LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam
đang bước vào vận hội mới với những cơ hội và thách thức mới. Khi quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế diễn ra cũng là lúc Việt nam gia nhập WTO, đòi hỏi sự cạnh tranh
gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước để tạo chỗ đứng trên thị
trường. Hiện nay sự cạnh tranh đó ngày càng gay gắt hơn khi các công ty nước ngoài ồ
ạt vào Việt Nam nhiều hơn và sự lạm phát làm cho giá cả tăng cao cũng gây ra nhiều
áp lực cho các doanh nghiệp. Vì thế cần nâng cao năng suất, nâng cao năng lực cạnh
tranh, hạ giá thành sản phẩm trở thành yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp. Sản
phẩm ngành Dây Cáp Điện không chỉ mang tính kinh doanh mà còn thể hiện cả tính
trình độ công nghệ thông tin và thiết yếu đến đời sống con người. Chất lượng hàng hóa
sản xuất ra có ảnh hưởng trực tiếp đến độ an toàn của con người. Hiện nay Công Ty
TNHH Sản Xuất và Thương Mại Đa Phát tính giá thành sản phẩm theo phương pháp
truyền thống. Đây là phương pháp tính giá mà chi phí nhân công trực tiếp và chi phí
sản xuất chung được phân bổ dựa trên một tiêu thức là chi phí nguyên vật liệu chính.
Việc áp dụng một phương pháp tính giá mới đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng,
chính xác, phục vụ cho yêu cầu quản lý là vấn đề cấp thiết cho các doanh nghiệp.
Phương pháp ABC có thể giúp cho các doanh nghiệp quản trị dựa trên hoạt động, đây
là cơ sở để xác định hoạt động nào tạo ra giá trị hay không tạo ra giá trị, từ đó cải tiến
quá trình, nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với thị trường sản xuất nói
chung cũng như dây cáp điện nói riêng. Trong thời gian thực tập tại Công Ty TNHH
Sản Xuất và Thương Mại Đa Phát và kết hợp với lý thuyết được học ở môn kế toán
quản trị, em quyết định đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Vận dụng phương pháp ABC để
tính chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương
Mại Đa Phát”
Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế, khóa luận này không thể tranh khỏi
những thiếu sót và khuyết điểm. Rất mong được sự góp ý của thầy, các anh chị và ban
lãnh đạo công ty để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
- Hệ thống hóa lý thuyết về phương pháp ABC để tính giá thành sản phẩm.
- Mô tả, đánh giá thực trạng tính giá tại Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương
Mại Đa Phát.
- Tính giá dựa trên phương pháp ABC tại Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương
Mại Đa Phát.
- So sánh việc thực hiện phương pháp tính giá truyền thống và phương pháp
ABC để tính giá thành sản phẩm. Đây là cơ sở để xác định hoạt động nào tạo ra giá trị
hay không tạo ra giá trị, từ đó cải tiến quá trình sử dụng thông tin từ ABC cho việc
quản trị dựa trên hoạt động từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động cho công ty.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
- Đề tài nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích,
tổng hợp và thu thập số liệu thực tế để trình bày các vấn đề tính giá tại Công Ty
TNHH Sản Xuất và Thương Mại Đa Phát.
Nguồn số liệu được lấy từ phòng kế toán và từ các giáo trình, tạp chí, internet.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại Đa Phát là một doanh nghiệp về lĩnh
vực sản xuất dây cáp điện, ổn áp. Tuy nhiên đề tài của em tập trung chủ yếu vào bộ
phận kế toán chi phí và giá thành sản phẩm không nghiên cứu toàn bộ các hình thức kế
toán khác. Chủ trọng vào nghiên cứu vận dụng phương pháp ABC để tính giá thành tại
Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại Đa Phát.
5. Bố cục đề tài.
• Mục lục
• Lời mở đầu
• Chương 1: Cơ sở lý thuyết hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm theo phương pháp ABC.
Chương 2: Thực trạng về công tác tính chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
tại Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại Đa Phát.
• Chương 3: Vận dụng phương pháp ABC để tính chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm tại Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại Đa Phát.
• Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị về tình hình hạch toán kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công Ty TNHH Sản Xuất và Thương
Mại Đa Phát.
• Kết luận
• Tài liệu tham khảo
• Phụ lục
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM THEO HOẠT
ĐỘNG (PHƯƠNG PHÁP ABC)
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM.
1.1.1 CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống
và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải chi ra cho sản xuất kinh doanh trong một
thời kỳ.
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Có rất nhiều cách phân loại chi phí nhưng sau đây là hai cách phân loại phổ biến
Phân theo chức năng hoạt động:
- Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí phát sinh tại phân xưởng (bộ phận) sản xuất có
liên quan đến việc chế tạo sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất bao
gồm ba khoản mục chi phí sau đây:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí lao động tực tiếp
Chi phí sản xuất chung
- Chi phí ngoài sản xuất là những khoản chi phí của doanh nghiệp phải chi để thực
hiện việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ và chi cho bộ phận quản lý
doanh nghiệp. Chi phí ngoài sản xuất được chia làm hai loại:
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí thời kỳ: bao gồm những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán, là những
chi phí trực tiếp làm giảm lợi tức trong kỳ.
- Chi phí sản phẩm: bao gồm các chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra
hoặc mua vào để bán lại.
Phân theo cách ứng xử của chi phí
- Biến phí ( variable costs) là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến
động về mức độ hoạt động. Xét về tính chất tác động biến phí chia làm hai loại:
Biến phí tỷ lệ
Biến phí cấp
- Định phí ( fixed costs) là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi .
- Chi phí hỗn hợp ( mixed costs) là chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tổ biến phí
lẫn định phí.
1.1.2 GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để
hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định.
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
- Giá thành kế hoạch: là giá thành được xây dựng trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm
dựa trên các định mức kinh tế kỹ thuật và dựa trên số liệu phân tích tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành của kỳ trước.
- Giá thành thực tế: là loại giá thành được xây dựng sau khi kết thúc một chu kỳ sản
xuất hoặc một thời kỳ sản xuất được xác định trên cơ sở chi phí thực tế đã chi ra để
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Giá thành định mức: là loại giá thành được tính toán dựa trên cơ sở định mức kinh tế
kỹ thuật.
Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí
- Giá thành sản xuất còn gọi là giá thành công xưởng bao gồm các chi phí liên quan
đến sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh ở phân xưởng sản xuất.
