc chiến trong ánh hào quang chiến thắng, Liên Xô được không chỉ
các đảng cộng sản, mà cả các chính đảng dân tộc của các nước thuộc đòa, nửa thuộc
đòa và phụ thuộc đón nhận như người đang nằm giữ ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân
tộc.
Liên Xô còn sở hữu một công cụ đối ngoại quan trọng là Hồng quân. Vào cuối
cuộc chiến, Hồng quân trở thành quân đội có số quân đông nhất thế giới (11.360.000
quân) và được trang bò hùng hậu nhất thế giới (1 vạn phi cơ và ngần ấy xe tăng).
Về đối nội, chiến thắng đã mang đến cho đảng Cộng sản Liên Xô và cá nhân
nhà lãnh đạo I. Stalin một uy tín lớn lao và tạo cho chế độ xô viết một thế đứng vững
chắc, hơn bất kì giai đoạn nào trước đó trong lòch sử Liên Xô.
Người dân xô viết hầu như không còn nhớ đến nổi khổ ải của thời cách mạng và
nội chiến, đã quên đi những hậu quả kinh khủng của tập thể hoá và trận đói phát sinh
sau đó, đã vùi lấp vào quên lãng nỗi kinh hoàng của thời kì khủng bố tập thể trong
thập niên 1930.
Với những điều kiện đối ngoại và đối nội như trên, chưa bao giờ chế độ xô viết
và cá nhân nhà lãnh đạo I. Stalin lại cảm thấy tự tin đến vậy khi bước vào thời hậu
chiến.
2. Nổ lực tái thiết đất nước qua các kế hoạch 5 năm lần thứ IV (1946 – 1950)
và lần thứ V (1951 – 1955).
Chính phủ xô viết không đợi đến khi chiến tranh kết thúc mới khởi sự công
cuộc tái thiết đất nước. Một phần đáng kể những thiệt hại trong sản xuất công
nghiệp đã được bù đắp ngay trong lúc chiến tranh đang tiếp diễn, hoặc nhờ kế

hoạch hoá tháo dỡ các phương tiện sản xuất của các nhà máy và chuyển sang miền
Đông (Ural
(3)
, Kazakhstan, Kuznetz, ), hoặc nhờ sự giúp đỡ về vật chất và
phương tiện kỹ thuật của Hoa Kì qua chương trình Lend-Lease. Kế hoạch chuyển
dòch cơ sở công nghiệp này thành công đến mức sản xuất công nghiệp ở các khu
vực phía đông trong nửa đầu 1845 tăng gấp hai lần so với cùng kì năm 1941. Ngay
trong năm 1945, mức độ sản xuất công nghiệp đã đạt gần bằng con số trước chiến
tranh, chỉ thấp hơn 80%.
3
()
Trong thời gian chiến tranh, miền Ural trở thành buồng phổi kinh tế vànguồn năng lượng của đất
nước, cung cấp đến 58% sản lượng gang và 53% sản lượng thép.
4
Tháng 3.1946, kế hoạch 5 năm lần thứ IV được xô viết tối cao thông qua và
được mang ra thực hiện. Kế hoạch đề ra hai nhiệm vụ: đến năm 1950, phục hồi tất cả
những vùng bò tàn phá; tăng sản xuất công nghiệp và tiềm năng quân sự đến mức đủ
sức cạnh tranh với bất kì cường quốc nào.
Tháng 4.1951, đài phát thanh Moskva loan báo kế hoạch 5 năm lần thứ IV đã
được hoàn thành trong vòng 4 năm 3 tháng.
Kết quả việc hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ IV (1946 – 1950)
1940 1945 1950
(kế hoạch)
1950
(thực tế)
Than (triệu tấn) 165,9 149,3 250,0 261,1
Điện (tỉ kw/h) 48,3 43,2 82,0 91,2
Dầu (triệu tấn) 31,1 19,4 35,4 37,9
Gang (triệu tấn) 14,9 8,8 19,5 19,2
Thép (triệu tấn) 18,3 12,3 25,4 27,3

Máy kéo (nghin 66,2 14,7 112 242,5
Vải bông (triệu mét) 3900,0 1617,0 4686,0 3899,0
Vải len (triệu mét) 119,7 53,6 159 155,2
Giày da (triệu đôi) 211,0 63,0 240,0 203,4
Đường (triệu tấn) 2,2 0,5 2,4 2,5
Hàng hoá vận chuyển
bằng đường sắt (tỉ tấn/km)
415,0 314,0 532,0 602,3
Bảng thống kê cho thấy các ngành công nghiệp vượt chỉ tiêu dự kiến, trong lúc
các ngành công nghiệp nhẹ đều không đạt. Tính ra giá trò tổng sản lượng của công
nghiệp nhẹ chỉ tăng 22% so với năm 1940, nhưng giá trò của công nghiệp thực phẩm
vẫn chưa đạt mức trước chiến tranh. Để giải quyết tình trạng thiếu thốn về lương thực,
thực phẩm chính phủ Liên Xô đã áp dụng bài bản cũ trước chiến tranh để củng cố chế
độ nông trang tập thể. Tháng 9.1946, Trung ương đảng Cộng sản (b) Liên Xô thông
qua nghò quyết buộc các cơ quan và cá nhân trả lại ruộng đất và tài sản mà họ đã
chiếm dụng trong thời chiến. Tháng 2.1947, chính phủ Liên Xô phê phán việc khoán
sản phẩm đến tổ sản xuất và hộ. Năm 1950, chính phủ Liên Xô ra quyết đònh sáp nhập
các nông trang nhỏ thành các nông trang lớn, với ý đồ biến các nông trang lớn thành
nông trường quốc doanh nhằm thu hẹp khoảng cách điều kiện sinh họat giữa nông
trang viên và công nhân nông trường. Tình cảnh của người dân càng thêm khốn khổ
bởi lẽ trong năm 1947, số tiền mà họ dành dụm được nhờ quá trình bán số lượng thực
thu hoạch trên đất phần đã bò cuộc cải cách tiền tệ làm cho tiêu tan: họ phải đổi 10 rúp
cũ lấy 1 rúp mới, trong lúc tài sản tập thể được đònh giá theo tỉ lệ 4 rúp cũ bằng 1 rúp
mới.
Như vậy, với sản xuất hàng tiêu dùng giống như những kế hoạch 5 năm trước,
vẫn không đáp ứng đúng mức nhu cầu của người dân. Quả là mức sống của người có
5
được nâng cao, nếu so với thời chiến nhưng vẫn còn quá thấp, nếu so với người dân
phương Tây.
Năm 1945, việc sản xuất giầy gần như hoàn toàn phục vụ quân đội, chỉ khoảng

60 triệu đôi được bán cho số dân là 200 triệu người. Năm 1950, sản lượng giầy đã tăng
đến 192 triệu đôi, nhưng như vậy vẫn không đủ cho một người một đôi và vẫn còn thấp
hơn con số 230 triệu đôi của năm 1940 và thấp hơn con số dự kiến là 240 triệu đôi cho
năm 1950.
Kế hoạch xây dựng nhà ở đã vượt mức kế hoạch phần nào, nhưng vẫn chưa giải
quyết tình trạng khan hiếm chổ ở kéo dài lâu nay. Để đạt mức tiến độ như đã được ghi
nhậno năm 1950, người dân xô viết làm việc 48 giờ một tuần, thay vì 40 như trước
chiến tranh. Đó là chưa kể họ còn phải làm thêm hàng triệu giờ trong những ngày nghỉ.
Tháng 8.1951, sau gần 20 tháng kế hoạch mới được thông qua, chính phủ xô viết
thông báo các mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ V phải đạt cho được trong năm
1955. Giống như những kế hoạch trước, kế hoạch chú trọng tăng sản lượng các ngành
luiyện kim đen, khai thác mỏ, sản xuất đện năng, xây dựng các nhà máy sản xuất máy
cái và máy công cụ. Trọng tâm được đặt vào ngành thép: kế hoạch dự kiến tăng sản
lượng thép năm 1955 lên 62% so với năm 1950. Ngành luyện kim màu cũng phải đạt
mức tăng ngoạn mục so với năm 1950: nhôm tăng 176%, đồng – 90, chì – 170, kẽm –
150, nickel – 53, và thiếc – 80. Sản xuất ô tô phải tăng 20% so với năm 1950, còn mức
tăng của máy kéo là 19%. Riêng sản xuất dầu lửa dự kiến tăng 85% so với sản lượng
37,6 triệu tấn của năm 1950, điện – 85%. Giá trò sản xuất công nghiệp nói chung quy
ra đồng rúp phải tăng 70% so với năm 1950.
Kế hoạch mới vẫn tiếp tục đường hướng xây dựng nhà máy đã được đề ra trong
kế hoạch trước đó là công nghiệp phải được bố trí rải ra khắp nước sao cho nhà máy
phải được ở gần nguồn nguyên liệu và không đễ bò các đạo quân xâm lược từ nước
ngoài tiến công. Để tạo điều kiện cho sự phân bố, một hệ thống đường sắt được dự trù
xây dựng, khả năng vận chuyển bằng đường sông và đường biển cũng được dự trù tăng
lên. Khác với kế hoạch trước, kế hoạch 5 năm lần thứ IV có chú ý hơn nữa đến những
nhu cầu thiết yếu của người dân: nhà ở tăng 100%, sản lượng lương thực tăng 40 –
50%, củ cải đường 65 – 70%; vải bông 55 - 65&%, bò 18 – 20%, heo 45 – 50%, cừu và
dê 60 – 62%.
Trong lúc chờ đợi kế hoạch 5 năm lần thứ V được hoàn thành, nông dân xô viết
tiếp tục đối mặt với tình cảnh vô củng ảm đạm của nông nghiệp: sản xuất ngũ cốc tính

theo đầu người dân của năm 1953 thấp hơn năm 1913 khoảng 20%. Trong những năm
đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ V, thu hoạch của tất cả các loại cây trồng trong ngành
trồng trọt tính theo đầu người đều kém mức năm hòa bình cuối cùng trước Chiến tranh
thế giới thứ Nhất. Năm 1952, "năm Stalin cuối cùng", chỉ số nông nghiệp tụt hậu đáng
kể so với năm 1940. Sản lượng lương thực chỉ đạt 90 triệu tấn, chứ không phải 130
triệu tấn như Malenkov, một thành viên trong đoàn chủ tòch UBTƯ đảng phụ trách
nông nghiệp đã báo cáo. Thay vì đã được "giải quyết vónh viễn và triệt để", như lời
6
tuyên bố của Malenkov ở Đại hội 19, nông nghiệp lại là một trong số ít gánh nặng mà
Stalin để lại trên vai người kế vò.
3. Stalin tiếp tục cai trò theo phong cách trước chiến tranh.
Dường như mọi sai lầm và cả tội ác mà Stalin đã phạm trong suốt thời gian cầm
quyền trước và trong chiến tranh đều được khoả lấp bởi chiến thắng vó đại của Liên
Xô. Chính sách cai trò sắt đá của ông đã được biện minh bởi thắng lợi huy hoàng mà
nhân dân Liên Xô đã giành được trong chiến tranh.
Trong bài diễn văn đọc tại nhà hát Bolsôi ngày 9.2.1946, Stalin đã khẳng đònh: "Chiến
thắng của chúng ta đã chứng minh trước hết và trên hết thắng lợi của hệ thống xã hội xô viết
của chúng ta , thứ hai, thắng lợi của nhà nước xô viết công tác", và quả quyết rằng chính sách
của đảng về công nghiệp hoá và tập thể hoá đúng hoàn toàn; đảng không sai lầm, khi đập tan
và tiêu diệt các nhóm đối lập.
Vì lẽ này, Stalin hầu như không đưa ra một thay đổi nào trong phương thức lãnh
đạo đất nước. Vượt qua được thử thách nghiệt ngã nhất trong sự nghiệp chính trò, Stalin
giờ đây tự coi mình có thể giải quyết bất kì nhiệm vụ gì, mà không cần tới ý kiến của
ai, kể cả những phụ tá thân cận nhất. Ngay những cuộc họp thường kì của BCT cũng
không còn nữa, chứ đừng nói gì đến hội nghò toàn thể UBTƯ hay đại hội đảng.
Tính đa nghi của Stalin vào những năm cuối đời trở nên quá quắt. Ông nghi ngờ
theo dõi cả những cộng sự đã được thử thách nhất của mình. Phù hợp với thói quen lâu
đời của Stalin là o ép các cộng sự của mình bằng số phận của bà con và những người
gần gũi họ, đến lượt vợ của Molotov ngồi tù. Các hoạt động của Stalin nhằm chống lại
những người cộng sự gần gũi của ông có thể được giải thích bằng những lí do duy trì

