Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

báo cáo niên luận hoạt động thanh toán thẻ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 64 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Khoa Tài chính – Ngân hàng





BÁO CÁO NIÊN LUẬN
Hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam




Giáo viên hướng dẫn: TS. Đinh Thị Thanh Vân
Sinh viên thực hiện: Lương Trâm Anh
Lớp: QH 2010 E TCNH
Ngành: Tài chính
Hệ: Chính quy







Hà Nội – tháng 8 năm 2013
2

MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THANH TOÁN THẺ NGÂN HÀNG 7
1.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng 7
1.1.1 Khái niệm về thẻ ngân hàng 7
1.1.2 Phân loại thẻ ngân hàng 8
1.1.3 Ưu nhược điểm của thẻ ngân hàng 11
1.1.3.1 Ưu điểm của việc sử dụng thẻ ngân hàng 11
1.1.3.2 Rủi ro của việc sử dụng thẻ ngân hàng 13
1.2 Tổng quan về thị trƣờng thẻ ngân hàng 15
1.2.1 Khái niệm thị trường thẻ ngân hàng 15
1.2.2 Mô tả về cấu trúc, cách thức hoạt động của thị trường thẻ ngân hàng 16
1.2.2.1 Nguyên tắc hoạt động thị trường thẻ 16
1.2.2.2 Các chủ thể tham gia vào thị trường thẻ 16
1.2.2.3 Người tổ chức thị trường thẻ 17
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán thẻ 17
1.2.3.1 Các nhân tố từ ngân hàng 17
1.2.3.2 Các nhân tố từ khách hàng 18
1.2.3.3 Các nhân tố từ môi trường 19
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của dịch vụ thẻ 19
1.3.1 Sự đa dạng về sản phẩm thẻ và tiện ích của dịch vụ thẻ 19
1.3.2 Số lượng thẻ phát hành và số lượng khách hàng sử dụng thẻ 20
1.3.3 Số lượng thẻ hoạt động trên tổng số lượng thẻ phát hành 20
3

1.3.4 Tốc độ tăng quy mô thị phần đi cùng tốc độ tăng doanh thu 21
1.4 Hoạt động thanh toán bằng thẻ trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay 21
1.4.1 Hoạt động thanh toán bằng thẻ trên thế giới 21
1.4.2 Hoạt động thanh toán bằng thẻ ở Việt nam 25
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 29

CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ NGÂN HÀNG
TẠI AGRIBANK 30
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Agribank 30
2.1.1 Lịch sử hình thành 30
2.1.2 Mục tiêu và chiến lược phát triển 31
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 31
2.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ thẻ tại Agribank hiện nay 32
2.2.1 Khái quát hoạt động phát hành thẻ tại Agribank 32
2.2.1.1 Các dịch vụ thẻ tại Agribank 32
2.2.1.2 Tình hình phát hành thẻ của Agribank 38
2.2.2 Tình hình hoạt động mạng lưới máy giao dịch tự động ATM 41
2.2.3 Thực trạng hoạt động thanh toán thẻ tại Agribank 42
2.2.3.1 Các dịch vụ thanh toán qua thẻ của Agribank 42
2.2.3.2 Tình hình thanh toán thẻ của Agribank 44
2.3 Đánh giá hoạt động thanh toán thẻ ở Ngân hàng Agribank 47
2.3.1 Những thành tựu đạt được về hoạt động thanh toán thẻ 47
2.3.2 Một số tồn tại hạn chế và nguyên nhân 48
4

2.3.3 Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại
Agribank 50
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 51
CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ TẠI
AGRIBANK 52
3.1 Định hƣớng phát triển của Agribank 52
3.1.1 Định hướng chung 52
3.1.2 Định hướng phát triển dịch vụ thẻ 53
3.2 Các giải pháp phát triển hoạt động thanh toán thẻ 55
3.2.1 Có chính sách thích hợp để thu hút khách hàng 55
3.2.2 Hoàn thiện cơ cấu và chất lượng nhân sự 56

3.2.3 Nâng cao kỹ thuật và công nghệ cho mạng lưới thanh toán thẻ 56
3.2.4 Đa dạng hóa và tăng cường tiếp thị sản phẩm 58
3.3 Kiến nghị 59

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 61
KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
5