- Giá thành toàn bộ: bao gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm. Giá thành toàn bộ còn được gọi giá thành đầy đủ gồm chi phí sản xuất và chi
phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó.
1.1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Xét về mặt chất thì chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giống nhau nhưng xét
về mặt lượng thì chúng khác nhau về mặt sau:
- Chi phí sản xuất chí tính những chi phí sản xuất phát sinh trong một thời kỳ nhất định
( tháng, quý, năm) không tính đến những chi phí liên quan đến số sản phẩm hoàn
thành hay chưa. Giá thành sản phẩm là một số chi phí sản xuất liên quan đến khối
lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành.
- Chi phí sản xuất tính cho một kỳ, còn giá thành sản phẩm liên quan đến chi phí sản
xuất của kỳ trước chuyển sang
Công thức tính tổng giá thành sản phẩm:
= + - -
1.1.4 NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM
Để có được các thông tin về chi phí và giá thành đầy đủ, chính xác đòi hỏi phải
tổ chức tốt hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Hạch toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp cần thực hiện tốt các nhiệm vụ
sau:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
- Xác định chính xác giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Lựa chọn phương pháp tập hợp, phân bổ chi phí và tính giá thành thích hợp.
- Xây dựng trình tự hạch toán chi phí và tính giá thành hợp lý.
- Lập báo cáo về chi phí sản xuất kinh doanh theo chế độ quy định.
Tổng giá
thành sản
phẩm
CPSX kỳ
trước
chuyển
sang
CPSX
trong kỳ
CPSX
chuyển
sang kỳ
sau
Các
khoản
giảm chi
phí
1.2 HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
THEO THEO PHƯƠNG PHÁP ABC
1.2.1 BẢN CHẤT CỦA PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN CHI PHÍ THEO
PHƯƠNG PHÁP ABC
1.2.1.1 Khái niệm về phương pháp ABC
Hiện nay, tất cả các doanh nghiệp sản xuất đều đang phải đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt và ngày càng khắc nghiệt trên thị trường. Để có thể đứng vững và thành
công, các doanh nghiệp phải có sự thích ứng nhanh, kiểm soát và tiết kiêm chi phí sản
xuất nhằm mục đích hạ giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm song song với việc
không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm. Thế nhưng, để có được những
quyết định chính xác, những nhà quản lý phải có những thông tin về chi phí đầy đủ,
chính xác và được cập nhật.
Một phương pháp tính chi phí mới được thiết kế nhằm khắc phục các nhược
điểm của những hệ thống tính giá thành truyền thống, đó là hệ thống tính chi phí theo
hoạt động (ABC – Activities Based Costing). Robin Cooper, Robert Kaplan, và H.
Thomas Johnson là những người đầu tiên đưa ra phương pháp ABC.
“ABC là một phương pháp định giá sản phẩm trong đó chi phí sản xuất chung
được phân bổ vào từng hoạt động cụ thể. Những chi phí theo hoạt động này sau
đó sẽ được phân bổ cho các đối tượng tính giá thành như sản phẩm, dịch vụ hay
vào các đối tượng tạo ra hoạt động đó thông qua các kích tố chi phí”
Nguyên tắc cơ bản của ABC là các hoạt động phát sinh các giao dịch, những giao dịch
phát sinh chi phí gắn kết với các hoạt động.
Để phân bổ chi phí sản xuất 1 cách chính xác cho sản phẩm, ABC phân bổ chi
phí cho từng công đọan dựa trên sự tiêu tốn tài nguyên của công đọan đó, sau đó mới
phân bổ chi phí xuống từng đối tượng chi phí dựa trên sự sử dụng các công đọan của
đối tượng chi phí đó. ABC có thể cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định về
chiến lược giá, chi phí vốn và hiệu quả kinh doanh. ABC không làm giảm hay thay đổi
giá thành so với các phương pháp truyền thống. Nó chỉ cung cấp thông tin về sự tiêu
HOẠT
ĐỘNG
CHI PHÍ CỦA
HOẠT ĐỘNG
SẢN PHẨM
DỊCH VỤ
thụ tài nguyên chi phí sản xuất thật sự xảy ra. Đây là một phương pháp tính chi phí
được sử dụng để tính thẳng chi phí chung vào các đối tượng tính chi phí . Những đối
tượng này có thể là các sản phẩm, dịch vụ, quá trình, hoặc khách hàng… ABC cũng
giúp cho nhà quản lý ra được những quyết định đúng tương ứng với cơ cấu sản phẩm
và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp mình.
1.2.1.2 Hoạt động và các tác nhân tạo chi phí trong phương pháp ABC
1.2.1.2.1 Hoạt động
Hoạt động là một sự kiện hoặc một nghiệp vụ gây ra sự phát sinh chi phí trong
doanh nghiệp. Quá trình sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp
thực chất là sự hợp thành một cách có hệ thống, có tổ chức của nhiều hoạt động khác
nhau.
1.2.1.2.2 Nguồn lực
Nguồn lực là một yếu tố kinh tế được sử dụng để thực hiện các hoạt động. Con
người, dụng cụ, thiết bị, nhà xưởng… là những ví dụ về nguồn lực.
1.2.1.2.3 Tác nhân tạo chi phí
Tác nhân tạo chi phí ( cost drive) là bất kỳ yếu tổ nào mà nó có tác động làm
thay đổi chi phí của một hoạt động. Giả định chính của hệ thống ABC là sản phẩm,
dịch vụ của doanh nghiệp được thực hiện bởi các hoạt động. Các nguồn lực này sử
dụng các nguồn lực từ đó tạo ra chi phí. Các nguồn lực được phân bổ đến hoạt động,
sau đó đến đối tượng nhận chi phí. Với ABC chi phí sản xuất chung được phân bổ đến
đối tượng nhận chi phí bằng cách xác định các hoạt động, các nguồn lực, chi phí của
chúng và số lượng cần thiết để sản xuất ra sản phẩm.