quyền lực. Cách xử sự của ông, được tính toán theo nguyên tắc "chia để trò", thường là
một bộ phận của những sự phối hợp đã được cân nhắc, vì quả là ông coi việc thay thế
thường kì những thành viên cũ trong đội ngũ của ông bằng những người mới là quy luật
tồn tại của chế độ quyền lực cá nhân. Sau chiến tranh, người ta thấy rõ là ông có cảm
tình ra mặt với những người mới – N.A. Bulganin, N.S. Khrushev, và trước hết là đối
với với G. M. Malenkov. Và trong số những người cộng sự cũ của ông, ngay cả đòa vò
của con người đầy quyền lực như Beria cũng lung lay. Hậu quả trực tiếp của tình hình
vừa kể là trong thê đội quyền lực cao nhất bắt đầu diễn ra cuộc chiến không thương
tiếc giữa các nhà hoạt động "cũ" và "mới" nhằm giành chỗ đứng. Tất nhiên trong
chuyện này còn có vấn đề của một trận chiến giành giật di sản. Một sự kình đòch như
vậy đã diễn ra giữa một Zhdanov vốn đã có sẵn thế lực và sau chiến tranh lại càng tỏ
ra mạnh hơn, với Malenkov, một người mới có thế lực trong bộ máy đảng. Cuộc xung
đột giữa họ chỉ dừng lại do cái chết của Zhdanov vì bệnh nhồi máu tại dacha.
Chân dung Stalin vào những năm cuối đời đã được phác hoạ như sau:Sau bốn
năm thử thách nặng nề và căng thẳng quá sức người, Stalin già đi nhiều, thể chất ông
yếu đi. Với tuổi già, những nét tiêu cực trong cá tính ông càng bộc lộ rõ rệt hơn. Trong
những năm cuối đời mình, ông càng sống cô độc hơn trước đây. Sau khi đã hoàn thành
7
nhiệm vụ vó đại rơi vào số phận mình, cuộc đời của Stalin dường như trở nên trống
rỗng. Hầu như lúc nào ông cũng sống ở một trong các dacha của mình, chủ yếu là ở
Kuntsevo. Khi ông di chuyển, một đội cận vệ hùng hậu theo ông, các chuyến tàu đặc
biệt chạy qua suốt các bến. Mối quan hệ với thực tại, với đời sống thực của những con
người bình thường hoàn toàn bò cắt đứt. Con gái ông, Svetlana Allilueva, kể lại trong
hồi kí của mình rằng cha bà thậm chí không có khái niệm về sức mua của đồng tiền
(4)
.
Những niềm vui đơn giản của cuộc sống không làm ông xao xuyến, ông sống khắc kỉ,
chỉ có một buồng ở dacha. Ở ông còn lại ba trò giải trí: ống điếu, rượu Grudia và phim
ảnh.
Những công việc thường ngày được giải quyết trong “Ban bí thư của đồng chí

Stalin”, mà cầm đầu nó trong nhiều năm liền là người thực hiện trung thành các mệnh
lệnh của ông – A.N. Poskrebyshev. Các thành viên trong ban lãnh đạo cao nhất của
đảng, và không phải luôn luôn chỉ những khuôn mặt ấy, được mời đến dacha của Stalin
thường vào lúc tối. Công việc được thảo luận trong những bữa ăn tối chậm rãi, kéo dài
đến sáng. Những kẻ có mặt tất nhiên chỉ đóng vai trò phụ trong các quyết đònh của
Stalin.
Vừa là người đứng đầu đảng, đứng đầu chính phủ, đứng đầu quân đội, vừa được
bao phủ bởi vầng hào quang chiến thắng, Stalin vẫn là người nắm giữ quyền lực tuyệt
đối trong đất nước 190 triệu dân và tìm cách giữ vững nó cho đến lúc mất.
Một trong những biện pháp đầu tiên là củng cố quyền lãnh đạo của đảng Cộng
sản (b) Liên Xô trong quân đội đònh chế lớn nhất trong những năm đầu sau chiến tranh
và đưa đất nước trở lại dưới quyền kiểm soát dân sự.
Từ tháng 10.1944, việc kết nạp đảng viên không còn được xem là một phần thưởng
cho chiến công ngoài mặt trận. Một chiến dòch đã được phát động nhằm nâng cao
chuẩn mực tư tưởng cho các đảng viên quân nhân. Tháng 6.1945, Stalin được trao
quân hàm đại nguyên soái (generalissmo) cùng lúc với lệnh giải ngũ một phần
quân đội. Ngày 4.9.1945, Hội đồng quốc phòng nhà nước, cơ quan đầy quyền lực
trong thời chiến, đã được giải thể, các chức năng của nó được chuyển cho các bộ,
4
()
Về chi tiết này, Svetlana đã thuật lại như sau: “Sau năm 1947 (từ năm này Liên Xô bãi bỏ chính sách
cấp dưỡng miễn phí dành cho gia đình các thành viên BCT – ctbt Việt), cha tôi thỉnh thoảng lại hỏi tôi
trong những lần gặp gỡ hiếm hoi của chúng tôi: “Con có cần tiền không?”. Tôi luôn luôn trả lời rằng
“không”. “Đừng nói dối, – ông nói, – con cần bao nhiêu?”. Tôi không biết trả lời sao. Ông không biết
cách tính của đồng tiền mới, cũng như nhìn chung không biết giá trò của nó, – ông sống với những ý
niệm của thời trước cách mạng, rằng 1 trăm rúp là một số tiền khổng lồ. Và khi cho tôi 2 – 3 ngàn rúp
để xài, ai mà biết được, một tháng, nửa năm hay 2 tuần, – thì ông nghó rằng đã cho tôi bạc triệu ”.
(Svetlana Allilueva, Hai mươi bức thư gửi bạn, nxb Molod, Kiev, 1991, tr. 149). (ctbt Việt).
8
mà không lâu sau cũng được tổ chức lại. Ngày 22.8.1946, các bí thư đảng không

còn thuộc quyền các chỉ huy quân sự, do đó phải được bầu chứ không được chỉ
đònh. Chế độ chính ủy được tái lập. Hàng ngũ các tướngl ónh được thanh lọc không
ngừng trong những năm cầm quyền còn lại của Stalin. Nguyên soái Zhukov,
nguyên là phó tổng tư lệnh tối cao, bò chuyển sang một chức vụ thấp hơn. Đầu năm
1948, 5 đô đốc bò bỏ tù với lời cáo buộc là gián điệp của Anh-Mó. Năm 1950,
nguyên soái Kulik bò xử bắn. Từ năm 1945 đến khi Stalin qua đời (1953), không có
một quyết đònh thăng quân hàm nào trong hàng ngũ các chỉ huy cao cấp.
Nếu các nhà hoạt động quân sự lỗi lạc mà còn bò thanh trừ, thì các nhà hoạt
động đảng và nhà nước tránh sao khỏi số phận tương tự. Một vụ án đã được dựng lên
chống lại họ: vụ Leningrad.
Nhiều người cho rằng "cha đẻ tinh thần" của đòn sau này giáng xuống đảng bộ
Leningrad chính là Malenkov: đề nghò của ông về việc thiết kế "vụ Leningrad" đã
được Stalin chấp thuận. Ông này vẫn luôn có ác cảm với cá tính "đặc biệt" của những
người Leningrad. Báo chí không đăng nhiều dữ liệu về hoạt động trấn áp, nhưng hết
người này đến người khác lần lượt biến mất. Trong đa số trường hợp họ thuộc thế hệ
những nhà lãnh đạo mới, được đề bạt giữa những năm 30, sau cái chết của Kirov, khi
Zhdanov trở thành "vò toàn quyền" ở Leningrad. Trong số đó có A.A. Kuznetsov, bí thư
đảng Cộng sản (b) toàn Liên bang, trước đó là người cầm đầu đảng bộ Leningrad, P.S.
Popkov, bí thư thứ nhất tỉnh và thành ủy Leningrad, M.I. Rodionov, Chủ tòch hội đồng
Bộ trưởng Liên bang CHXHCNXV Nga, A. A. Voznesenski, bộ trưởng Giáo dục iên
bang CHXHCNXV Nga. Hầu hết các nhà lãnh đạo đảng bộ Leningrad, bí thư Quận
huyện, lãnh đạo đoàn Thanh niên, cán bộ lãnh đạo chính quyền, giám đốc các nhà
máy lớn và hiệu trưởng các trường đại học đã bò ngưng công tác và bò bắt giam. Nhiều
người trong số họ đã chết trong tù. Nhà lãnh đạo nổi tiếng nhất đã bò trấn áp trong "vụ
Leningrad" là N. A. Voznesenski, ủy viên BCT UBTƯ đảng Cộng sản (b) toàn Liên
bang, phó chủ tòch HĐBT Liên Xô, Chủ tòch Ủy ban kế hoạch Nhà nước Liên Xô. Đầu
năm 1949, ông bò cách mọi chức vụ, nhưng vẫn còn tiếp tục làm việc trong thời gian
ngắn. Beria dường như chưa tìm ra lí do để bắt ông. Khi Voznesenski bò bắt, cùng bò
sao vào vòng tù tội với ông còn có vài cán bộ của Ủy ban kế hoạch Nhà nước. điều lí
thú là Voznesenski tin Stalin, dù không phải là nạn nhân có chức vụ cao cấp đầu tiên,

