Tải bản đầy đủ (.doc) (34 trang)

Xuất khẩu nước tương Chinsum qua thị trường Mỹ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (260.39 KB, 34 trang )

ĐỀ TÀI KINH DOANH QUỐC TẾ
XUẤT KHẨU NƯỚC TƯƠNG CHIN-SU QUA THỊ TRƯỜNG MỸ
Mục Lục:
I. Lời mở đầu
II. Miêu tả hoạt động kinh doanh
II.1.Giới thiệu công ty …………………………………………………….5
II.2.Sản phẩm nước tương Chin-su…………………………………… 6
III.Phân tích Thị trường 6
III.1 Phân tích môi trường kinh doanh 6
III.2 Phân tích thị trường nước tương tại Mỹ 12
IV. Phân tích SWOT 12
V.CHIẾN LƯỢC KINH DOANH:
V.1.Chiến lược Maketing…………………………………………………16
V.1.1 Chiến lược sản phẩm……………………………………………….16
V.1.2Chiến lược phân phối 17
V.1.3 Chiến lược giá …………… ……………………………………….19
V.1.4 Chiến lược xúc tiến………………………………………………….20
V.1.4.1 Quảng cáo………………………………………………………….20
V.1.4.2 Khuyến mãi………………………………………………….…… 20
V.1.4.3 PR…………………………….…………………………………… 20
V.1.4.4 Đội ngũ nhân viên…………………….………………………… 20
V.2 Tổ chức thực hiện…………………………………………………… 21
1
I. Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế
giới, với phương châm “ đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa mối quan hệ kinh tế”
thông qua con đường xuất khẩu để nâng cao tính cạnh tranh hiệu quả của sự phát
triển. Một trong những thị trường có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế
thế giới nói chung và kinh tế khu vực nói riêng đó là Mỹ.
Masan group là một trong những tập đoàn lớn mạnh của Viêt Nam, sở hữu
nhiều thương hiệu thực phẩm nối tiếng ỏ Việt Nam và thế giới trong đó có “Chin-


su”. Đặc biệt với sự thành công vang dội của Chin su ở thị trường Việt Nam, nước
tương Chin su đã và đang chinh phục người Việt với hương vị thơm ngon, chất
lượng hoàn hảo. Nhận thấy được ngành kinh doanh nước chấm rất hứa hẹn không
chỉ ở Việt Nam mà nhu cầu rất cao trên thế giới chưa được đáp ứng và để nối tiếp
những thành công, Chin su muốn thực hiện tham vọng của mình trên thị trường
quốc tế và đăc biệt là thị trường Mỹ.
Cộng đồng người Viêt rất đông đảo ở Mỹ lại chưa được đáp ứng nhu cầu về
sản phẩm nước tương chất lượng, hương vị Việt cho các bữa ăn hàng ngày. Do đó
đây là thị trường hứa hẹn cho nước tương Chin-su. Đây chính là cơ hội để Chin-su
đến với người với đông đảo người tiêu dùng “ đa văn hóa” ở Mỹ, bành số doanh
số bán hàng trên thê giới, tăng giá trị thương hiệu.
Nhóm nghiên cứu chúng tôi mạnh dạn đưa ra bài báo cáo sơ bộ về kế hoạch
xuất khẩu nước tương Chin-su vào thị trường Mỹ để các nhà đầu tư xem xét, đưa
ra nhận định về khả năng thực hiện dự án. Sau đó chúng tôi sẽ có thông tin chi tiết
hơn về thị trường, mục tiêu về thị phần, doanh số, vốn và lợi nhuận ước tính…
2
II. Miêu tả hoạt động kinh doanh
II.1. Giới thiệu công ty Cổ phần Thực phẩm Masan thuộc tập đoàn Ma San
(Masan Group)
II.1.1. Công ty Cổ phần Thực phẩm Masan :
Công ty Cổ phần Thực phẩm Masan là công ty sản xuất nước sốt và gia vị
hàng đầu trong lĩnh vực thực phẩm đóng gói tại Việt Nam. Với thương hiệu lâu
năm, hệ thống phân phối rộng khắp 63 tỉnh, thành phố và sở hữu một Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển hàng đầu Việt Nam, có thể cho ra mắt 50-60 sản phẩm
mới mỗi năm, Masan trong 4 năm liên tiếp đã được báo Sài Gòn tiếp thị bầu chọn
là Thương hiệu được ưa thích nhất trong nhóm ngành hàng nước sốt và gia vị.
Công ty có một đội ngũ điều hành nhiều kinh nghiệm, gồm các chuyên gia đến từ
những tập đoàn kinh doanh đồ uống và thực phẩm hàng đầu thế giới.
II.1.2 Lịch sử Công ty
Công ty cổ phần Thương mại Masan thành lập trên cơ sở sáp nhập Công ty

cổ phần Công nghiệp – Công nghệ - Thương mại Việt Tiến và Công ty cổ phần
Công nghiệp và Xuất nhập khẩu Minh Việt Tiến năm 2003. Vào tháng 12 năm
2008, Công ty cổ phần thương mại Masan đổi tên thành Công ty cổ phần thực
phẩm Masan.
Cổ đông chiến lược: Công ty Cổ phần Đầu tư Masan : 44,38%; VOF Investment
Limited : 4,54% ; Vietnam Investment Limited : 4,18% ; Asia Value Investment
Limited : 4,18%
Thực trạng: Được điều hành bởi một đội ngũ chuyên gia tài năng, nhiều kinh
nghiệm trong lĩnh vực hàng lưu chuyển nhanh, Masan có thế mạnh về kinh doanh,
tiếp thị và thương hiệu. Cùng với mạng lưới phân phối rộng khắp, đây chính là cơ
sở vững chắc để Masan mở rộng thành công ở các lĩnh vực thực phẩm đóng gói
khác nhau, và do đó, tăng cường giá trị cho cổ đông
Hoạt động gần đây: Khởi nghiệp và thành công ở nước Nga xa xôi rồi mới quay
lại tìm kiếm cơ hội ở thị trường Việt Nam, Masan - một tập đoàn kinh tế của
3
một nhóm người Việt sinh sống ở Nga đã và đang làm một cuộc lội ngược
dòng. Từ một vài thùng mì ăn liền chủ yếu để bán cho người Việt tại Nga,
Masan đã xây cả một nhà máy có công suất 30 triệu gói/tháng. Từ xuất khẩu
mì gói, Masan đã đưa sang Nga nào nước tương, nước mắm và tương ớt - điều
mà trước đó nhiều người cho là điên rồ vì người Nga chưa quen ăn mì, tương
ớt, gạo , không thích ăn cay. Kết quả là Masan đã trở thành công ty VN thành
công nhất về xuất khẩu sang thị trường Nga, với doanh số lúc cao điểm đạt
trên 100 triệu USD/năm.
Quay lại Việt Nam từ năm 2001, những chai nước tương, nước mắm, gói
mì hay nước tương mang thương hiệu Chin-su của Masan đã không chỉ đứng vững
trên thị trường mà còn là thách thức đối với những thương hiệu đa quốc gia.Trong
năm 2008, doanh thu của Masan đạt 114 triệu đô-la Mỹ, tăng 194% so với năm
2007. Đồng thời, lợi nhuận ròng của công ty đạt 21 triệu đô-la Mỹ, tăng 342% so
với năm trước. Với 3 thương hiệu Chin-Su, Nam Ngư và Tam Thái Tử, Masan đã
chiếm lĩnh và duy trì vị trí chủ đạo tại cả thị trường nước xốt trung và cao cấp.

