PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học, việc phát huy và giữ
gìn bản sắc văn hoá dân tộc cũng đang trở thành một vấn đề cấp thiết đối với
chúng ta. Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em: dân tộc Kinh
(thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ); Các dân tộc vùng núi phía Bắc gồm có: dân
tộc H’Mông, dân tộc Thái, dân tộc Tày, Dân tộc Nùng, Dân tộc Mường, dân
tộc Dao ; Ở vùng núi miền Trung, Tây Nguyên có các dân tộc như: dân tộc
Vân Kiều, dân tộc Ê- đê, dân tộc Ba-na, dân tộc K’Ho ; Còn ở vùng miền
Tây Nam Bộ thì có các dân tộc: dân tộc Chăm, dân tộc Khơ’Me Mỗi dân
tộc đều có nền văn hóa tạo hình độc đáo và rất giàu tính dân gian, những đồ
dùng thường ngày của họ cũng mang đầy tính nghệ thuật với những hoạ tiết
hoa văn cùng với cách sắp xếp chúng hết sức độc đáo, đặc sắc. Trong những
năm gần đây, Đảng và nhà nước ta rất chú trọng tới việc gìn giữ và phát huy
bản sắc của các dân tộc trên mọi miền Tổ Quốc. Nghị quyết số 22 của bộ
chính trị đã nêu rõ “Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở
mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn
hóa của các dân tộc khác và góp phần phát triển nền văn hóa chung cả nước
tạo ra sự phong phú, đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam”.
NTTH là những loại hình hoạt động nhận thức của con người nhằm
tạo ra cái đẹp cho cuộc sống, cho nghệ thuật, nó bao gồm rất nhiều chuyên
ngành như: hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, trang trí, thủ công mĩ nghệ, kiến
trúc…Với hai thể loại: nghệ thuật cơ bản và nghệ thuật ứng dụng, nghệ thuật
tạo hình dân tộc đã tạo ra rất nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó NTXDT
được sử dụng để trình bày mỹ thuật ở các hình thức khác nhau (trên quần áo,
đồ gỗ, bát đĩa…) bằng cách gắn các hình trang trí hay các hình theo đề tài đã
có sẵn vào một nền chính. Như vậy, NTXDT cũng là một nghệ thuật trang trí
mà ở đó người nghệ sĩ thể hiện các hình ảnh nghệ thuật trên không gian hai
chiều bằng cách sắp xếp các mảng hình, các họa tiết theo một bố cục mang
tính nghệ thuật và gắn chúng trên một nền phẳng.
Cũng tuân theo quy luật của cái đẹp, tuân theo sự sắp đặt về hình, về
màu sắc… nhưng lại khác các ngành nghệ thuật khác về phương thức sắp đặt
nên NTXDT có vẻ đẹp riêng của nó. Trong lịch sử phát triển của NTTH,
NTXDT đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc làm đẹp cho cuộc sống
xung quanh. Ngay từ ngày xa xưa, người ta có thể sáng tạo ra các bức tranh
được làm từ các nguyên vật liệu thiên nhiên như lá cây, vỏ cây… Dần dần
theo nhu cầu phát triển của cuộc sống con người luôn muốn làm đẹp cho đồ
đạc và làm đẹp cho môi trường sống xung quanh mình, vì thế nên NTTH nói
chung và NTXDT nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết.
HĐTH là một hoạt động quan trọng ở trường mầm non, nó có vị trí to lớn
trong việc phát triển toàn diện cho trẻ về tất cả các mặt: Đạo đức, Trí tuệ,
Thể chất, Thẩm mĩ, Lao động hoạt động này bao gồm các thể loại như: vẽ,
nặn, xếp dán tranh, chắp ghép, xếp hình, gấp giấy… trong đó HĐXDT đặc
biệt là xếp dán tranh trang trí được coi là một trong những hoạt động giữ một
vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nền tảng ban đầu của xúc
cảm, tình cảm thẩm mĩ, khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo nghệ thuật
cho trẻ mầm non.
Với đặc điểm lứa tuổi của mình, trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã có thể cảm
nhận và thể hiện được nhịp điệu của bố cục trang trí, của sự sắp xếp các hoạ
tiết cũng như cảm nhận được vẻ đẹp trong các mẫu hoa văn trang trí của một
số dân tộc. Hơn nữa, trẻ cũng đã có thể tiếp thu, lĩnh hội các kinh nghiệm
văn hóa. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng giúp trẻ 5-6
tuổi làm quen với các bố cục hoa văn dân tộc.
Trong thực tiễn giáo dục mầm non, HĐTH thực sự đã được coi là
phương tiện cơ bản để giáo dục trẻ song HĐXDT lại chưa được các giáo
viên quan tâm thích đáng. Ở các trường mầm non hiện nay số lượng của các
giờ HĐXDT còn ít, chất lượng của chúng lại nghèo nàn, sự truyền cảm cảm
xúc của các bố cục không gian tranh từ giáo viên sang trẻ còn nhiều hạn chế,
họ chưa truyền được cho trẻ thần thái của bố cục trang trí, chưa cho trẻ thấy
được nét đẹp của nền văn hoá vùng miền. Bản thân mỗi giáo viên mầm non
chưa thấy được vai trò to lớn của việc tổ chức HĐXDTTT trong việc bồi
dưỡng và giúp trẻ tìm hiểu, làm quen với các bố cục hoa văn dân tộc, đưa
trẻ đến dần với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt Nam.
Các giờ HĐXDT chưa thực sự trở thành một môi trường hoạt động hấp
dẫn cho trẻ do những phương pháp, biện pháp mà các giáo viên sử dụng
còn cứng nhắc, thiếu sự linh hoạt, mềm dẻo. Hơn nữa các nội dung được
lựa chọn để đưa vào chương trình của hoạt động xếp dán tranh còn quá
nghèo nàn, đơn giản, không có sự độc đáo. Đây chính là nguyên nhân làm
hạn chế khả năng tạo hình của trẻ cũng như không thể khơi gợi được sự
sáng tạo tiềm ẩn trong bản thân mỗi đứa trẻ.
Vì những lí do trên mà chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
cho luận văn tốt nghiệp của mình là “Một số biện pháp tổ chức hoạt động
xếp dán tranh trang trí nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi tích cực làm quen với các
bố cục hoa văn dân tộc”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở lí luận và nghiên cứu tình hình thực tiễn giáo dục
mầm non hiện nay để có thể đề xuất một biện pháp tổ chức hoạt động xếp
dán tranh trang trí nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi tích cực làm quen với các bố cục
hoa văn dân tộc, từ đó giúp trẻ hiểu và có được những kiến thức cũng như
các kĩ năng cơ bản nằm trong vốn văn hoá chung của con người và nền văn
hoá tạo hình nói chung của người dân Việt Nam.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Việc tổ chức HĐTH cho trẻ ở trường mầm non và giáo dục trẻ em
thông qua HĐTH.
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Một số biện pháp tổ chức hoạt động xếp dán tranh trang trí nhằm giúp
trẻ 5-6 tuổi tích cực làm quen với các bố cục hoa văn dân tộc.
4. Giả thuyết khoa học.
Nếu tìm ra và áp dụng hợp lí một số biện pháp nhằm giúp trẻ có những
tình cảm, xúc cảm thẩm mĩ đối với các tác phẩm của nghệ thuật tạo hình
truyền thống; nhằm giúp trẻ tiếp thu, lĩnh hội những hiểu biết và kĩ năng tạo
hình trang trí; đồng thời bồi dưỡng cho trẻ khả năng trang trí các hoạ tiết
trang trí theo một số dạng bố cục hoa văn dân tộc và kích thích khả năng độc
lập, tìm kiếm, sự sáng tạo của trẻ trong hoạt động thì có thể giúp trẻ mầm
non làm quen, thể hiện được một số dạng bố cục trang trí của các dân tộc.
Từ đó tạo điều kiện cho trẻ có cơ hội tiếp cận với một số vốn kiến thức sơ
đẳng trong nền văn hoá tạo hình của Việt Nam.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nghệ thuật tạo hình (bao
gồm cả các tác phẩm của nghệ thuật tạo hình), về hoạt động tạo hình của
trẻ mầm non.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn tổ chức hoạt động tạo hình và hoạt động
xếp dán tranh của trẻ ở trường mầm non.