mà là cuối cùng của chế độ khủng bố Stalin. Ông cũng nghó rằng "Stalin sẽ làm sáng tỏ
mọi sự", và đã nhiều lần cầu cứu đến sự giúp đỡ của ông này; tất nhiên là vô ích. Năm
1950, N. A. Voznesenski bò xử bắn.
Một đối tượng khác bò nhắm đến là giới văn hóa nghệ thuật. Chiến tranh và nhất
là sự có mặt của một số lượng không nhỏ Hồng quân trong tư cách là lực lượng chiếm
đóng trên lãnh thổ các nước Đông u và Tây âu đã tạo cho một bộ phận dân xô viết
cơ hội tiếp xúc trực tiếp với thế giới phương Tây. Đó là chưa kể hàng triệu tù binh xô
viết bò giam cầm trong các trại tập trung hay buộc phải lao động trong các nhà máy và
trang trại Đức. Chặn đứng và đẩy lùi sự xâm nhập của văn hóa phương Tây vào xã hội
xô viết, đề cao tinh thần dân tộc đả kích chủ nghóa thế giới (cosmopolitanism), xưng
9
tụng tính ưu việt tuyệt đối của văn hóa xô viết và đặt nó vào thế đối chọi với văn hóa
tư sản phương Tây được Stalin đặt thành nhiệm vụ quan trọng, nhằm bảo vệ chế độ
độc tài cá nhân của ông.
Ngày 14.8.1946, UBTƯ đảng Cộng sản đã ra một chỉ thò lên án tạp chí "Ngôi
sao" vì đã đăng "các tác phẩm độc hại về mặt tư tưởng" và cung cấp diễn đàn cho nhà
văn Mikhail Zoschlenko và tạp chí "Leningrad" vì đã công bố các tác phẩm "thấm đẫm
tinh thần q lụy mọi thứ của nước ngoài" của nữ thi só Anna Akhmatova. Tờ Ngôi sao
được lệnh phải chỉnh đốn đường lối của mình, còn tờ Leningrad bò đóng cửa.
Một tụần sau, Andrey Zhdanov, người được giao phụ trách chiến dòch thanh lọc,
giới văn nghệ só đã đọc bài phát biểu bài xích "tệ khấn đầu trước phương Tây". Ông
cho rằng nền văn hóa xô viết đạt trình độ cao hơn và có quyền vươn ra thế giới, nhà
văn xô viết phải đứng ở tuyến đầu của trận chiến tư tưởng đang diễn ra.
Sau văn học đến lượt sân khấu và điện ảnh. Nạn nhân điển hình của chiến dòch
thanh lọc là phần hai của bộ phim Ivan Lôi đế của đạo diễn Sergei Eisenstein. Ông bò
chỉ trích là "dốt nát về lòch sử khi miêu tả Oprichmina, đạo quân tiến bộ của Ivan lôi đế,
như là một băng nhóm gồm những kẻ thoái hoá, không khác bọn Ku Klux Klan của Mó,
còn Ivan Lôi đế, một người có ý chí vì cá tính mạnh mẽ, như là một nhân vật yếu đuối,
giống như Hamlet". Những tên tuổi lừng lẫy khác như Shostakovich, Prokofiev,
Kchachaturyan đều không thoát khỏi những lời phê phán nặng nề.

Diễn ra song hành với chiến dòch trấn áp các nhà hoạt động văn hóa là tiến trình
nảy nở của tệ sùng bái cá nhân Stalin đến mức độ cuồng vó. Nhiều thành phố, con
đường, công trình phúc lợi, công trình công cộng, công trình kinh tế mang tên Stalin,
chân dung ông xuất hiện ở khắp nơi, tượng ông được dựng ở nhiều trung tâm thành
phố. Bức tượng Stalin dựng trên ngọn Elbruz mang dòng chữ "Chân dung của nhân vật
vó đại nhất của mọi thời đại được dựng trên đỉnh núi cao nhất châu Âu". Các nhà báo,
nhà văn thi nhau thần thánh hoá "đại nguyên soái Stalin". Tất cả mọi đức tính của
nhân loại được quy hết vào cá nhân Stalin. Sinh nhật lần thứ 70 của Stalin (1949) là dòp
để bộ máy đảng và nhà nước xô viết đưa chiến dòch sùng bái cá nhân đến độ cuồng
sảng.
Không chỉ những nhà hoạt động văn hóa bò đày ải. Các nhà lí luận của chế độ
cũng không nhẹ tay đối với các nhà khoa học. Họ được chỉ thò không nhắc đến các
công trình của phương Tây. Ca ngợi trình độ chuyên môn của các nhà khoa học phương
Tạy bò xem là điều cấm kò. Mọi khám phá và phát minh quan trọng đều thuộc về tài
năng Nga và xô viết. Có những nhà khoa học nào nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của
khoa học gia xô viết thì bò miêu tả là ngụy khoa học, hay đơn giản hơn là hoàn toàn
không được nhắc đến: cơ học lượng tử, thuyết tương đối, vận trù học, nhân tâm học.
Nhận thức vấn đề theo cách như vậy đã gây ra những thiệt hại không nhỏ cho nền
khoa học Liên Xô. Nạn nhân điển hình là bộ môn di truyền học (genetics) dứơi sự thao
túng của T.D. Lysenko, người được Stalin đặc biệt sủng ái. Phủ nhận những quy luật di
truyền đã được Mendel phát hiện và phỏng theo chủ nghóa duy ý chí được Stalin đề cao
10
hết mức. Lysenko gán cho những yếu ớt bên ngoài, môi trường sinh sống một yêu cầu
đặc biệt bằng cách chứng minh rằng các đối tượng sinh học có thể di truyền các đặc
tính đã thu nhận được cho thế hệ sau của mình.
Khắc phục các tác hại tiêu cực đòi hỏi ở các nhà khoa học xô viết và Nga vài
thập niên.
4. Vấn đề dân tộc.
Các lãnh thổ Liên Xô được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của Đức quốc xã
đến đâu, NKVD mau chóng xuất hiện đến đó với mục tiêu trở trừ những kẻ hợp tác với

kẻ thù và tái lập quyền lực của đảng bônsêvik và chính quyền xô viết. Công việc
thanh lọc nhắm vào không chỉ từng cá nhân riêng lẻ, mà còn, trong không ít trường
hợp, đánh thẳng vào tập thể, thậm chí cả một cộng đồng dân cư đông đúc nào bò cáo
buộc đã bắt tay với Đức quốc xã. Tính ra có đến 7 cộng đồng với dân số tổng cộng
khoảng 1 triệu người đã bò buộc phải rời quê hương và đi phiêu tán đến những nơi
khác. Đó là: 407.690 người Chechen, 38 vạn người gốc Đức vùng sông Volga, 20 vạn
người Tácta ở Crưm, 137.271 người Kalmyk, 92.074 người Ingusetia, 75.737 người
Karachai và 42.666 người Balker
(5)
. Một số lượng các quan chức người Nga được đưa
đến cai trò các nước cộng hoà xô viết. Vào cuối năm 1946, phân nửa tổng số quan chức
đảng và nhà nước Ukraina là những người mới được bổ nhiệm. Ở các xứ vùng Baltic, tỉ
lệ này cao hơn nhiều: người Nga chiếm nửa số đảng viên ở Estonia, hai phần ba ở
Lithuania, cài trong toàn vùng Baltic, chỉ một phần ba đảng viên là người bản xứ. Tuy
nhiên, hầu hết số này đang sống bên ngoài 3 xứ Baltic. Tính ra, chỉ 0,3% đảng viên ở
Lithuania và 0,3% ở Latvia và Estonia là người bản xứ thực sự. Ngay cả thành viên
dân số ở ba nước cộng hoà Baltic cũng thay đổi: tỉ lệ dân bản đòa ở Latvia giảm từ
83% (1945) xuống còn 60% (1953), ở Estonia giảm còn 72%, Lithuania là trường hợp
ngoại lệ.
Không chỉ làm thay đổi thành phần viên chức và dân thường, chính phủ Stalin
còn thi hành chính sách thanh lọc văn hóa, nhằm triệt tiêu những biểu hiện của cái gọi
là chủ nghóa dân tộc tư sản trong các nền văn hóa của các dân tộc không phải Nga.
Chính sách trấn áp và lưu đày cá nhân và tập thể trên đã làm nhân số trại tập
trung thuộc quyền cai quản của Gulag
(6)
tăng lên: con số ước tính vào thời điểm Stalin
qua đời (5.1953) nằm trong khoảng 5 – 12 triệu.
5. Đại hội XIX đảng Cộng sản (b) Liên Xô (10.1952).
Tháng 10.1952, Đại hội XIX đảng Cộng sản Liên Xô diễn ra trong 10 ngày. Đây
là đại hội đầu tiên sau 13 năm gián đoạn. Đại hội đề cập đến yêu cầu cảnh giác trước

"mối đe dọa của một cuộc chiến mới", khẳng đònh Kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1951 –
5
()
F.G. Dreyfus – A. Jouain – P. Thibault – P. Milza (1998). Histoire Universelle de la Révolution au
Monde Contemporain. Ed. Larousse, Paris, p.721.
6
()
Tên viết tắt của cụm từ Tổng cục quản lý các trại.
11
1955) đã được thông qua 2 năm trước. Đại hội đã đổi tên đảng Cộng sản (b) toàn Liên
bang thành Đảng Cộng sản Liên Xô. Đảng được đònh nghóa là "khối liên hiệp tự
nguyện, mang tính chiến đấu của những người cộng sản cùng chung chí hướng, bao gồm
người của giai cấp công nhân, nông dân cần lao động và trí thức lao động". Người đọc
báo cáo chính trò là Malenkov, một nhân vật được xem là sẽ thay Stalin giờ đã 73 tuổi,
sức khỏe suy yếu, chỉ đủ sức đọc một bài diễn văn ngắn "với giọng nói đớt già nua, hơi
thở khò khè và đôi khi lưỡi líu lại ". Theo điều lệ đảng mới được khrushev công bố, bộ
Chính trò và bộ Tổ chức được kết hợp thành chủ tòch đoàn gồm 25 thành viên chính
thức (15 trong số này là người mới) và 11 dự khuyết ( trong số này, chỉ mỗi Vyshinsky
là đã dự phần vào sinh họat chính trò từ thập niên 1930), đông hơn gấp đôi bộ Chính trò
cũ; ban bí thư tăng từ 5 đến 10 thành viên, còn UBTƯ cũng đông gần gấp đôi. Những
chuyển biến về nhân sự này cho thấy Stalin đang sẵn sàng tiếp vào các cơ quan lãnh
đạo một luồng máu mới, nhưng liệu có bằng phương cách mới, hay vẫn theo phương
cách cũ, tức bằng con đường thanh trừng?
Câu trả lời đến trên tờ Pravda số ra ngày 13.1.1953. Cơ quan trung ương đảng
Cộng sản Liên Xô đưa tin một "nhóm các bác só-phá hoại" bò bắt. Đây là các bác só nổi
tiếng từng chữa trò cho các nhà lãnh đạo đảng và nhà nước hàng đầu của Liên Xô. Họ
bò cáo buộc đã sát hại Zhdanov (qua đời năm 1948) và Sherbakov (qua đời năm 1945),
có quan hệ với "Joint" – một tổ chức Do Thái chòu sự lãnh đạo của đế quốc Mó. Tờ báo
cáo buộc số đông "bác só-phá hoại" đang lên kế hoạch thủ tiêu các nhà lãnh đạo quân
sự và nhà nước. Tất nhiên, vụ việc sẽ không dừng lại ở các "bác só-phá hoại", mà đang

