Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Thực trạng của việc chỉ đạo quá trình dạy học ở trường PTTH Quang Trung –Kông chso –Gia Lai.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.93 KB, 29 trang )

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
2.Mục đích nghiên cứu.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.Đối tượng nghiên cứu.
5.Phương pháp nghiên cứu.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận và pháp lý của việc chir đạo quá trình dạy học ở
trường PTTH.
1.1.Cơ sở lý luận
1.2.Cơ sở pháp lý.
Chương II.Thực trạng của việc chỉ đạo quá trình dạy học ở trường PTTH Quang
Trung –Kông chso –Gia Lai.
2.1.Một số kết quả đạt được trong việc chỉ đạo quá trình dạy học ở trường
PTTH Quang Trung –Kông chso –Gia Lai.
2.2.Một số tồn tại trong việc chỉ đạo dạy học ở trường PTTH Quang Trung –
Kông chso –Gia Lai.
2.3.Một số vấn đề đặt ra trong việc chỉ đạo quá trình dạy học ở trường PTTH
Quang Trung –Kông chso –Gia Lai.
Chương III. Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở
trường PTTH Quang Trung –Kông chso –Gia Lai.
3.1.Nâng cao kiến thức cán bộ quản lý, giáo viên, nhân việc về sự cần thiết ở
trường PTTH Quang Trung –Kông chso –Gia Lai.
3.2.Chỉ đạo tăng cường xây dung củng cố nề nếp học tập.
3.3.Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học.
3.4.Chỉ đạo việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên.
3.5.Chỉ đạo các biện pháp hỗ trợ.
PHẦN KẾT LUẬN
1.Một số kiến nghị
2.Một số kết luận


TàI liệu tham khảo
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, khoa học –công nghệ đã trở thành động lực cơ bản của sự phát
triển kinh tế – xã hội. Giáo dục được coi là nền tảng của sự phát triển khoa học
– công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội và đem lại
sự phồn vinh cho nền kinh tế quốc dân. Vì vậy Giáo dục và khoa học –công
nghệ đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước và hội nhập kinh tế khu vực của nước ta. Đảng, Nhà nước và nhân
dân ta ngày càng coi trọng vai trò của Giáo dục , quan tâm nhiều hơnvà đòi hỏi
giáo dục phảI đổi mới và phát triển để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã
hội.
Nghị quyết Trung ương II khoá VIII của ban chấp hành Trung ương
Đảng đã chỉ rõ: “Giáo dục và Đào tạo hiện nay phảI có một bước chuyển
nhanh về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất
là chất lượng dạy học trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa Giáo dục
và Đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước, thực hiện nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tàI, phục vụ cho sự nghiệp xây dung và phát triển
đất nước”.
Mục tiêu của Giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, them mỹ và các kỹ năng cơ bản, nhằm hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dung tư cách và trách
nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên và đI vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dung và bảo vệ tổ quốc”.
Chất lượng và hiệu quả Giáo dục của nước ta trong những năm gần đây
tuy có những bước khơỉ sắc, nhưng chưa đáp ứng được với yêu cầu của thời kỳ
công nghiệp hoá -hiện đại hoá và công nghệ thông tin hiện nay. Điều đó đã chỉ
rõ trong quyết định Trung ương II khoá VIII của Ban chấp hành TW Đảng:
“Giáo dục và đào tạo nước ta còn yếu kém, bất cập cả về quy mô, cơ cấu, nhất
là chất lượng và hiệu quả chưa đáp ứng kịp với những đòi hỏi ngày càng cao về

nhân lực của công cuộc đổi mới về kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện
công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN”. Chất lượng
Giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nói riêng cũng còn nhiều hạn chế.
Nghị quyết TW Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Tiếp tục nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống
trường lớp và hệ thống quản lý Giáo dục , thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã
hội hoá”.
Dạy học là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong nhà trường, nó có ý
nghĩa quyết định đến chất lượng của một nhà trường, nhất là trong giai đoạn
hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu và sự phát triển xã hội, thì việc nâng cao chất
lượng dạy học là một đòi hỏi cần thiết. Nâng cao chất lượng giáo dục trong đó
nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà trường, đó là
điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển .
Chất lượng dạy học ở các trường PTTH hiên naycó nhiều tiến bộ, tuy
nhiên chất lượng dạy học còn có sự bất cập về quy mô, nhất là chất lượng và
hiệu quả, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục năng lực còn nhiều hạn chế, chưa
được đào tạo một cách hoàn chỉnh, kinh nghiệm quản lý còn thiếu nên khoa
học –công nghệông theo kịp với sự đa dạng phức tạp của các hoạt động Giáo
dục trong quá trình đổi mới.
Vì vậy cần phảI đổi mới quản lý giáo dục, quản lý nhà trường để nâng
cao chất lượng dạy học. Đội ngũ giáo viên đa số nhiệt tình, có tâm huyết với
nghề, song còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, một số giáo viên chưa đạt
chuẩn cho nên có lúc chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi
mới kinh tế –xã hội, xây dùng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN.
Do vậy những nhà quản lý giáo dục phảI nhận thức được tầm quan trọng
của việc nâng cao chất lượng dạy học là một khâu đặc biệt quan trọng để đưa
Giáo dục tiếp cận với yêu cầu của tình hình mới.
Vì vậy đòi hỏi những người làm công tác giáo dục, những nhà quản lý
giáo dục phải trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi để tìm ra được các biện pháp quản lý

hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường và hoàn thành
nhiệm vụ của mình.
Là một thành viên trong lãnh đạo trường PTTH Quang Trung –Kông
chro tôI mạnh dạn đưa ra một số biện pháp chỉ đạo nhămg nâng cao chất lượng
dạy học ở trường, trong đó bao gồm việc đổi mới phương pháp dạy học cho phù
hợp với đối tượng học sinh; Xây dùng mói đoàn kết trong nội bộ nhà trường để
tạo nên một tập thể sư phạm vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược mà
Đảng và Chính phủ giao phó cho ngành giáo dục nói chung.
Chính từ những lý do khách quan và chủ quan nh trên, tôI mạnh dạn lựa
chọn đề tàI nghiên cứu: Một số biện pháp chỉ đạo, nhằm nâng cao chất lượng
dạy học ở trường PTTH Quang Trung Kông chro tỉnh Gia Lai.
Với hy vọng là góp một phần sức lực nhỏ bé của mình nâng cao chất
lượng dạy học ở địa phương huyện nhà.
2.Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, đề ra một số phương pháp chir đạo,
quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường PTTH Quang Trung Kông
chro tỉnh Gia Lai
3.Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy
học ở trường PTTH Quang Trung Kông chro tỉnh Gia Lai.
3.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng chất lượng dạy học và việc quản lý chất
lượng dạy học ở trường PTTH Quang Trung Kông chro tỉnh Gia Lai.
3.3.Đề xuất những biện pháp chỉ đạo có tính khả thi nhằm nâng cao chất
lượng dạy học ở trường PTTH Quang Trung Kông chro tỉnh Gia Lai.
4.Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp chỉ đạo, nhằm nâng cao chất
lượng dạy học ở trường PTTH Quang Trung Kông chro tỉnh Gia Lai.
5.Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu những biện pháp chỉ đạo của lãnh đạo trường nhằm
nâng cao chất lượng dạy học ở trường PTTH Quang Trung Kông chro tỉnh Gia
Lai

6.Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận.
-Tìm hiểu các kháI niệm, thuật ngữ có liên quan.
-Các văn bản, Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy về Giáo dục
đào tạo của Nhà nước.
6.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
-Phương pháp điều tra
-Thống kê các số liệu
-Phương pháp quan sát
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PTTH QUANG TRUNG
KÔNG CHRO TỈNH GIA LAI
1.1.Một số khái niệm về quản lý.
1.1.1.Quản lý và các chức năng quản lý.
1.Quản lý: Thuật ngữ “Quản lý”: (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất
hoạt động này trong thực tiễn. Nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá
trình “Quản” gồm coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng tháI “ổn định” quá trình “Lý”
gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển ”. Nếu người
đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức trì trệ, ngược lại chỉ
quan tâm đến “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản”
phảI có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống
luôn ở trạng thái cân bằng động. Vậy quản lý chính là quá trình gìn giữ sự ổn
định để phát triển và sù phát triển phải tạo ra được thế ổn định của hệ.
Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có LĐ chung của nhiều người,
cùng theo đuổi một mục đích. Quản lý là dạng hoạt động đặc thù ( LĐ đặc thù)
của con người và một thuộc tính trong xã hội ở bất cứ trình độ phát triển nào.
Kể từ xã hội nguyên thuỷ, LĐ chung nhiều người là săn bắn, hái lượm, cũng đã
cần có sự quản lý, cho đến khi nền kinh tế tri thức vẫn cần phải có sự quản lý.