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Bảng 1.1: So sánh mức độ phổ cập thẻ tín dụng tại một số quốc gia 24
Hình 1.1: Biểu tượng của một số hãng thẻ thanh toán quốc tế 25
Biểu đồ 1.1: Tổng số lượng thẻ ngân hàng lũy kế qua các năm 2006 – 2012 27
Biểu đồ 1.2: So sánh cơ cấu thẻ thanh toán năm 2007 và năm 2012 28
Biểu đồ 1.3: Cơ cấu thẻ theo nguồn tài chính 28
Hình 2.1: Thẻ ghi nợ nội địa của Ngân hàng TMCP Agribank 32
Hình 2.2: Thẻ ghi nợ quốc tế Agribank Visa/MasterCard 34
Bảng 2.1 : Hạn mức giao dịch của thẻ ghi nợ quốc tế Agribank 35
Hình 2.3: Thẻ tín dụng quốc tế Agribank Visa 36
Bảng 2.2 : Hạn mức tín dụng của thẻ tín dụng quốc tế Agribank 38
Bảng 2.3: Số lượng thẻ phát hành của Agribank qua các năm 2007 – 2012 39
Bảng 2.4: Mười ngân hàng dẫn đầu về số lượng thẻ phát hành tính đến 2011 39
Biểu đồ 2.1: So sánh số lượng thẻ phát hành của Agribank và Vietinbank qua các năm
2007 – 2012 41
Biểu đồ 2.2: Số liệu triển khai ATM/EDC của Agribank qua các năm 2007 – 2012
Bảng 2.5: Doanh số từ thẻ của Agribank giai đoạn 2008 – 2012 44
Bảng 2.6: Doanh thu từ một số dịch vụ của Agribank qua các năm 2008-2012 45
Biểu đồ 2.3: Doanh thu từ một số dịch vụ của Agribank qua các năm 2008-2012 46

6

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay trên thế giới, việc thanh toán bằng thẻ đã ngày càng trở nên phổ biến,
chiếc thẻ thanh toán đã ngày càng gắn bó hơn với mọi người. Những ưu điểm của chiếc
thẻ thanh toán khiến người ta không thể chối bỏ những chiếc thẻ này, ví dụ, thay vì việc
mang rất nhiều tiền mặt trong túi với một chiếc thẻ nhỏ gọn, người tiêu dùng có thể thanh
toán số tiền lên đến hàng chục triệu đồng. Đối với những khách hàng thường xuyên đi
công tác hay đi du lịch, mang theo chiếc thẻ khiến họ có thể chủ động hơn trong mọi
công việc của mình. Thêm vào đó, để khuyến khích khách hàng sử dung dịch vụ thẻ của
mình, các ngân hàng gần đây thường tích hợp nhiều dịch vụ cùng với các chương trình
khuyến mãi. Nổi bật, có những vùng hoặc những quốc gia đã chuyển phần lớn việc thanh
toán sang sử dụng thẻ, gần đây là Thụy Điển – xã hội không sử dụng tiền mặt.

Cùng với xu hướng của thế giới hiện nay, thẻ thanh toán bắt đầu gia nhập vào Việt
Nam năm 1996, từ những bước đầu còn khá xa lạ với Việt Nam, ngày nay, chiếc thẻ đã
trở nên quen thuộc với người dân. Tuy nhiên, theo thống kê, 80% các hoạt động qua thẻ
hiện nay của Việt nam là hoạt động rút tiền mặt, đây không phải là chức năng chủ yếu khi
chiếc thẻ ra đời.

Vậy bằng việc lựa chọn đề tài: “Hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” nhằm làm rõ: Thực trạng hoạt động thanh
toán thẻ ở Agribank tính đến hiện nay như thế nào? Có những thành tựu và những hạn
chế gì? Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng khác và những biện
pháp nào để tăng cường hiệu quả việc cung cấp các dịch vụ sử dụng thẻ thanh toán tại
Agribank?