Bảng 1.1: Hoạt động và tác nhân hoạt động trong ABC
Hoạt động Tác nhân hoạt động Chi phí hoạt động
Mua nguyên vật liệu Số lượng NVL được mua Chi phí mua NVL
Vận hành máy móc Số giờ máy hoạt động Chi phí sử dụng máy móc
Xử lý NVL Số lượng NVL được xử lý Chi phí xử lý NVL
Giám sát sản xuất Số công nhân, phân xưởng Lương cho người giám sát
Kiểm tra chất lượng Số sản phẩm linh kiện Lương cho người kiểm tra
1.2.1.2.4 Nguồn phát sinh chi phí
Nguồn phát sinh chi phí là một nhân tố, một khía cạnh của hoạt động có thể
định lượng được và gây ra sự phát sinh chi phí. Một hoạt động có thể được xem xét
theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chỉ những khía cạnh nào gây ra sự phát sinh chi
phí và có thể định lượng được mới có thể được coi là nguồn phát sinh chi phí.
1.2.2 TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM THEO PHƯƠNG PHÁP ABC
Sau đây là trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo
phương pháp ABC.
Sơ đồ 1.1: Hạch toán chi phí theo phương pháp ABC
…
1.2.2.1 Chi phí trực tiếp
1.2.2.1.1 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính,
nữa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất
chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sẽ được tập hợp theo mã của từng sản phẩm, được
tính trực tiếp vào giá của sản phẩm.
Sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên:
Tài khoản sử dụng:
621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí NVL
trực tiếp
Trung
tâm chi
phí hoạt
động N
Trung
tâm chi
phí hoạt
động 1
Tính
trực
tiếp
Các trung
tâm chi phí
hoạt động
Chi phí nhân
công trực tiếp
Chi phí khác
ĐỐI TƯỢNG CHỊU PHÍ
( Sản phẩm, khách hàng, khu vực….)
Tính trực tiếp
Bên Nợ:
- Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng cho sản xuất
Bên Có:
- Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho hoặc kết chuyển cho kỳ sau
- Kết chuyển giá trị nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ vào giá thành sản phẩm
TK 621 được mở chi tiết theo từng đối tượng sử dụng NVL và không có số dư cuối kỳ
Phương pháp hạch toán:
- Xuất kho nguyên vật liệu để trực tiếp sản xuất sản phẩm:
Nợ TK 621
Có TK 152 Giá thực tế nguyên vật liêu xuất dùng
- Mua ngoài nguyên vật liệu xuất thẳng cho sản xuất:
Nợ TK 621 Giá trị thực tế nguyên vật liệu sử dụng
Nợ TK 133 Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 111,112,331… số tiền phải trả cho người bán
- Cuối tháng nhập lại nguyên vật liệu không sử dụng hết trả lại kho:
Nợ TK 152
Có 621 Giá thực tế nguyên vật liệu nhập lại kho
Trường hợp để lại vật liệu thừa cho tháng sau:
- Kế toán ghi bút toán đỏ để giảm chi phí vật liệu trong tháng
Nợ TK 621
Có TK 152 Giá trị nguyên vật liệu để lại từ tháng trước
- Cuối kỳ kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng tập hợp chi phí để
tính giá thành sản phẩm:
Nợ TK 154 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có 621 Chi phí nguyên vật liệu
Sử dụng phương pháp kiểm kê định kỳ:
Chi phí NL, VL phán ánh trên tài khoản này được ghi một lần vào cuối kỳ kế
toán. Cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp tiến hành kiểm kê và xác định giá trị từng thứ NL,
VL tồn kho cuối kỳ. Sau đó, căn cứ kết quả kiểm kê cuối kỳ trước, cuối kỳ này và NL,
VL nhập trong kỳ để xác định giá trị NL, VL xuất kho theo công thức:
Trị giá xuất kho
trong kỳ
= Trị giá nhập trong
kỳ
+ Trị giá tồn đầu
kỳ
- Trị giá tồn cuối
kỳ
Phương pháp hạch toán:
- Mua NVL dùng thẳng cho sản xuất:
Nợ TK 621
Có TK 6111 Mua hàng
- Cuối kỳ kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng tập hợp chi phí để
tính giá thành sản phẩm:
Nợ TK 631 Giá thành sản xuất
Có TK 621 Chi phí NL, VLTT
1.2.2.1.2 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (NCTT)
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực
tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ gồm: tiền lương
chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp sẽ được tập hợp vào tài khoản 622 và vào các trung tâm
chi phí (Ví dụ: 622A- Chi phí cắt vải, 622B- Chi phí may, 622C-Chi phí ủi…)
Tài khoản sử dụng:
TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
Bên Nợ:
- Chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện công việc
dịch vụ.
Bên Có:
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào giá thành sản phẩm
TK 622 được mở chi tiết theo từng đối tượng sử dụng và không có số dư cuối kỳ.
Phương pháp hạch toán:
- Căn cứ vào “Bảng tính lương và BHXH”phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất
ghi:
Nợ TK 622 Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 334 Các khoản lương và phụ cấp lương, tiền công
Có TK 338(3382,3383,3384) Các khoản tính theo lương
- Trích tiền lương nghỉ phép thường niên của công nhân sản xuất (do sản xuất mang
tính thời vụ) và các khoản tiền lương trích trước khác (ngừng sản xuất theo thời vụ):
Nợ TK 622
Có TK 335 chi phí phải trả
- Cuối kỳ kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp vào các khoản tính giá
thành theo từng đối tượng
Nợ TK 154 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 622 Chi phí nhân công trực tiếp
1.2.2.2 Chi phí gián tiếp
Mô hình ABC đòi hỏi quá trình phân bổ CPSX gián tiếp cho từng loại sản
phẩm, dịch vụ được tiến hành theo hai giai đoạn phân biệt đó là:
Tập hợp chi phí sản xuất gián tiếp vào các bộ phận và hoạt động
1.2.2.2.1 Tập hợp chi phí sản xuất gián tiếp vào các bộ phận và hoạt động
Trong giai đoạn này, trước hết CPSX gián tiếp cũng được tập hợp theo các
trung tâm chi phí là các bộ phận tương tự như mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân
bổ duy nhất và mô hình phân bổ CPSX theo bộ phận. Ngoài việc tập hợp, hạch toán
chi phí chi tiết tới từng tài khoản thông thường, nếu xác định được các chi phí đang tập
hợp sử dụng cho đối tượng chịu chi phí nào hay thuộc hoạt động nào thì tập hợp trực
tiếp vào đối tượng chịu chi phí hay hoạt động. Ví dụ: cước phí vận chuyển hàng hóa
xuất khẩu ngoài việc tập hợp, hạch toán vào khoản mục chi phí bán hàng nếu xác định
cước vận chuyển này phục vụ cho đối tượng chịu phí nào ( khách hàng, sản phẩm,
kênh phân phối…) thì tập hợp trực tiếp vào đối tượng chịu phí đó mà không cần phải
qua giai đoạn phân bổ.