5.3. Đề xuất và thực nghiệm áp dụng một số biện pháp tổ chức hoạt
động xếp dán tranh trang trí nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi tích cực làm quen với
các bố cục hoa văn dân tộc.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
-Phương pháp quan sát tự nhiên.
-Phương pháp đàm thoại.
-Phương pháp điều tra.
-Phưong pháp thực nghiệm sư phạm.
-Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê.
7. Phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực trạng ở cả 3 độ tuổi nhưng chỉ tổ chức thực nghiệm
ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
- Quá trình thực nghiệm được tôt chức ở một số trường mầm non ở Hà
Nội và Ninh Bình; ở cả mô hình trường mầm non công lập và trường mầm
non tư thục.
- Trong quá trình tổ chức thực nghiệm, sử dụng một số mẫu hoa văn
trang trí của các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc : dân tộc Tày, dân tộc
Nùng, dân tộc Dao, dân tộc Thái, dân tộc H’Mông.
8. Đóng góp của đề tài
- Luận văn đánh giá được thực trạng của việc tổ chức HĐTH cho trẻ ở
các trường mầm non công lập và tư thục.
- Luận văn đánh giá được khả năng của trẻ trong việc làm quen với bố
cục trang trí của một số dân tộc thông qua hoạt đông xếp dán tranh trang trí.
- Luận văn bước đầu đã xây dựng được hệ thống các biện pháp tổ chức
hoạt động xếp dán tranh trang trí nhằm giúp trẻ 5- 6 tuổi làm quen với các bố
cục hoa văn dân tộc.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trong những năm gần đây, Đảng ta rất chú trọng tới việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số. Trong hội nghị lần thứ 5,
Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII đã khẳng định "Coi trọng và bảo tồn,
phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới
về văn hoá, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số”. Chính vì thế nên
cùng với các nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm
mĩ…cho trẻ mầm non, thì việc tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc, tìm hiểu nền
nghệ thuật dân tộc và nền văn hoá của một số các dân tộc thiểu số thông qua
một các sản phẩm như: tranh vẽ, trang phục, đồ trang sức, đồ dùng hàng
ngày… là rất quan trọng và cần thiết.
Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có nhiều nét văn hoá rất độc
đáo, đặc sắc đặc trưng cho các vùng miền. Mỗi dân tộc sinh sống ở các địa
bàn khác nhau cả về địa lí, khí hậu, về cách sinh sống… nên họ cũng có
những phong tục tập quán khác nhau, quan niệm về cái đẹp của họ cũng khác
nhau, được thể hiện qua hình vẽ, hoạ tiết, màu sắc, bố cục… trên trang phục,
đồ dùng, nơi ở, phong cách sinh hoạt của các dân tộc.
Trong đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc nước ta, hoa văn
không chỉ có mặt trên đồ vải mà còn thể hiện trên các chất liệu của đồ trang sức
(lược, xương, sừng, ngà, gỗ, bạc, đồng…), hay trên các công trình điêu khắc,
kiến trúc, hoặc trong các tác phẩm nghệ thuật dân gian. Hoa văn xuất hiện đa
dạng trong đời sống con người và mang theo những phong cách tộc người
phong phú. Đúng như nhà nghiên cứu nền văn hoá của các dân tộc Diệp Trung
Bình đã nói : “Có thể nói các loại hoa văn trên đồ vải các dân tộc nước ta chiếm
ưu thế tuyệt đối về màu sắc thể hiện đặc trưng văn hoá dân tộc Việt
Nam”[6 ;9]. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng hoa văn chính là sự bảo tồn
nền văn hoá của các dân tộc hay cũng có thể được coi là sự tiếp xúc, giao lưu
văn hoá giữa các vùng miền dân tộc.
Để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân
tộc, đòi hỏi mỗi người đều cần phải có những hiểu biết nhất định về nền nghệ
thuật cũng như nền văn hoá của các dân tộc ấy. Do vậy, việc bồi dưỡng những
cảm xúc, những hiểu biết nhất định về nghệ thuật, về những nét văn hoá… cần
được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo và thông qua các hoạt động giáo
dục, đặc biệt là thông qua một dạng hoạt động chuyên biệt- HĐTH.
Bản thân của HĐTH đã là một hoạt động mang tính tự biểu hiện,
thông qua tính tự biểu hiện ấy cũng thể hiện được ít nhiều sự sáng tạo của
những "hoạ sỹ tí hon”. Sự sáng tạo của trẻ được thể hiện rất rõ nét thông qua
các dạng của HĐTH trang trí. Trong đời sống xã hội, trang trí là một nhu
cầu thiết yếu, là mong muốn thuộc về tình cảm, ý thức, tâm lí của con
người. Trẻ mầm non rất cần được hoạt động trong lĩnh vực tạo hình, đặc
biệt là trong các hoạt động tạo hình trang trí như vẽ trang trí, xé- cắt dán
trang trí… bởi vì, thông qua những hoạt động này trẻ có thể phát huy khả
năng sáng tạo, hình thành khả năng cảm nhận thẩm mĩ và thái độ thẩm mĩ.
Ngoài ra nó còn tạo cơ hội cho trẻ được làm quen với các hoạ tiết, cách
sắp xếp các hoạ tiết để tạo nên một bố cục trang trí.
Xuất phát từ những yêu cầu trên nên vấn đề đặt ra và được rất nhiều các
nhà tâm lí, giáo dục quan tâm, nghiên cứu là làm thế nào để có thể giúp trẻ 5-6
tuổi làm quen được với các bố cục hoa văn của một số dân tộc thiểu số thông
qua HĐTH nói chung và hoạt động xếp dán tranh trang trí nói riêng ?
Ở nước ngoài đã có rất nhiều các nhà giáo dục học nghiên cứu về
HĐTH của trẻ mầm non và khẳng định được ý nghĩa của hoạt động sư phạm
trong việc phát triển khả năng sáng tạo của trẻ, đặc biệt là khả năng sáng tạo
trong HĐTH. Theo chuyên viên nghiên cứu về HĐTH -V.X. Mukhina thì
HĐTH của trẻ em được xem như một hình thức lĩnh hội các kinh nghiệm xã
hội. Còn theo A.V.Daparozet thì "HĐTH của trẻ là một hoạt động mang tính
sáng tạo nghệ thuật. Ở đó trẻ không những sử dụng các vật thể sẵn có mà
bao gồm cả việc làm ra cái gì đó mới mẻ hay tạo ra một sản phẩm nhất định
(như tranh vẽ, nặn bức tượng hay tranh xé dán…) bằng cách thực hiện dự
kiến xảy ra trong óc trẻ ’’ [59 ;78- 84]
Khi nghiên cứu về nền nghệ thuật trang trí dân gian các nhà giáo dục
E.I. Kovanxkoi và E.I.Vaxilieva đã chứng minh và thấy được ảnh hưởng to
lớn của chúng tới sự phát triển năng lực thẩm mĩ của trẻ. Theo họ thì nó vừa
đáp ứng được nhu cầu của trẻ, lại vừa là “nguồn dinh dưỡng giàu có" cho
khả năng tri giác nghệ thuật và chúng có tác động tới sự phát triển những
rung động thẩm mĩ ở trẻ em. Quả thật đúng như vậy, các tác phẩm nghệ
thuật trang trí mang đậm màu sắc dân gian thường có một vẻ đẹp rất độc
đáo, cổ điển, kích thích được thị hiếu của người xem, vì thế nên nó có tác
dụng lớn trong việc bồi dưỡng cách tri giác nghệ thuật cho mỗi người.
Bàn về vấn đề này, nhà giáo dục học Xô Viết D.A. Bogacheva đã
nghiên cứu về việc sử dụng nghệ thuật trang trí ở nước mình. Trong tài
liệu "Cắt dán trang trí theo kiểu dân tộc ở mẫu giáo”, bà đã chỉ ra những
cách trang trí của các dân tộc và bà cũng hướng dẫn cho giáo viên cách
đưa trang trí dân tộc vào việc dạy cho trẻ mẫu giáo. Đồng thời bà cũng
đưa ra các mẫu cắt- xé dán để giúp trẻ có thể trang trí ở trường mầm non.