II.1.3. Mục tiêu tương lai: Giữ vững vị trí số 1 trong ngành hàng nước
chấm và gia vị Việt Nam, Phát triển hệ thống phân phối sản phẩm, Kiện toàn cơ
chế điều hành các công ty trong hệ thống MASAN GROUP về các mặt nhân sự,
Kế hoạch kinh doanh, chế độ báo cáo tài chính, kiểm soát thu chi theo định hướng
thống nhất từ công ty mẹ, Thâm nhập và tạo dựng vị thế dẫn đầu trong ngành hàng
ăn liền cao cấp - phân khúc thị trường sẽ có tốc độ tăng trưởng bùng nổ trong
tương lai, đáp ứng xu hướng tiêu dùng khi nếp sống công nghiệp và hiện đại ngày
càng được khẳng định, Đi đầu trong việc kinh doanh các sản phẩm thực phẩm
chức năng.
Các dự án đang triển khai:- Tăng công suất sản xuất của nhà máy lên gấp 5 lần
vào năm 2010 Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất nhằm đáp ứng hơn nữa thị
4
trường năm 2010 Thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường trung cấp của các
ngành hàng nước mắm, nước tương, tương ớt và gia vị khác.
II.2. Sản phẩm nước tương Chin-su
II.2.1 Nước tương Chin-su
Xì dầu hay nước tương (phương ngữ miền Nam Việt Nam) là một loại nước chấm
được sản xuất bằng cách lên men hạt đậu tương, ngũ cốc rang chín, nước và muối
ăn. Nước chấm này, có nguồn gốc từ Trung Quốc, được sử dụng khá phổ biến
trong ẩm thực châu Á tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, gần đây cũng xuất
hiện trong một số món ăn của ẩm thực phương Tây.
Ở Việt Nam thị trường nước chấm cũng được đánh giá sôi động tương
đương với hai thị trường khác là dầu gội và bột giặt.
Masan là một doanh nghiệp tạo ra thương hiệu thực phẩm Chin-su nổi tiếng
trong và ngoài nước. Sản phẩm nước tương Chin-su cũng là một thành công nữa
của Masan Food trong lĩnh vực gia vị, nước chấm bởi lẽ mặc dù chỉ mới xuất hiện
trên thị trường trong một thời gian ngắn nhưng với nhãn hiệu nổi tiếng Chin-su,
nước tương Chin-su đã có ảnh hưởng lớn trong tâm thức người tiêu dùng nội địa
và chiếm được 70% thị phần nước tương cao cấp. Đây là điều mà có lẽ không phải
bất kì sản phẩm nào cũng dễ dàng đạt được.

Nước tương chin-su được phân làm 2 nhóm chính
Nước tương trung cấp : Nước tương chin su, nước tương tam thái tử nhị ca, nước
tương tam thái tử nhất ca, nước tương Chin-su tỏi ớt
Nước tương cao cấp : Chin-su nếp cái hoa vàng, nước tương Siêu ca, nước tương
Chin-su táo đỏ
Với thành phần chính là đậu nành, đậu phộng, đường, hương chiết xuất tự
nhiên cùng với công thức pha chế đặc biệt được cải tiến nên nước tương cao cấp
Chin-su mới có hương vị tuyệt ngon, màu sắc hấp dẫn và mùi thơm kích thích
người sử dụng trong các bữa ăn. Nước tương cao cấp Chin-su mới rất ngon khi
chấm trực tiếp với món ăn và thích hợp với việc tẩm ướp các món kho, chiên,
5
nướng với nhiều trường phái ẩm thực. Chất lượng tuyệt ngon của sản phẩm này sẽ
giúp cho bữa ăn gia đình Việt thêm đậm đà, hấp dẫn.
II.2.2 Quy trình sản xuất và các chỉ tiêu chất lượng:
Mới đây nhất, vào ngày 18/04/2009, nước tương Chin-su cao cấp vinh dự là một
trong 8 sản phẩm của Masan Food được chứng nhận là sản phẩm an toàn vệ sinh
thực phẩm, tức là nước tương không có 3-MPCD, không bị đóng cặn ở đáy chai,
an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng và không gây ô nhiễm môi trường.
Có được điều này là nhờ Masan đã sử dụng công nghệ sản xuất hiện đại, dây
chuyền thiết bị khép kín, tự động hóa cao của AVE - ITALIA., áp dụng các tiêu
chuẩn nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm.
Hơn nữa, đa số các doanh nghiệp sản xuất nước tương trong nước sử dụng
phương pháp hóa giải. Với phương pháp chế biến này, thời gian thủy phân nhanh,
giá thành rẻ, ít choáng mặt bằng, mùi vị được người tiêu dùng ưa chuộng, nhưng
nhược điểm lớn khó khắc phục và cũng đang gây hoang mang đối với người tiêu
dùng chính là việc sản phẩm tạo ra có chứa độc tố 3- MCPD vượt mức cho phép
nhiều lần có nguy cơ gây bệnh ung thư cho người tiêu dùng.
Khắc phục nhược điểm trên, Masan Food đã đầu tư mặt bằng, dây chuyền thiết bị
mới để áp dụng quy trình sản xuất nước tương sạch theo một quy trình kết hợp
giữa phương pháp dùng enzyme và phương pháp hóa giải. Phương pháp kết hợp

này mang lại nhiều điểm ưu việt hơn phương pháp truyền thống đã đề cập ở trên,
rút ngắn thời gian sản xuất còn 3 ngày, mùi vị nước tương được người tiêu dùng
ưa chuộng, nồng độ 3-MCPD < 0.5 ppm.
Ngoài ra, chin-su còn đạt được: Tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm HACCP
của Châu Âu ; Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 ; Hoạt động duy trì
năng suất toàn diện TPM.
II.3. Chọn thị trường xuất khẩu sang thị trường Mỹ:
i) Các yếu tố nội tài của công ty: Công ty thực phẩm Masan đang thu được
nhiều thành công của sản sản phẩm Chin-su, và đặc biệt là nước tương Chin-su ở
6
thị trường Việt Nam và châu Âu. Công ty có năng lực sản xuất lớn, nguồn tài
chính dồi dào để đáp ứng cho nhiều chi phí xuất khẩu, có kinh nghiệm trong quản
lý, đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của thị trường nước ngoài
ii) Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến tiềm năng xuất khẩu: người Việt
Nam ở nước ngoài, với các tập quán, ẩm thực gần như giống người Việt trong
nước đang là lượng khách hàng tiềm năng để Chin-su đáp ứng tôt nhất nhu cầu
của họ. Do đó, với lượng Việt kiều đông nhất thế giới, Mỹ là thị trường đầy tiềm
năng của nước tương Chin-su. Mặt khác, từ sau khi hiệp định thương mại Việt –
Mỹ có hiệu lực, Mỹ là thị trường lớn của xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, rất nhiều
thông tin vê thị trường, sự hỗ trợ từ các cơ quan, chính phủ hai nước, cơ chế thông
thoáng tạo điều kiện để Chin-su dễ tiếp cận thị trường Mỹ
III.Phân tích Thị trường
III.1 Phân tích môi trường kinh doanh
III.1.1. Môi trường kinh tế:
Nền kinh tế Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới với nền công nghiệp hùng
mạnh, nông nghiệp hiện đại và là trung tâm thương mại, tài chính của thế giới.
Hoa Kỳ bước vào thế kỷ XXI với một nền kinh tế lớn hơn bao giờ hết và cùng với
nhiều số liệu đánh giá là thành công chưa từng có. Nó không những phải kinh qua
hai cuộc chiến tranh thế giới và sự suy thoái toàn cầu trong nửa đầu thế kỷ XX, mà
7