Cụ thể:
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Được tập hợp và hạch toán chi tiết theo tài khoản 642
và các trung tâm chi phí ( Ví dụ: A01- Chi phí quản lý phòng nhân sự, A02- Chi phí
quản lý phòng kế toán, A03- Chi phí quản lý phòng máy vi tính…)
- Chi phí bán hàng: Được tập hợp và hạch toán chi tiết theo tài khoản 641 và các trung
tâm chi phí (Ví dụ: B01- Chi phí vận chuyển, B02- Chi phí khuyến mãi, B03- Chi phí
quảng cáo…)
- Chi phí sản xuất chung: Được tập hợp và hạch toán chi tiết theo tài khoản 627 và các
trung tâm chi phí. (Ví dụ: C01- Công tác chuẩn bị, C02- Quá trình nhập nguyên vật
liệu trước khi tiến hành sản xuất, C03- Quá trình sản xuất, C04- Quá trình xuất thành
phẩm…)
1.2.2.2.2 Phân phối chi phí chi từng loại sản phẩm, dịch vụ
Chi phí đã được tập hợp theo các hoạt động sẽ tiếp tục được phân phối cho từng
sản phẩm, dịch vụ.
Sơ đồ 1.2: Mô hình phân bố chi phí sản xuất theo phương pháp ABC
Bước 2
Bước 1
Tổng chi phí
phát sinh
Sản phẩm 1
Hoạt động 2
Sản phẩm 2
Hoạt động 1
Hoạt động 3
Để phân bổ chi phí hoạt động tới các đối tượng chịu phí trong giai đoạn này,
đòi hỏi phải thực hiện tiêu thức phân bổ chi phí hoạt động
Có rất nhiều yếu tố tác động tới việc lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp, trước
hết, nó phải diễn giải được mối quan hệ giữa các hoạt động và đối tượng chịu phí, nó
phải được đo lường và tính toán dễ dàng và cuối cùng là việc cân nhắc chi phí của việc
đo lường phải có sự kết hợp tốt nhất giữa mục tiêu chính xác với chi phí cho việc đo
lường.
Tiêu thức phân bổ chi phí hoạt động gồm 3 loại:
Tiêu thức phân bổ dựa trên số lần thực hiện: Các tiêu thức phân bổ như số lần
chuẩn bị máy, số lượng đơn đặt hàng, mua hàng được thực hiện, số lần kiểm định
được thực hiện,…là những tiêu thức phân bổ có thể đếm được khi một hoạt động được
thực hiện. Đây là một loại tiêu thức phân bổ ít tốn kém nhưng dường như nó lại kém
phần chính xác bỡi lẽ tiêu thức này thừa nhận rằng chi phí nguồn lực tốn kém sẽ giống
nhau cho mỗi hoạt động được thực hiện.
Ví dụ : khi phân bổ chi phí chuẩn bị máy căn cứ vào tiêu thức phân bổ là số lần
sử dụng máy, điều đó thừa nhận rằng tất cả các lần chuẩn bị máy đều tốn cùng một
lượng thời gian như nhau.
Trong một số trường hợp số lượng các nguồn lực được sử dụng để thực hiện
từng hoạt động là khác nhau đáng kể, và các hoạt động này cũng được sử dụng khác
nhau đáng kể giữa các sản phẩm, khi đó cần phải sử dụng tiêu thức khác chính xác hơn
và tốn kém hơn.
Tiêu thức phân bổ theo lượng thời gian thực hiện: Tiêu thức phân bổ này liên
quan đến số lượng thời gian được yêu cầu để thực hiện một hoạt động. Tiêu thức này
được sử dụng khi có sự khác nhau đáng kể về số lượng thời gian giữa các hoạt động
được thực hiện cho các đối tượng chi phí. Ví dụ, những sản phẩm đơn giản thì việc
chuẩn bị máy chỉ mất khoảng 10 đến 15 phút. Ngược lại, đối với các sản phẩm phức
tạp và đòi hỏi sự chính xác cao thì để chuẩn bị máy phải mất đến 2 giờ. Việc sử dụng
tiêu thức phân bổ theo số lần thực hiện, như là số lần chuẩn bị máy sẽ làm cho các sản
phẩm đơn giản phải gánh chịu chi phí chuẩn bị máy nhiều hơn thực tế (overcost), và
ngược lại, các sản phẩm phức tạp sẽ gánh chịu chi phí này ít hơn thực tế (undercost).
Để tránh sự sai lệch này, người thiết kế hệ thống ABC phải sử dụng tiêu thức phân bổ
theo lượng thời gian thực hiện, như là số giờ chuẩn bị máy để phân bổ chi phí chuẩn bị
máy đến từng sản phẩm, nhưng điều này sẽ làm tăng thêm chi phí đo lường.
Tuy nhiên trong một số trường hợp, tiêu thức phân bổ theo thời gian thực hiện cũng
không chính xác, lúc này có thể sử dụng tiêu thức phân bổ theo mức độ thực hiện.
Tiêu thức phân bổ theo mức độ thực hiện: Đây là tiêu thức phân bổ chi phí hoạt
động chính xác nhất nhưng cũng tốn kém nhất. Trong cùng một ví dụ trên về việc
chuẩn bị máy, một số trường hợp các sản phẩn phức tạp và đòi hỏi sự chính xác cao thì
đôi lúc đòi hỏi sự chuẩn bị một cách đặc biệt trước khi máy vận hành, đòi hỏi về chất
lượng kiểm soát của người chuẩn bị máy, cũng như thiết bị kiểm tra chuyên dùng mỗi
khi trình trạng hoạt động của máy được thiết lập. Một tiêu thức phân bổ theo lượng
thời gian thực hiện (theo số thời gian cần để chuẩn bị máy) thừa nhận rằng tất cả các
giờ chuẩn bị máy đều tốn chi phí như nhau, nhưng nó chưa phản ánh thêm về chất
lượng, kỹ năng con người, hay các loại thiết bị đắt tiền được dùng trong một số công
việc loại chuẩn bị máy mà các công việc chuẩn bị máy khác thì không cần đến thiết bị
này. Trong trường hợp này, chi phí hoạt động phải được tính trực tiếp vào sản phẩm
dựa trên yêu cầu công việc và phải theo dõi, tập hợp các chi phí hoạt động phát sinh
riêng cho sản phẩm đó.