Đây thực sự là một tài liệu rất quan trọng và cần thiết đối với việc giáo
dục trẻ ở trường mầm non.[17 ;17]
Dựa vào lý luận về việc hình thành các hoạt động trí tuệ theo giai đoạn
của nhà tâm lí học P.A. Galperin, nhà giáo dục học E.C.Poraleva đã có
nghiên cứu về cơ sở cảm giác của hoạt động xé- cắt, dán và đưa ra nhận xét
rằng: Để cảm nhận được tính nhịp điệu trong bài vẽ trang trí, thì trước đó
cần phải tiến hành các giờ cắt- dán trang trí trước. Đây là một nhận xét rất
xác đáng bởi vì khi trẻ được trực tiếp lựa chọn, sắp đặt các hình mảng, các
hoạ tiết bằng chính đôi bàn tay của mình thì không những đôi bàn tay của trẻ
được hoạt động mà chính bộ não của trẻ cũng được hoạt động mạnh mẽ. Đây
là điều kiện giúp trẻ phát triển khả năng cảm nhận về nhịp điệu và màu sắc
tốt hơn. Những nhận xét này chính là “khung xương" để giúp cho các giáo
viên lên kế hoạch và sắp xếp hợp lí các hình thức dạy học nhằm đạt được
kết quả cao trong quá trình hướng dẫn trẻ hoạt động.
Bằng các nghiên cứu của mình, nhà giáo dục học I.L. Guxarova đã chỉ
ra : Để đạt hiệu quả cao trong giờ hoạt động cắt- dán thì việc dạy cắt- dán
nên bắt đầu chính từ việc thực hiện các nhiệm vụ tạo hình cụ thể- tạo các
hình quen thuộc- sự hứng thú đối với đề tài giúp trẻ vượt qua được những
trở ngại về các cấu trúc và kĩ thuật.[17 ;4]. Mục đích cần đạt được ở trẻ
trong giờ HĐTH là sự hứng thú của chúng, khi hứng thú với các hoạt động
trẻ sẽ say sưa thể hiện mình trong đó mà không cần phải nghĩ rằng mình làm
như thế có đẹp không, mọi nguời có thích không? Điều này rất có lợi cho sự
phát triển của đứa trẻ.
Trong bài viết "Cảm xúc và sáng tạo"nhà giáo dục học T.X.
Komarova đã nhấn mạnh rằng: Sự thể hiện đồ vật, hiện tượng trong tranh
vẽ, hay khi nặn, cắt dán sẽ giúp trẻ chính xác hoá và củng cố biểu tượng,
kiến thức. Tạo ra sản phẩm bằng các vật liệu khác nhau, trẻ sẽ nhận biết
được đặc điểm tính chất và khả năng thể hiện chúng…[19;113]. Điều này có
nghĩa rằng, khi tham gia vào các hoạt động khác nhau của HĐTH sẽ giúp trẻ
củng cố những biểu tượng, những kiến thức có được trong quá trình khám
phá thế giới xung quanh.
Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề về
HĐTH và HĐTH trang trí đối với sự phát triển của trẻ mầm non như T.S.
Phan Việt Hoa, với đề tài nghiên cứu là “Một số biện pháp bồi dưỡng cảm
xúc thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình" bà đã khẳng
định được vai trò của cảm xúc thẩm mĩ trong việc giáo dục thẩm mĩ và trong
giáo dục phát triển toàn diện con người. Qua công trình nghiên cứu này, bà
chứng minh được vai trò của các dạng HĐTH trong việc bồi dưỡng xúc cảm
thẩm mĩ cho trẻ và bà cũng đưa ra được các biện pháp giáo dục thẩm mĩ cho
trẻ trong HĐTH.
Với bề dày kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu lí luận cho ngành
giáo dục Mầm non, PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết đã có những kết luận sắc
bén trong việc hướng dẫn trẻ cảm thụ vẻ đẹp của những tác phẩm tạo hình.
Theo bà thì trẻ rất ham thích hoạt động tạo hình song chúng lại chưa có ý
thức đầy đủ trong việc sáng tạo ra cái đẹp và chưa biết phát hiện ra cái đẹp
trong sản phẩm tạo hình. Do đó, bà cho rằng “ trẻ em cần phải được hướng
dẫn hoạt động tạo hình ngay từ lúc còn bé mà việc đầu tiên là tạo điều kiện
để trẻ được xem nhiều tác phẩm tạo hình có giá trị ” .[300 ;38]. Cùng với
những kết luận này, PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết còn đưa ra các tiêu chí để
giúp giáo viên lựa chọn những tác phẩm tạo hình phù hợp với trẻ. Đồng thời
bà cũng nhấn mạnh được tầm quan trọng của việc hướng dẫn trẻ trong quá
trình cảm thụ nghệ thuật, bà đã viết “… Xem triển lãm hội hoạ hay bảo tàng
mỹ thuật có phải là những việc làm quá cao siêu đối với lứa tuổi thơ không ?
Điều đó là tuỳ cách hướng dẫn của người lớn ”[301;38]. Những nhận xét
này của bà đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc hướng dẫn giáo viên thực
hiện các nhóm biện pháp được đề xuất trong luận văn.
Cũng bàn về vấn đề tổ chức cho trẻ làm quen với các tác phẩm nghệ
thuật tạo hình, PGS.TS Lê Thanh Thuỷ có nhận xét “Các tác phẩm nghệ
thuật tạo hình, đặc biệt là các tác phẩm nghệ thuật trang trí dân gian đóng
vai trò là người giúp việc đắc lực nhất trong việc phát triển tình cảm, ý thức
xã hội và nhân cách của trẻ em Chính tình cảm thẩm mĩ- đạo đức được
hình thành ở trẻ trong quá trình tiếp xúc với nghệ thuật tạo hình sẽ lại là
nguồn dự trữ vô cùng dồi dào cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật tạo hình
nói riêng và hoạt động sáng tạo nói chung của trẻ sau này ” .[260;47]. Như
vậy, kết luận này cho chúng ta xem xét một cách nghiêm túc cách thức tổ
chức cho trẻ tri giác các tác phẩm nghệ thuật trong chương trình dạy HĐTH
ở trường mầm non hiện nay.
Khi tìm hiểu “Ảnh hưởng của tri giác tới tưởng tượng sáng tạo
trong hoạt động vẽ của trẻ 5- 6 tuổi”, PGS.TS. Lê Thanh Thuỷ đã nghiên
cứu về các điều kiện để nâng cao khả năng hoạt động tạo hình cho trẻ mầm
non, bà đã cho rằng: Việc tăng cường, bồi dưỡng cho trẻ hiểu biết về hệ
thống chuẩn mẫu cảm giác và giúp trẻ vận dụng tích cực những hiểu biết đó
vào quá trình tri giác, đặc biệt là tri giác các tác phẩm nghệ thuật sẽ tạo
điều kiện để trẻ làm xuất hiện, phát triển cảm hứng của mình trong hoạt
động tạo hình. Dựa vào kết luận này chúng tôi đã hiểu được khả năng của trẻ
trong HĐTH, từ đó có những tác động cần thiết làm xuất hiện những xúc
cảm, tình cảm của trẻ đối với HĐTH.