còn phải vượt qua những thách thức từ cuộc Chiến tranh Lạnh trong 40 năm với
Liên Xô cho đến những đợt lạm phát sâu sắc, thất nghiệp cao, và thâm hụt ngân
sách nặng nề của chính phủ trong nửa cuối thế kỷ XX. Nước Mỹ cuối cùng đã có
được một giai đoạn ổn định kinh tế vào những năm 1990: giá cả ổn định, thất
nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong vòng gần 30 năm qua, chính phủ công bố
thặng dư ngân sách, và thị trường chứng khoán tăng vọt chưa từng thấy.
Thị trường tiêu thụ rộng lớn cộng với chủ nghĩa thực dụng năng động của người
Mỹ đã tạo ra nhiều cơ hội để các nhà nhập khẩu xâm nhập thị trường này. Mặc dù
chiếm chưa đến 5% dân số thế giới, nhưng nước Mỹ lại chiếm tới hơn 25% sản
lượng kinh tế toàn thế giới. Nước Mỹ đứng thứ 10 trên thế giới về thu nhập bình
quân đầu người mỗi năm
Tuy nhiên vào thời điểm hiện tại, do chịu tác động của khủng hoảng tài chính
khiến sức mua giảm mạnh. Nhiều mặt hàng trước đây XK sang Mỹ với số lượng
lớn, đơn đặt hàng dài hạn. Nhưng hiện nay những đơn hàng như vậy không còn
nhiều, số lượng cũng giảm mạnh. Nguyên nhân của tình trạng này là do người dân
Mỹ cắt giảm chi tiêu, các ngân hàng có điều kiện cấp tín dụng với nhà nhập khẩu
đã siết chặt việc cho DN nhập khẩu vay vốn. Điều này dẫn đến các nhà nhập khẩu
của Hoa Kỳ không thể nhập hàng với số lượng lớn, thời hạn dài để bán cho các
siêu thị. Doanh nghiệp nhập khẩu chuyển sang mua số lượng ít, với những hợp
đồng ngắn hạn. Kết quả là việc hàng hóa XK của Việt Nam vào thị trường này
giảm sút. Nhưng điều này lại không ảnh hưởng lớn đến các mặt hàng thiết yếu
III.1.2. Môi trường chính trị:
Hợp chủng quốc Hoa Kì đuợc tổ chức theo hình thức Nhà nước Liên bang, gồm
50 tiểu bang và 2 bang tách rời là Alaska và Haoai. Mỹ là một nhà nước được tổ
chức theo chế độ cộng hòa dân chủ tư sản tổng thống. Dựa theo nguyên tắc “Tam
quyền phân lập”, quyền lực chính trị được thực thi theo nguyên tắc phân quyền và
đối trọng thông qua 3 cơ quan độc lập. Theo đó Quyền lâp pháp được trao cho
8
Quốc hội, quyền hành pháp trao cho Tổng thống Mỹ, quyền tư pháp được giao cho
Tối cao pháp viện. Mỗi cơ quan này thi hành quyền lực một cách đôc lập trong cơ

chế kiểm soát và khống chế lẫn nhau.
Quan hệ chính trị giữa hai nước, tuy đang được cải thiện, song vẫn còn nhiều nhạy
cảm. Nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ chưa thực sự quan tâm phát triển quan hệ
thương mại và đầu tư với Việt Nam. Do còn có sự chống đối quan hệ với Việt
Nam của một bộ phận người Việt tại Hoa Kỳ, nên nhiều Việt kiều ở Hoa Kỳ muốn
phát triển quan hệ buôn bán và đầu tư với Việt Nam còn e ngại và chưa mạnh dạn
làm ăn với trong nước.

III.1.3. Môi trường luật pháp:
Tất cả các loại thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu đều phải chịu sự điều
tiết của các Luật Liên bang về Thực phẩm, Dược phẩm và Hoa Kỳ (Federal Food,
Drug, and Cosmetic Act -FDCA), Luật về Bao bì và Nhãn hàng (Fair Packaging
and Labeling Act - FPLA), và một số phần của Luật về Dịch vụ Y tế (PHSA).
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) chịu trách nhiệm quản lý nhà
nước về nhập khẩu thực phẩm vào Hoa Kỳ. Các quy định của FDA về nhập khẩu
thực phẩm rất nhiều và chặt chẽ. Ngoài các qui định của FDA, có thể có các quy
định riêng của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và/hoặc Cục Nghề cá Hoa Kỳ
(NMFS) đối với một số mặt hàng nông thủy sản cụ thể.
Bên cạnh đó, FDA cũng thực thi rất nhiều quy định khác liên quan đến lưu thông
hàng hóa giữa các bang, việc thử nghiệm hàng trước khi đưa vào lưu thông thương
mại v.v.
III.1.3.1. Luật thuế quan và hải quan:
9
Hệ thống thuế quan: Hệ thống thuế quan của Mỹ là Biểu Thuế quan hài hoà của
Hợp chúng quốc Hoa kỳ (Harmonized Tariff Schedule - HTS). Ðược chính thức
thông qua ngày 1 tháng 1 năm 1989, hệ thống này được xây dựng dựa trên Hệ
thống Mô tả hàng hoá và Mã số Hài hoà của Hội đồng Hợp tác Hải quan, một tổ
chức liên chính phủ có trụ sở tại Brúc-xen. Ðược coi là hệ thống hài hoà, hệ thống
thuế quan này được hầu hết các quốc gia thương mại lớn sử dụng.
Hầu hết các loại thuế quan của Mỹ đánh theo tỷ lệ trên giá trị - tức là mức thuế

được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng nhập khẩu. Mức thuế suất
của Mỹ biến động từ dưới 1% đến gần 40%, đối với hàng dệt may nhập khẩu
thường phải chịu thuế cao hơn. Hầu hết thuế tỷ lệ trên giá trị trong khoảng từ 2
đến 7%, với mức thuế trung bình là 4%.
Một số hàng nhập khẩu, thường là nông sản và các loại hàng chế biến khác, là đối
tượng chịu "thuế theo số lượng" - đó là một loại thuế ấn định đối với một số lượng
nhất định. Một số sản phẩm phải chịu thuế gộp, loại kết hợp thuế theo tỷ lệ trên
giá trị và thuế theo số lượng. Tuy nhiên đối với những sản phẩm khác, ví dụ như
đường, phải chịu thuế định ngạch một mức thuế suất cao hơn được áp dụng đối
với hàng nhập khẩu sau khi một lượng hàng cụ thể đã được nhập vào Mỹ trong
năm, mức chênh lệch sẽ thấp hơn thuế suất phổ biến. Một số ít các trường hợp gần
như đặc biệt phải chịu các mức thuế khác.
Quy chế tối huệ quốc: Hầu hết các đối tác thương mại của Mỹ có chế độ buôn
bán "Tối Huệ Quốc" (MFN). Hàng hoá của các nước thuộc diện đối xử tối huệ
quốc sẽ chịu các mức thuế như nhau khi vào Mỹ. Khi Mỹ giảm, loại bỏ, hoặc thay
đổi một loại thuế quan, thì sự thay đổi đó được áp dụng bình đẳng với tất cả các
quốc gia được hưởng MFN. Hàng nhập khẩu từ các nước không có MFN sẽ phải
chịu mức thuế cao hơn rất nhiều.
Khi gia nhập Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) trong năm
thành lập 1948, Mỹ đã đồng ý dành MFN cho tất cả các nước khác đã ký hiệp
định. Chế độ này còn dành cho một số nước nhất định không tham gia vào GATT.
10
Hiện nay, Mỹ dành chế độ MFN cho tất cả các thành viên của WTO và hầu hết
các quốc gia khác.
Ưu đãi thuế quan đặc biệt: Mỹ dành một ưu đãi thuế quan quan trọng đối với
hàng hoá nhập khẩu đươc sản xuất từ những bộ phận chế tạo tại Mỹ. Ðiều khoản
trong luật này là HTS số 9802 theo Hệ thống Hài hoà mới trước đây gọi là điều
807 theo Hệ thống Thuế quan cũ của Mỹ. Theo thoả thuận này, thuế chỉ đánh vào
phần giá trị gia tăng ở nước ngoài của sản phẩm, không đánh thuế đối với những
phần được sản xuất ở Mỹ. Thoả thuận này, được gọi là "hợp đồng phân chia sản