1.2.3 KỸ THUẬT VẬN DỤNG MÔ HÌNH ABC
Mô hình ABC được vận dụng với giả định rằng doanh nghiệp có thể phân loại
toàn bộ chi phí chung ra thành từng nhóm cụ thể. Việc vận dụng mô hình ABC phụ
thuộc vào đặc điểm cụ thể về công tác tổ chức quản lý sản xuất, quy trình công nghệ
sản xuất, năng lực quản lý của từng doanh nghiệp. Có thể vận dụng các kỹ thuật cơ
bản như sau:
1.2.3.1 Xác định các hoạt động
Quá trình vận dụng mô hình ABC bắt đầu bằng việc phân tích quá trình sản
xuất của doanh nghiệp. Đó là việc phân tích một cách có hệ thống các hoạt động hợp
thành quá trình sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ. Thông qua việc phân tích kế
toán quản trị nhận diện được các hoạt động tiêu hao nguồn lực, gây ra sự phát sinh chi
phí sản xuất chung. Thông thường, các hoạt động gây ra sự phát sinh chi phí sản xuất
chung bao gồm: hoạt động sử dụng nhân công quản lý sản xuất, hoạt động sử dụng
máy móc, hoạt động tiêu thụ năng lượng, động lực, hoạt động giám sát, kiểm tra chất
lượng… Việc phân tích quá trình sản xuất thành các hoạt động là rất quan trọng, nó là
bước cơ sở để kế toán quản trị xác định trung tâm hoạt động, trung tâm chi phí.
1.2.3.2 Xác định các trung tâm hoạt động
Sau khi đã nhận diện được các hoạt động tiêu hao nguồn lực, kế toán quản trị
phải xác định các trung tâm hoạt động. Về lý thuyết, mỗi hoạt động đều có thể được
tập hợp trong một trung tâm. Tuy nhiên, do quá trình sản xuất được phân tích thành rất
nhiều hoạt động khác nhau, nên để giảm bớt khối lượng công việc kế toán, một trung
tâm hoạt động sẽ có thể bao gồm một số hoạt động có cùng bản chất xét ở khía cạnh
gây ra sự phát sinh chi phí. Chẳng hạn, trung tâm “hoạt động kiểm tra sản phẩm” có
thể bao gồm các hoạt động cụ thể như: kiểm tra các thông số kỹ thuật, chạy thử, kiểm
tra công tác đóng gói, bảo quản sản phẩm…
1.2.3.3 Tập hợp chi phí cho các bộ phận và quy nạp chi phí cho các hoạt
động
Chi phí sản xuất chung phát sinh trước hết sẽ được tập hợp cho các bộ phận
như: các phân xưởng sản xuất, đội sản xuất,… Tiếp đó, chi phí sẽ được quy nạp cho
các hoạt động (hoặc trung tâm hoạt động) đã được xác định ở hai bước trên. Nếu một
bộ phận chỉ bao gồm một hoạt động (trung tâm hoạt động) khác nhau thì chi phí sản
xuất chung của các bộ phận này được quy nạp cho từng hoạt động theo cách quy nạp
trực tiếp cho hoạt động (trung tâm hoạt động) đó. Nếu mỗi bộ phận bao gồm nhiều
hoạt động (trung tâm hoạt động) khác nhau thì chi phí sản xuất chung của các bộ phận
này được quy nạp cho từng hoạt động theo cách quy nạp trực tiếp hoặc phân bổ gián
tiếp.
1.2.3.4 Xác định nguồn phát sinh chi phí và phân bổ chi phí sản xuất cho
từng loại sản phẩm
Để lựa chọn một khía cạnh, nhân tố nào đó của hoạt động làm nguồn phát sinh
chi phí cho từng trung tâm hoạt động, làm cơ sở để tiến hành phân phối chi phí cho
từng loại sản phẩm phải đồng thời cân nhắc hai nhân tố sau đây:
- Kế toán quản trị phải có dữ liệu phong phú về nguồn phát sinh chi phí định lựa chọn,
chẳng hạn muốn chọn số lượng sản phẩm được kiểm tra là nguồn phát sinh chi phí của
trung tâm “hoạt động kiểm tra sản phẩm” thì KTQT phải có dữ liệu về số lượng sản
phẩm, cơ cấu sản phẩm đã thực hiện kiểm tra trong kỳ.
- Nguồn phát sinh chi phí phải phản ánh được mức độ tiêu dùng các hoạt động của
từng loại sản phẩm. Chẳng hạn, nếu sự vận động của chi phí phù hợp với số lượng sản
phẩm được kiểm tra thì nguồn phát sinh chi phí có thể được xác định là số lượng sản
phẩm.
- Thu thập thông tin là một công việc rất cần thiết để có thể đạt được sự chính xác của
các chi phí sản phẩm cuối cùng. Một phần quan trọng của dữ liệu yêu cầu là những tỉ
lệ cần thiết trong mỗi giai đoạn của một hệ thống ABC. Mỗi hoạt động sử dụng một
phần của từng nhóm chi phí. Tương tự như vậy, mỗi sản phẩm sẽ sử dụng đến một
phần của mỗi hoạt động. Như đã đề cập từ trước, mỗi tỉ lệ thường thể hiện cho một
phần của tổng thể chi phí hay hoạt động. Có rất nhiều cách để có thể thu được những
tỷ lệ này và từng phương pháp cụ thể sẽ tác động đến độ chính xác mong muốn. Ba
phương pháp có mức độ chính xác về dữ liệu có thể được sử dụng trong việc ước
lượng những tỉ lệ này theo thứ tự là ước đoán, đánh giá hệ thống, và thu thập dữ liệu
thực tế.
Ước đoán:
Trong trường hợp khi mà không thể có được những số liệu thực tế hoặc những việc
thu thập số liệu khá tốn kém, thì có thể ước đoán để tính ra các tỷ lệ. Việc ước đoán có
thể được hợp tác thực hiện bởi bộ phận quản lý, bộ phận tài chính, và những nhân viên
điều hành có liên hệ trực tiếp đến trung tâm tính chi phí. Nhóm này có thể đưa ra được
những ước đoán về tỷ lệ chi phí phân bổ trong cả hai giai đoạn của phương pháp ABC.