7


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THANH TOÁN THẺ NGÂN HÀNG
1.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng
hoặc các tổ chức tài chính phát hành và cung cấp cho khách hàng, gọi là chủ thẻ, dùng để
rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ, theo
những quy định đã được người sử dụng thẻ và ngân hàng phát hành thẻ thỏa thuận với
nhau. Như vậy, có thể nói thẻ ngân hàng là một trong những công cụ thanh toán các ngân
hàng cung cấp cho khách hàng của mình nhằm mục đích sử dụng để thanh toán thay thế
cho tiền mặt, nên thẻ ngân hàng còn được gọi là thẻ thanh toán.
Từ khái niệm nêu trên, ta nhận thấy thẻ ngân hàng có 3 đặc điểm chủ yếu:
- Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời do nhu cầu
mua bán chịu hàng hóa, phát triển gắn liền với việc ứng dụng khoa học công nghệ tin
học.
- Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cung cấp khách
hàng, được sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch
vụ, đồng thời có chấp nhận liên kết với ngân hàng. Hoặc được sử dụng để rút tiền mặt tại
các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc các ngân hàng đại lý.
- Thẻ ngân hàng là công cụ được sử dụng với một số mục đích khác như chuyển
khoản, thanh toán một số loại hóa đơn, xem xét số dư, sao kê tài khoản… thông qua hệ
thống máy rút tiền tự động.
8

1.1.2 Phân loại thẻ ngân hàng
Thẻ Ngân hàng được chia thành nhiều loại, xét dưới những tiêu chí khác nhau. Có 5
cách phân loại chính:

a. Phân loại theo bản chất kinh tế và nội dung phát hành
Xét theo tính chất thanh toán, có 4 loại thẻ ngân hàng:

- Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ có liên quan trực tiếp đến tài khoản tiền gửi
của chủ thẻ, theo đó chủ thẻ được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút
tiền mặt. Người sử dụng thẻ ghi nợ phải có tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ, khi
giao dịch, những giao dịch đó sẽ được ghi Nợ ngay lập tức vào tài khoản tiền gửi của chủ
thẻ, đồng thời ghi Có vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thanh toán. Người sử dụng thẻ
phải đảm bảo có đủ số dư tài khoản tiền gửi để sử dụng thẻ và chỉ được thanh toán trong
phạm vi số dư này.
Thẻ ghi nợ có 2 loại:
 Thẻ ghi nợ online: là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ
vào tài khoản của chủ thẻ ngay lập tức.
 Thẻ ghi nợ offline: là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ
vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày.
- Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ theo đó chủ thẻ được ngân hàng phát hành
thẻ cấp cho một hạn mức tín dụng để sử dụng thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút
tiền mặt trong một chu kỳ tín dụng. Để phát hành thẻ tín dụng, Ngân hàng không đòi hỏi
khách hàng phải có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Ngân hàng sẽ phân loại khách hàng,
đánh giá, trên cơ sở đó, mỗi nhóm khách hàng có những hạn mức tín dụng khác nhau.
Thông thường, mức tín dụng này là không lãi, tuy nhiên, nếu đến hạn mà số tiền nợ
không được hoàn trả, người sử dụng thẻ sẽ phải trả lãi trên số tiền đã sử dụng, theo mức
lãi suất đã thỏa thuận trước đó.
9

- Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là thẻ cho phép các giao dịch rút tiền mặt tại các
máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở các ngân hàng. Người sử dụng thẻ được rút số tiền tối
đa bằng số tiền đã ký quỹ trong tài khoản. Thẻ rút tiền thường được phát hành kèm với
một tài khoản tiền gửi không kỳ hạn.
Thẻ rút tiền gồm 2 loại:
 Thẻ chỉ dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động của ngân hàng phát
hành.
 Thẻ không chỉ sử dụng để rút tiền ở ngân hàng phát hành, mà còn được sử

dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia thanh toán với ngân hàng phát
hành thẻ.
- Thẻ thanh toán trả sau (Charge Card) là thẻ không quy định trước hạn mức chi
tiêu, cuối tháng khách hàng sẽ phải thanh toán khi nhận được bảng thông báo tài khoản,
trường hợp không nộp đủ số dư nợ, khách hàng phải trả phí nợ quá hạn.

b. Phân loại theo phạm vi sử dụng
Xét theo phạm vi sử dụng, có 2 loại thẻ ngân hàng:
- Thẻ nội địa: là thẻ chỉ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia. Để phân biệt thẻ
nội địa với thẻ quốc tế, trên bề mặt thẻ nôi địa thường có một dòng chữ chỉ định phạm vi
sử dụng thẻ.
Thẻ nội địa có 2 loại:
 Thẻ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng trong nước phát hành, chỉ được sử
dụng trong phạm vi nội bộ hệ thống tổ chức đó.
 Thẻ thanh toán mang thương hiệu của tổ chức quốc tế phát hành để sử dụng
trong nước.
- Thẻ quốc tế: là thẻ được sử dụng để thanh toán trên phạm vi toàn cầu. Thẻ này
được sử dụng với những khách hàng thường xuyên phải đi lại ở nước ngoài, hoặc ngay cả
sử dụng thẻ để thanh toán trong nước. Người sử dụng thẻ quốc tế thường phải chịu nhiều
10

chi phí hơn so với thẻ nội địa, trong đó đặc biệt là chi phí liên quan đến việc chuyển đổi
ngoại tệ giữa các quốc gia.