Trong quá trình nghiên cứu và viết cuốn “Tạo hình và phương pháp
dạy tạo hình ở mẫu giáo”, TS.HS. Nguyễn Quốc Toản đã đưa ra được
những phương pháp để dạy vẽ trang trí cho trẻ mẫu giáo và những yêu cầu
khi sử dụng những phương pháp này, đó là dạy học cần phải phù hợp với
đặc điểm tâm lí cũng như khả năng của trẻ để có thể phát huy tối đa khả
năng sáng tạo cho trẻ mầm non. Tài liệu này của ông đã giúp chúng tôi trong
quá trình đề xuất ra một số các nhóm biện pháp để thực hiện đề tài nghiên
cứu.[32]
Với đề tài "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học vẽ
trang trí của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”, Ths. Hoàng Thị Lan Hương đã đi đến
kết luận các giờ học vẽ trang trí có tác dụng trong việc phát triển trí tuệ,
khiếu thẩm mĩ và giúp trẻ có thể ứng dụng hiệu quả vào các hoạt động hàng
ngày của trẻ, đồng thời nó có ảnh hưởng tích cực đến việc học tập và bồi
dưỡng tình cảm cho trẻ mầm non đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi. Tác giả
cũng nhận thấy hiệu quả của giờ học vẽ trang trí phụ thuộc rất lớn vào việc
giáo viên biết lựa chọn và sử dụng những biện pháp tác động thích hợp với
đặc trưng của hoạt động vẽ trang trí. Nghiên cứu này đã giúp chúng tôi có
được những ý tưởng cho việc tổ chức hoạt động xếp dán tranh trang trí của
trẻ đạt hiệu quả . [18]
Bằng những tổng kết về các nguồn tài liệu nghiên cứu, trong đề tài
“Bồi dưỡng sinh viên CĐSP khả năng sử dụng nghệ thuật trang trí trong
tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non”, tác giả Võ Thị Bích Vân đã
đi đến kết luận rằng “… những bài vẽ trang trí, xé dán trang trí, hay các bài
tập tạo hình nói chung đều là “mật ngọt"nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, đem
đến cho các em những rung cảm về cái đẹp của đường nét, hình khối; của
màu sắc, ánh sáng và quy luật xa gần được hiện lên qua chủ đề miêu tả, để
rồi dần làm nảy sinh trong trẻ ước mơ muốn tạo nên cái gì đó để mang lại
niềm vui, những điều tốt đẹp cho những người xung quanh, cho cuộc sống
này”[53 ;10]
Như vậy, trong các nghiên cứu trên, các tác giả đã tập trung rất nhiều
vào việc nghiên cứu bản sắc văn hoá, các hoa văn trang trí của một số các
dân tộc miền núi cũng như tìm ra những phương pháp, biện pháp tích cực
để tổ chức tốt các HĐTH và HĐTH trang trí. Song trong thực tiễn giáo dục
mầm non hiện nay, hầu như còn có rất ít những công trình đi sâu vào
nghiên cứu về HĐXDT đặc biệt là HĐXDTTT của trẻ mầm non Việt Nam.
Với đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hy vọng sẽ đề ra và đưa vào thử
nghiệm một số biện pháp tổ chức HĐXDTTT để thông qua đó có thể giúp
trẻ mầm non đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi có cơ hội làm quen với một số dạng bố
cục hoa văn các dân tộc thiểu số, từ đó giúp trẻ nhỏ dần dần từng bước tiếp
cận với nền văn hoá đặc sắc của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam.
2. Vài nét về nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt Nam.
Vấn đề truyền thống nghệ thuật Việt Nam và sự phát triển của nó đã
được rất nhiều các nhà nghiên cứu tìm hiểu qua các chuyên khảo của mình.
NTTH bao gồm các chuyên ngành như: hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc,
trang trí, thủ công mỹ nghệ và kiến trúc. Cái đẹp của NTTH là cái đẹp của
sự kết hợp hài hoà giữa đường nét- mầu sắc- hình khối và mối tương quan
về tỉ lệ to nhỏ- đậm nhạt…Cái đẹp này luôn đi sát với đời sống, làm thoả
mãn nhu cầu thẩm mĩ cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần
của con người.
Trong nền lịch sử mĩ thuật Việt Nam, NTTH phát triển rất đa dạng,
phong phú qua nhiều thời kì, nhiều giai đoạn với những đặc trưng rất riêng
và độc đáo. Chính nền NTTH ấy đã có những đóng góp rất quan trọng vào
công cuộc xây dựng nền văn hoá, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ Quốc.
Lịch sử NTTH Việt Nam tuy không cùng lúc xuất hiện với lịch sử xã hội của
loài người song ngay từ thời đại đồ đá, con người đã bắt đầu có những hoạt
động sáng tạo, đã bắt đầu mở ra trang sử đầu tiên của NTTH hết sức hấp dẫn
với những bước đi đúng đắn, đậm đà tính hiện thực được khái quát trong một
số đường nét hết sức cô đọng, súc tích.
Có thể hiểu một cách đơn giản rằng nghệ thuật tạo hình truyền thống-
đó là nghệ thuật tạo ra cái đẹp được truyền thụ từ thế hệ này qua thế hệ
khác với mục đích đưa cái đẹp vào nghệ thuật và cuộc sống của con người.
Qua tìm hiểu tài liệu chúng tôi được biết nghệ thuật tạo hình truyền
thống Việt Nam có một truyền thống rất lâu đời, nền nghệ thuật cổ ấy được
lưu truyền cho tới ngày nay trong sự kế tục không đứt đoạn. Có thể nói rằng,
nét nổi bật của sự biểu hiện cái đẹp trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam luôn
có sự gắn bó mật thiết với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, gắn bó với tinh
thần khẳng định bản sắc dân tộc của con người và đất nước Việt Nam. Nghệ
thuật tạo hình truyền thống Việt Nam mang đậm tính nhân đạo và dân chủ, nó
vừa tự phát triển lại vừa sẵn sàng tiếp thu mọi thành tựu của nền nghệ thuật
thế giới. Vì thế chúng ta có thể thấy rằng, trong lịch sử, NTTH của Việt Nam
đã tiếp thu nền NTTH của các nước phương Đông như: Ấn Độ, Trung Hoa,
Nhật Bản… lại vừa tiếp thu nền nghệ thuật của các nước phương Tây, song
nền NTTH của Việt Nam luôn luôn giữ bản sắc dân tộc và chưa bao giờ
“đánh mất mình"trong các trào lưu nghệ thuật của các nước trên thế giới.
Khi nghiên cứu di chỉ nền văn hoá Đông Sơn, các nhà nghiên cứu thấy
rằng nghề luyện kim ở nước ta ra đời cách đây khoảng 3500- 4000 năm, đã
cống hiến cho xã hội rất nhiều sản phẩm có giá trị. Điều này chứng tỏ khiếu
thẩm mĩ và khả năng tạo hình của các bộ lạc Việt cổ đã đạt đến trình độ cao,
được thể hiện qua các dụng cụ lao động đơn giản như lưỡi liềm đồng, lưỡi
cuốc, lưỡi cày đến đồ binh khí như mũi tên đồng, dao găm, giáo mác… Qua
việc tiếp xúc với nền văn hoá Đông Sơn, ta nhận thấy ngay từ thời Hùng
Vương, người Việt cổ đã sáng tạo được nhiều mẫu vật điển hình, xây dựng
được một nền nghệ thuật độc đáo, đậm đà tính dân tộc. Nghiên cứu những di
chỉ cổ vật xa xưa chúng ta sẽ thấy được những hình người khắc trên hiện vật
bằng đồng thường biểu hiện trong sinh hoạt tập thể và nó chứa đựng chất
sống hiện thực của xã hội lúc bấy giờ. Ví dụ như hình ảnh cặp trai gái đang
giã gạo chung một cối trên mặt trống Ngọc Lũ (ở Hà Nam) hay mặt trống
Hoàng Hạ (ở Hà Tây), chỉ được khắc bằng mấy nét hết sức cô đọng, kết hợp
với bút pháp cách điệu mang tính ước lệ cao các nghệ nhân xa xưa đã làm
cho chúng ta thấy và cảm nhận được chất tươi mát, nét duyên dáng của tuổi
trẻ… Tìm hiểu về các hoạ tiết hoa văn trang trí trên bề mặt trống đồng Ngọc
Lũ và trống đồng Đông Sơn, các nhà nghiên cứu đã cho chúng ta thấy rằng
khả năng tư duy hình tượng và tạo hình của những “nghệ nhân nguyên thuỷ"
đã đạt được đến trình độ cao, cụ thể như hình tượng chim cò, muông thú và
hình người được thể hiện bằng những nét khái quát, đơn giản nhưng lại vô
cùng tinh xảo, mang đậm tính dân tộc.
Với trình độ thẩm mĩ đơn sơ và phác thực, các nghệ nhân nguyên
thuỷ Việt Nam rất coi trọng những hình ảnh của cuộc sống thực, họ thường
lấy hiện thực sống động làm đề tài để phản ánh, họ đã dẫn dắt thiên nhiên và
con người đi vào trong nghệ thuật bằng những mảng khối và đường nét chân
phương, giàu tính ước lệ trong một bố cục chặt chẽ với đồ hoạ sáng sủa và
sự cách điệu tài tình. Vì thế nên thế giới và xã hội khi đã được họ quan sát,
suy nghĩ và tái hiện bằng bàn tay thuần thục của mình thì đã trở thành những
tác phẩm nghệ thuật có sức sống mãnh liệt và có sức thu hút mỹ cảm của
người xem.