Mức độ chính xác dựa vào sự kết hợp của những người trong nhóm, và những kiến
thức của họ về trung tâm chi phí.
Đánh giá hệ thống:
Một phương pháp khoa học hơn để thu được những tỷ lệ này cho việc tính toán chi
phí là việc sử dụng kỹ thuật hệ thống như áp dụng quá trình phân tích thứ bậc (AHP-
Analytic Hierarchical Process). AHP là một công cụ thích hợp nhằm đưa những ý kiến
cá nhân chủ quan thành những thông tin thể hiện khách quan hơn về các tỷ lệ. Ví dụ,
giả sử doanh nghiệp cần phân bổ chi phí xăng dầu giữa ba hoạt động chạy máy, giao
hàng, và bảo trì. Thông qua việc đặt câu hỏi cho những bộ phận tiêu thụ nguồn lực này
và yêu cầu họ đánh giá về tỷ lệ phần trăm chi phí xăng dầu trong một thời đoạn nhất
định, AHP có thể đưa ra được phần trăm của chi phí này và phân bổ chúng đến từng
hoạt động thích hợp.
AHP cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn hai đó là phân bổ chi phí từ các
hoạt động đến từng sản phẩm. Trong bước này, điều quan trọng là phải xác định được
một tiêu thức phân bổ chi phí thích hợp để đạt được mức độ chính xác mong muốn.
Ví dụ: Giả sử doanh nghiệp mong muốn ấn định chi phí bán hàng đến từng sản
phẩm. Một phương pháp đó là ước lượng mức độ hoạt động bán hàng cần thiết đối với
từng sản phẩm. Giả sử doanh nghiệp sản xuất năm sản phẩm. Sản phẩm A là sản phẩm
đã có tiếng, những nỗ lực về hoạt động bán hàng là tương đối thấp, trong khi sản phẩm
B, C, và D đang trong giai đoạn giữa của dòng đời sản phẩm và sản phẩm E, là một
sản phẩm mới, tiêu tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực hơn cho việc bán hàng. Thay vì
phân bổ đồng đều chi phí bán hàng cho từng sản phẩm, AHP có thễ đưa ra một ước
lượng cho phép công ty tính chi phí đến từng sản phẩm một cách chính xác hơn.
Bước tiếp theo là doanh nghiệp cần phải xác định những tiêu thức thể hiện mối
quan hệ về chi phí giữa các hoạt động và sản phẩm. Trong ví dụ cụ thể này, khu vực
bán hàng và thời gian sử dụng để thương thảo với khách hàng về từng sản phẩm có thể
được xem là các tiêu thức liên hệ. Sau đó, chi phí bán hàng được xếp hạng giữa các
sản phẩm theo khoảng cách cần thiết giao hàng. Việc xếp hạng tiếp theo giữa các sản
phẩm được thiết lập theo tỉ lệ thời gian cho từng khách hàng. Cuối cùng, những cách
xếp hạng chủ quan về hoạt động bán hàng được kết hợp lại để tính ra tỷ lệ phân bổ chi
phí bán hàng giữa năm loại sản phẩm.
Thu thập dữ liệu thực tế:
Phương pháp chính xác nhất và tốn nhiều chi phí nhất để tính toán được tỷ lệ
cần thiết đó là thu thập những dữ liệu thực tế. Trong hầu hết các trường hợp, người ta
phải tổ chức một bộ máy thu thập, ghi nhận dữ liệu thực tế và có thể đòi hỏi các thiết
bị hỗ trợ cho việc thu thập thông tin. Hơn nữa, việc thu thập dữ liệu phải đúng thời
điểm và điều tra viên yêu cầu phải có kinh nghiệm. Kết quả thường được phân tích
bằng những công cụ thống kê.
1.3.4 ĐIỀU KIỆN VẬN DỤNG MÔ HÌNH
Mô hình ABC vận dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có các điều kiện sau:
- Sản phẩm được sản xuất có sự đa dạng về chủng loại, mẫu mã, phức tạp về kỹ thuật.
Quy trình chế tạo sản phẩm đòi hỏi phải có sự kết hợp nhiều giai đoạn công nghệ,
nhiều hoạt động.
- Chi phí sản xuất chung chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí sản xuất và
ngày càng có xu hướng tăng lên.
- Tính không chính xác của mô hình mà doanh nghiệp đang áp dụng khá lớn làm cho
thông tin được cung cấp ít có tác dụng đối với các quản trị trong việc ra quyết định.
- Môi trường cạnh tranh gay gắt.
1.3.5 ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP ABC
1.3.5.1 Ưu điểm
Trước hết phương pháp ABC cung cấp thông tin giá thành chính xác và hợp lý
hơn so với phương pháp kế toán chi phí truyền thống. Theo phương pháp ABC, giá
thành sản phẩm không chỉ bao gồm chi phí sản xuất mà là toàn bộ chi phí sản xuất
kinh doanh, bao gồm cả các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng, chi phí quản lý. Do
tỷ trọng chi phí gián tiếp ngày càng lớn, việc không phân bổ các chi phí này vào giá
thành sản phẩm có thể dẫn tới những ngộ nhận về mức lợi tức sản phẩm và dấn đến sai
lầm trong ra quyết định kinh doanh. Ví dụ, một sản phẩm mới có thể có giá thành công
xưởng nhỏ hơn các sản phẩm hiện tại, nhưng đòi hỏi một khoản chi phí marketing lớn
để đưa ra thị trường. Nếu chỉ căn cứ vào giá thành công xưởng thì có thể thấy sản xuất
sản phẩm đó sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn, nhưng nếu phân bổ đủ cả chi phí
marketing tăng thêm thì có thể sản phẩm đó sẽ bị lỗ. Vì thế ABC sẽ giúp các nhà quản
lý tránh được những quyết định sai lầm do sử dụng thông tin không chính xác về giá
thành.
Bên cạnh việc cung cấp thông tin chính xác về giá thành ABC còn giúp các nhà
quản lý kiểm soát các hoạt động.
- ABC cung cấp thông tin hữu ích giúp các nhà quản lý cắt giảm chi phí kinh doanh.