Khi xã hội phát triển, lao động quản lý tách khỏi lao động trực tiếp và trở
thành nghề quản lý. Nghề quản lý tuy tách thành hai bộ phận: Quản lý và lao
động trực tiếp, song nó liên quan mật thiết với nhau, không tách rời nhau, hai
bộ phận này tạo thành hai bộ phận, không tách rời nhau, hai bộ phận này tạo
thành hệ xã hội chung toàn vẹn. Hệ có sự quản lý trong đó gồm có hai bộ phận:
Bộ phận quản lý và bộ phận bị quản lý. Bộ phận quản lý còn gọi là chủ thể quản
lý, bộ phận bị quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý. Đã có nhiều tác giả đưa
ra khái niệm quản lý và theo nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ, nếu như ở tầm vĩ mô, nói đến quản lý xã hội thì
“Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý
nên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội…bằng một hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các nguyên tắc và biện pháp
cụ thể, nhằm tạo ra môi trường cho sù phát triển của đối tượng”.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”.
Quản lý là một khoa học vì nó là lĩnh vực trị thức được hệ thống hoá và
là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học về phân loại
và xử lý các quan hệ, đặc biệt là quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản
lý. Với tư cách là khoa học, quản lý đòi hỏi các nhà quản lý phảI không ngừng
học tập để nâng cao năng lực quản lý.
Quản lý là một nghệ thuật vì nó là hoạt động đặc biệt, đòi hỏi sự khéo léo
và tinh tế, linh hoạt những tri thức, kinh nghiệm đã được đúc kết để áp dụng
vào việc tổ chức con người và công việc. Với tư cách là nghệ thuật, quản lý đòi
hỏi các nhà quản lý phải không ngừng rèn luyện để nâng cao hiệu quả quản lý.
Vậy quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, nó mang tính
khoa học vì các hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng dựa trên những
quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể. Đồng thời
quản lý còng mang tính nghệ thuật, vì nó vận dụng một cách sáng tạo trên
những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố
khác nhau trong yếu tố xã hội.

Ta có thể hiểu bản chất của hoạt động quản lý là sự phối hợp các nỗ lực
của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý trong Giáo dục .
Hoạt động quản lý là tác động của nhà quản lý Giáo dục đến tập thể giáo viên,
học sinh và các lực lượng Giáo dục khác nhau trong xã hội, nhằm thực hiện các
hệ thống mục tiêu quản lý Giáo dục . Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về
quản lý song có thể hiểu quản lý là những hoạt động mang tính tổ chức, điều
khiển của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm thực hiện có hiệu quả
mục tiêu mà tổ chức đề ra.
2.Các chức năng quản lý:
Chức năng của quản lý hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý. Đó là tập hợp
những nhiệm vụ khác nhau về chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình
quản lý. Thực chất các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các hoạt động
quản lý. Ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình
quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý.
Nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý, tuy chưa thống nhất và
có khá nhiều chức năng, tuy nhiên về cơ bản thống nhất quản lý có bốn chức
năng cơ bản, liên quan mật thiết với nhau: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm
tra và trong đó thông tin là phương tiện, vừa là điều kiện thực hiện các chức
năng quản lý.
-Kế hoạch hoá: Căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và nhiệm vụ
được giao mà xây dùng quyết định mục tiêu, chương trình hành động và bước
đi cụ thể trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý hay xác định
được mục tiêu của tổ chức, các biện pháp, các điều kiện cho tổ chức đạt được
mục tiêu đề ra.
-Tổ chức: Phân công trách nhiệm cho từng thành viên trong tổ chức và tổ
chức thực hiện trong tong nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra. Tổ chức là xác định một
có cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ được hợp thức hoá. Tổ chức là nguyên
nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại trong hoạt động của
một hệ thống giữ vai trò to lớn trong quản lý vì: Tổ chức làm cho các chức

năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả. Từ khôí lượng công
việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp con người cho hợp lý. Tạo điều kiện
cho việc hoạt động tự giác và sáng tạo của các thành viên trong tổ chức, tạo
nên sự phối hợp ăn khớp, nhịp nhàng trong cơ quan quản lý. Dễ dàng cho việc
kiểm tra. Một tổ chức nếu có kế hoạch phù hợp nhưng tổ chức không khoa học
thể không thể đạt được mục tiêu đề ra.
Chỉ đạo: Là phương thức tác động của người quản lý nhằm điều hành tổ
chức hoạt động, để đảm bảo tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã đề ra và
đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cương nhằm đạt
được mục tiêu của tổ chức.
-Kiểm tra: Là công cụ sắc bén góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm
tra nhằm đảm bảo các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời các sai sót, tìm ra
nguyên nhân, biện pháp sửa chữa kịp thời những sai sót đó. Kiểm tra lại tai mắt
của quản lý, thông qua kiểm tra mà chủ thể quản lý đánh giá được kết quả công
việc của mọi thành viên trong tổ chức, đánh giá được thực trạng, kết quả vận
hành của tổ chức, nhằm phát huy những mặt tốt, đồng thời phát hiện những sai
lệch để uốn nắn, điều chỉnh một cách kịp thời, đúng hướng, nhằm đạt mục tiêu
đề ra.
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý, chúng có mối
quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại nhau, làm tiền đề cho nhau, khi
thực hiện hoạt động quản lý trong quá trinhf quản lý thì yếu tố thông tin luôn có
mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò và điều kiện, vừa là phương tiện để tạo
điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra các
quyết định quản lý.
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu
dĩên bằng sơ đồ chu trình quản lý như sau:
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý
1.1.2.Quản lý giáo dục:
Chóng ta đã biết quản lý là một dạng tất yếu nảy sinh khi có lao động
chung của nhiều người cùng theo đuổi một mục tiêu. Vậy đương nhiên hoạt