có dấu hiệu sẽ được mở rộng thành một vụ thanh trừng mới, mà một trong các đích
nhắm sẽ là beria. Tuy nhiên, vụ việc chưa diễn tiến bao lâu thì đã được đình lại. Lí do:
ngày 5.3.1953, Stalin qua đời.
6. Chính sách đối ngoại.
Do quan hệ cộng tác thời chiến với các nước đồng minh phương Tây sớm bò đổ
vỡ và ý thức rõ về sức mạnh của kinh tế, quân sự và khoa học-kỹ thuật của Hoa Kì,
nhà lãnh đạo I. Stalin đã, căn cứ vào những kinh nghiệm đắng cay rút ra từ mối ảnh
hưởng đầy sóng gió trước chiến tranh với các nước tư bản phát triển, đặt lên thành ưu
tiên số một nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Để hoàn thành nhiệm
vụ này, bộ máy đối ngoại xô viết phải đạt cho kì được một trong những mục tiêu quan
trọng là xây dựng Đông Âu thành rào chắn ngăn cách biên giới phía Tây của Liên Xô
với các nước Tây Âu tư bản thù đòch. Trong chuyện này, Stalin quan niệm rằng độ
vững chắc và khả tín của rào chắn Đông Âu phụ thuộc vào tính chất của chế độ xã hội
được dựng lên ở Đông Âu thời hậu chiến. Thông qua những cuộc bầu cử được dàn
dựng công phu và bằng vào sức ép nặng nề được tạo ra dựa vào đạo Hồng quân đông
đảo đang làm nhiệm vụ chiếm đóng, Stalin đã đạt được mục tiêu kiểm soát toàn bộ
Đông Âu vào tháng 10.1949, khi Đông Đức trở thành một quốc gia riêng biệt và đứng
vào hàng ngũ các nước Đông Âu dân chủ nhân dân phụ thuộc vào Liên Xô. Stalin còn
tìm cách cột chặt Đông Âu vào Liên Xô bằng hai tổ chức KOMINFORM (10.1947)
mang tính chất chính trò-tư tưởng và COMECON (1.1949) trong lónh vực kinh tế.
12
Chủ thuyết Zhdanov được công bố vào tháng 10.1947 đã cột chặt Đông Âu vào
số phận của Liên Xô như là những nước cùng trận tuyến " phe XHCN.
Không chỉ mang tính chất XHCN, chế độ xã hội ở Đông Âu phải được xây dựng
theo đúng mô hình stalinít. Đòi hỏi thái quá này của Stalin đã trở thành đầu mối đưa
đến đến sự đổ vỡ trong quan hệ Liên Xô-Nam Tư vào tháng 6.1948 và những vụ án
được sắp đặt nhằm chống lại các nhà lãnh đạo Đông Âu "dân tộc chủ nghóa", điển hình
là vụ án Praha năm 1952.
Tháng 2.1950, không lâu sau khi liên kết các nước Đông Âu thành một xâu
chuỗi liền lạc, Liên Xô đạt thêm một thắng lợi quan trọng khác trong hoạt động đối

ngoại: lập liên minh với nước CHND Trung Hoa vừa mới ra đời dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thừa thắng xông lên, Stalin đã ủng hộ nhà lãnh đạo Kim
Il Sun của CHDCND Triều Tiên gây chiến chống Hàn Quốc (25.6.1950). Nhưng mưu
toan này đã vấp phải sự chống trả quyết liệt từ phía Hoa Kì.
Ảnh hưởng của Liên Xô còn được cảm nhận ở một khu vực xa hơn trong vùng
châu Á-Thái Bình Dương, khi chính phủ xô viết quyết đònh công nhận nhà nước Việt
Nam DCCH (30.1.1950).
Những thành công lớn về ngoại giao trên, đòi hỏi ở Liên Xô một cái giá không
nhỏ: quan hệ cộng tác với phương Tây hoàn toàn tan biến, Chiến tranh Lạnh xuất hiện.
hậu quả là để đủ sức tự vệ trước vòng vây mà Hoa Kì dựng lên, Liên Xô đã đầu tư
không ít vào công nghiệp quốc phòng. Nhờ vậy, Liên Xô đã duy trì được vò thế quân
sự hùng mạnh đạt được vào cuối cuộc chiến và hơn nữa, phá vỡ thế độc quyền vũ khí
hạt nhân của Mó (1941). Nhưng một lần nữa, cái giá phải trả không rẻ chút nào: Liên
Xô bò cuốn hút vào cuộc chạy đua vũ trang không có điểm dừng với Hoa Kì, và do vậy,
phải hao tốn không ít cho lónh vực quốc phòng. Đến lượt mình, cuộc chạy đua vũ trang
đã ảnh hưởng tiêu cực đến nổ lực cải thiện cuộc sống của người dân. Đây là gánh nặng
mà Stalin sẽ để lại cho người kế vò.
II. THỜI CẦM QUYỀN CỦA NIKITA KHRUSHEV (1953 – 1964).
1. Ban lãnh đạo mới củng cố quyền lực – Beria bò bắt và bò xử bắn (1953).
Ngày 4.3.1953, lãnh tụ Iosif Stalin qua đời. Thay ông là một tập thể gồm những
nhân vật chủ chốt sau: Georgi Maximilianovich Malenkov ở cương vò chủ tòch Hội
đồng bộ trưởng, L. Beria, phó chủ tòch thứ nhất Hội đồng bộ trưởng, phụ trách Bộ nội
vụ hợp nhất từ hai bộ An ninh quốc gia và Nội vụ, Nikita lãnh đạo ban bí thư UBTƯ
đảng Cộng sản Liên Xô và K. Voroshilov giữ chức chủ tòch Đoàn chủ tòch xô viết tối
cao. Công việc lớn đầu tiên của tập thể lãnh đạo mới là bắt giữ Beira, người đang
13
kiểm soát bộ máy công an trong cả nước. Bước đầu tiên trong nổ lực này là giải quyết
vụ án "các bác só".
Ngày 4.4.1953, các báo xô viết đưa tin rằng việc bắt giữ một nhóm đông đảo
các bác só nổi danh là việc làm không đúng của Bộ An ninh cũ và không có một cơ sở

pháp lí nào; thêm nữa, để có được những lời thú nhận "cần thiết", các cơ quan của Bộ
an ninh "đã dùng những biện pháp điều tra không được pháp luật Liên Xô cho phép và
cấm ngặt". Các báo cũng thông báo rằng tất cả các bác só đều được giải phóng và được
phục hồi danh dự, còn những ai mắc tội bắt giam họ sẽ bò truy tố. Chiến dòch bài Do
Thái cũng được chấm dứt.
Bước kế tiếp là tranh thủ sự đồng tình của các thành viên trong Đoàn chủ tòch
UBTƯ và Đoàn chủ tòch HĐBT và sự ủng hộ của quân đội. Người đứng ra vận động là
N. Khruschhev. Những người đồng tình với ông quyết đònh thực hiện kế hoạch bắt giữ
Beria tại phiên họp ngày 26.6.1953 của Đoàn chủ tòch UBTƯ đảng Cộng sản Liên Xô.
Sau khi khai mạc phiên họp, Malenkov đề nghò thảo luận những vấn đề của
đảng và trao lời cho Khruschhev. Trong bài diễn văn dài chóa vào Beria, Khruschhev
đã gọi Beria là gián điệp của cơ quan tình báo Anh và Thổ. Khruschhev buộc tội Beria
về việc không lâu sau khi Stalin chết, đã thực hiện mà không cho UBTƯ đảng Cộng
sản Liên Xô biết những vụ thuyên chuyển quan trọng trong Bộ nội vụ, đề bạt vào các
chức vụ trọng trách ở mọi nơi những người Grudia, và như vậy đã khuyến khích sự hằn
thù dân tộc. Ông tuyên bố Beria không phải là người cộng sản, mà là kẻ hám danh,
không được phép có chỗ đứng trong đảng. Khruschhev đề nghò tước mọi chức vụ mà
Beria đang nắm giữ. Các thành viên Đoàn chủ tòch chưa kòp bỏ phiếu, thì Malenkov đã
vội nhấn vào nút chuông bí mật. Mười nhà quân sự vũ trang do thứ trưởng Quân đội
Liên Xô G. Jukov dẫn đầu từ gian phòng liền bên bước vào, với lệnh bắt giam Beria đã
được kí sẵn của Đoàn chủ tòch UBTƯ. Theo lệnh của Malenkov, họ bắt và giữ Beria
trong một căn phòng gần văn phòng của Malenkov. Còn ngoài đường phố Moskva, các
sư đoàn xe tăng Kantemirovka và Tamanska được đưa vào Moskva và được bố trí ở
khu vực trung tâm, như một biện pháp đề phòng các hành động phản đối có thể có của
tay chân Beria. Ngày 23.12.1953, Beria bò xử bắn sau một phiên xử kéo dài 6 ngày.
2. Một số biện pháp cải cách nông nghiệp đầu tiên (1953 – 1954).
Sau khi củng cố bộ máy quyền lực, ban lãnh đạo tập thể mà giờ đây bao gồm
Khruschhev – bí thư thứ nhất UBTƯ (từ 9.1953), Malenkov và Bulganin – chủ tòch
đoàn xô viết tối cao chuyển sang giải quyết vấn đề cấp bách thứ hai là nông nghiệp.
Trong năm 1953, sản lượng lương thực giảm xuống còn 82,5 triệu tấn; sản lượng lương

thực và thòt các loại tính theo đầu người trong năm 1953 là 432kg và 30kg so với 540kg
và 31,4 kg hồi năm 1913 (Từ Thiên Tân, tr.331).
Ngay trong tháng 8.1953, một số biện pháp cải cách đã được thực hiện: thứ nhất,
tăng vốn đầu tư vào nông nghiệp, tăng giá thu mua sữa, trứng, lông thú, khoai tây và
14
rau quả và cả phần lương thực giao nộp ngoài kế hoạch; thứ hai, huỷ bỏ toàn bộ nợ của
kinh tế cá thể đã tích tụ trong nông dân từ nhiều năm nay, hạ mức giao nộp sản phẩm
bắt buộc của kinh tế cá thể và giảm hai lần thuế sử dụng phần đất nông dân được chia.
Đây là những biện pháp cấp thời nhằm đối phó với tình trạng thê thảm trong nông
nghiệp được thể hiện qua các con số được bí thư thứ nhất đảng Cộng sản Liên Xô N.
Khruschhev đọc trong báo cáo tại Hội nghò trung ương diễn ra trong tháng 9.1953. Năm
1952, nhà nước chỉ thu mua được 3 triệu tấn thòt.
Tuy nhiên, để khắc phục một cách triệt để nguy cơ thiếu lương thực trầm trọng,
chính phủ xô viết sẽ đề ra những biện pháp căn cơ và lâu dài: đó là khai vỡ đất hoang
và mở rộng đáng kể diện tích trồng bắp. Hai biện pháp này đã được Khruschhev lần
lượt mang ra thực hiện từ tháng 2.1954 và từ tháng 6.1954.
Công cuộc khai vỡ đất hoang được thực hiện chủ yếu ở Kazakhstan và Sibir. Từ
năm 1954 đến năm 1958, chính phủ đã đầu tư vào nổ lực khai hoang một số tiền lên
đến 6,7 tỉ rúp, động viên hàng trăm ngàn người và khai khẩn đến 40 triệu ha, tương
đương 1/5 số ruộng đất đang được khai thác ở Liên Xô. Đến năm 1958, khu vực khai
hoang đã cho ra một sản lượng ngũ cốc lên đến 58,5 triệu tấn, chiếm trên 40% tổng
sản lượng thu hoạch toàn Liên Xô. Tuy nhiên, chính việc gia tăng nhanh sản lượng
thực lại tạo ra nhiều vấn đề: thiếu xe tải, nhân lực, bao bì, và nhất là do đường xá
không tốt, nên mùa màng không được thu hoạch hết trước khi mùa đông đến. Đó là
chưa kể một số lượng không nhỏ lương thực thu hoạch bò mất mát trên đường vận
chuyển và bò lưu lại trong các kho chứa không đạt tiêu chuẩn bảo quản.
3. Bước đầu khắc phục tệ sùng bái cá nhân Stalin (1954 – 1955).
Đây là một trong ít các việc làm của N. Khruschhev được các nhà nghiên cứu
xếp vào loại có ý nghóa hàng đầu trong nổ lực cải cách chế độ XHCN xô viết được xây
dựng theo mô hình Stalinít.