Để xây dựng được hệ thống các tiêu thức phân bổ chi phí, yêu cầu đầu tiên là phải xác
định được toàn bộ các hoạt động diễn ra trong doanh nghiệp trong một chu kỳ sản xuất
kinh doanh. Bước thứ hai, doanh nghiệp cần xác định mức chi phí cho mỗi hoạt động
trong từng kỳ. Cuối cùng, mức đóng góp của từng hoạt động vào từng sản phẩm được
xác định. Với những thông tin chi tiết như vậy, các nhà quản lý có thể dễ dàng phân
loại các hoạt động trong doanh nghiệp theo các nhóm: các hoạt động có mức đóng góp
cao vào giá trị sản phẩm, các hoạt động có mức đóng góp thấp, và các hoạt động
không đóng góp, thậm chí là nhân tố cản trở quả trình sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở
hiểu rõ tầm quan trọng của các hoạt động, nhà quản lý có thể đưa ra các biện pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bằng cách loại bỏ những hoạt động
không có đóng góp vào giá trị sản phẩm, tổ chức lại các hoạt động có mức đóng góp
thấp nhằm nâng cao hơn mức đóng góp của các hoạt động này. Ngay đối với các hoạt
động có mức đóng góp cao, ABC cũng cung cấp thông tin về quá trình phát sinh chi
phí, nguyên nhân phát sinh chi phí cho các hoạt động, qua đó tạo cơ hội cắt giảm chi
phí kinh doanh. Cần lưu ý việc cắt giảm chi phí kinh doanh ở đây được xét trên phạm
vi tổng thể. Tức là nhà quản lý có thể tăng chí phí cho một hoạt động cụ thể nào đó
nhằm nâng cao mức đóng góp của hoạt động đó vào quá trình sản xuất kinh doanh,
qua đó giảm giá thành sản phẩm.
Có thể thấy rằng phương pháp ABC cung cấp toàn bộ các thông tin này với mức độ tin
cậy cao hơn nhiều so với phương pháp truyền thống.
- Giúp các nhà quản lý trong việc nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Một ưu điểm nữa của phương pháp ABC so với phương pháp truyền thống là
trong khi phương pháp truyền thống chỉ cung cấp thông tin về mức chi phí thì phương
pháp ABC còn cung cấp thông tin về quá trình và nguyên nhân phát sinh chi phí. Việc
hiểu rõ quá trình và nguyên nhân phát sinh chi phí không chỉ giúp tìm ra biện pháp
thích hợp để cắt giảm chi phí mà còn giúp cho nhà quản lý có thể xây dựng được một
cơ chế đánh giá và khuyến khích nhân viên phù hợp, góp phần quan trọng nâng cao
hiệu suất làm việc của nhân viên, qua đó cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Cụ thể, các thông tin do ABC cung cấp cho phép nhà quản lý có thể
thấy rõ mối liên hệ giữa ba yếu tố: chi phí phát sinh - mức độ hoạt động - mức độ đóng
góp vào sản phẩm. Việc hiểu rõ mối liên hệ này sẽ làm thay đổi tư duy quản lý từ chỗ
tìm cách cắt giảm chi phí sang nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Cuối cùng, việc áp dụng phương pháp ABC còn góp phần hỗ trợ hoạt động
marketing trong việc xác định cơ cấu sản phẩm cũng như chính sách giá.
Đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều mặt hàng thì việc đàm phán
với khách hàng hay xử lý đơn hàng một cách nhanh chóng đòi hỏi phải có thông tin
chi tiết về giá thành cũng như cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, qua đó có thể xác
định các mức giá tối ưu cho các đơn hàng khác nhau với cơ cấu sản phẩm khác nhau.
Nắm được các thông tin chi tiết và chính xác về chi phí cho các sản phẩm còn giúp
doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc cải tiến sản phẩm của mình nhằm tăng khả năng
cạnh tranh trên thị trường bằng cách đưa thêm vào sản phẩm những giá trị gia tăng
trong điều kiện chi phí còn cho phép. Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thể chủ động
xây dựng chiến lược marketing để định hướng nhu cầu khách hàng vào các mặt hàng
có lợi nhuận cao, thay thế cho các mặt hàng mà doanh nghiệp không có lợi thế.
Ví dụ: Về việc sử dụng phương pháp ABC để giảm chi phí
Phương pháp truyền thống:
Lương $100
Thiết bị $80
Dụng cụ $20
Chi phí sx chung $45
Tổng $245
Phương pháp ABC:
Lau cửa $40 -> sơn cửa $75 -> kiểm tra cửa $75 -> vận chuyển cửa đến dây chuyền
$55 => Tổng $245
ABC không làm giảm hay thay đổi giá thành so với các phương pháp truyền
thống. Nó chỉ cung cấp thông tin về sự tiêu thụ tài nguyên chi phí sản xuất thật sự xảy
ra. Theo ví dụ trên, nếu bạn muốn giảm chi phí, với phương pháp truyền thống bạn
không có đủ thông tin để quyết định thay đổi chi phí nào. Tuy nhiên nếu dùng ABC,
bạn có thể nhận ra rằng nếu kết hợp công đoạn sơn cửa và kiểm tra cửa, bạn có thể
giảm được chi phí.
1.3.5.2 Nhược điểm
Tuy nhiên, mô hình ABC vẫn còn một số hạn chế nhất định. Mặc dù việc quy
nạp CPSXC cho các sản phẩm về cơ bản là dựa vào mối quan hệ khách quan giữa các
hoạt động và từng loại sản phẩm, dịch vụ nhưng về mặt kỹ thuật, trong nhiều trường
hợp, do mối quan hệ đó là không rõ ràng, kế toán vẫn phải lựa chọn các tiêu chuẩn
phân bổ một cách chủ quan.
Hơn nữa, việc vận dụng mô hình ABC đòi hỏi phương pháp tổ chức sản xuất
của doanh nghiệp cũng phải đạt tới trình độ quản lý theo hoạt động. Đặc biệt, điểm
hạn chế nhất của việc áp dụng mô hình này là khối lượng công việc kế toán rất lớn và
khá phức tạp.
Phương pháp ABC phức tạp và tất nhiên là tốn kém hơn các phương pháp
truyền thống, vì vậy không phải bất cứ công ty nào cũng đủ điều kiện áp dụng. Tuy
nhiên, ABC sẽ là xu hướng tất yếu đối với quản trị bởi:
- Năng lực cạnh tranh dựa trên chi phí giảm thiểu đòi hỏi phải có những số liệu chính
xác hơn về chi phí, tránh tình trạng lợi nhuận giả tạo.