c. Phân loại theo chủ thể phát hành
Xét theo chủ thể phát hành, có 2 loại thẻ ngân hàng:
- Thẻ do Ngân hàng phát hành: là thẻ giúp cho khách hàng sử dụng linh hoạt tài
khoản của mình tại Ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp. Đây là loại
thẻ được sử dụng phổ biến.
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là thẻ du lịch, giải trí của các tập đoàn

kinh doanh lớn phát hành như Diners Club, Amex, California Fitness & Yoga… hoặc do
các công ty xăng dầu, các cửa hàng lớn liên doanh với các tổ chức tài chính ngân hàng
phát hành.

d. Phân loại theo hạn mức tín dụng
Xét theo hạn mức tín dụng, thông thường có 2 loại thẻ ngân hàng:
- Thẻ Vàng (Gold Card) là thẻ phát hành cho đối tượng có uy tín, khả năng tài chính
lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ tiêu
chuẩn.
- Thẻ tiêu chuẩn (Standard Card) là thẻ căn bản, mang tính phổ biến. Hạn mức tối
thiểu của thẻ này tùy theo ngân hàng quyết định.

e. Phân loại theo đặc điểm kỹ thuật
Xét theo đặc điểm kỹ thuật, có 2 loại thẻ ngân hàng:
- Thẻ từ (Magnetic stripe Card): là thẻ được sản xuất trên kỹ thuật từ tính, có một
dải băng từ lưu giữ thông tin được mã hóa ở mặt sau. Thẻ này được sử dụng phổ biến
trong vòng 20 năm trở lại đây, nhưng có khả năng bị lợi dụng cao do thông tin thông tin
mã hóa có thể đọc được dễ dàng bằng thiết bị gắn máy vi tính.
11

- Thẻ thông minh (Smart Card): là thế hệ mới nhất của thẻ ngân hàng, có tính an
toàn và bảo mật cao. Thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ
một chip điện tử có cấu trúc giống như một máy tính. Tuy nhiên, do thẻ là công nghệ
mới, có giá thành cao, nên việc phát hành và chấp nhận thẻ thanh toán mới chỉ phổ biến ở
một số nước phát triển.
1.1.3 Ưu nhược điểm của thẻ ngân hàng
1.1.3.1 Ưu điểm của việc sử dụng thẻ ngân hàng
Đối với chủ thẻ
- Hoạt động thanh toán: Sử dụng thẻ thanh toán đem lại cho người sử dụng sự an
toàn và thuận tiện vì người thanh toán không cần phải mang một lượng tiền lớn khi giao

dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ. Việc thanh toán trở nên nhanh chóng hơn tại các quầy
bán hàng thông qua các máy bán hàng.
- Hoạt động vận chuyển: Giảm thiểu chi phí mang theo tiền mặt. Khách hàng gửi
tiền mặt tại một nơi nhưng có thể rút tiền ở một nơi khác. Khi cần thiết có thể thông qua
hệ thống máy rút tiền, an toàn, đơn giản, tiết kiệm chi phí. Hơn nữa, khách hàng có thể
rút tiền ngoài giờ làm việc của Ngân hàng. Mặt khác, các loại thẻ được cung cấp mã số cá
nhân nên đảm bảo được bí mật cho khách hàng, các khoản tiền được chuyển trực tiếp vào
các tài khoản cho nên tránh được mất mát, trộm cắp.
- Quản lý chi tiêu: Thẻ tín dụng giúp người sử dụng điều chỉnh các khoản chi tiêu
một cách hợp lý trong một khoản thời gian nhất định với hạn mức tín dụng nhất định, tạo
ra khả năng tiêu dùng cho khách hàng, từ đó đem lại nhiều thuận lợi hơn trong sinh hoạt
cũng như trong sản xuất.
- Quản lí tài chính trong doanh nghiệp: Đối với những doanh nghiệp nhỏ, sử dụng
tiền mặt tiềm ẩn những rủi ro từ việc tính toán lao động tập trung, vận chuyển cho đến
những rủi ro mất mát (thông thường chi phí thanh toán tiền mặt chiếm từ 4% đến 9% giá
trị của các giao dịch). Mặt khác, sử dụng tiền mặt không hiệu quả với những kênh bán
12