động giáo dục cũng cần được quản lý đó là: quản lý giáo dục. Giáo dục là một
bộ phận của xã hội, nên quản lý Giáo dục là một loại hình quản lý xã hội. Quản
lý xã hội là tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý hoặc
tới những bộ phận của nó, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật
khách quan của đối tượng, nhằm đảm bảo cho nó vận động và phát triển hợp lý
để đạt được các mục tiêu đã định.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý Giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo
dục), nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng,
thực hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà điểm hội tụ là
KÕ ho¹ch
KiÓm tra Tæ chøc
ChØ ®¹o
Th«ng tin
quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục, đưa hệ giáo dục tới mục
tiêu dự kiến, tiến lên trạng tháI mới về chất”.
Từ khái niệm trên về quản lý giáo dục, ta có thể hiểu quản lý giáo dục là
quản lý hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế
hoạch, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, theo những quy
luật khách quan, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới
kết quả mong muốn. Quản lý giáo dục là một dạng hoạt động quản lý chuyên
biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực
hiện một mục tiêu quản lý giáo dục nhất định.
1.1.3. Quản lý nhà trường.
1.Nhà trường:
Nhà trường được tổ chức và hoạt động sao cho việc truyền thụ và lĩnh hội
đó đạt được mục tiêu tồn tại và phát triển của cá nhân, phát triển cộng đồng và
xã hội. Việc tổ chức các hoạt động nói trên được thông qua quá trình sư phạm
(Quá trình Giáo dục được tổ chức một cách khoa học), nhằm xây dùng và hoàn
thiện nhân cách người học, mà nhân cách đó là những tiêu chuẩn về đạo đức và

năng lực của người học đáp ứng được những yêu cầu phát triển của xã hội, mà
không một dạng tổ chức nào trong xã hội khác với tổ chức nhà trường có thể
thay thế được nó.
Ngày nay nhà trường được thành lập và hoạt động dưới sự điều chỉnh bởi
các quy định xã hội, nó có tính chất và nguyên lý hoạt động, có mục đích rõ
ràng và nhiệm vụ cụ thể, có nội dung giáo dục được chọn lọc, có tổ chức bộ
máy và đội ngũ được đào tạo, có kế hoạch hoạt động và được hoạt động trong
môi trường (Tự nhiên –xã hội) nhất định, có sự đầu tư của người học, cộng
đồng, Nhà nước và xã hội, các cơ quan quản lý, các cấp trong xã hội.
Vậy Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên biệt, có đội ngũ các nhà
giáo được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc, phương pháp giáo dục
phù hợp với mọi lứa tuổi, có phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, mục
đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời
đại. Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội, thực hiện chức năng tái
tạo nguồn nhân lực phục vụ cho duy trì và phát triển của xã hội. Trường học là
tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước, xã hội là nơi trực tiếp làm công
tác đào tạo thế hệ trẻ.
2. Quản lý nhà trường: Có nhiều tác giả quan niệm về quản lý nhà trường
khác nhau:
Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý Giáo dục , để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Quản lý nhà trường là phổ thông là quản
lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái
khác, để dần tiến tới mục tiêu giáo dục ”.
Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu “Quản lý nhà trường bao gồm quản
lý bên trong nhà trường (nghĩa là quản lý các thành tố mục đích, nội dung,
phương pháp dạy học, hình thức các tổ chức dạy học, đội ngũ giáo viên, cán bộ,
tập thể sinh viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, các thành tố này quan hệ qua

lại với nhau và tất cả đều nhằm thực hiện các chức năng giáo dục ) và quản lý
các mối quan hệ giữa nhà trường với môi trường xã hội bên ngoài”.
Vậy ta có thể hiểu quản lý nhà trường là tập hợp các tác động của chủ thể
quản lý, nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường và thực hiện các mục tiêu dự
kiến.
Vậy quản lý giáo dục trong nhà trường chính là quản lý các thành tố của
quá trình dạy học dựa trên ý tưởng của Tiến sĩ Bùi Trọng Tuân và được hiểu
bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Quản lý các thành tố của quá trình dạy học
1.2.1.Quá trình dạy học:
1.2.1.1.Khái niệm.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao
gồm hoạt động dạy học và hoạt động học. Hai hoạt động này luôn tương tác
nhau, xâm nhập vào nhau và sinh thành ra nhau, sự tương tác giữa dạy và học
mang tính chất cộng tác (cộng đồng và hợp tác), trong đó hoạt động dạy đóng
vai trò chủ đạo”.
Trong quá trình dạy học của thầy giáo và học sinh là một quá trình hoạt
động trong đó thầy giáo giữ vai trò chủ đạo, học sinh đóng vai trò tích cực, chủ
động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy và học.
1.2.1.2.Bản chất của quá trình dạy học.
Dạy học là công việc của giáo viên bao gồm các hoạt động tổ chức, thiết
kế, chỉ đạo, điều khiển việc lĩnh hội kiến thức, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ
xảo, hướng dẫn học sinh cách thức, phương pháp tiếp thu, lĩnh hội kiến thức.
M: Môc tiªu DH
N: Néi dung DH
P: Ph¬ng ph¸p DH
Th: ThÇy
Tr: Trß
QL: Qu¶n lý