phẩm", được sử dụng rộng rãi từ môtô đến sản phẩm bán dẫn, quần áo được may ở
nước ngoài sử dụng vải được sản xuất ở Mỹ. Năm 1996, khoảng 8,5% tổng nhập
khẩu của Mỹ đã áp dụng theo điều khoản HTS số 9802.
Tính giá hải quan, các quy định khác: Mỹ chấp nhận dùng Hiệp định của WTO
về tính giá hải quan làm cơ sở cho Luật tính giá hải quan của Mỹ, quy trình xác
định giá trị của hàng nhập khẩu để áp dụng thuế tỷ lệ trên giá trị. Bằng việc tham
gia vào hiệp định, Mỹ sử dụng các quy tắc trong Thoả thuận Giải quyết Tranh
Chấp của WTO để giải quyết những tranh chấp.
Luật hiện tại của Mỹ coi "giá trị giao dịch" là cơ sở để xác định giá trị của hàng
nhập khẩu. Nhìn chung, giá trị giao dịch là mức giá thực tế đã trả hoặc phải trả cho
hàng nhập khẩu đó, với một số chi phí bổ sung không bao gồm trong giá đó. Nếu
phương pháp tính giá hải quan thứ nhất không được sử dụng, luật quy định
phương pháp thứ hai sẽ được sử dụng. Theo thứ tự như sau: 1) giá trị giao dịch của
hàng hoá giống hoặc tương tự, 2) giá trị suy diễn; 3) giá trị tính toán.
Luật Hải quan của Mỹ cũng quy định rằng xuất xứ của của sản phẩm phải được
giải trình rõ ràng và trung thực. Ðiều này vô cùng quan trọng đối với những sản
phẩm muốn vào Mỹ thông qua các chương trình miễn thuế một chiều như GSP,
CBI, và ATPA. Ðối với những sản phẩm đủ điều kiện được ưu đãi thuế trong ba
chương trình này, ít nhất 35% chi phí sản xuất trực tiếp của hàng này phải nằm
trong nước được hưởng lợi.
III.1.3.2. Luật bồi thường thương mại:
11
Hai đạo luật phổ biến nhất bảo hộ các ngành công nghiệp Mỹ chống lại hàng nhập
khẩu không công bằng là Luật thuế bù giá (CVD) và Luật Chống phá giá. Cả hai
luật này quy định rằng phần thuế bổ sung sẽ được ấn định đối với hàng nhập khẩu
nếu chúng bị phát hiện là được trao đổi không công bằng. Cả hai luật bao gồm
những thủ tục tương tự để tiến hành điều tra, ấn định thuế, và sau đó là kiểm tra và
có khả năng loại bỏ thuế.
Luật thuế bù giá (CVD): Luật thuế bù giá quy định một khoản bồi thường dưới
dạng thuế nhập khẩu phụ thu để bù vào phần trợ giá của sản phẩm nước ngoài, mà

việc bán sản phẩm đó ở Mỹ gây thiệt hại các nhà sản xuất những hàng hoá giống
hoặc tương tự của Mỹ. Trong hầu hết các trường hợp, phần trợ giá phải bù lại có
thể do chính phủ nước ngoài trực tiếp trả, nhưng luật này cũng áp dụng đối với
loại trợ giá gián tiếp bị phát hiện sau khi điều tra theo luật thuế bù giá.
Việc điều tra theo luật thuế bù giá thường được tiến hành do có đơn khiếu nại của
các ngành công nghiệp trong nước trình lên Bộ Thương mại Mỹ và Ủy ban
Thương mại Quốc tế, tuy nhiên Bộ Thương mại có thể tiến hành độc lập một luật
thuế.
Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế đều có thể tiến hành điều tra. Bộ
Thương mại điều tra để xác định xem có sự trợ giá "chịu thuế" trực tiếp hoặc gián
tiếp ở nước hoặc lãnh thổ xuất xứ cho việc chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu sản
phẩm là đối tượng bị điều tra hay không.
Ðiều tra của Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định xem việc khiếu nại của ngành
công nghiệp Mỹ bị thiệt hại vật chất hoặc đe doạ thiệt hại vật chất, hoặc các cơ sở
kinh doanh của một ngành có bị thiệt hại vật chất hay không do hàng nhập khẩu
được trợ giá. "Thiệt hại vật chất" được định nghĩa trong luật không phải là những
thiệt hại nhỏ, vô hình, hoặc không quan trọng.
Ðể áp đặt thuế bù giá, bộ Thương mại phải xác định phần trợ giá chịu thuế bù giá
và Ủy ban Thương mại Quốc tế phải tìm ra những thiệt hại.
12
Luật thuế bù giá còn đề cập đến cả các loại "trợ giá ngược chiều" những hình
thức trợ giá cho sản xuất các yếu tố đầu vào được tính vào sản phẩm cuối cùng
xuất khẩu sang Mỹ.
Luật chống phá giá: Luật chống phá giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế bù
giá. Thuế chống phá giá được ấn định vào hàng nhập khẩu khi người ta xác định
được là hàng nước ngoài được bán "phá giá", hoặc sẽ bán phá giá ở Mỹ với giá
"thấp hơn giá trị thông thường". Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa là giá của
hàng nhập khẩu vào Mỹ tức là giá mua hoặc giá bán của nhà xuất khẩu thấp
hơn mức giá của hàng hoá đó ở nước xuất xứ.
Cũng giống như trường hợp theo luật thuế bù giá, các thủ tục chống phá giá được

tiến hành khi có đơn khiếu kiện của một ngành công nghiệp hoặc bộ Thương mại
tiến hành độc lập.
III.1.3.3 Hệ thống luật cơ bản điều tiết hoạt động nhập khẩu vào Mỹ:
Luật thuế xuất năm 1930: Luật này ra đời nhằm điều tiết hàng hóa nhập khẩu
vào Mỹ, bảo vệ chống lại việc xâm nhập hàng hóa giả, luật này quy định mức thuế
rất cao đối với hàng nhập khẩu. Đến nay nhiều điều khoản của luật này vẫn còn
hiệu lực, song thuế suất đã được nhiều lần sửa đổi và hạ xuống nhiều.
Luật buôn bán năm 1974: Luật này định hướng cho các hoạt buôn bán. Luật có
nhiều điều khoản cho phép đền bù tổn thất cho các ngành công nghiệp Mỹ bị cạnh
tranh bởi hàng nhâp khẩu. Đạo luật nầy gây ra nhiều bất lợi chow hàng hóa nhập
khẩu vào Mỹ vì hàng của Mỹ đã được Chính phủ đưng sau lưng bảo hộ.
Hiệp định buôn bán năm 1979: Bao gồm cac điều khoản về sự bảo hộ của chính
phủ về các chướng ngại kĩ thuật trong buôn bán, các sửa đổi thuế bù trừ và thuế
chống hàng thừa, ế - một loại thuế đánh vào các loại hàng hóa bị cho là có trợ gía
hoặc bán phá giá. Hiệp định này được thông qua nhằm mục đích thực hiện một số
bộ luật được thương mại vòng đàm phán Tokyo của GATT.
Luật tổng hợp về buôn bán và cạnh tranh 1988: Luật này ủy nhiệm tổng thống
Mỹ tham gia vòng đàm phán Uruguay, đồng thời thiết lập thủ tục đặc biệt
(Super301) chow phép Mỹ áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với các quyết
13
định không chịu mở cửa chow hàng hóa Mỹ vào và quy phạm quyền Sở hữu trí
tuệ của Mỹ.
III.1.3.4. Chính sách thuế của Mỹ:
Hệ thống thuế quan (thuế nhập khẩu) của Hoa Kỳ được xây dựng trên cơ sở hệ
thống thuế quan (gọi tắt là HS) của Hội đồng Hợp tác Hải quan, một tổ chức liên
chính phủ có trụ sở tai Bruxen. Mức thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ có thể thay đổi
và được công bố hàng năm.
Các loại thuế
Thuế theo trị giá: Hầu hết các loại thuế quan của Hoa Kỳ được đánh theo tỷ lệ
trên giá trị, tức là bằng một tỷ lệ phần trăm trị giá giao dịch của hàng hoá nhập