Sự việc Beria, người thực hiện trung thành các mệnh lệnh trấp áp hàng loạt của
Stalin, bò xử bắn vào cuối năm 1953 là bước đi đầu tiên trong một loạt các hành động
nhằm vén bức màn che kín các tội ác chống nhân dân xô viết mà Stalin đã phạm phải
trong suốt những năm tháng cầm quyền. Đề cương của UBTƯ đảng Cộng sản Liên Xô
và kỉ niệm 50 năm ngày thành lập đảng có một phần chỉ tròch cặn kẻ "học thuyết tư
tưởng sùng bái cá nhân". Một số tù nhân bò giam trong các trong các trại tập Gulag
được thả. Khi vụ ánï Leningrad được mang ra xem xét lại, có nhiều cán bộ đảng nổi
tiếng được truy oan. Không dứơi hai ngàn người trở lại Leningrad. Bí thư thứ nhất tỉnh
ủy Leningrad, M. Andrianov, người tích cực tham gia tổ chức "vụ Leningrad," bò cách
cức và đưa ra khỏi UBTƯ đảng Cộng sản Liên Xô, F. R. Kozlov
(7)
được bầu làm bí thư
7
()
F.R. Kozlov về chuyên môn là một kó sư, từ năm 1936 công tác ở nhà máy Ijevskii, nơi ông được
bầu làm Bí thư đảng ủy năm 1939. Trong những năm 1940-1944, ông là một trong những bí thư của
thành ủy Ijevskoe, sau đó là cán bộ UBTƯ đảng Cộng sản Liên Xô. Từ năm 1949, là cán bộ tổ chức
của UBTƯ đảng Cộng sản (b) toàn Liên bang ở nhà máy Kirov, thành phố Leningrad. Năm 1952, được
15
thứ nhất tỉnh ủy Leningrad. Việc xem xét lại "vụ Leningrad," đã tạo ra mối đe dọa
tiềm tàng đối với bước đường chính trò của G. Malenkov, người đã cùng với L. Beria
năm 1949 chỉ đạo những vụ trấn áp ở Leningrad,.
Tháng 2.1955, vấn đề về Malenkov đã được mang ra bàn thảo ở Hội nghò toàn
thể trung ương đảng Cộng sản Liên Xô. Ông đã bò buộc từ bỏ chức thủ tướng. Người
thay là N.A. Bulganin. Tháng 6 cùng năm Molotov mất chức bộ trưởng Ngoại giao. Vò
thế suy yếu của những người cộng sự gần gũi của Stalin là một trong các yếu tố tạo
thuậnlợi cho N. Khruschhev.
Công việc minh oan tiếp tục được thực hiện trong năm 1955, nhưng rất chậm
chạp. Trong vòng chưa đầy một năm, 10.000 người được trở về nhà. Việc minh oan chủ
yếu diễn ra trong giới cán bộ đảng của những năm 30 còn sống. Thêm vài ngàn người

đã được truy oan, phần lớn là những cán bộ nổi tiếng như S. Kosior, V. Chubar, P.
Postychev, A. Kosarev, G. Kaminskii, V. Antoniov Ovseenko, R. Aikhe, Ya.
Rudzutak Nếu việc xét lại những bản án đã được công bố trong những năm khủng bố
được tiến hành dựa theo thủ tục đã có của Viện Công tố, thì việc xem xét hàng triệu
đơn của những người bò giam trong các trại và quyến thuộc của những công dân xô
viết đã bò xử bắn hay chết trong trại sẽ phải mất hàng chục năm. Rõ ràng là tình hình
này ngày càng không thể chấp nhận được.
Năm 1955 ở Leningrad, Baku và Tbilisi đã diễn ra các vụ xử những kẻ cộng sự
gần gũi của Beria. Ở Leningrad, người ta xử cựu bộ trưởng An ninh V. Abakumov và
một nhóm cán bộ chòu trách nhiệm về việc thực hiện "vụ Leningrad". Ở Baku, người ta
xử một nhóm cán bộ NKVD và cán bộ đảng trước đây mà đứng đầu là "lãnh tụ" cách
đây không lâu của Azerbaidjan – M. Baguirov. Ở Tbilisi, ngồi trên ghế bò cáo là một
nhóm do Rukhadze đứng đầu. Mặc dù trên báo chí chỉ có thể đọc được những bản tin
ngắn ngủi về các vụ xử này, chúng vẫn gây ra ảnh hưởng đáng kể đến dư luận xã hội.
Các vụ xử được xem là công khai, hàng ngàn người thuộc giới đảng viên tích cực hay
cách đây không lâu còn là tù chính trò đã thay phiên nhau đến dự. Các Ủy ban trực
thuộc UBTƯ đảng Cộng sản Liên Xô đã được thành lập để xem xét một số vụ trấn áp
lớn nhất dứơi thời Stalin. Người ta đã nghiên cứu vụ Kirov bò giết hại và Ordjonikidze
tự sát, các vụ án có tính chất phô diễn trong những năm 1936 – 38, vụ
"Tukhasevskii" Ủy ban nghiên cứu vấn đề tệ sùng bái cá nhân Stalin. Ủy ban do ông
ta cầm đầu không thể không vạch ra nhiều hoạt động lạm dụng quyền hành của Stalin
và NKVD.
Không thể coi thường sức ép ngày càng tăng từ phía chính các tù chính trò.
Chúng tôi đã viết về các vụ lộn xộn ở Vorkut. Ở Norilska, tại mỏ Kapitalnaya, đã xảy
ra một cuộc khởi nghóa của những người tù, một số họ đã được vũ trang. Theo lệnh của
Kruglov và dưới sự chỉ huy của tướng Laslennikov, cuộc khởi nghóa đã bò trấn áp thẳng
tay bằng xe bọc thép. Hàng trăm người bò chết. Thêm nhiều vụ lộn xộn lớn xảy ra
bầu làm bí thư thứ hai tỉnh ủy Leningrad.
16
trong các trại ở Kazakhstan. Cuộc khởi nghóa lớn của những người tù bùng lên ở

Kenghir và kéo dài hơn một tháng. Nó cũng bò trấn áp bằng các đơn vò xe tăng. Vấn đề
các trại phải được giải quyết càng nhanh càng tốt. Vài ngày trước khi Đại hội khai
mạc, Kruglov bò cách chức. N.P. Dudorov trở thành bộ trưởng Nội vụ.
Tất cả các diễn biến trên cho thấy tiếp tục che giấu các tội ác của Stalin là việc
làm ngày càng khó khăn, nếu không muốn nói là không thể. Bên cạnh đó, còn có
những nguyên nhân chủ quan, phát xuất từ chút cá tính của Khruschhev.
Nhà chính luận xô viết F. Burlatsky đã viết về động cơ đưa Khruschhev đến
quyết đònh lên án tệ sùng bái cá nhân Stalin: "Làm sao mà Khruschhev lại quyết đònh
đọc báo cáo về Sukarno, khi biết rằng tuyệt đại bộ phận đại biểu sẽ chống lại việc tố
cáo? Ông lấy đâu ra sự dũng cảm và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng? Đây là một
trong những trường hợp cực hiếm trong lòch sử, khi một lãnh tụ chính trò đã đặt lên bàn
cược quyền lực cá nhân và cả mạng sống của mình vì những mục tiêu xã hội cao cả ( ).
Tất nhiên cách đánh giá của ông đối với diễn biến trên là điều lí thú. Trong một buổi
gặp các vò khách nước ngoài, ông đã nói: "Người ta thường hỏi tôi tại sao mà tôi lại
quyết đònh đọc bản báo cáo đó tại Đại hội XX. Đã bao năm, chúng tôi tin vào con
người này. Tung ông lên và tạo việc sùng bái cá nhân ông. Người ta bầu tôi làm bí thư
thứ nhất, nên tôi phải nói lên sự thật. Nói sự thật, dù có phải trả giá đắt bao nhiêu và
tôi có liều đến đâu đi nữa. Lenin đã dạy chúng tôi rằng Đảng mà không sợ nói ra sự
thật rthì sẽ không bao giờ tàn lụi. Chúng tôi đã rút ra những bài học từ quá khứ và
muốn rằng những đảng anh em khác cũng có được những bài học như vậy, lúc đó chiến
thắng chung của chúng ta sẽ được đảm bảo".
4. Đại hội XX đảng Cộng sản Liên Xô – Báo cáo mật của N. Khruschhev.
Từ ngày 14 đến ngày 25. 2.1956, đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập đại hội đại
biểu lần thứ 20. Khruschhev đọc bản báo cáo tổng kết công tác của trung ương đảng.
Trong phần lý luận, ông đề xuất hàng loạt quan điểm mới. Ông cho rằng quan điểm
"chỉ cần chủ nghóa đế quốc còn tồn tại, thì chiến tranh không thể trtánh khỏi" là đã lỗi
thời. Do lực lượng xã hội chủ nghóa và lực lượng yêu chuộng hòa bình đã lớn mạnh,
chiến tranh trong thế giới hiện đại "không phải nhất đònh là không thể tránh khỏi".
Khruschhev tuyên bố, các quốc gia không cùng chung chế độ hoàn toàn có thể chung
sống hòa bình, đồng thời, ông cũng nói thêm "chính sách và đường lối ngoại giao của