§K: §iÒu kiÖn
Học là hoạt động học tập của học sinh nhằm thu nhận tri thức. Bản chất
của hoạt động học là quá trình thu nhận tri thức một cách chủ động, tích cực.
Sáng tạo dưới sự hướng dẫn của thầy. Có thể hiểu bản chất của quá trình dạy
học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh được tổ chức một cách riêng
biệt dưới sự tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn của thầy nhằm đạt được các nhiệm
vụ dạy học.
1.2.1.3.Mối quan hệ giữa dạy học và học trong quá trình dạy học.
Dạy học là một quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò. Chủ động
hoạt động dạy là thầy giáo, chủ thể hoạt động học là học sinh.
Quá trình vận động tích cực, chủ động, sáng tạo của những chủ thể này
nhằm phát triển và hoàn thiện năng lực của thầy cô giáo và cả ở học sinh.
Quá trình cộng tác hành động giữa thầy giáo và học sinh càng nhịp
nhàng, ăn ý thì kết quả sẽ tăng lên. Cả hai hoạt động dạy và học phải thống nhất
với nhau, phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học tạo ra chất lượng
dạy học.
1.3.Chất lượng dạy học và quản lý chất lượng dạy học.
1.3.1.Chất lượng dạy học.
1.Chất lượng.
Chất lượng dùng để chỉ những giá trị vật chất, giá trị sử dụng của một sản
phẩm trong hệ quy chiếu với một chuẩn đánh giá nào đó, có tích chất quy ước,
mang tính chủ quan, khách quan và có tính chất xã hội.
2. Chất lượng dạy học.
Chất lượng dạy học là chất lượng của việc dạy và việc học. Sự phát huy
tối đa nội lực dạy của thầy và năng lực học của trò, để sau khi ra trương thì học
sinh có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, thực tế xã hội.
Chất lượng dạy bao gồm các công việc của người thầy đó là: Chuẩn bị
giáo án, thực hiện giáo án, đánh giá kết quả và điều chỉnh phương pháp dạy.
1.3.2. Quản lý chất lượng dạy học.
Quản lý dạy học phải đồng thời quản lý hoạt động giảng dạy và học tập

của học sinh, nhưng trước hết là quản lý hoạt động dạy của người thầy, cô giáo
(ở các khâu soạn bài, chuẩn bị cho giờ dạy, đánh giá kết quả dạy học).
Quản lý dạy học được thông qua công tác quản lý của đội ngũ cán bộ
quản lý tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm và ban cán sự lớp.
Dạy học có chất lượng là thực hiện tốt ba nhiệm vụ dạy học đó là cung
cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành thái độ. Nếu thực hiện tốt ba
nhiệm vụ trên thì chất lượng dạy học sẽ nâng lên.
Quản lý chất lượng dạy học không chỉ là quản lý đơn thuần các hoạt động
dạy học mà còn phải quản lý tất cả các thành tố của hoạt động sư phạm, đặc biệt
chú trọng đến các thành tố của quá trình dạy học: Mục tiêu, nội đung dạy học,
xây dùng các điều kiện cần thiết cho hoạt động dạy học của thầy và hoạt động
học của trò: Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, tài chính, môi trường (sư phạm,
xã hội), cùng các mối quan hệ bên trong và ngoài của nhà trường. Quản lý chất
lượng dạy học là quản lý các hoạt động toàn diện trong nhà trường nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
1.4. Quản lý chất lượng dạy học ở trường THPT
Trong điều lệ trường đã chỉ rõ nhiệm vụ và quyền hạn của trương THPT
đồng thời cũng chỉ rõ nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng trường THPT cho
nên để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường thì người thực hiện phảI
chú ý:
a.Lập kế hoạch.
b. Xây dùng nề nếp học tập.
c.Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học.
d.Chỉ đạo quản lý và sử dụng CSVC, TBDH: Có thể nói CSVC –TBDH
là điều kiện để nâng cao chất lượng dạy học, gây hứng thú cho học sinh nên cần
phải bổ sung, mua sắm thiết bị dạy học, động viên, khuyến khích giáo viên làm
đồ dùng và sử dụng một cách có hiệu quả
e.Tổ chức kiểm tra, đánh giá trong nhà trường.
f.Khen thưởng, kỷ luật kịp thời đối với giáo viên, học sinh.
CHƯƠNG II.