khẩu. Ví dụ mức thuế tối huệ quốc năm 2004 đối với chè xanh có hương vị đóng
gói không quá 3 kg/gói là 6,4%.
Thuế theo trọng lượng hoặc khối lượng: Một số hàng hoá, chủ yếu là nông sản
và hàng sơ chế phải chịu thuế theo trọng lượng hoặc khối lượng. Loại thuế này
chiếm khoảng 12% số dòng thuế trong biểu thuế HTS của Hoa Kỳ. Ví dụ, mức
thuế MFN năm 2004 đối với cam là 1,9 cent/kg, đối với nho tươi trong khoảng
1,13 – 1,80 USD/m3 hoặc được miễn thuế tùy thời điểm nhập khẩu trong năm.
(Xem thêm phần về Thuế Thời vụ dưới đây.)
Thuế gộp: Một số hàng hóa phải chịu gộp cả thuế theo giá trị và thuế theo số
lượng. Hàng phải chịu thuế gộp thường là hàng nông sản. Ví dụ thuế suất MFN
đối với nấm mã HTS 0709.51.01 áp dụng cho năm 2004 là 8,8 cent/kg + 20%.
Thuế theo hạn ngạch: Ngoài ra, một số loại hàng hoá khác phải chịu thuế hạn
ngạch. Hàng hoá nhập khẩu nằm trong phạm vi hạn ngạch cho phép được hưởng
mức thuế thấp hơn, trong khi đó hàng nhập vượt quá hạn ngạch phải chịu mức
thuế cao hơn nhiều và có hệ quả như cấm nhập khẩu. Mức thuế MFN năm 2002 áp
dụng đối với số lượng trong hạn ngạch bình quân là 9%, trong khi đó mức thuế đối
với số lượng vượt hạn ngạch trung bình là 53%. Thuế hạn ngạch hiện nay đang
được áp dụng với thịt bò, các sản phẩm sữa, đường và các sản phẩm đường.
14
Thuế theo thời vụ: Mức thuế đối với một số loại nông sản có thể thay đổi theo
thời điểm nhập khẩu vào Hoa Kỳ trong năm. Ví dụ, mức thuế MFN năm 2004 đối
với nho tươi nhập khẩu trong thời gian từ 15 tháng 2 đến hết ngày 31 tháng 3 là
1,13 USD/m3, trong thời gian từ 1 tháng 4 đến hết 30 tháng 6 là 1,80 USD/m3, và
ngoài những thời gian trên được miễn thuế.
Thuế leo thang: Một đặc điểm nữa của hệ thống thuế nhập khẩu của Hoa kỳ là
áp dụng thuế suất leo thang, nghĩa là hàng càng chế biến sâu thì thuế suất nhập
khẩu càng cao. Ví dụ, mức thuế FMN đối với cá tươi sống hoặc ở dạng philê đông
lạnh là 0%, trong khi đó mức thuế đối với cá khô và xông khói là từ 4% đến 6%.
Loại thuế này cá tác dụng khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu và hàng sơ chế
hơn là hàng thành phẩm.

Các mức thuế
Mức thuế tối huệ quốc (MFN), hay còn gọi là mức thuế dành cho các nước có
quan hệ thương mại bình thường (NTR), được áp dụng với những nước thành
viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và những nước tuy chưa phải là thành
viên WTO nhưng đã ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ như Việt
Nam. Mức thuế tối huệ quốc (MFN) nằm trong phạm vi từ dưới 1% đến gần 40%,
trong đó hầu hết các mặt hàng chịu mức thuế từ 2% đến 7%. Hàng dệt may và giầy
dép thường chịu mức thuế cao hơn. Mức thuế MFN theo giá trị nói chung bình
quân khoảng 4%. Mức thuế MFN được ghi trong cột “General” của cột 1 trong
biểu thuế nhập khẩu (HTS) của Hoa Kỳ.
Mức thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) được áp dung đối với những nước chưa
phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định thương mại song phương với Hoa
Kỳ như Lào, Cuba, Bắc Triều Tiên. Thuế suất Non-MFN nằm trong khoảng từ
20% đến 110%, cao hơn nhiều lần so với thuế suất MFN. Mức thuế Non- FMN
được ghi trong cột 2 của biểu thuế HTS của Hoa Kỳ.
Mức thuế áp dụng với Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Hàng hoá
nhập khẩu từ Canada và Mexico được miễn thuế nhập khẩu hoặc được hưởng
thuế suất ưu đãi thấp hơn mức thuế MFN. Ví dụ, mức thuế MFN năm 2004 áp
15
dụng chung với dưa chuột chế biến là 9,6%, trong khi đó nếu nhập khẩu từ Canada
hoặc Mêxicô thì được miễn thuế. Thuế suất ưu đãi đối với hàng nhập từ Canada và
Mêxicô được ghi ở cột “Special” của cột 1 trong biểu thuế HTS trong đó (CA) là
ký hiệu dành cho Canada và (MX) là ký hiệu dành cho Mêxicô.
Chế độ ưu đãi độ thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences -
GSP). Một số hàng hoá nhập khẩu từ một số nước đang phát triển được Hoa kỳ
cho hưởng GSP được miễn thuế nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Chương trình GSP của
Hoa kỳ thực sự được thực hiện từ 1 tháng 1 năm 1976 với thời hạn ban đầu là 10
năm. Từ đó đến nay, chương trình này đã được gia hạn nhiều lần với một số sửa
đổi.
Theo luật Hoa Kỳ, Tổng thống bị cấm không được cho nước cộng sản hưởng GSP

trừ phi (a) các sản phẩm của nước đó được hưởng đối xử không phân biệt (MFN);
(b) nước đó là thành viên của WTO và là thành viên của Quĩ Tiền tệ Quốc tế
(IMF); và (c) nước đó không bị thống trị hoặc chi phối bởi cộng sản quốc tế.
Hàng năm, trên cơ sở đề xuất của Đại diện Thương mại Hoa kỳ (USTR) sau khi
tham khảo ý kiến công chúng, Uỷ ban Thương mại Hoa kỳ (ITC), và các cơ quan
hành pháp; Tổng thống quyết định những mặt hàng và những nước đựợc hưởng
GSP. Để đuợc miễn thuế nhập khẩu theo chế độ ưu đãi này, (1) hàng phải được
nhập trực tiếp từ nước hưởng lợi vào lãnh thổ hải quan Hoa Kỳ và (2) trị giá hàng
hoá được tạo ra tại nước hưởng lợi phải đạt ít nhất 35%.
III.1.4. Môi trường văn hóa – xã hội:
4.1 Ngôn ngữ: Mặc dù Hoa Kỳ không có ngôn ngữ chính thức ở cấp liên bang,
tiếng Anh là ngôn ngữ quốc gia.
Năm 2003, khoảng 215 triệu người hay 82 phần trăm dân số tuổi từ 5 trở lên nói
chỉ tiếng Anh ở nhà. Tiếng Tây Ban Nha, có trên 10 phần trăm dân số nói ở nhà, là
ngôn ngữ thông dụng thứ hai và được dạy rộng rải như ngôn ngữ ngoại quốc. Các
di dân muốn nhập tịch phải biết tiếng Anh. Một số người Mỹ cổ vũ việc biến tiếng
16
Anh thành ngôn ngữ chính thức của Hoa Kỳ vì nó là ngôn ngữ chính thức tại ít
nhất 28 tiểu bang.
Dù tồn tại đa ngôn ngữ nhưng tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ chình thức 214,8 triệu
người sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp hằng ngày (năm 2003).
Bang California có số người Việt đông nhất nước Mỹ, ngôn ngữ chủ yếu là tiếng
Việt và tiếng Anh. Quận Cam là quận đông dân đứng thứ nhì tại tiểu bang này và
thứ năm toàn quốc.
4.2 Tôn giáo: Chính phủ Hoa Kỳ không kiểm soát tín ngưỡng của người Mỹ.
Trong một cuộc thăm dò tư nhân thực hiện năm 2001, 76,7 % người Mỹ trưởng
thành tự nhận mình là người Kitô hữu, giảm từ 86,4% trong năm 1990. Các giáo
phái thuộc Tin Lành chiếm 52 phần trăm trong khi Công giáo La Mã từng là giáo
phái riêng biệt lớn nhất chiếm 24,5 phần trăm.
Tại tiểu Bang California tồn tại chủ yếu 2 tín ngưỡng là Phật giáo và Công