hàng xa. Do đó, các doanh nghiệp có thể sử dụng thẻ thanh toán để giảm chi phí hoạt
động cho việc mua hàng hóa, dịch vụ, đi lại. Hơn nữa, thẻ thanh toán chuyển các dữ liệu
giao dịch, góp phần làm minh bạch các khoản chi tiêu, giúp quản lý tài chính của doanh
nghiệp, theo dõi các hoạt động kế toán doanh nghiệp, quản lí tài khoản trong ngân hàng
và thanh toán các hóa đơn trên mạng, kiểm soát các dòng tiền, tăng hiệu quả, tiết kiệm
chi phí, đem lại thành công trong kinh doanh dài hạn.
- Lợi ích đi kèm: Người sử dụng thẻ có thể được hưởng nhiều dịch vụ giá trị gia
tăng đi kèm. Một số các công ty Thẻ tín dụng cung cấp cung cấp bảo hiểm cho khách
hàng một số loại bảo hiểm nếu khách hàng dùng thẻ tín dụng để mua một số sản phẩm
kèm theo.
Đối với các đơn vị chấp nhận thẻ
- Mở rộng thị trường: một trong các chính sách mà các doanh nghiệp thường phải

áp dụng nhằm nâng cao doanh số, thu được lợi nhuận là áp dụng chính sách tín dụng
thương mại mở rộng, nghĩa là chấp nhận việc thanh toán trả chậm, bán hàng ghi sổ, thu
tiền sau một thời gian đã thỏa thuận. Việc các cơ sở bán hàng chấp nhận thanh toán thẻ,
giúp các doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn, tăng doanh số, chi phí bán hàng giảm,
lợi nhuận tăng. Mặt khác, khiến cho nơi bán hàng trở nên văn minh và hiện đại hơn, tạo
cảm giác thoải mái cho khách hàng.
- An toàn và tiện ích: Khoản tiền thu được được chuyển trực tiếp vào tài khoản tại
ngân hàng, an toàn và ích lợi hơn. Mặt khác, góp phần giảm chi phí lưu trữ, quản lí, kiểm
đếm tiền mặt. Giảm rủi ro, tránh được việc khách hàng sử dụng tiền giả.
Đối với ngân hàng phát hành thẻ
- Tăng sức mạnh thương hiệu: Việc cung cấp các dịch vụ thanh toán thẻ khiến ngân
hàng đa dạng hóa được các dịch vụ của ngân hàng, tăng hiệu quả nghiệp vụ thanh toán, vì
đây là phương thức thanh toán an toàn, nhanh chóng, hiện đại.
- Thu hút khách hàng: Tiêu chuẩn đầu tiên để khách hàng lựa chọn ngân hàng là uy
tín và mức độ lành mạnh. Một ngân hàng cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ có chất
lượng sẽ dễ dàng hơn trong việc thu hút tiền gửi, thu hút khách hàng.
13

- Mở rộng nguồn vốn: thông thường, sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán của ngân hàng,
khách hàng thường có tài khoản tại ngân hàng và ký quỹ theo một mức nhất định. Ngoài
ra, khách hàng thường duy trì một mức số dư nhất định trong tài khoản để phục vụ cho
nhu cầu chi tiêu của mình. Nếu một ngân hàng có dịch vụ thanh toán thẻ mở rộng, sẽ có
được một khoản vốn huy động khá lớn.
- Hạn chế rủi ro: So với hoạt động tín dụng, kinh doanh hoạt động dịch vụ chứa
đựng ít rủi ro hơn. Chẳng hạn đối với thẻ ghi nợ, khách hàng chỉ được sử dụng số tiền
bằng đúng số dư trong tài khoản của mình, còn đối với thẻ tín dụng, ngân hàng chỉ cấp
cho khách hàng một hạn mức tín dụng theo xếp hạng tín dụng của khách hàng. Có thể
nói, đây là khoản cho vay có tính an toàn và lâu dài.
- Tăng doanh thu, lợi nhuận: Dịch vụ thẻ thanh toán có khả năng đem lại một nguồn
doanh thu khá lớn cho ngân hàng từ các loại phí: Phí phát hàng thẻ; phí thường niên; phí