nước ta trong quá khứ cũng thế mà hiện nay cũng thế, Liên Xô nhất đònh không can
thiệp hoặc chuẩn bò can thiệp vào nội chính của các quốc gia còn bảo tồn chủ nghóa tư
bản". Về vấn đề hình thức quá độ sang chủ nghóa xã hội của các nước, Khruschhev cho
rằng, hình thức quá độ càng ngày sẽ càng đa dạng hóa, không nên xem bạo lực và nội
chiến là con đường quá độ duy nhất. Hiện nay, giai cấp công nhân đã có khả năng thực
hiện thông qua con đường nghò hội để quá độ sang chủ nghóa xã hội. Trong điều kiện
giai cấp công nhân giành được đa số trong nghò hội và phong trào cách mạng trong
nước lớn mạnh, chuyển biến nghò hội trở thành cơ quan chính quyền của nhân dân,
17
cũng tức là đã đập nát bộ máy quân sự quan liêu của giai cấp tư sản, để xây dựng một
hình thức nghò hội mới, tức thể chế quốc gia nhân dân của giai cấp vô sản.
Đại hội lần thứ 20 đã bầu ra Ban chấp hành trung ương mới. Trong số 133 ủy
viên trung ương được bầu chỉ có 79 người là ủy viên trung ương của đại hội khoá 19.
Khruschhev tiếp tục được bầu làm bí thư trung ương đảng.
Đại hội đã tổng kết việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ V và thông qua dự
thảo kế hoạch 5 năm lần thứ VI. Đại hội cũng đề ra nhiệm vụ đuổi kòp và vượt các
nước tư bản phát triển trong thời gian ngắn nhất và nhấn mạnh vai trò quyết đònh của
tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sự phát triển kinh tế của đất nước nước.
Ngày 25, Đại hội tuyên bố bế mạc. Ngay trong đêm đó, Khruschhev bỗng
thông báo cho các đại biểu họp lại và đọc báo cáo "Về việc sùng bái cá nhân vànhg
hậu quả của nó" trước các đại biểu, tức "Báo cáo bí mật". Trong bản báo cáo này,
Khruschhev vạch trần những vấn đề sai lầm của Stalin, chỉ trích Stalin đã phá hoại
pháp chế, phê chuẩn bắt giữ và trấn áp vô tội, bảo ông không đủ cảnh giác trước việc
phát xít Đức xâm nhập, gây ra những thất lợi cho quân đội Liên Xô trong giai đoạn đầu
của cuộc chiến tranh, vạch trần những sai lầm của ông đối với những dân tộc thiểu số
ở trong nước và sự sai lầm trong vấn đề Nam Tư, v.v Khruschhev đã quy kết những
sai lầm đó cho vấn đề phẩm chất cá nhân của Stalin. Bản báo cáo bí mật đã đập tan sự
sùng bái cá nhân đối với Stalin và công khai hoá mọi vấn đề, làm cho mọi người đều
bò chấn động mạnh. Nhưng, sự phân tích vấn đề trong bản báo cáo là nông cạn, các
bước chuẩn bò cũng thiếu chu đáo.

Sau đại hội lần thứ 20, vào ngày 30.6.1956, Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô
đã ra "nghò quyết về việc khắc phục sùng bái cá nhân và hậu quả của nó", mở một
phong trào phê phán Stalin trên khắp toàn quốc, đồng thời, tiến hành đại quy mô công
tác minh oan. Chính phủ xô viết xoá bỏ tội danh "kẻ thù của nhân dân", giải tán nhiều
trại tập trung. Theo thống kê, từ năm 1956 đến năm 1957, có từ 7 triệu đến 8 triệu
người được phóng thích, từ 5 triệu đến 6 triệu người đã chết được minh oan. Chính phủ
xô viết còn phục hồi danh dự cho các dân tộc thiểu số như Chechen, Ingush,
Karacajevo, Balkartsy, Kalmyki, Đức, cho phép họ từ nơi bò lưu đày ở phía đông trở về
quê hương cư trú, xây dựng lại nước tự trò cộng hoà, hoặc tiểu bang tự trò của họ. Về
mặt văn hóa, chính phủ nới lỏng việc kiểm tra sách báo.
Tuy nhiên, công việc minh oan đã không được thực hiện đến nơi đến chốn.
Trước hết, không thuộc diện minh oan những người tham gia các trào lưu đối lập của
những năm 20 và đảng viên các đảng khác, dù họ có được phóng thích khỏi nơi giam
cầm. Các vụ án bòa đặt của thập niên 1930 cũng không được mang ra xem xét lại. Rất
nhiều nhà hoạt động đảng và nhà nước xô viết, kể cả những tên tuổi lớn như:
Bukharin, Tomskii, Rykov, Zinoviev, Radek, Kamenev, Pyatakov, Shlyapnikov,
Ryazanov , đều không được minh oan. Những bản án ngụy tạo tiếp tục làm hoen ố
18
tên tuổi của họ thêm 30 năm nữa. Một điều cũng đáng đề cập ở đây là phần lớn hồ sơ
của những người bò giam cầm đã bò hủy tại nơi giam cầm sau khi họ được minh oan.
Người ta chỉ giữ lại một giấy chứng nhận ngắn về việc minh oan, thay cho vô vàn các
biên hỏi cung và mặt báo. Những cán bộ NKVD, trại giam, trại tập trung đều không
bò điều tra và bò trừng phạt vì những hành động lạm dụng quyền hành. Về phần mình,
đại bộ phận các cựu tù nhân đề giữ thái độ thinh lặng. Không mấy người chòu kể lại
những khổ ải đã trải qua. Hiếm người chòu viết hồi kí về các trại. Thêm vào đó, chính
quyền không tỏ ra một nổ lực nào thu hút các cựu tù nhân vào công tác tích cực. Có
thể đếm trên đầu ngón tay những cựu tù nhân quay về với công tác đảng và nhà nước.
Càng ít hơn nữa số người chòu bỏ công sức ra để đấu tranh khôi phục sự thật lòch sử và
trừng phạt những kẻ tham gia tích cực các vụ trấn áp. Vả chăng, chính quyền xô viết
không chấp nậhn việc làm này. Khi được yêu cầu giải thích lập trường của đảng,

Khruschhev công khai tuyên bố rằng nếu truy tố tất cả những người trực tiếp hay gián
tiếp góp phần vào những tội ác của Stalin, thì số người bò giam chắc chắn sẽ nhiều hơn
số người được thả ra sau khi được minh oan. Ông còn nói rằng nhân dân xô viết vẫn
nhớ đến công lao của Stalin, rằng thuật ngữ "chủ nghóa Stalin" (stalinism) là do kẻ thù
của chủ nghóa xã hội nghó ra. Lập trường của Khruschhev được thể hiện ngay trong
thực tế: nếu các đài tưởng niệm Stalin ở nhiều thành phố bò tháo dỡ trong những tuần
lễ đầu tiên sau Đại hội XX, thì đến cuối năm, hoạt động này bò cấm. Thi thể Stalin tiếp
tục nằm yên trong lăng, bên cạnh thi thể Lenin.
5. Tác động của nổ lực "phi Stalin hóa" đến các nước Đông Âu.
Việc vạch trần Stalin tại Đại hội XX đã gây ra tình trạng khủng hoảng ở vài
nước dân chủ nhân dân. Ở Bulgaria, cuộc khủng hoảng đã trôi qua dễ dàng, ban lãnh
đạo mới của xứ này do Todor Jukov cầm đầu đã phóng thích tất cả tù chính trò, minh
oan cho những đảng viên cộng sản bò buộc tội và nhiều khi bò xử bắn oan uổng, tuyên
bố vụ án về Traicho Kostov là ng tạo và phi pháp. Ông này được truy tặng danh
hiệu anh hùng.
a. Trường hợp Ba Lan.
Ở Ba Lan, tình hình diễn ra có khác. Công nhân khắp nơi công khai bày tỏ sự
bất mãn. Tình hình cực kì căng thẳng ở Lodz, Silesie; các vụ xung đột tăng lên nhiều
và người ta đã không kòp mang chúng ra xem xét dù ngay trong Bộ Chính trò. Những
cuộc biểu tình lớn nhất diễn ra ở Poznan. Tình hình trong thành phố và vùng phụ cận
trở nên không thể kiểm soát được. Những người biểu tình đã mở cửa một nhà tù đòa
phương để phóng thích các đại biểu của mình đạ bò bắt giam trước đây, nhưng theo lời
chính quyền thì bên cạnh đó còn có nhiều tù hình sự cũng được thả ra. Giới lãnh đạo
Poznan luống cuống ra lệnh dùng súng, và người ta đã khai hoả vào các cuộc biểu tình
của công nhân. Sự việc gây chấn động trong cả nước và làm tình hình càng thêm căng
thẳng. Bộ Chính trò họp liên tục. Đã diễn ra các cuộc đàm phán về việc thay đổi ban
lãnh đạo POUP và đưa W. Gomulka trở về với sinh họat chính trò trong nước. Tháng 7,
đã diễn ra Hội nghò toàn thể lần VII BCHTƯ POUP. Hội nghò đã khai trừ khỏi BCHTƯ
những nhà lãnh đạo bò căm ghét nhất và bầu ra một bộ Chính trò mới, gồm những nhà
19

hoạt động có uy tín lớn, trong số đó có Edward Gerek. Còn W. Gomulka, M.
Spychalski và nhiều nhà hoạt động đảng và xã hội khác được thả ra. Những lời buộc
tội chống lại họ hồi năm 1949 là vô căn cứ. Nhưng tình hình chính trò trong nước vẫn
căng thẳng. Không có sự Thống Nhất bên trong POUP, các đối thủ chính trò của POUP
mau chóng hoạt động tích cực. Yêu sách đòi cho được W. Gomulka trở lại cầm quyền
trở thành đòi hỏi của đa số nhân dân. Chống lại nó là hành động mù quáng, và tháng
10.1956, Hội nghò toàn thể BCHTƯ POUP được triệu tập để đưa Gomulka và một vài
người cộng sự của ông vào BCHTƯ. Tin tức này đã làm cho các nhà lãnh đạo UBTƯ
đảng Cộng sản Liên Xô vô cùng lo lắng.
Ngay khi ở Moskva, nhận được tin rằng W. Gomulka được đưa vào BCHTƯ
POUP và tích cực tham gia công việc của Hội nghò toàn thể, Khruschhev hiểu rằng đây
là vấn đề W. Gomulka trở lại cầm quyền. Điều này có ý nghóa gì đối với Ba Lan, nơi
đang diễn ra những cuộc đấu tranh của công nhân, nơi không cần đến chuyện này thì
nhiều nông trang đã tự nó cũng sụp đổ rồi? Điều này có ý nghóa gì đối với quan hệ
Liên Xô-Ba Lan? Khruschhev đã thương lượng để đưa ngay đến Varsava một phái
đoàn Liên Xô, gồm Khruschhev, Mikoyan, Molotov và Kaganovitch.
Lúc đầu cuộc tiếp xúc diễn ra rất căng thẳng, và Khruschhev đã không nén
được một số lời lẽ thô bạo và doạ nạt, kể cả lời đe dọa can thiệp nhưng dần dần tình
hình trở lại êm dòu. Các nhà lãnh đạo Ba Lan đã làm cho Khruschhev và toàn phái
đoàn xô viết tin rằng chỉ có sự thay đổi mau chóng ban lãnh đạo trung ương POUP và
những nhượng bộ rộng rãi đối với công nhân Ba Lan đang đòi thành lập hội đồng công
nhân ở các xí nghiệp, và đối với người nông dân Ba Lan đang đòi giải tán các nông
trang, vốn dó được thành lập vội vã, mới cho phép Đảng duy trì được quyền kiểm soát
chung đối với tình hình trong nước. Đây cũng là vấn đề mở rộng quyền tự do ngôn
luận, hội họp và biểu tình ở Ba Lan. Các vò khách xô viết không có lối thoát nào khác
hơn là tán thành các thay đổi với điều kiện Ba Lan vẫn là đồng minh vững chắc của
Liên Xô.
b. Trường hợp Hungary.
Cuộc khủng hoảng ở Hungary tỏ ra bi thảm và phức tạp hơn. Dứơi tác động của
Đại hội XX, nhiều nhà lãnh đạo xứ này từng bò trấn áp oan uổng đã được phục hồi

danh dự, kể cả Lázló Rajk. Nhưng sự việc không dừng lại ở đó. Tháng 6.1956, dưới tác
động của các sự biến diễn ra ở Ba Lan, nhiều đảng viên nổi tiếng và giới trí thức
Hungary đòi mang ra xét xử những kẻ chòu trách nhiệm về cái chết của Lázló Rajk.
“Tình hình trong nước tiếp tục căng thẳng, những người cộng sản Hungary không đưa
ra một quyết đònh nào, đáng lẽ phải đề ra đường lối độc lập thì lại theo thói quen vẫn
chờ đợi chỉ thò từ Kremlin. Khủng hoảng chính quyền ngày càng đe dọa đến gần”, một
cán bộ KGB đang công tác ở Hungary nhận xét.