giáo. Sinh hoạt các tôn giáo rất phong phú và đa dạng, nhiều chùa Phật giáo và
giáo xứ Công giáo được xây dựng khắp nơi. Từ năm 1978, Đại Hội Thánh Mẫu
của người Công giáo tổ chức hàng năm vào mùa hè tại Carthage, Missouri quy tụ
khoảng 60 hay 70 ngàn người hành hương mỗi kỳ. Người dân ở đây sống rất
phóng khoàng và có xu hướng hội nhập cao, họ sằn sàng chấp nhận các sản phẩm
mới miễn là chúng tốt và giá cả hợp lí. Vấn đề tôn giáo không ảnh hưởng nhiều
đến việc sử dụng nước tương hay việc ăn kiêng của người dân.
4.3 Giáo dục: Giáo dục Công lập Mỹ do chính quyền địa phương và tiểu bang
đảm trách và được Bộ Giáo dục Hoa Kỳ chi phối bằng những qui định hạn chế về
trợ giúp của liên bang. Trẻ em bắt buộc đi học tại đa số các tiểu bang từ sáu hoặc
bảy tuổi cho đến khi được 18 tuổi.Trong số người Mỹ tuổi từ 25 và lớn hơn, 84,6
phần trăm tốt nghiệp trung học, 52,6 phần trăm học đại học, 27,2 phần trăm có
bằng cử nhân, và 9,6 phần trăm có bằng trên cử nhân. Tỉ lệ biết chữ cơ bản là
khoảng 99 phần trăm. Liên Hiệp Quốc cho Hoa Kỳ một chỉ số giáo dục là 99,9
bằng với 20 quốc gia khác vì có điểm số cao.
17
Do đó có thể nói rằng người tiêu dùng Hoa Kỳ rất hiểu biết, am hiểu về sản phẩm
đang sử dụng và sẽ luôn có sự lựa chọn khôn ngoan về sản phẩm sẽ sử dụng
4.4 Chăm sóc sức khỏe: Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Hoa Kỳ vượt mức chi
tiêu bất cứ quốc gia nào khác, tính theo cả số chi tiêu cho mỗi đầu người và phần
trăm GDP Thói quen mua hàng tại những nơi uy tín và đảm bảo chất lượng của
người Mỹ đã tạo ra một áp lực cạnh tranh rát lớn cho các nhà bán lẻ tại đây. Sản
phầm muốn được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận thì phải tuyệt đối bảo đám về vấn
đề vệ sinh an toàn thực phẩm và vấn đề bảo quản.
4.5 Văn hóa: Hoa Kỳ là một quốc gia đa văn hóa, là nơi sinh sống của nhiều
nhóm đa dạng chủng tộc, truyền thống, và giá trị. Nói đến văn hóa chung của đa số
người Mỹ là có ý nói đến "văn hóa đại chúng Mỹ." Đó là một nền văn hóa Tây
phương phần lớn là sự đúc kết từ những truyền thống của các di dân từ Tây Âu,
bắt đầu là các dân định cư người Hà Lan và người Anh trước tiên. Văn hóa Đức,
Ireland, và Scotland cũng có nhiều ảnh hưởng. Một số truyền thống của người bản

thổ Mỹ và nhiều đặc điểm văn hóa của người nô lệ Tây Phi châu được hấp thụ vào
đại chúng người Mỹ. Sự mở rộng biên cương về phía tây đã đưa người Mỹ tiếp
xúc gần đến nền văn hóa Mexico, và sự di dân mức độ lớn trong cuối thế kỷ 19 và
đầu thế kỷ 20 từ Nam Âu và Đông Âu đã mang đến thêm nhiều yếu tố văn hóa
mới. Sự di dân gần đây hơn từ châu Á và đặc biệt là từ châu Mỹ Latinh có nhiều
ảnh hưởng rộng lớn. Kết quả sự trộn lẫn các nền văn hóa lại với nhau có thể có
đặc tính như là một cái nồi súp nấu chảy mọi thứ văn hóa thành một thứ văn hóa
chung
Theo Điều tra Dân số Hoa Kỳ 2000, có 1.122.528 người tự nhận là thuần gốc Việt
và 1.223.736 khi tính thêm các người Việt lai với các chủng tộc khác. Trong số đó,
447.032 người (39,8%) sống ở California và 134.961 (12,0%) sống ở Texas. Nơi
người gốc Việt sống đông nhất bên ngoài nước Việt Nam là Quận Cam tại
California, có 135.548 người Việt. Những công ty người Việt có ở khắp nơi tại
Westminster và Garden Grove, còn được gọi là khu Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon):
tại Westminster họ chiếm 30,7% dân số và tại Garden Grove họ chiếm 21,4% dân
18
số. Đây là một cơ hội lớn để các các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm cơ hội xuất
khẩu các mặt hàng phục vụ cho cộng đồng người Việt tại Mỹ. Cộng động người
Việt tại Mỹ vẫn còn lưu dữ những nét văn hóa truyền thông của người Việt như
hàng năm, vào ngày Tết Nguyên Đán, mọi người quay quần bên nhau để thăm hỏi
và chức sức khỏe, thói quen nấu các món ăn Việt vẫn còn phổ biến trong cộng
đồng. Đây là một đặc điểm quan trọng để chúng ta làm trỗi dậy lòng tư hào dân
tộc và việc sử dụng các món ăn Việt phổ biến hơn.
III.2. Phân tích thị trường nước tương tại Mỹ
III.2.1. Mức độ phù hợp của sản phẩm :
Về cơ bản, không phải thay đổi gì nhiều về sản phẩm, công thức chế biến vì đó là
đặc trưng của sản phẩm. Chỉ cần thay đổi bao bì, nhãn mác để phù hợp với các yếu
cầu của pháp luật Mỹ
III.2.2. Quy mô và tiềm năng thị trường :
Khách hàng mà công ty đang hướng đến là người Việt đang định cư ở Mỹ hay