Như vậy, những thành tựu về NTTH của dân tộc ta ngay từ thời
nguyên thuỷ được coi là những bước đi đầu tiên, những bước đi còn chập
chững nhưng lại thực sự chắc chắn. Đó cũng là nguồn sữa đầu đã nuôi dưỡng
cho vườn cây nghệ thuật dân tộc ở những giai đoạn sau này phát triển nhanh
hơn, luôn xanh tươi và trổ hoa thơm, kết trái ngọt.
3. Một số vấn đề về hoa văn dân tộc trong nghệ thuật tạo hình.
* Một số khái niệm về hoa văn.
Nói đến hoa văn có thể nhiều người cho rằng đó đơn giản chỉ là những
hình ảnh, hoạ tiết được thể hiện trên các đồ dùng, dụng cụ, trên trang phục…
mà không biết rằng hoa văn đó là cả một ngành nghệ thuật nổi tiếng- nghệ
thuật hoa văn. Theo sự nghiên cứu và phân tích của các nhà nghệ thuật, họ
cho rằng hoa văn là một hệ thống gồm các hình vẽ, là sự kết hợp những
đường vẽ và màu sắc với nhau.
Khi nghiên cứu về hoa văn trên vải các dân tộc Đồng bằng bắc Bộ, tác
giả Diệp Trung Bình đã coi “Hoa văn- trước hết đó là một biểu hiện của
quan niệm thẩm mĩ, thông qua các bố cục, mô-típ, màu săc, kĩ thuật. Mặt
khác trong đời sống cổ truyền của các dân tộc nó còn phản ánh những
khía cạnh tâm lí, xã hội khác nhau như tín ngưỡng chứa đựng bên trong
những hình vẽ, các màu sắc. Các phong cách bố cục hoa văn ấy là bản
sắc văn hoá dân tộc, là tiến trình phát triển của lịch sử, văn hoá và sự
giao thoa văn hoá của các tộc người”.[6 ; 3]
Với những nhận định hết sức tinh tế, nhà nghệ thuật Nguyễn Anh Trứ
cho rằng “hoa văn là một trong các yếu tố cơ bản của phần lớn các tác
phẩm kiến trúc và nghệ thuật thực dụng, nó là sự kết hợp của những
đường nét và điểm có màu sắc, được trình bày trên các mặt tường hay trên
đồ vật bằng cách vẽ, khắc, chạm, trổ… Nhưng đồng thời hoa văn cũng là
một loại hình nghệ thuật độc lập khi nó được trang trí trên thảm, vẽ trên
một tấm gỗ hay dệt ở trên vải…”.[50 ;10] Như vậy, có thể thấy rằng tác giả
đã rất quan tâm và coi trọng những đường nét hoa văn trang trí trên các đồ
dùng, vật dụng. Sự thành công của các tác phẩm nghệ thuật cũng có sự đóng
góp rất lớn của những đường nét hoa văn này.
* Những đặc điểm nghệ thuật cơ bản của hoa văn.
Khi nói về nghệ thuật hoa văn, các nhà nghiên cứu nghệ thuật đã chỉ
ra rằng "Quá trình sáng tạo mang sắc thái cá nhân ấy trong nghệ thuật hoa
văn đã bắt đầu từ lâu…"Ngay từ cuối thế kỉ XIX, nhóm hoạ sỹ lớn nhất của
nước Nga Xô Viết như Va- xnê- txop, Xê- rôp, Rê- pin, Vru- ben, Po- lê-
nôp, Oxtrê-u- khôp…đã kết hợp với nhau và xây dựng được cả một xí
nghiệp sản xuất vật phẩm trang trí bằng những hoa văn theo mẫu vẽ của họ
tại khu vực A- bram-txep ở gần Mat-xcơ- va; hay như ở nước Pháp, người
hoạ sỹ nổi tiếng Picasso cũng đã tổ chức một xí nghiệp với những sản phẩm
được trang trí bằng những hoạ tiết hoa văn. Sang đến thế kỉ XX, ngành nghệ
thuật hoa văn đã được cải tiến và đổi mới rất nhiều nên ý nghĩa của chúng lại
càng trở nên độc lập hơn đối với các ngành nghệ thuật khác.
Theo nhiều nghiên cứu thì hoa văn thường không miêu tả cụ thể một
cái gì cả, mà mục đích chính của hoa văn là ở chỗ biểu hiện qua sự kết hợp
một cách nhịp nhàng các đường nét và màu sắc, những tình cảm phong phú
và sức sáng tạo của con người. Nhờ việc nghĩ ra và sắp xếp, trình bày trên
một bề mặt một cách hoà hợp, cân đối về đường nét, màu sắc, người ta đã
tạo nên một hiện thân vật chất “của sự hoà hợp con người" làm nổi rõ trước
mắt vẻ đẹp rất “người" của tác phẩm.
Từ việc nghiên cứu và phân tích các nguồn tài liệu chúng ta có thể
thấy rằng nếu loại trừ yếu tố tín ngưỡng ra thì hầu hết các dạng hoa văn đều
có ý nghĩa là hướng vào đời sống thực và hướng vào thiên nhiên, thông qua
đó mà thiên nhiên và con người luôn được nghệ thuật hoá, phản ánh sự hoà
đồng, gắn bó không thể tách rời nhau. Cũng giống như các loại hình nghệ
thuật khác,hoa văn được tạo ra từ những hình mẫu có sẵn trong thực tế, bản
thân thiên nhiên đã đem lại rất nhiều hình mẫu trang trí kể cả những hình
mẫu hình học hay những hoa văn trên cánh bướm, lông chim, vây trên da
rắn, cấu trúc của các tinh thể, vỏ ốc, hến…
Với tư cách là một loại hình nghệ thuật, hoa văn còn phản ánh cả tâm
tư, tình cảm của người tạo ra nó, cụ thể như cùng ở trong một dân tộc nhưng
không phải tất cả các hoa văn được tạo ra đều giống nhau, chính những nét
khác biệt đó đã thể hiện tài năng cũng như nếp nghĩ, suy tư của mỗi người.
Vì thế chúng ta có thể kết luận rằng hoa văn không chỉ là những hình vẽ
dùng để trang trí mà nó còn đựơc coi là thang đo để đánh giá tài năng, sự
thông minh và khéo léo của những người tạo ra sản phẩm ấy. Hơn nữa, hoa
văn còn được coi như những điểm mốc đánh dấu sự phát triển của xã hội
loài người.
* Vài nét về hoa văn ở Việt Nam
Qua việc tìm hiểu một số tài tài liệu chúng tôi thu nhận được rằng
dường như ngành nghệ thuật hoa văn được phát triển mạnh nhất vào thời kì
đồ đá mới, khi đó đã xuất hiện việc sản xuất đồ gốm. Sản phẩm của đồ gốm
như những lọ đất sét thuộc thời kì đồ đá mới được trang trí bằng nhiều hoa
văn khác nhau, bằng nhiều vòng tròn đồng tâm, nhiều hình tam giác và nhiều
hình kẻ ô. Những hoa văn sinh vật trên trống đồng Đông Sơn được xem như
cuốn lịch sử xã hội thời dựng nước và giữ nước đầu tiên được viết bằng ngôn
ngữ tạo hình sinh động đã phản ánh được cả thế giới quan và nhân sinh quan
của người Đông Sơn trong nền văn minh nông nghiệp đầy sức sống.