Hiểu rằng không nên để sự việc diễn ra theo chiều hướng xấu hơn, Moskva
quyết đònh can thiệp. Đầu tháng 7, Mikoyan và Suslov đã đến Budapest. Ngày
20
21.7.1956, Erno Gero thay Rákosi ở chức bí thư thứ nhất. Còn ông này sau đó sang
sống lưu vong ở Liên Xô. Nhưng biện pháp vừa nêu vẫn chưa đủ để làm lắng dòu
những cuộc thảo luận sôi nổi đòi cải cách của giới trí thức tập hợp trong câu lạc bộ
Petofi. Đến mùa thu, thêm nhiều tiếng nói đòi cải cách phát xuất từ giới công nhân và
só quan. Lần này, họ công khai đòi phục hồi chức vụ cho Imre Nagy. Ngày 6.10, đã
diễn ra lễ mítting truy điệu và mai táng di hài Lázló Rajk và 6 cộng sự bò giết hại trước
đây. Có đến gần 30 vạn người tham gia mítting.
Ngày 23.10.1956, phấn khởi trước tin Gomulka, một nhà lãnh đạo chủ trương cải
cách ở Ba Lan được bầu làm Bí thư thứ nhất đảng Công nhân thống nhất Ba Lan
(POUP), nhiều sinh viên Budapest đã xuống đường biểu tình đòi cải thiện đời sống và
phục hồi chức vụ cho Imre Nagy. Đến chiều, đoàn biểu tình đã đông đến 10 vạn người
và nội dung yêu sách của họ giờ có xu hướng đòi thay không chỉ người lãnh đạo, mà cả
chế độ. Rõ ràng là sự biến bắt đầu diễn ra vượt khỏi tầm kiểm soát của những người
lãnh đạo. Gần 10 giờ đêm dội lên những tiếng súng ở khu vực gần trung tâm đài phát
thanh. Một số người bò thương và chết. Đám đông người biểu tình tìm cách vũ trang.
Tượng Stalin bò kéo đổ. Nhiều vụ lộn xộn diễn ra. Chính quyền không còn kiểm soát
được tình hình ở thủ đô. Ngay đêm 23.10, Erno Gero đã yêu cầu N. Khrushev giúp đỡ,
đồng thời đưa Imre Nagy trở lại cầm đầu chính phủ
(8)

. Việc Nagy được chọn làm thủ
tướng và János Kádár – một nhà lãnh đạo tự do khác – được bầu làm bí thư thứ nhất
đảng Lao động Hungary ngày 25-10 đã không đảo ngược chiều hướng phát triển của sự
biến. Quân đội Liên Xô đồn trú bắt đầu can thiệp. Đã xảy ra một số cuộc đụng độ.
Ngày 29.10, sau khi Nagy đứng ra dàn xếp một cuộc ngưng bắn, các đơn vò Hồng quân
rút ra khỏi Budapest. Nhưng Nagy, dù rất có uy tín đối với người dân và đằng sau ông
thấp thoáng những đơn vò Hồng quân, vẫn không đủ sức lèo lái tình hình theo ý muốn.
Nhiều vùng quê rộng lớn đã thuộc quyền kiểm soát của những phần tử chống cộng.
Vụ việc còn thêm phức tạp bởi nhiều lời lẽ khích động phát xuất từ phía những
nhà lãnh đạo phương Tây. Ngày 28.10, họ đòi Hội đồng Bảo an LHQ xem xét “tình
hình phát sinh bởi hoạt động của các lực lượng quân sự nước ngoài ở Hungary”, trong
khi chẳng đả động gì đến cuộc hành quân xâm lược của liên quân Anh - Pháp - Israel ở
vùng kênh đào Suez diễn ra cùng lúc đó.
— Chính sách của Chính phủ Xô viết
Trong lúc đó, Moskva vẫn hành xử một cách cẩn trọng. Ngày 30.10, Chính phủ
Liên Xô đã ra “Tuyên bố về những cơ sở để phát triển và củng cố hơn nữa tình hữu nghò
và hợp tác giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghóa khác”. Văn kiện nêu rõ:
- Các nước xã hội chủ nghóa quan hệ với nhau chỉ trên cơ sở các nguyên tắc hoàn
toàn bình đẳng, tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ, độc lập và chủ quyền quốc gia, không
8
(8)
Theo Kriuchkov, sự quay trở lại của Imre Nagy được thực hiện theo sự gợi ý của Anastas Mikoyan.
21
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, điều này sẽ tạo nên sự hợp tác và tương trợ
anh em giữa các nước xã hội chủ nghóa;
- Liên Xô sẵn sàng cùng các nước xã hội chủ nghóa khác thảo luận những biện
pháp nhằm phát triển và củng cố hơn nữa quan hệ mọi mặt giữa các nước xã hội chủ
nghóa;
- Liên Xô sẵn sàng nghiên cứu vấn đề quân đội Liên Xô đóng tại các nước
Hungary, Romania và Ba Lan và nhấn mạnh rằng việc đóng quân của một nước xã hội

chủ nghóa trên lãnh thổ một nước xã hội chủ nghóa khác thuộc khối Hiệp ước
Warszwava nhất thiết phải được sự đồng ý của nước đó.
Về tình hình đang diễn tiến ở Hungary, tuyên bố đặc biệt nhấn mạnh rằng do
“việc duy trì các đơn vò Xô viết ở Hungary có thể bò biến thành nguyên cớ khiến tình
hình thêm nghiêm trọng”, chính phủ Liên Xô “đã ra chỉ thò cho bộ chỉ huy rút các đơn
vò Xô viết khỏi thành phố Budapest ngay khi chính phủ Hungary cho việc làm này là cần
thiết”. Tuyên bố đồng thời khẳng đònh “sẵn sàng tiến hành các cuộc đàm phán với
chính phủ CHND Hungary và với những nước thành viên khối Hiệp ước Warszwava về
vấn đề liên quan đến sự hiện diện của quân đội Xô viết trên lãnh thổ Hungary”. Đó là
giới hạn cao nhất của những nhượng bộ mà chính phủ Xô viết đồng ý, vì tuyên bố cảnh
báo: “Việc bảo vệ các thành tựu xã hội chủ nghóa của nước Hungary dân chủ nhân dân
hiện là công việc chính yếu và thiêng liêng của công nhân, nông dân, trí thức và của tất
cả những người lao động ở Hungary. Chính phủ Xô viết bày tỏ sự tin tưởng rằng nhân
dân các nước xã hội chủ nghóa sẽ không cho phép các lực lượng phản động nước ngoài
và trong nước làm lung lay nền tảng của chế độ dân chủ nhân dân ”.
Cùng lúc đó, nhiều đơn vò Xô viết bắt đầu kéo về sát biên giới Hungary. Nhưng
những người chống đối trong cơn giận dữ đã bất chấp tất cả. Nhiều trụ sở của đảng đã
bò đốt phá, không ít đảng viên cộng sản bò săn lùng và bò giết hại. Bản thân Imre Nagy
cũng bò làn sóng bạo loạn cuốn về phía trước. Ngày 31.10, ông loan báo huỷ bỏ chế độ
độc đảng và thiết lập một chính phủ mới “trên những cơ sở y như năm 1945, thời của
chế độ liên minh các đảng dân chủ”. Ngày 1.11, Imre Nagy đi tiếp bước cuối cùng: rút
khỏi khối Hiệp ước Warszwava, tuyên bố Hungary là nước trung lập, đồng thời ra lời
kêu gọi LHQ thừa nhận nước Hungary trung lập. Lúc này, Budapest thực sự đã nằm
trong vòng vây của các đơn vò Xô viết. Ngày 4.11, Hồng quân kiểm soát toàn bộ thủ
đô Hungary. Các lực lượng đối lập bò đập tan hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, còn Imre
Nagy bò bắt và giải về Liên Xô
(9)
.
6. Tình hình đối nội từ Đại hội XX (2.1956 ) đến Đại hội XXII (10.1961).
Bức tranh của Liên Xô sau Đại hội XX trở nên sáng sủa hơn nhiều. Chuyển biến

tích cực này được nhận thầy trước tiên trong lónh vực kinh tế: trong năm 1956, đất nước
thu hoạch 127 triệu tấn lương thực và nhà nước thu mua 57 triệu tấn. Nếu so với mức
thu hoạch bình quân trong những năm 1949 – 1953 là 81 triệu tấn và thu mua là 33
triệu tấn, thì các con số của năm 1956 quả là kỉ lục. Công nghiệp đạt tốc độ tăng
trưởng cao: 11%. Điều đáng nói ở đây là chính quyền xô viết đả để ý nhiều hơn đến
9()
Ngày 16.7.1958, Imre Nagy bò treo cổ sau một phiên xử kín.
22
nhu cầu hàng đầu của người dân: nhà ở. Được xây dựng theo đề án mẫu (với những
quy đònh chặt chẽ về số tầng, chiều cao trần nhà, kích thước mỗi phòng và cả căn
hộ ), hàng loạt khu nhà nước 5 tầng đã mọc lên ở các thành phố lớn, tuy không đẹp,
nhưng đủ tiện nghi.
a. Kế hoạch cải cách công tác quản lý công nghiệp (1957).
Trong bối cảnh trê, từ tháng 2.1957, Khruschhev đề ra một kế hoạch cải cách
lớn nhắm vào công tác quản lý công nghiệp.
Vào giữa những năm 1950, ở Liên Xô có hơn 20 vạn xí nghiệp công nghiệp và
gần 10 vạn công trình xây dựng. Tuyệt đại bộ phận số này đều do trung ương quản lý.
Tính hiệu quả của cách quản lý này diễn biến theo chiều ngược lại với quy mô tăng
trưởng của nền công nghiệp. Trên bước đường thử nghiệm một phương thức quản lý
khác phù hợp hơn. Từ năm 1953 đến 1956, Trung ương đã chuyển giao gần 15.000 xí
nghiệp về cho các bộ của các nước cộng hoà. Từ tháng 2.1957, theo sáng kiến của
Khruschhev, nhà nước xô viết đã tiến hành phương thức quản lý mới: chuyển giao
quyền quản lý các xí nghiệp từ các bộ hoạt động theo ngành của Liên bang và các
nước cộng hoà về cho 105 Hội đồng kinh tế quốc dân chòu trách nhiệm quản lý trên
một vùng lãnh thổ nhất đònh. Liên bang Nga là nước rộng nhất được 70 hội đồng, các
nước có lãnh thổ hẹp hơn sẽ có ít hội đồng hơn: Ukraina – 11, Kazakhstan – 9,
Uzbekistan – 4; các nước còn lại, mỗi nước có 1. Theo Khruschhev, phi tập trung hoá
kiểu vừa nêu sẽ thúc đẩy sự phát triển của sản xuất. Không được bàn thảo kó càng và
được mang ra áp dụng một cách vội vàng, sáng kiến phi tập trung hoá đã làm không ít
các nhà lãnh đạo hàng đầu bất mãn.