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VÀ VIỆC QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT QUANG TRUNG KÔNGCHRO
TỈNH GIA LAI.
2.1.Sơ lược về đặc điểm của trường.
2.1.1.đặc điểm tự nhiên
Huyện Kôngchro Tỉnh Gia Lai là một huyện vùng sâu vùng xa, đời sống
nhân dân ở đây đang còn rất nghèo, mặt bằng dân trí thấp, dân cư ở đây thưa
thớt, phân bố không đồng đều, hệ thống giao thông đi lại giữa các xã, làng, bản
còn gặp nhiều khó khăn. Đây là huyện khó khăn, xa xôi của tỉnh Gia Lai, dân
cư ở đây đa số là dân tộc Ýt người (người Ba Na, Gia –rai chiếm trên 70% dân
số).
Trường THPT Quang Trung Kôngchro Tỉnh Gia Lai được thành lập ngày
16/08/2000. Cho đến năm 2007 trường là trường duy nhất còn có cả hai cấp
(cấp THCS, THPT) chung của tỉnh Gia Lai.
2.1.2.Cơ sở vật chất.
Cơ sở vật chất còn thiếu, 12 phòng học trong đó có 4 phòng không đủ
tiêu chuẩn.
Có 3 phòng phục vụ học tập (1phòng thư viện, 1 phòng thí nghiệm, 1
phòng vi tính có 13 máy).
Trường nằm trong thị trấn Kông chro với diện tích 6835,5 m
2
.
Khôí phòng hành chính quản trị :4 phòng (1 phòng hiệu trưởng, 1 phòng
phó hiệu trưởng, 1 phòng kế toán, 1 văn phòng).
2.1.3.Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên.
Tổng sè 47 người
Trong đó: Cán bộ quản lý 03 người.
Giáo viên:
Nhân viên:
Đội ngũ giáo viên

Môn học Giáo
viên
CS thi đua
cấp tỉnh
CS thi đua
cấp cơ sở
Chưa đạt
tiêu chuẩn
Toán 08 02 02
Vật lý 03 01 01
Hoá học 03 01
Sinh vật 02 01
Kỹ thuật 01
Thể dục 02
Văn 07 01 02
Sử 03 01
Địa 03 01
Tin học 01
Anh văn 05 02
Tổng sè 38 09 06
Một số thành tích đạt được trong:
- Năm 2005 -2006 được Sở giáo dục công nhân trường tiên tiến.
- 4 tập thể tổ đạt tập thể lao động tiên tiến.
- Công đoàn trường đạt tập thể trong sạch, vững mạnh.
Tập thể giáo viên của trường có những ưu điểm:
-Có lập trường tư tưởng vững vàng, yêu nghề, hiểu rõ hoàn cảnh địa
phương nơi trường đóng, nắm chắc đối tượng học sinh.
-Chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, sẵn sàng vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.
-Đa số trẻ nhiệt tình

-Trình độ đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu đào tạo của ngành.
Tuy nhiên đội ngũ cán bộ giáo viên ở trường cũng còn một số hạn chế sau:
-Tuy đạt trình độ chuẩn, nhiệt tình, nhưng kinh nghiệm trong công tác giảng
dạy còn Ýt.
-Do trường mới thành lập có cả hai cấp THCS và THPT nên khôí THPT
giáo viên đều trẻ, một số bộ môn Ýt có cơ hội học hỏi kinh nghiệm ở những lớp
người đi trước.
-Số lượng giáo viên chuyển đi, chuyển đến hàng năm nhiều cũng ảnh hưởng
đến kế hoạch chuyên môn và chất lượng giảng dảy của trường.
2.2.Học sinh và tình hình học tập:
Chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh trường THPT Quang Trung.
Kông chro –tỉnh Gia Lai trong những năm gần đây liên tục tăng lên, số học sinh
đậu tốt nghiệp THPT, rèn luyện đạo đức, học tập tăng lên theo từng năm.
Tuy nhiên việc nâng cao chất lượng giáo dục, dạy học vẫn còn gặp nhiều
khó khăn.
Nguyên nhân là do:
Là huỵên khó khăn nên thu nhập bình quân của dân trong huyện thấp
nên việc đầu tư cho con đi học chưa được coi trọng.
Ngoài việc học chính khoá ở trường các em còn phải phụ giúp cho gia
đình việc nương rẫy.
Do toàn Huyện chỉ có một trường THPT nên chỉ tiêu của trường là tuyển
100% số học sinh được xét công nhận tốt nghiệp THCS năm trước vào, từ đó
chất lượng giáo dục khó được nâng cao.
Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học của trường còn thiếu và chưa
đáp ứng được yêu cầu.
Kết quả chất lượng giáo dục của học sinh của trường THPT Quang Trung
trong hai năm học gần đây.
Năm học
T.số
H.Sinh