- Sự đa dạng hoá ngày một tăng của các sản phẩm và dịch vụ cùng với độ phức tạp của
các phân đoạn thị trường. Vì thế, việc tiêu dùng các nguồn lực cũng sẽ thay đổi theo
các sản phẩm và dịch vụ.
- Chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn hơn do tốc độ phát triển của công nghệ làm
công ty không đủ thời gian điều chỉnh giá cả và chi phí.
- Xác định đúng chi phí là một phần quan trọng của việc ra quyết định kinh doanh.
Thiếu nó, sự chuẩn xác của quyết định sẽ giảm thiểu.
- Cách mạng trong công nghệ máy tính đã làm giảm được chi phí về tiền bạc lẫn thời
gian cho việc phát triển và vận hành hệ thống xác lập chi phí có khả năng truy nguyên
nhiều hoạt động.
1.3.6 VÍ DỤ MINH HỌA
Công ty Optique Inc. sản xuất hai loại thấu kính: loại bình thường (N) và loại
phức tạp (C).
Trong tháng, công ty sản xuất 90.000 thấu kính N và 30.000 thấu kính loại C.
Thấu kính bình thường (N)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 2.000.000$
Chi phí nhân công trực tiếp khác 1.500.000$
Thấu kính phức tạp (C)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 1.000.000$
Chi phí nhân công trực tiếp 500.000$
Theo phương pháp truyền thống
Chi phí sản xuất chung là 4.500.000$
50.000 giờ công lao động trực tiếp được sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung
Như vậy, tỷ lệ chi phí SX chung /giờ công trực tiếp
4.500.000 ÷ 50.000 = 90$
Optique Inc. Đã sử dụng 30.000 giờ công lao động trực tiếp để sản xuất sản phẩm N
và 20.000 giờ công để sản xuất sản phẩm C
Phân bổ chi phí sản xuất chung
N : 30.000 × 90 = 2.700.000$
C : 20.000 × 90= 1.800.000$
Tại công ty Optique Inc có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp
phát sinh cho từng loại sản phẩm trong kỳ như sau :
Khoản mục chi phí Thấu kính bình
thường (N)
Thấu kính phức
tạp (C)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 2.000.000 1.000.000
Chi phí nhân công trực tiếp 1.500.000 500.000
Tổng chi phí sản xuất trực tiếp sản phẩm 3.500.000 1.500.000
Số lượng sản phẩm sản xuất 90.000 30.000
Giá thành đơn vị của chi phí sản xuất trực tếp 38,9$ 50$
Chi phí gián tiếp phát sinh cho từng loại sản phẩm trong kỳ như sau :
Khoản mục chi phí Thấu kính bình
thường (N)
Thấu kính phức
tạp (C)
Chi phí gián tiếp
2.700.000 1.800.000
Số lượng sản phẩm sản xuất 90.000 30.000
Giá thành đơn vị của chi phí sản xuất gián
tiếp
30$ 60$
Tại công ty chi phí để sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm được tính như sau :
Khoản mục chi phí Thấu kính bình Thấu kính phức
thường (N) tạp (C)
Giá thành đơn vị của chi phí sản xuất
trực tếp
38,9$ 50$
Giá thành đơn vị của chi phí sản xuất
gián tiếp
30$ 60$
Tổng giá thành sản phẩm 68,9$ 110$
Theo phương pháp ABC
Một nhóm chuyên gia đa ngành nhận diện những hoạt động chủ yếu sau ở Công ty
Optique Inc :
Thiết kế sản phẩm
Hoạt động sản xuất
Gửi hàng và phân phối
Quản lý chung
Sau đó, chi phí chung được tập hợp vào mỗi hoạt động dựa vào những tiêu thức
phân bổ tương ứng, có thể dựa vào mối quan hệ nhân quả một khi có thể đo lường
được.
Giả sử, chi phí được tập hợp trong kỳ như sau :
Thiết kế sản phẩm 500.000 ứng với tiêu thức phân bổ giờ công lao động trực tiếp.
Hoạt động sản xuất 2.300.000 ứng với tiêu thức phân bổ là số giờ máy chạy.
Gửi hàng và phân phối 1.200.000 ứng với tiêu thức phân bổ là số lượng sản phẩm.
Quản lý chung 500.000 ứng với tiêu thức phân bổ là phân bổ đều.
Sản phẩm Số lượng sản
phẩm
Số giờ máy chạy Số giờ công lao
động trực tiếp
Thấu kính đơn giản (N) 90.000 160 30.000
Thấu kính phức tạp (C) 30.000 100 20.000
Tổng 120.000 260 50.000
Chi phí gián tiếp của công ty được phân bố cho các chi phí tương ứng từng hoạt
động như sau:
Khoản mục chi phí Thấu kính bình
thường (N)
Thấu kính phức
tạp (C)
Chi phí thiết kế sản phẩm 240.000 160.000
Chi phí sản xuất 1.415.385 884.615
Chi phí gửi hàng 900.000 300.000
Chi phí quản lý chung 250.000 250.000
Tổng cộng chi phí gián tiếp 2.805.385 1.594.615
Số lượng sản phẩm sản xuất 90.000 30.000
Giá thành đơn vị của chi phí sản xuất 31,17$ 53,15$
Tại công ty chi phí để sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm được tính như sau :
Khoản mục Thấu kính bình
thường (N)
Thấu kính phức
tạp (C)
Giá thành đơn vị của chi phí sản xuất
trực tếp
38,9$ 50$
Giá thành đơn vị của chi phí sản xuất
gián tiếp
31,17$ 53,15$
Tổng giá thành sản phẩm 70,07$ 103,15$
Qua kết quả tính toán ở trên cho ta thấy, nếu công ty Optique Inc phân bổ chi
phí sản xuất chung theo phương pháp truyền thống thì chi phí sản xuất chung phân bổ
cho mỗi đơn vị sản phẩm N và C lần lượt là 30$, 60$. Theo phương pháp ABC thì
phân bổ chi phí sản xuất cho sản phẩm N và C lần lượt là 31,17$, 53,15$. Vậy theo
cách chọn số giờ công lao động trực tiếp làm tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung
cho 2 sản phẩm trên đã làm cho chi phí sản xuất của sản phẩm N tăng thêm và làm cho
chi phí sản xuất của sản phẩm C giảm xuống.
Kết quả trên cho thấy việc tính giá thành theo 2 phương pháp truyền thống và phương
pháp ABC có sự chênh lệch nhất định.