người Việt đang lưu trú tại Mỹ. Với trên 1,5 triệu người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ,
số Việt kiều tại Mỹ chiếm khoảng một nửa số Việt kiều trên thế giới. ( cụ
thể :1.521.353 theo thống kê năm 2005 ). Mỗi gia đình có trung bình 3,8 người, so
với 3,2 người cho người Mỹ nói chung. Đặc điểm của nhóm khách hàng này là có
thu nhập khá cao so với người Việt Nam. Số tiền thu nhập cho mỗi đầu người Mỹ
gốc Việt hàng năm là 20.074 đô la, thấp hơn con số 26.688 đô la cho mỗi người
Mỹ. Với cuộc sống ở một nước phát triển, không phải là giá cả mà chất lượng là
điều mà họ quan tâm hàng đầu.Trong khi đó, đây là thị trường chưa được đáp ứng
nhu cầu một cách tốt nhất
Mặt khác sản phẩm nước tương Chin-su thuộc mặt hàng tiêu dùng với giá trị
không quá cao ( như các sản phẩm ô tô, máy lạnh ) nên lượng cầu ít co giãn theo
giá và thu nhập. Do đó khủng hoảng kinh tế, thu nhập giảm nhưng vẫn không ảnh
hưởng nhiều đến lượng cầu nước tương của cộng đồng người Việt ở Mỹ.
19
Do đó xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước tương của sản phẩm nước
tương cao cấp Chin-su là rất khả quan
III.2.3.Phân tích cạnh tranh :
i)Các đối thủ canh tranh hiện tại :
Tại Việt Nam, có khoảng 22 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nước tương
và nước chấm. Nhưng hầu hết quy mô còn nhỏ, chưa có được thương hiệu, uy tín
chất lượng trong thị trường. Đặc biệt sau điều tra về 3-MCPD, nhiều doanh nghiệp
phải rút khỏi thị trường vì không đủ khả năng cải tiến quy trình sản xuất. Một số
doanh nghiệp nước tương xuất khẩu như Trung Thành, Trung Nam Sơn nhưng với
quy mô nhỏ
Thị trường Mỹ đến nay là thị trường tiêu thụ lượng nước tương rất mạnh và
chủ yếu là nước tương của Nhật Bản, Trung Quốc. Hiện có tất cả 18 doanh nghiệp
sản xuất nước tương tại Hoa Kỳ. Trong đó, Yamasa Corp USA, Kikkoman Food
Inc, San-J Intl Inc, Cub Shoyu Brewery Inc, Kamada America, Vietnam Food&
Drink Inc, Kikkoman international, Mid Pac Food Inc, là các doanh nghiệp có
doanh thu hàng năm cao nhất.

Có thể thấy một trong các đối thủ mạnh của Chin-su khi xuất khẩu sang thị
trường Mỹ không phải là các doanh nghiệp Việt Nam mà là ‘ Vietnam Food &
Drink Inc’. Đây là một công ty tư nhân kinh doanh nước tương và nằm ở
Landover, MD, được thành lập vào năm 1979 ở Maryland. Ước tính hiện tại cho
thấy công ty này có doanh thu hàng năm là $ 1-2.500.000
ii) Các sản phẩm thay thế : đó là các loại nước sốt khác ( không phải là nước
tương nhưng cũng có thể dùng chế biến các món ăn ) như : sốt cà chua, sốt cá
IV. Phân tích SWOT
IV.1. Strength – S :
IV.1.1. Về sản phẩm :
- Công thức chế biến đặc biêt, đem lại hương vị khác biệt so với tất cả các sản
phẩm cùng loại của công ty khác. Bằng chứng thuyết phục đó là sự đón nhận của
20
Thị trường Việt Nam : chỉ trong vòng 7 năm xâm nhập thị trường, nước tương
chin su đã chiếm hơn 70% thị phần trong nước và đang phục vụ tốt hơn nữa cho
nhu cầu của người tiêu dùng
- Chin-su là sản phẩm của người Việt, do đó hiểu người Việt hơn bất cứ ai. Với
hương vị độc đáo, phù hợp với khẩu vị của người Việt đó là một lợi thế lớn của
Chin-su so với các đối thủ khác. So với vị mặn của nước tương Trung Quốc hay vị
ngọt của nước tương Nhật Bản thì nước tương Chin-su đem đến cho người tiêu
dùng hương vị đặc biệt thơm ngon, hợp với khẩu vị của người Việt Nam.
IV.1.2. Về tài chính :
Masan Food có khả năng tài chính rất hùng mạnh. Trên cơ sở báo cáo hợp nhất, số
liệu 8 tháng năm 2009 của Masan Group gần như hoàn toàn dựa trên số liệu 8
tháng năm 2009 của Masan Food vì Masan Group là công ty mẹ của Masan Food.
Số liệu tài chính của Masan Food như doanh thu, giá vốn hàng bán, cũng như chi
phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp gần như giống 100% với số liệu doanh
thu, giá vốn hàng bán, cũng như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
của Masan Group.
IV.1.3. Về sản xuất :

Cty đã đầu tư, thiết kế, xây dựng Công nghệ hiện đại, dây chuyền thiết bị khép
kín, tự động hóa cao của AVE - ITALIA.
Tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm HACCP của Châu Âu.
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000
Hoạt động duy trì năng suất toàn diện TPM.
Đây có thể coi là điểm mạnh của chin su so với các doanh nghiệp sản xuất còn nhỏ
lẻ ở Việt Nam và sự khẳng định về chất lượng đối với các đối thủ cạnh tranh nước
ngoài khác
IV.1.4. Về tổ chức :
Doanh nghiệp đã tích lũy đáng kể kinh nghiệm tiếp thị, tìm kiếm khách hàng, thực
hiện các hợp đồng xuất khẩu ( đặc biệt là thị trường Nga, Bắc Âu ) ; nắm bắt khá
kỹ lưỡng các yếu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm của các thị trường cao cấp
21
IV.2. Weakness – W :
IV.2.1. Về Marketing: Cạnh tranh xuất khẩu vào Hoa Kỳ gay gắt và quyết
liệt. Hoa Kỳ là thị trường lớn, do vậy, cả thế giới hướng vào thị trường này. Việt
Nam mới chỉ thực sự thâm nhập thị trường Hoa Kỳ kể từ năm 2002 sau khi BTA
( hiệp định thương mại Viêt Nam – Hoa Kỳ ) có hiệu lực, trong khi đó các đối thủ
cạnh tranh của ta đã có hệ thống bạn hàng nhập khẩu và phân phối tại thị trường
này từ rất lâu
IV.2.2. Về nguồn nhân lực : Hiện nay, tình trạng thiếu hụt nhân lực có
chuyên môn, đặc biệt là các chuyên viên cấp cao ở thị trường Việt Nam, cũng như
tình trạng chảy máu chất xám khiến nhân sự luôn là vấn đề nan giải của các doanh
nghiệp. Việc có được các người quản lý và nhân viên có kỹ năng và năng lực tại
Việt Nam gặp rất nhiều cạnh tranh và có thể công ty, Masan Food và
Techcombank sẽ không tuyển dụng hoặc giữ được các nhân sự cần thiết trong
tương lai. Bất kì sự thay đổi nhân sự chủ chốt nào trong nội bộ Công ty cũng đều
ảnh hưởng lớn đến hoạt động, doanh thu của Công ty.
IV.2.3. Yếu tố sản xuất : Phần lớn nguyên vât liệu được nhập khẩu trực
tiếp và thông qua nhà phân phối, nếu Masan Food không thể tìm được nguồn cung