Đạo đức (%) Văn hoá (%)
Kết quả tốt
nghiệp
THPT(%)
T KH TB Y G Kh TB Y K
2004-2005
677
52.6
39.4 8.0 2.1 18.8 53.2 25.0 0.9 80.5
2005-2006
768
50.5
43.2 6.3 2.3 17.2 55.0 24.8 0,7 84.7
2.3.Một số kết quả đạt được trong việc chỉ đạo quá trình dạy học.
2.3.1.Công tác xây dựng đội ngũ.
Ban giám hiệu đã quan tâm đến việc tổ chức đội ngũ trong nhà trường về
số lượng và chất lượng. Hàng năm Hiệu trưởng trường cùng tổ chức Sở giáo
dục lên kế hoạch tuyển đủ số lượng các môn thiếu.
Sắp xếp dạy đúng chuyên môn cho tất cả các giáo viên.
Phân công tổ trưởng chuyên môn là những người có năng lực chuyên
môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm, có uy tín trong đội ngũ giáo viên.
Phân công giáo viên chủ nhiệm là người có năng lực chuyên môn nghiệp
vụ cao có kinh nghiệm trong giảng dạy và công tác, được phụ huynh học sinh
tin yêu và mến phục.
Phân công trách nhiệm cụ thể cho giáo viên dựa vào khả năng, hoàn cảnh
cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao.
Xây dùng quy chế sinh hoạt tổ chuyên môn, tổ chức dự giờ thăm lớp.
2.3.2.Chỉ đạo hoạt động dạy học.
-Đầu năm căn cứ vào tình hình địa phương, nhiệm vụ năm học của
ngành, Lãnh đạo trường đề ra kế hoạch chung của nhà trường. Chỉ đạo các tổ

chuyên môn lập kế hoạch hoạt động, các đoàn thể bàn bạc và đI đến thống nhất
kế hoạch chi tiết cho nhà trường.
-Lãnh đạo trường tiến hành công tác tổ chức như phân công tổ trưởng
chuyên môn, phân công giáo viên chủ nhiệm, thư ký hội đồng và phân công
giảng dạy của giáo viên.
-Đầu năm học Hiệu trưởng phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành
viên các tổ chức đoàn thể trong nhà trường.
+Hiệu trưởng chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn
+Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên bộ môn
+Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm
-Hiểu trưởng lên kế hoạch kiểm tra hàng tuần, hàng tháng về quá trình
thực hiện kế hoạch của cá nhân, tổ chuyên môn và nhà trường. Công tác kiểm
tra được tổ chức định kỳ, thường xuyên, đột xuất. Tổ chức kiểm tra chéo giữa
các tổ chuyên môn.
2.3.3.Chỉ đạo hoạt động của học sinh.
Đầu năm học tiến hành biên chế lớp, việc biên chế lớp phải được bố trí
hợp lý, khoa học, đảm bảo đồng đều về các lớp.
Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm tiến hành kiện toàn bộ máy cán sự lớp, tiến
hành họp cha mẹ đầu năm. Giáo viên chủ nhiệm cho lớp học nội quy, quy định
của nhà trường.
Phối hợp với phụ huynh học sinh quản lý hoạt động học tập của học sinh
ở nhà.
Phối hợp cùng đoàn thanh niên, giáo viên bộ môn để kiểm tra đánh giá
học sinh trong việc thực hiện nề nếp, nội quy, quy định của các đoàn thể đề ra.
2.3.4.Cơ sở vật chất thiết bị dạy học
Đầu năm hiệu trưởng tiến hành cho các tổ bộ môn lập kế hoạch mua sẵm
thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học cần thiết, tổng hợp và mua kịp thời để phục
vụ công tác dạy học.
Phân công giáo viên phụ trách phòng thí nghiệm, thiết bị phải là người có
năng lực, có trách nhiệm và có chuyên môn.

Có kế hoạch bồ dưỡng giáo viên phụ trách thí nghiệm, thư viện của nhà
trường nhằm nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ tốt cho việc dạy học
của giáo viên trong trường.
2.3.5.Phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường.
-Phối hợp với công đoàn, đoàn thanh niên: Chăm lo đời sống vật chất
tinh thần cho giáo viên, phát huy sức mạnh tập thể, tạo phong trào thi đua để
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh.
Giáo dục xã hội: được thực hiện qua hệ thống tổ chức Nhà nước, qua bộ
máy thông tin đại chúng, qua dư luận xã hội, qua hoạt động giáo dục của các
đoàn thể quần chúng, góp phần quan trọng vào sự phát triển nhân cách.
2.4.Một số tồn tại.
2.4.1.Lãnh đạo nhà trường tuy đã có nhiều trăn trở cố gắng nhưng so với yêu
cầu ngày càng cao thì vẫn chưa đáp ứng kịp. ĐôI khi còn bảo thủ, chưa mạnh
dạn đổi mới, làm việc còn dựa trên kinh nghiệm nhiều hơn. Do vậy cần có
những bước đột phá ding lý luận soi vào thực tiễn và dùng thực tiễn kiểm chứng
lý luận.
2.4.2.Một số giáo viên còn tự bằng lòng với công việc hiện tại của mình, chưa
cố gắng “cập nhật thông tin” để vươn lên về mọi mặt, tiến kịp với thời đại. Vì
thế chưa tạo đựơc nề nếp tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên,
liên tục. Do đó việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng còn hạn chế.
2.4.3.Việc tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm chất lượng chưa cao. Một số
sáng kiến kinh nghiệm chưa có đầu tư, nên mọi việc triển khai ứng dụng những
sáng kiến kinh nghiệm (được xem là có giá trị) chưa có hiệu quả, hoặc nếu có
thì cũng còn ở phạm vi rất hẹp.
2.4.4.Vấn đề đánh giá xếp loại chất lượng hai mặt cho học sinh đôI khi chưa
thất chính xác. Về đánh giá thi đua được tiến hành khoa học –công nghệá quy
củ nhưng đôI lúc chưa thất kịp thời, nhạy bén trong những tình huống nhạy
cảm. Việc đánh giá đầu tư chưa đồng đều cá biệt còn có giờ học, giáo viên đánh
giá chưa thực sự khách quan.
2.4.5.Công tác dân chủ hoá trong trường dù Ban giám hiệu đã chú ý nhiều