Trên các đồ dùng hay trang phục của các dân tộc trên khắp mọi miền
của đất nước, chúng ta thường thấy các hoa văn được trang trí rất cầu kì từ
những gấu váy, áo, trên những chiếc khăn hay những chiếc mũ đội đầu. Các
đường nét và màu sắc của bất kì hình hoa văn nào cũng ở dưới dạng khái
quát hoá và mang tính “ước lệ”, phản ánh những hiện tượng thiên nhiên, con
người hay những sự vật xung quanh. Trong các loại hoa văn dùng để trang
trí, các nhà nghiên cứu đã phân tích và phân biệt thành các loại hoa văn như:
Hoa văn “hình học”- là các loại hoa văn xuất phát từ những hình thức không
gian chung nhất của hiện thực; Hoa văn “hình thảo mộc”- đó là các hình
vẽ dựa theo dáng của cỏ, cây, hoa, lá…; Hoa văn “hình thú”- đó là hình
người hay hình những con vật đã được cách điệu hoá. Vì thế chúng ta có
thể khẳng định rằng hoa văn là một loại hình vừa đơn giản nhưng cũng lại
rất phức tạp, một mặt những tác phẩm hoa văn mang tính chất hết sức sơ
đẳng- đó chỉ là một hệ thống những hình vẽ và đường nét nhiều màu sắc
khác nhau, nó biểu hiện một ý nghĩa rất khái quát, là cơ sở thế giới quan
của một dân tộc nào đó. Nhưng mặt khác hoa văn cũng có thể là một cái gì
thực sự bí ẩn nếu như chúng ta không biết rõ cuộc sống của dân tộc đã tạo
ra những vật dụng mang hình hoa văn đó bởi vì “ngôn ngữ"của hoa văn
thường mang tính ước lệ, tính biểu tượng. Như vậy chúng ta thấy rằng,
hoa văn dân tộc được hình thành, phát triển và trau dồi qua hàng bao thế
kỉ nay và nó còn gắn liền chặt chẽ với toàn bộ cuộc sống cũng như toàn bộ
nền văn hoá của nhân dân Việt Nam ta.
4. Nghệ thuật xếp dán tranh và vai trò của nó đối với sự phát triển
xã hội và giáo dục con người.
4.1. Vài nét cơ bản về nghệ thuật xếp dán tranh.
Nếu như sản phẩm của vẽ được tạo nên bởi đường nét, màu sắc, bố
cục ; sản phẩm của nặn là hình khối, có độ sâu, độ cao, có thể đứng được,
sờ được… thì sản phẩm của xé- cắt dán là hình phẳng mà ở đó chúng ta có
thể sắp đặt, thay đổi vị trí của các hình mảng trên nền phẳng để tạo nên một
sản phẩm đặc sắc, độc đáo. Chỉ bằng những mảnh giấy vụn, nhỏ hoặc bằng
vài nét chấm phá đơn giản cũng giúp chúng ta tạo ra hình ảnh của những đồ
vật, con thú, hoa quả, con người theo ý mình muốn.
Theo tiếng Anh thì thuật ngữ “nghệ thuật cắt dán"được gọi là collage
đó là việc cắt, xé, dán từ giấy, vải hoặc từ các loại nguyên vật liệu khác để
tạo thành bức tranh ảnh yêu thích. Cắt dán tranh theo tiếng Hy Lạp được gọi
là “applicatio”- tức là sắp xếp, đặt lên- đó là phương pháp tạo nên hình ảnh
nghệ thuật từ những hình mảng có hình thù khác nhau được tạo ra từ một
loại vật liệu nào đó và dán lên hay khâu lên nền (là mặt phẳng )thích hợp…
Tranh xé- cắt- dán là một loại hình được thể hiện bằng phương pháp xé, cắt,
dán, trên cơ sở mầu sắc vốn có của chất liệu mà người thể hiện lựa chọn cho
phù hợp với ý đồ và đối tượng được thể hiện. Chất liệu của tranh xếp dán
chủ yếu là từ giấy hay từ các đồ phế liệu, vì thế nên nó có một sức hấp dẫn
rất lớn đối với con người và cảm xúc của con người.
Khi đi tìm hiểu một số nguồn tài liệu chúng tôi thấy rằng hoạt động
thủ công cắt dán từ giấy có nguồn gốc từ rất lâu đời- từ khoảng thế kỉ thứ V
đến thế kỉ thứ III trước công nguyên. Vào cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX
ngành nghệ thuật này được phát triển rất thịnh vượng. Sau này, đã có rất
nhiều các hoạ sỹ chuyên nghiệp say mê nghệ thuật cắt hình bóng (nghệ thuật
sillouette) như Albrecht Diurer(Đức), Peter Paul Rubens (Phần Lan)…
Không những thế ngành nghệ thuật này còn có sức hấp dẫn và lôi cuốn cả
nhà kể chuyện trứ danh Hans Christian Andersen (Đan Mạch), hay như ở
nước Nga trong thế kỉ XIX người ta đã sử dụng rộng rãi những hình cắt của
nhà văn hào nổi tiếng P.I Tônxtôi, ông đã sáng tác những bố cục nhiều hình
theo các nội dung rất khác nhau. Sang thế kỉ XX, nghệ thuật sillouette cũng
lôi cuốn rất nhiều các hoạ sĩ đương thời như M.V. Dobuzinxki, K.A.
Xamov…và ngành nghệ thuật này cũng có những nghệ nhân nổi tiếng, rất
thành công với những sản phẩm của nghệ thuật hình bóng như hoạ sĩ G.I
Narbut, N.V Ilin, E.X Kruglikova…
Theo thời gian các sản phẩm tranh cắt dán dần dần phát triển và tạo ra
những hiệu quả khác nhau tuỳ theo ý tưởng và kĩ thuật sử dụng chất liệu cắt
dán của người nghệ sỹ. Có một hoạ sỹ người Ý- G. Arcimboldo đã làm
những chân dung ghép bằng hoa quả, vỏ ốc, cá… Những hoạ sỹ luôn có khát
vọng đi tìm thêm những vật liệu, chất liệu khác ngoài những chất liệu hội
hoạ quen thuộc để biểu thị những điều trong nội tâm sâu sa hơn và độc đáo
hơn. Đại diện tiêu biểu của trường phái này là các nghệ sỹ nổi tiếng như
Henri Matisse (Pháp), Pablo Picasso (Tây Ban Nha), Joan Miro (Tây Ban
Nha)… họ đã phát triển thể loại tranh cắt dán giấy từ những cảm xúc về màu
sắc và phong cách biểu hiện của tranh trang trí một cách đơn giản, hồn
nhiên, thoải mái, không câu nệ và chau chuốt về hình, không câu nệ về
không gian xa gần, sáng tối… Chính kĩ thuật này đã cho phép các hoạ sỹ tạo
ra những cái đẹp ngẫu nhiên khi kết hợp giữa các mảng giấy màu với những
nét vẽ tay trong cùng một tác phẩm nghệ thuật.
Với tư cách là một trong các bộ phận của nghệ thuật tạo hình, chúng ta
đi tìm hiểu xem NTXDT có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của xã
hội và việc giáo dục con người?
4.2. Vai trò của nghệ thuật xếp dán tranh đối với đời sống xã hội
Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của nghệ thuật dân tộc nói chung,
nghệ thuật trang trí nói riêng luôn gắn liền với sự phát triển của lịch sử xã
hội và nhu cầu làm đẹp của cuộc sống con người Việt Nam. Ở Việt Nam,
tranh dán, cắt giấy ra đời và phát triển từ ngành nghệ thuật thủ công mỹ nghệ
bằng giấy và các loại chất liệu khác như tre, nứa, lá…để phục vụ cho nhu
cầu sinh hoạt văn hoá, tinh thần vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân
trong xã hội.
Với trẻ em Việt Nam, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được làm từ
giấy có sức hấp dẫn rất lớn bởi hình dáng ngộ nghĩnh, màu sắc tươi vui, sự
phong phú, đa dạng về loại hình, mẫu mã của các loại đồ chơi không hề đắt
tiền mà lại rất dễ kiếm như các loại đèn trung thu, các loại mặt nạ, đầu sư tử
làm bằng giấy bồi hay những cánh diều bay trên bầu trời. Tất cả những sản
phẩm đó đều được làm từ những mảnh giấy đủ màu sắc với bàn tay khéo léo
và óc tưởng tượng sáng tạo không ngừng của con người Việt Nam.
Là một bộ phận trong nghệ thuật trang trí nói chung, NTXDTTT có
tác dụng rất lớn, đem lại cho mỗi con người những kiến thức, thái độ và
những kĩ năng cần thiết trong quá trình học tập cũng như trong quá trình công
tác. Với những đặc điểm đặc trưng riêng, hoạt động xếp dán tranh trang trí còn
giúp con người có những hiểu biết nhất định về vẻ đẹp của hình mảng, màu
sắc, hình tượng… thông qua bố cục, tính nhịp điệu, sự tương quan và sự phối
hợp màu sắc của các hình mảng trên nền tranh.