Bất chấp diễn biến không thuận lợi trên, tháng 5.1957, Khruschhev còn tung ra
khẩu hiệu: "Trong vòng 3-4 năm đuổi kòp Mó về sản lượng thòt, sữa và bơ tính theo đầu
người dân". Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, khẩu hiệu này hoàn toàn không
hiện thực về sản phẩm thòt.
b. Hội nghò Trung ương tháng 6.1957 – Khruschhev tăng cường quyền lực cá
nhân.
Được thực hiện một cách dồn dập, các đề xuất cải cách kinh tế và phi "Stalin
hoá" của Khruschhev tạo ra sự bất mãn ở các nhà lãnh đạo hàng đầu vốn đã quá gắn
bó với chế độ Stalin. Tại phiên họp của chủ tòch đoàn UBTƯ đảng Cộng sản Liên Xô
diễn ra trong các ngày 18 – 20.6.1957, Molotov và Malenkov đã bất ngờ nêu ra vấn đề
bãi chức Khruschhev. Trong số 10 ủy viên chính thức, đã có 7 lên tiếng chống lại ông.
Do vậy, nghò quyết bãi chức Khruschhev đã được chủ tòch đoàn thông qua. Khruschhev
bác bỏ nghò quyết này với lí do bí thư thứ nhất là do UBTƯ bầu, do vậy chỉ có cơ quan
này mới có quyền bãi chức ông. Vò thế của Khruschhev còn được củng cố thêm bởi sự
ủng hộ của bộ trưởng Quốc phòng Zhukov và chủ tòch KGB Serov. Zhukov đã dùng phi
cơ quân sự chở các ủy viên trung ương về điện Kremli. Còn Serov mở cửa dinh thự này
cho các uỷ viên trung ương vào tập trung đông đủ, tạo thành áp lực chính trò đè nặng
lên những thành viên chủ tòch đoàn phản đối ông. Không đủ sức vượt qua sự phản đối
23
của đông đảo ủy viên trung ương. Họ đành đồng ý triệu tập Hội nghò toàn thể UBTƯ.
Diễn ra từ ngày 22 đến ngày 29.6, Hội nghò đã thông qua "Nghò quyết về nhóm chống
đảng Molotov, Kaganovich và Malenkov", loại bỏ cả ba ra khỏi chủ tòch đoàn và Ủy ban
trung ương. Các ủy viên dự khuyết ủng hộ Khruschhev – đều trở thành ủy viên chính
thức của chủ tòch đoàn giờ tăng lên 15.
Sau Hội nghò, Khruschhev đã tiến hành một số biện pháp khác nhằm củng cố
quyền lực cá nhân: tháng 10.1957, không chỉ loại Zhukov khỏi chủ tòch đoàn và ủy ban
trung ương đảng, mà còn cách chức bộ trưởng Quốc phòng của ông này; tháng 3.1958,
nắm luôn chức chủ tòch hội đồng bộ trưởng sau khi loại Bulganin. Nắm quyền lực cao
nhất cả trong đảng và trong chính phủ, Khruschhev giờ có thể yên tâm đẩy nhanh công
cuộc cải cách theo quan điểm của ông.

c. Những bất cập trong trạm máy kéo ở các nông trang tập thể
Tháng 2.1958, Hội nghò toàn thể BCHTƯ căn cứ theo báo cáo của Khruschhev,
thông qua "Nghò quyết về việc tiến lên một bước phát triển chế độ nông trang tập thể và
cải tổ trạm máy kéo", quyết đònh bán máy kéo và các loại máy nông nghiệp cho nông
trang tập thể, đồng thời, chuyển những trạm máy kéo thành những trạm bảo dưỡng sửa
chữa. Quyết đònh này được nông dân hoan nghênh, vì nó xoá bỏ tình trạng "cùng trên
một mảnh đất mà có đến hai xí nghiệp xã hội chủ nghóa tiến hành kinh doanh-tập thể
nông trang và trạm máy kéo". Nhưng vì Khruschhev yêu cầu quá gấp nên đến tháng
1.1959 có đến 80% nông trang tập thể đã mua các loại máy nông nghiệp; 8.000 trạm
máy kéo trên toàn quốc đã xoá bỏ hết 7.655 trạm; 20% số nông trang còn lại đều bò
mắc nợ như chúa chổm, trở thành những tập thể nghèo, cơ bản không thể mua được
máy móc gì. Thế là BCHTƯ đã chỉ thò cho những nông trang đó dù phải vay tiền cũng
phải làm để mua cho được máy móc nông nghiệp, nhằm đề phòng họ nảy sinh "tư
tưởng ỷ lại người khác". Sau khi nông trang mua được máy móc theo pháp lệnh quy
đònh, họ phải trả xong số tiền này trong vòng từ ba đến năm năm. Nhưng do có một số
nông trang giàu làm đầu tàu và nhất là họ lại được Khruschhev tán thưởng, nên gần
như tất cả các nông trang đã hoàn trả xong hết số tiền mua máy móc trong vòng một
năm. Với cách làm quá vội vàng đó đã khiến cho một số hạng mục cải cách khác bò
ảnh hưởng xấu. Trước hết, nông trang tập thể do phải chi ra một số tiền quá lớn để
mua máy móc, thiết bò, bắt buộc phải xoá bỏ hoặc kéo dài một số hạng mục trong kế
hoạch, thậm chí còn tạm mượn những số tiền khác để chi trả, làm rối loạn tiến trình
phát triển bình thường của nông trang. Kế đó, sau cải cách này, những loại máy móc
nông nghiệp đa số đều không được duy tu bảo dưỡng bình thường. Nhất là do nông
trang đã dốc hết tiền ra mua máy móc, không còn đủ sức xây nhà để cất giữ các loại
máy móc. Quốc gia nguyên có kế hoạch thành lập 4.000 trạm sửa chữa máy móc nông
nghiệp để nâng đỡ nông trang, nhưng những trạm này vẫn chưa được thành lập. Đến
năm 1961, chính phủ quyết đònh tất cả các loại máy móc nông nghiệp đều được sửa
chữa tại chỗ. Có khoảng hơn 10.000 nông trang lớn đã tự xây dựng xưởng sửa chữa,
trong khi đó còn lại ba bốn chục ngàn nông trang không có xưởng sửa chữa, chỉ có thể
tự sửa chữa qua loa. Thứ ba, nông trang không đủ số lượng nhân viên kỹ thuật được

24
huấn luyện chính quy để sử dụng các loại máy móc nông nghiệp. Nhân viên kỹ thuật
trước kia ở các trạm máy kéo không muốn từ chỗ là một nhân viên công tác cấp quốc
gia chuyển đổi thanh trang viên của nông trang. Trong số họ có một nửa đã rời bỏ
cương vò nông nghiệp. Kết cục, nông trang mua về một số lớn máy móc, nhưng lại
không thể sử dụng nó hết công suất.
Người ta không kòp thời nghó ra việc xây dựng hệ thống phục vụ và sản xuất
máy móc. Các nông trang tập thể có thể đảm bảo công việc tiêu tu, nhưng không làm
nổi công việc đại tu. Trên khu đất của các trạm máy kéo cũ bắt đầu xuất hiện những xí
nghiệp "Nông cụ", mà mối quan tâm là làm sao cho máy móc của nông trang càng bò
sản xuất nhiều và càng đắt càng tốt (giống như ông thợ kính luôn quan tâm đến chuyện
làm sao cho kính bể nhiều). Các thợ cơ khí của trạm máy kéo cũ khi bò biến thành
nông trang viên thì bò mất đi những ưu đãi đáng kể về mặt xã hội. Ở các nông trang
yếu kém về kinh tế, thu nhập của thợ cơ khí bò giảm và hàng chục ngàn thợ máy kéo
và máy liên hợp bỏ ra thành phố để kiếm những công việc có lợi hơn. Dẫu sao họ vẫn
có pasport
(10)
, mà các nông trang viên không có. Kết quả phổ biến của việc tổ chức lại
các trạm máy kéo hoá ra lại là việc "bơm" của cải từ các quỹ nông trang vào kho nhà
nước. Thêm nữa, trong 7 – 8 năm tới việc sử dụng máy móc ở nông thôn không được
cải thiện, mà còn trở nên tệ hại thấy rõ.
Trong quá trình cải cách và điều chỉnh nông nghiệp, Khruschhev cũng làm
nhiều việc thiếu đắn đo, chủ quan và manh động. Ông thấy Mó nhờ trồng bắp mà phát
triển được ngành chăn nuôi, thu được hiệu quả rõ rệt, nên không cần biết điều kiện của
Liên Xô như thế nào, ra lệnh cưỡng bách mở rộng diện tích trồng bắp. Năm 1953, diện
tích trồng bắp ở Liên Xô chỉ có 3.500.000 ha, nhưng Khruschhev yêu cầu đến năm
1960 phải mở rộng lên 28.000.000 ha, tức trong vòng 8 năm phải tăng lên 7 lần. Quy
đònh đó đã dẫn đến một hậu quả tai hại. Bắp là loại cây chòu khí hậu khô và nóng,
trong khi ở Liên Xô có nhiều khu vực không đủ lượng ánh sáng mặt trời, nên bắp
thường không ra trái. Các trang viên đã chống đối tiêu cực. Năm 1956 là năm trồng

bắp nhiều nhất, diện tích lên đến 9.300.000 ha. Sau khi Khruschhev rời khỏi chính
trường, một số đòa phương có truyền thống trồng bắp cũng từ chối không chòu trồng bắp
nữa. Năm 1965, diện tích trồng bắp trên toàn Liên Xô chỉ có 3 triệu 200 ngàn ha, thấp
hơn diện tích năm 1953. Kế hoạch mở rộng diện tích trồng bắp của Khruschhev đã bò
phá sản triệt để.
d. Một số thành tựu và thiếu sót trong cải cách nông nghiệp.
Thất bại trên ảnh hưởng trực tiếp đến ngành chăn nuôi. Như đã đề cập ở trên,
tháng 5.1957, Khruschhev muốn sản lượng thòt của Liên Xô đang ở mức 36kg/người
phải đuổi kòp Mó đang ở mức 97kg/người trong vòng 3 -4 năm.
10
()
Đây là di sản của chế độ quan liêu thời Stalin. Nhằm giữ lại nguồn nhân lực cho nông thôn. Chính
quyền xô viết chỉ cấp pasport (được hiểu nôm na là giấy phép thay đổi nơi cư trú) cho một số công
dân nhất đònh (ctbt Việt).
25

×