rút tiền mặt; phí trả chậm; phí vượt hạn mức tín dụng; phí đại lý thanh toán. Ngoài ra còn
có phí tra soát, phí khiếu nại, phí thông báo mất thẻ…
1.1.3.2 Rủi ro của việc sử dụng thẻ ngân hàng
Không thể phủ nhận việc áp dụng dịch vụ thẻ thanh toán đem lại không ít lợi ích cho
tất cả các bên tham gia, tuy nhiên, hoạt động này cũng tiềm tàng không ít rủi ro.
Rủi ro ảnh hƣởng đến các chủ thẻ
- Lộ thông tin: mã số bí mật cá nhân (PIN) là mã số giao cho từng chủ thẻ và chủ
thẻ có quyền thay đổi để đảm bảo yếu tố cá nhân và bí mật. PIN được sử dụng khi thực
hiện các giao dịch tự động, hoặc trong một số giao dịch tại các cơ sở chấp nhận thẻ. Khi
khách hàng bị lộ PIN, trường hợp thẻ bị lợi dụng, khách hàng phải chịu hoàn toàn trách
nhiệm. Đây là rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động thanh toán thẻ.
- Rủi ro mất thẻ: Khi thẻ bị mất, nếu có được thông tin cá nhân, thẻ hoàn toàn có thể
bị tấn công và lấy hết số tiền trong tài khoản.
14

- Rủi ro khi tiến hành giao dịch: Rủi ro này xảy ra do trục trặc kĩ thuật ở máy. Có
thể là máy không chấp nhận thẻ, trường hợp máy ATM nuốt thẻ của khách, hoặc không
trả đủ số tiền yêu cầu của chủ thẻ, mà lỗi từ hệ thống máy.
- Rủi ro trong quá trình bảo quản: Trong quá trình sử dụng, thẻ có thể bị nhiễm từ
hoặc bị cọ xát, gây lỗi và không sử dụng được.
Rủi ro ảnh hƣởng đến các tổ chức phát hành thẻ
- Rủi ro từ phía khách hàng: Trong quá trình giao dịch, không yêu cầu chủ thẻ phải
xuất trình giấy tờ tùy thân, chỉ có thể thực hiện xin cấp giấy phép, kiểm tra chữ ký của
người sử dụng thẻ với chữ ký mẫu của chủ thẻ ký trước trên thẻ. Do đó, chủ thẻ có thể
giao thẻ, PIN cho người khác ra nước ngoài sử dụng. Chữ ký trên hóa đơn là chứng từ
duy nhất để đơn vị chấp nhận thẻ có thể kiểm tra tính xác thực, và điều này là hoàn toàn
khó khăn. Nếu chủ thẻ có các bằng chứng hợp pháp về việc chủ thẻ “không có mặt tại nơi
xảy ra giao dịch”, Ngân hàng phát hành thẻ phải chịu hoàn toàn rủi ro.
- Rủi ro trong quá trình phát hành thẻ: Khi ngân hàng gửi thẻ cho chủ thẻ qua
đường bưu điện, nếu thẻ bị thất lạc, chủ thẻ không biết về việc thẻ đã gửi cho mình, ngân

hàng phát hành phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
- Rủi ro trong phát hành với thông tin giả mạo: Khi khách hàng khai báo mở thẻ với
những thông tin không xác thực và không đầy đủ. Nếu ngân hàng phát hành thẩm định
không cẩn thận, nếu chủ thẻ mất khả năng thanh toán, Ngân hàng không thể tiến hành
truy đòi được do những thông tin đã bị sai lệch.
- Rủi ro tín dụng: Chủ thẻ không thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán với các
khoản tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro ảnh hƣởng đến các đơn vị chấp nhận thẻ
- Rủi ro khi ngân hàng không kịp thời cung cấp danh sách đen cho đơn vị chấp nhận
thẻ. Rủi ro cho các đơn vị chấp nhận thẻ có thể đã thanh toán cho thẻ đã bị cấm lưu hành.
- Cơ sở chấp nhận thanh toán vượt mức giao dịch cho phép, dẫn tới bị ngân hàng từ
chối thanh toán toàn bộ giao dịch.
15