Ngoài ra, NTXDTTT còn hình thành và phát triển ở người học khả
năng quan sát, phân tích, phát triển tư duy trừu tượng… giúp con người luôn
luôn suy nghĩ, tìm tòi để tạo nên sự sáng tạo, hình thành ở con người những
phẩm chất của người lao động mới, có thể đáp ứng được yêu cầu của sự phát
triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đây cũng có thể được coi là
điều kiện cần cho sự sáng tạo để có được các sản phẩm xếp dán tranh trang
trí đạt giá trị cả về mặt vật chất lẫn tinh thần cho chính bản thân người nghệ
sỹ và cho cả những người xung quanh.
Như vậy có thể thấy rằng NTXDT có tác động lớn đến đời sống xã
hội, góp phần dẫn dắt, xây dựng lối sống giáo dục nhân cách của con người
một cách mạnh mẽ và toàn diện.
5. Một số vấn đề về hoạt động tạo hình của trẻ mầm non.
5.1.Vai trò của hoạt động tạo hình trong việc phát triển toàn diện nhân
cách trẻ em.
HĐTH là một trong những hoạt động hấp dẫn nhất đối với trẻ ở lứa tuổi
mầm non bởi vì nó là một hoạt động gây cho trẻ một xúc động mạnh mẽ và
hùnh thành được ở trẻ những xúc cảm tích cực nhất. Đúng như N.K.Krup-
xkai-a đã viết “Trẻ em từ rất sớm đã có xu hướng bày tỏ những ấn tượng
của mình bằng các cách khác nhau như: cử chỉ, lời nói, nét mặt. Cần tạo
điều kiện cho trẻ tự do nói lên những ấn tượng, hình ảnh mà chúng được
hình thành trong óc trẻ. Cần đưa cho trẻ những nguyên vật liệu như đát sét
để nặn, bút chì, giấy và các nguyên vật liệu dùng để chắp ghép… " [63 ;71]
HĐTH có vai trò rất quan trọng đối với việc giáo dục trí tuệ cho trẻ
mầm non. Theo các nhà giáo dục học Xô Viết NP. Xa-ku-li-na và TX. Ka-
ma-ro-va thì HĐTH là sự nhận thức hiện thực có tính chuyên biệt bằng hình
ảnh, và cũng như hoạt động nhận thức, HĐTH có vai trò to lớn trong việc
giáo dục trí tuệ cho trẻ [58 ;38].
Khi tổ chức cho trẻ tìm hiểu, khám phá bản chất của các vật liệu tạo
hình sẽ tạo điều kiện cho trẻ thu được những kiến thức cơ bản về thế giới
xung quanh, giúp trẻ hiểu được bản chất và cách sử dụng các loại vật liệu
khác nhau. Theo PGS.TS Lê Thanh Thuỷ thì HĐTH là một trong những
phương tiện tích cực để phát triển ở trẻ các khả năng hoạt động trí tuệ như:
óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng… bởi vì trong HĐTH trẻ có nhiều
cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng miêu tả để có được hiểu biết, hình
dung về các đối tượng đó, từ đó trẻ có thể xây dựng được các biểu tượng,
hình tượng.
Thông qua HĐTH, thị giác và ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển mạnh,
bởi vì trong giờ tạo hình trẻ cần phải biết quan sát, phân tích, so sánh…giữa các
phần, các bộ phận chi tiết của các sự vật, đối tượng hay các hiện tượng thiên
nhiên…vì thế nên trẻ sẽ có những biểu tượng rõ ràng về đối tượng tạo hình.
Cùng với các hoạt động khác, HĐTH cũng góp phần không nhỏ vào
việc giáo dục tình cảm, đạo đức và kĩ năng giao tiếp xã hội cho trẻ mầm
non bởi vì thông qua HĐTH chúng ta có thể giáo dục cho các em tình yêu cái
tốt, cái chính nghĩa và củng cố những tình cảm tốt đẹp đã sẵn có ở các em.
HĐTH là một hoạt động đặc biệt, nó không chỉ đơn thuần phản ánh
các ấn tượng, kinh nghiệm mà trẻ thu được từ thế giới xung quanh, mà nó
còn là sự biểu lộ thái độ, tình cảm của trẻ đối với những gì mà chúng thể
hiện, trải nghiệm. Khi tham gia vào các HĐTH, trẻ được tiếp thu và lĩnh hội
các chuẩn mực thẩm mĩ- đạo đức ở trong cuộc sống xã hội, đồng thời trẻ
cũng được trải nghiệm các xúc cảm, tình cảm của mình trong quá trình giao
tiếp và qua việc được tham gia đánh giá các hành vi văn hoá thông qua các
hình tượng, các sự kiện, hiện tượng được miêu tả trong sản phẩm tạo hình.
HĐTH cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành cá tính của trẻ mẫu giáo
vì trẻ được thể hiện những ấn tượng về cuộc sống xung quanh thông qua các
sản phẩm của vẽ, nặn, xếp dán, chắp ghép… Những biểu tượng về cuộc sống
lao động của con người được trẻ thể hiện thông qua các sản phẩm tạo hình đã
hình thành những tình cảm đạo đức của trẻ đối với mọi người xung quanh.
Đây là điều kiện để hình thành ở trẻ tính chu đáo, ý thức cộng đồng, thói
quen chia sẻ, quan tâm chăm sóc tới người khác và hình thành các kĩ năng
giao tiếp xã hội cho trẻ.
HĐTH có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ
giáo dục thẩm mĩ . Khi quan sát, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng giúp trẻ
nhận ra các đặc điểm thẩm mĩ (hình dáng, màu sắc, cấu trúc, tỷ lệ…); nhận
ra những nét độc đáo tạo nên sức hấp dẫn của đối tượng miêu tả… đó chính
là những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cảm giác, tri giác thẩm
mĩ…
Thông qua HĐTH, trẻ luôn có cơ hội được tiếp xúc với cái đẹp, từ
đó nảy sinh ở trẻ niềm hứng thú, say mê với hoạt động nghệ thuật và sáng
tạo nghệ thuật. Điều này giúp trẻ khám phá được cái đẹp, cái mới lạ muôn
màu sắc của thế giới xung quanh, giúp trẻ nhận ra giá trị thẩm mĩ của các
sự vật, hiện tượng xung quanh và mong muốn thể hiện vẻ đẹp đó một cách
sáng tạo nhất.
Mặc dù không có sự tác động trực tiếp tới sự phát triển thể lực của
trẻ song nếu tổ chức tốt các giờ HĐTH sẽ tạo cho trẻ có tâm thế sảng khoái
trong suốt quá trình hoạt động.
Khi tham gia vào HĐTH, trẻ được thả hồn trong những bức vẽ, trẻ say
sưa, tự do thể hiện những suy nghĩ, tưởng tượng độc đáo của mình, chính điều
này làm cho trẻ luôn cảm thấy phấn khởi, vui vẻ…vì thế nên nó có ảnh hưởng
rất tích cực đến sự điều hoà và hoạt động của hệ tim mạch, hệ thần kinh cũng
như hoạt động của toàn bộ cơ thể trẻ. Trong quá trình tạo hình các cử động
của tay và của mắt trở nên linh hoạt, phối hợp với nhau nhịp nhàng hơn.
HĐTH còn được các nhà tâm lí, giáo dục học coi như những biện pháp
tâm lí trị liệu có hiệu quả trong việc nâng cao sức khoẻ và điều trị cho những
trẻ em khuyết tật và những trẻ em mắc một số bệnh có nguồn gốc tinh thần,
bởi vì sự tự do, thoải mái trong quá trình thể hiện, biểu lộ xúc cảm, tình
cảm… sẽ giúp người bệnh điều hoà được các quá trình ức chế, hưng phấn và
lấy lại được thế cân bằng trong các hoạt động của cơ.
Bên cạnh đó, HĐTH cũng góp phần vào việc giáo dục lao động cho
trẻ nhỏ lứa tuổi mầm non.
Để tạo nên một sản phẩm tạo hình, đòi hỏi đứa trẻ phải cần rất nhiều
đến sự cố gắng, nỗ lực để tiến hành các thao tác lao động. Trong các giờ
HĐTH, trẻ được làm quen với các vật liệu tạo hình (giấy, bút, kéo…)- đó
chính là một trong những công cụ đầu tiên để trẻ làm quen với các hoạt động
lao động của người lớn.