nguyên vật liệu với khối lượng và chất lượng phù hợp với nhu cầu sản xuất, hoặc
giá cả và điều kiện hợp đồng phù hợp thì năng suất và chất lượng sản xuất chắc
chắn sẽ bị ảnh hưởng, từ đó gây ảnh hưởng cho doanh.
IV.3 Oppotunities - O :
Đối tượng mà nước tương Chin-su đang hướng đến là Việt kiều tại Mỹ. Có thể nói
đây là một thị trường tiềm năng bởi số lượng người Việt sang Mỹ định cư ngày
càng gia tăng cùng với việc Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ
chức thương mại WTO. Điều này cũng mang đến cho Chin-su cơ hội tiếp cận thị
trường dễ dàng hơn.
IV.3.1. Người Việt Nam ở Hoa kỳ cũng như những người tiêu thụ nước
tương đều quan tâm đến chất lượng sản phẩm, đặc biệt là các chỉ tiêu an toàn với
22
sức khỏe. Trong khi đó, nước tương Chin-su đang hướng đến việc đem lại sản
phẩm tốt nhất cho người tiêu dung, vừa hợp khẩu vị, ngon, sạch, an toàn cho sức
khỏe. Do đó, Chin-su có nhiều cơ hội là sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của kiều bào ta
ở Mỹ khi mà đã có vị trí nhất định trên thị trường
IV.3.2.Một cơ hội mở ra cho Masan Food khi quyết định đưa nước tương
Chin-su xâm nhập thị trường Mỹ là hiện nay có rất ít doanh nghiệp sản xuất nước
tương Việt Nam có uy tín, hội các đủ tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn
thực phẩm để xuất khẩu nước tương sang Mỹ.
IV.3.3. Việt kiều ở Mỹ rất tạo điều kiện để phát triển sản phẩm chất lượng
cao của Việt Nam. Cộng đồng người Việt ở Mỹ có rất nhiều người thành công trên
thương trường, cũng như có nhiều người có trình độ có thể giúp sức cho sự phát
triển kinh tế của VN trong các lĩnh vực: Luật Hải quan Mỹ, công nghệ thông tin,
pháp luật, các doanh nghiệp Việt Kiều Mỹ sẵn sang giúp đỡ Chin-su trong việc
tìm kiếm khách hàng, phân phối sản phẩm… Cộng đồng người Việt sẽ là cầu nối
để nước tương Việt Nam Chin-su đến với rộng rãi cộng đồng người châu Á ở Mỹ,
những nguwoif có nhu cầu về sản phẩm.
IV.4 Threat – T :
Các nguy cơ mà tập đoàn Masan Group nói chung và sản phẩm nước tương phải

đối mặt khi xuất khẩu sang Mỹ là :
IV.4.1. Sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ mạnh sản xuất nước tương
của Trung Quốc và Nhật Bản: xét về khả năng tài chính lẫn kinh nghiệm kinh
doanh nước ngoài trong lĩnh vực này thì Việt Nam đều yếu hơn các doanh nghệp
đối thủ. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được xếp thứ 67 trên
thế giới, thua kém nhiều nước trong khu vưc như: Singapore, Malaysia, Thái Lan,
Indonesia, Philippines … Nhiều doanh nghiệp còn bị động trong sự cạnh tranh
ngày càng khốc liệt của thị trường. Doanh thu của một số doanh nghiệp có thể cao
nhưng lợi nhuận thu được không tương xứng do tốn kém trong chi phí sản xuất,
dây chuyền lạc hậu, năng suất không. Ngành sản xuất nước tương trong nước tuy
23
xuất hiện lâu nhưng chất lượng chưa được nâng cao, chưa tạo ra được thương hiệu
mạnh.
Việt Nam vẫn chưa được hưởng mức thuế ưu đãi GSP của Hoa Kỳ dành
cho các nước đang phát triển. Hiện nay, có khoảng 3.500 loại sản phẩm từ trên
140 nước và vùng lãnh thổ được hưởng GSP của Hoa Kỳ - tức là được nhập khẩu
miễn thuế vào Hoa Kỳ. Mặt khác, những nước được hưởng GSP là những nước
đang phát triển. Phần lớn những nước này có cơ cấu hàng xuất khẩu tương tự như
Việt Nam, trong đó, nhiều nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam
như Thái Lan, Malaysia, Philipin, Indonesia v.v
Cước phí và thời gian vận tải hàng từ Việt Nam sang Hoa Kỳ thường cao
hơn và lâu hơn so với từ các nước khác đến Hoa Kỳ (kể cả từ các nước xung
quanh Việt Nam) do khoảng cách địa lý xa và chưa có tuyến vận tải biển hoặc
hàng không trực tiếp giữa hai nước. Ví dụ, hiện nay, cước phí vận tải biển từ Việt
Nam sang Hoa Kỳ cao hơn từ Trung Quốc sang Hoa Kỳ khoảng 15-20%. Thời
gian vận tải từ Việt Nam sang bờ Tây Hoa Kỳ trung bình khoảng 30 - 45 ngày so
với từ Trung Quốc khoảng 12 - 18 ngày. Cước phí cao và thời gian vận tải dài là
bất lợi rất khó khắc phục đối với hàng có hạn sự dụng ngắn như nước tương
( khoảng 1 năm )
IV.4.2. Rào cản thương mại từ phía thị trường Mỹ:

Nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước và trong một số trường hợp vì mục đích
chính trị, Mỹ đã sử dụng ngày càng nhiều và tinh vi các rào cản thương mại để
ngăn chặn sự xâm nhập thị trường đối với hàng hóa xuất khẩu từ các nước khác,
nhất là từ các nước đang phát triển. Nếu như biện pháp thuế quan rất rõ ràng và dễ
dự đoán thì các biện pháp phi thuế quan có thể phản ánh không trung thực lợi thế
cạnh tranh do đó làm nhiễu tín hiệu chỉ dẫn quyết định của các doanh nghiệp càng
làm tăng rủi ro cho doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập thị trường.
i) Hàng rào kỹ thuật và an toàn thực phẩm cao và không ít trường hợp
cao quá mức cần thiết. Đối với một số loại thực phẩm (ví dụ thực phẩm có hàm
24
lượng axít thấp), các cơ sở sản xuất phải đăng ký cơ sở và qui trình sản xuất với
Cơ quan Quản lý An toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Hàng thực
phẩm phải được FDA kiểm tra trước khi được phép nhập khẩu vào thị trường. Rất
nhiều mặt hàng nông sản và của Việt Nam phải xin giấy phép nhập khẩu vào Hoa
Kỳ. Ngoài ra, các cơ sở sản xuất còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động và
môi trường, mà thực chất cũng là các hàng rào bảo hộ mậu dịch.
ii) Kiện bán phá giá tại thị trường Mỹ: tuy sản lượng nhâp khẩu nước
tương đóng chai của Việt Nam vào thị truờng Mỹ chưa lớn nhưng lượng nhập
khẩu của mặt hàng này từ các đối thủ Trung Quốc và Nhật lại tương đối lớn, trong
tương lại sản lượng này sẽ tăng cao nên nguy cơ bị kiện bán phá giá là rất lớn.
iii) Hệ thống pháp luật thương mại của Hoa Kỳ rất phức tạp và chồng
chéo. Hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ chịu sự điều tiết của nhiều luật khác nhau và
cả luật liên bang lẫn luật bang. Trong khi đó sự hiểu biết của các doanh nghiệp
Việt Nam về pháp luật Hoa Kỳ liên quan đến thương mại nói chung và nhập khẩu
vào Hoa Kỳ nói riêng còn rất hạn hẹp.
IV.4.3. Nguy cơ thay đổi cung cầu và tập quán tiêu dùng của người Việt: mục
tiêu xuất khẩu chính lúc đầu là nhằm phục vụ cộng đồng người Việt tại Mỹ nhưng
cuộc sống hiện đại làm cho người Việt ở Mỹ ngày càng thích nghi với phong cách
ẩm thực phương Tây, chấp nhận dùng các sản phẩm thay thế sẵn có, giảm nhu cầu
về thực phẩm, gia vị truyền thống

V.CHIẾN LƯỢC KINH DOANH:
Qua việc phân tích môi trường kinh doanh, phân tích SWOT, có thể thấy việc xuất
khẩu nước tương Chin-su qua thị trường Mỹ với quy mô lớn có mức độ khả thi
cao. Công ty cần có những chiến lược hiệu quả để kết hợp điểm mạnh, cơ hội, hạn
chế và vượt qua được điểm yếu và đối đầu, vô hiệu hóa những thách thức để thực
hiện mục tiêu sẽ là sản phẩm nước tương hàng đầu cho người Việt ở Mỹ, thu hút
được sụ tiêu dùng của cộng đồng người châu Á ở Mỹ ( Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc ), có một vị thế nhất định trong thị trường nước tương ở Mỹ
25

×