- Rủi ro tỷ giá: Rủi ro do sự biến động tỷ giá giữa các đồng tiền và thời hạn giao
dịch chênh lệch với thời hạn thanh toán quy định.
Rủi ro ảnh hƣởng đến hệ thống thanh toán điện tử
Rủi ro ảnh hưởng đến hệ thống thanh toán điện tử là những rủi ro mà làm cho việc
hoạt động thanh toán thẻ không đạt được như mong muốn. Các loại rủi ro liên quan đến
hệ thống thanh toán điện tử gồm:
- Rủi ro tài chính: Hệ thống thanh toán do các bên giao dịch liên kết với nhau tạo
thành, ở cấp độ hệ thống ngân hàng, các giao dịch không được tiến hành trên cơ sở là
dòng lưu chuyển tiền tệ thực sự, mà dựa trên “lời hứa trả tiền điện tử”. Nếu một trong các
bên tham gia vỡ nợ, sẽ kéo theo thiệt hại về tài chính cho toàn bộ hệ thống, đồng thời làm
mất lòng tin vào hệ thống thanh toán điện tử.
- Rủi ro hệ thống: là những rủi ro gây ra việc hệ thống thanh toán có thể sụp đổ tạm
thời hoặc vĩnh viễn. Có thể với lý do bị tấn công hoặc hệ thống công nghệ thông tin gặp
sự cố…
- Rủi ro về an ninh: Nạn lừa đảo, gây ra thiệt hại về tài chính làm giảm mức độ tin
tưởng vào hệ thống nói chung.

1.2 Tổng quan về thị trƣờng thẻ ngân hàng
1.2.1 Khái niệm thị trường thẻ ngân hàng
Thị trường thẻ là tập hợp sự thỏa thuận, qua đó các hoạt động mua bán hàng hóa và
dịch vụ thẻ được thực hiện theo nguyên tắc thị trường, nhằm giúp cho việc thanh toán
tiền hàng hóa, dịch vụ được thực hiện một cách nhanh chóng. Cũng giống như các thị
trường khác, là nơi gặp nhau giữa người mua và người bán và các quyết định của họ được
dung hòa bằng việc điều chỉnh giá cả, thị trường thẻ ngân hàng cũng là nơi để các tổ chức
phát hành thẻ phục vụ những nhu cầu của khách hàng.
16

1.2.2 Mô tả về cấu trúc, cách thức hoạt động của thị trường thẻ ngân hàng
Thị trường thẻ ngân hàng hoạt động theo cấu trúc và có các nguyên tắc giống như
các thị trường hàng hóa thống thường khác.
1.2.2.1 Nguyên tắc hoạt động thị trường thẻ
- Nguyên tắc về trung gian mua – bán: Việc thực hiện giao dịch mua, bán đều thông
qua ngân hàng. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia trên thị
trường, đảm bảo cho việc thanh toán được diễn ra nhanh chóng và an toàn. Để thực hiện
nguyên tắc này, trong thực tế, các chủ thể khi tham gia thị trường thẻ đều phải mở tài
khoản tại một ngân hàng được phép kinh doanh trên thị trường thẻ.
- Nguyên tắc minh bạch: Tất cả các hoạt động mua bán hoặc thực hiện giao dịch
trên thị trường thẻ đều được thực hiện công khai, rõ ràng. Được thể hiện ở việc mua bán
các sản phẩm thẻ đều được thông báo cụ thể nhưng thông tin cần thiết liên quan đến sản
phẩm
- Nguyên tắc thị trường cạnh tranh: Thực hiện giao dịch thanh toán bằng thẻ được
thực hiện trên mối quan hệ cung cầu hàng hóa, dịch vụ thẻ trên thị trường. Giá cả dịch vụ
được thực hiện trên mối quan hệ cung cầu, không một bên nào có thể áp đặt giá theo chủ
quan.
- Nguyên tắc pháp chế: Các giao dịch mua bán, thực hiện thanh toán đều được quy
định trong các văn bản mang tính pháp lý cao, nhằm bảo vệ lợi ích các chủ thể tham gia
hoạt động trên thị trường, hạn chế tối đa các trường hợp tranh chấp, gian lận, giả mạo.