Việc nắm được các cách thức sử dụng nguyên vật liệu và dụng cụ tạo
hình đòi hỏi trẻ cần phải có sự vận dụng linh hoạt những thao tác lao động và
sử dụng sức lực. Đồng thời sự lĩnh hội các kĩ năng, kĩ xảo tạo hình của trẻ
còn gắn liền với các phẩm chất của nhân cách như: tính tập trung, tính kiên
trì, chịu khó… chính những phẩm chất này đã góp phần giáo dục trẻ biết yêu
lao động và cố gắng, nỗ lực để đạt kết quả như mong muốn, biết yêu quý,
trân trọng sản phẩm lao động của mình cũng như của mọi người xung quanh.
Để chuẩn bị vào trường phổ thông, đòi hỏi mỗi đứa trẻ cần phải có
một số những kĩ năng nhất định, HĐTH đã góp phần giúp trẻ có được một số
những kĩ năng cơ bản đó trước khi bước vào học ở truờng phổ thông.
Việc hình thành những nhân tố của hoạt động học tập có vai trò rất
quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho trẻ bước vào trường phôt thông. Khi
trẻ học vẽ, nặn, xếp dán…thì những thành tố của hoạt động học tập như: biết
lắng nghe cô giảng, biết thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ, biết lựa chọn các
phương pháp thích hợp để giải quyết vấn đề, biết kiểm tra và đánh giá kết
quả dần dần được hình thành trong bản thân mỗi đứa trẻ. Bên cạnh đó,
những giờ học tạo hình còn tạo ra nhiều điều kiện cho việc hình thành ở trẻ
những phẩm chất cần thiết cho việc học tập ở trường phổ thông như tính tự
lực, tính tích cực, khả năng độc lập, tìm kiếm
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng HĐTH là phương tiện quan trọng
để phát triển toàn diện nhân cách trẻ em. Tất cả các loại hình hoạt động như
vẽ, nặn, xếp dán, chắp ghép… đều ảnh hưởng đến việc giáo dục trí tuệ, đạo
đức, thẩm mĩ, thể lực và hình thành thói quen lao động cho trẻ mẫu giáo.
Đặc biệt, riêng đối với trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi, HĐTH còn có những ảnh
hưởng, những tác động không nhỏ tới việc chuẩn bị cho trẻ bước vào trường
phổ thông.
5.2. Các yếu tố tâm lí cơ bản ảnh hưởng đến khả năng tạo hình của
trẻ mầm non.
Tính hiệu quả của quá trình giáo dục thẩm mĩ trong đó có quá trình
phát triển hoạt động sáng tạo của trẻ được quyết định bởi mối tác động qua
lại giữa phương tiện giáo dục thẩm mĩ và các loại hình hoạt động nghệ thuật
sáng tạo như: vui chơi, tạo hình, kịch, tác phẩm văn học…
Theo nhà giáo dục học T.X. Ko- ma- ro- va thì các yếu tố ảnh hưởng
đến sự phát triển năng lực tạo hình bao gồm: các quá trình tâm lí như tri
giác, tư duy hình ảnh, tưởng tượng…; cách thức hoạt động nghệ thuật; thái
độ cảm xúc đối với các đối tượng nghệ thuật và hoạt động nghệ thuật…
Những quá trình tâm lí đó là cơ sở, là nền tảng cho mỗi loại hình hoạt động
nghệ thuật và sự phát triển chúng ở mỗi một loại hình nào đó sẽ có ảnh
hưởng tích cực trong việc thực hiện các loại hoạt động còn lại.
Với bản chất là một hoạt động nghệ thuật, HĐTH cũng giống như các
hoạt động sáng tạo khác của con người, nó cần có sự tham gia của rất nhiều
các yếu tố tâm lí, quá trình tâm lí, phẩm chất tâm lí khác nhau như: tri giác,
trí nhớ, tư duy, chú ý, tưởng tượng, xúc cảm, tình cảm, ý chí, nhu cầu…
trong đó yếu tố tâm lí quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng hoạt động tạo
hình của trẻ là tri giác, tư duy, xúc cảm và tưởng tượng.
• Tri giác:
Trong HĐTH tri giác được coi là cơ sở ban đầu, là điều kiện cơ bản
của sự sáng tạo. Như chúng ta đã biết, mọi biểu tượng về thế giới xung
quanh mà đứa trẻ có được đều phải thông qua quá trình tri giác. Trong
HĐTH, tri giác còn là quá trình xác định những nét riêng, những nét độc đáo
của đối tượng. Theo các nghiên cứu, các nhà giáo dục dã cho rằng HĐTH là
một hoạt động nghệ thuật “thuộc về mắt”, chính vì vậy nên vấn đề tri giác,
đặc biệt là tri giác thị giác cần được quan tâm rất nhiều. Chính khả năng
“nhìn”, “thấy"đối tượng miêu tả là điều cơ bản nhất quyết định đến sự phát
triển và hiệu quả sáng tạo của quá trình tạo hình.
Bằng những nghiên cứu lí luận của mình, PGS.TS Lê Thanh Thuỷ đã
đi đến kết luận “… tri giác trong HĐTH là một quá trình tâm lí tích cực
nhằm phân tích các tính chất, các thuộc tính của đối tượng miêu tả, đánh
giá và tổng hợp chúng. Quá trình này được thực hiện chủ yếu bằng các
vận động xem xét có chọn lọc của mắt trong đó không phải mọi thuộc tính
của sự vật đều được phản ánh với độ sâu sắc, đầy đủ như nhau và không
phải tất cả chúng đều có ý nghĩa như nhau trong việc hình thành hình
ảnh thẩm mĩ trọn vẹn"[42;20].
Tri giác được hình thành ngay từ tuổi ấu nhi, trong quá trình hoạt động
với đồ vật, tuy nhiên trong lứa tuổi này, dấu hiệu đồ vật mới chỉ là những
dấu hiệu bên ngoài mang tính chất ngẫu nhiên và còn rất mơ hồ. Khả năng tri
giác của trẻ được hoàn thiện dần theo lứa tuổi trẻ. Đến 5- 6 tuổi, trẻ đã có
khả năng tri giác đầy đủ và phản ánh trọn vẹn các đối tượng quan sát bởi vì
lúc này tri giác của trẻ đã mang tính chủ động hơn. Đây chính là đặc điểm cơ
bản, là nền tảng ban đầu giúp trẻ có thể tạo nên được những sản phẩm trang
trí mang tính thẩm mĩ cao.
• Cảm xúc:
Cảm xúc được coi là bàn đạp để thúc đẩy và định hướng cho hoạt
động nghệ thuật. Cảm xúc tạo hình được nảy sinh trong quá trình đứa trẻ
được tham gia vào hoạt động và đối mặt, va chạm với thực tiễn, đồng thời
được nắm bắt, lĩnh hội những kinh nghiệm biểu lộ những xúc cảm, tình cảm,
thái độ của mình bằng ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình. Đúng như
PGS.TS. Lê Thanh Thuỷ nói “Cảm xúc chính là cái tạo nên sự khác biệt
giữa hoạt động khoa học và hoạt động nghệ thuật”
Cảm xúc chính là động lực để thúc đẩy cảm hứng sáng tạo nghệ thuật
bởi vì chỉ khi thích thú với vẻ đẹp của đối tượng thì mới ham mê vẽ, ham mê
xé, cắt dán… và chỉ khi nào có ham mê mới có thể tìm ra điều thú vị của đối
tượng và như thế hoạt động mới đạt hiệu quả cao.
Có thể thấy rằng, trong HĐTH cảm xúc có một vai trò hết sức to lớn,
K. Đ. Usinxki đã nói “… không một cái gì, không từ ngữ, không suy nghĩ,
thậm chí không một hành động nào có thể thể hiện một cách rõ ràng thái độ
của chúng ta đối với thế giới xung quanh như cảm xúc. Ở đó chúng ta có thể
nhận biết không chỉ một suy nghĩ, một quan điểm đơn lẻ mà cả tâm hồn và
thế giới nội tâm của chúng ta”.[19]
Cảm xúc được hình thành ở trẻ từ rất sớm, song nó nở rộ và phát triển
mạnh mẽ nhất ở trong giai đoạn 5- 6 tuổi. Ở tuổi này, trẻ dễ dàng có những