nhưng việc thu nhận thông tin phản hồi từ giáo viên, phụ huynh, học sinh chưa
thường xuyên. Vì thế chưa phát huy cao tác dụng phối hợp giáo dục giữa nhà
trường, giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh học sinh. Trong công tác quản lý
chưa thật khoa học, đổi mới chưa mạnh mẽ.
Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan của những mặt tồn tại trên,
nhưng trước hết phải nói đến đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên phải cố gắng
tạo những bước chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về chất lượng dạy học để có thể
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành giáo dục nói chung và của trường
THPT Quang Trung Kôngchro nói riêng.
CHƯƠNG III.
NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG NHẰM TỪNG
BƯỚC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT
QUANG TRUNG –KÔNGCHRO –GIA LAI.
Để từng bước nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Quang Trung
–Kôngchro –Gia Lai. Qua thực tế quản lý dạy học những năm gần đây. Tôi xin
hệ thống và đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học sau:
(có những biện pháp đã làm, đang làm và những biện pháp sẽ làm).
3.1.Tổ chức, động viên, giáo dục nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng.
3.1.1. Giáo dục nâng cao nhận thức cho giáo viên, học sinh thông qua các chủ
điểm hoạt động nh các ngày lễ lớn hàng nằm bằng các hình thức mít tinh, hội
thảo, toạ đàm, dạ hội văn nghệ, thể thao. Trong công tác giao dục cần tế nhị,
mềm dẻo, tránh áp đặt mệnh lệnh một cách cứng nhắc. Có nh vậy mới dễ đI vào
lòng người và mới phát huy tác dụng.
3.1.4.Chó ý kết hợp việc giáo dục chính trị với việc nâng cao đời sống vật chất,
kết hợp hài hoà lợi Ých cá nhân với lợi Ých tập thể, lợi Ých xã hội. Tạo môi
trường văn hoá lành mạnh trong nhà trường.
3.2. Xây dựng và quản lý đội ngũ.
3.2.1.Trước hết nhà trường phải tạo “địa chỉ hấp dẫn” để thu hút người giỏi về
trường làm cho đội ngũ đủ về số lượng, giỏi về chất lượng. Việc đánh giá chất
lượng đội ngũ dựa vào nhiều kênh thông tin, lấy tổ chuyên môn làm nòng cốt,

không xem nhẹ những thông tin phản hồi từ phía học sinh, phô huynh. Kịp thời
uốn nắn những sai lệch.
3.2.2. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng.
3.2.3.Tạo điều kiện cho giáo viên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ. Tạo
điều kiện cho những giáo viên có năng lực, phẩm chất, cá tính…Để có phương
án phân công vừa phát huy tối đa khả năng của mỗi người.
3.3. Quản lý hoạt động sư phạm của giáo viên một cách khoa học, nhẹ
nhàng.
3.3.1.Quán triệt ý thức thực hiện quy chế chuyên môn. sắp xếp thời khoá biểu
khoa học chính xác, kiểm tra đánh giá thường xuyên, kịp thời. Dự giờ thăm lớp
định kỳ.
3.3.2.Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dùng kế hoạch tổ theo mẫu thống nhất.
Sinh hoạt chuyên môn tổ có chủ đề tránh sinh hoạt hành chính đơn thuần. Chỉ
đạo đăng lá danh hiệu thi đua, các chỉ tiêu phấn đấu của cá nhân, của tổ.
3.4. Quản lý hoạt động của học sinh.
3.4.1-Tạo ra một hệ thống hoạt động đồng bộ giữa nhà trường, giáo viên chủ
nhiệm, giáo viên bộ môn, cha mẹ học sinh, Đoàn thanh niên…mục đích hoạt
động mang lại hiệu quả.
3.4.2.Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ Đoàn, văn thư, cơ đỏ, giáo viên chủ
nhiệm. Đội ngũ này làm tốt sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm nhà trường rất nhiều
trong việc quản lý.
3.4.3.Kịp thời phát hiện học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém.
3.5. Quản lý xây dùng bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
3.5.1.Trước hết phải tận dụng có hiệu quả các thiết bị hiện có, khai thác tối đa
hiệu quả của nó trong giảng dạy. Phát động phong trào giáo viên làm đồ dùng

×