1.2.2.2 Các chủ thể tham gia vào thị trường thẻ
Giống như thị trường các hàng hóa thông thường khác, thị trường thẻ gồm nhiều
thành phần tham gia vào thị trường. Các chủ thể tham gia vào thị trường thẻ gồm:
- Chủ thẻ: Chủ thẻ tham gia vào thị trường với vai trò là người mua hàng hóa trên
thị trường. Theo đó, họ yêu cầu ngân hàng phát hành thẻ cho họ để sử dụng vào mục đích
17

thanh toán. Quyền cơ bản của chủ thẻ trên thị trường thẻ là quyền được sử dụng những
tiện ích do phương tiện thanh toán bằng thẻ mang lại như: sử dụng trước nguồn vốn của
ngân hàng, thanh toán nhanh chóng, tiện lợi. Trách nhiệm cơ bản của chủ thẻ là thanh
toán các khoản nợ cho ngân hàng, trả phí dịch vụ.
- Ngân hàng phát hành thẻ: Ngân hàng phát hàng thẻ tham gia vào thị trường với
vai trò là người bán hàng hóa trên thị trường. Để được phép kinh doanh trên thị trường
thẻ, ngân hàng phát hành Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy
phép. Đối với các ngân hàng phát hành quốc tế, phải được sự cho phép đồng thời của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Tổ chức thẻ quốc tế.
1.2.2.3 Người tổ chức thị trường thẻ
Đối với thị trường thẻ quốc tế, người tổ chức thị trường thẻ là các tổ chức thẻ quốc
tế, như: MasterCard International, Visa International… Các tổ chức này cấp giấy phép
hoạt động phát hành và thanh toán thẻ cho cá thành viên cho nhu cầu. Bên cạnh đó, để
bảo vệ thương hiệu của mình, các tiêu chí đưa ra để được tham gia vào tổ chức hết sức
chặt chẽ, như: quy định về việc sử dụng thương hiệu, quy trình thực hiện giao dịch, các
khoản phí,
Đối với thị trường thẻ nội địa, người tổ chức thị trường là các cơ quan quản lí Nhà
nước ở từng quốc gia. Tuy nhiên, thực tế các cơ quan Nhà nước ở từng quốc gia chủ yếu
chỉ thực hiện vai trò tổ chức, quản lí đối với thị trường thẻ nội địa, còn đối với thị trường
thẻ quốc tế, vẫn chịu chi phối bởi các tổ chức thẻ quốc tế.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán thẻ
1.2.3.1 Các nhân tố từ ngân hàng
- Vốn và trình độ công nghệ: Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán đòi hỏi môi

trường công nghệ cao. Có thể nói, yếu tố công nghệ là yếu tố quyết định đến chất lượng
phục vụ, cũng như là điều kiện tiên quyết để các ngân hàng phát triển dịch vụ thẻ của
18

mình. Do đó, các ngân hàng cần có nguồn vốn vững chắc đầu tư lớn vào công nghệ để
đảm bảo chất lượng phục vụ, tính bảo mật cao.
- Trình độ của đội ngũ nhân viên: Các nhân viên cần nắm vững quy trình phát hành
và thanh toán thẻ, hiểu biết về lĩnh vực tin học để thực hiện tốt các nghiệp vụ kinh doanh
thẻ. Mặt khác, đội ngũ nhân viên cũng cần năng động, sáng tạo, không ngừng học hỏi và
trau dồi kinh nghiệm để có thể phát triển, mở rộng và đa dạng hóa các sản phẩm thẻ.
Ngân hàng nào có chính sách đào tạo nhân lực hợp lý thì ngân hàng đó có cơ hội đẩy
nhanh hoạt động kinh doanh thẻ trong tương lai.
- Chiến lược phát triển của ngân hàng: Trong mỗi thời kỳ nhất định, mỗi ngân hàng
đều có định hướng phát triển của riêng mình. Nếu một ngân hàng định hướng phát triển
dịch vụ thẻ thì cần vạch ra cho mình những chiến lược phù hợp. Chiến lược đó được xây
dựng trên nền tảng điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, khảo sát thị
trường, đối thủ cạnh tranh, xây dựng các chiến lược marketing, các chiến lược về nghiên
cứu và mở rộng sản phẩm…
1.2.3.2 Các nhân tố từ khách hàng
- Yếu tố tâm lý và thói quen: Hoạt động thanh toán thẻ thường diễn ra phổ biến hơn
ở các nước phát triển, và ít hơn ở các nước đang phát triển – nơi có trình độ dân trí còn
thấp và thói quen tiêu dùng tiền mặt còn in đậm trong tâm trí người dân. Khi thay đổi
được tâm lý người dân, ý thức được những ưu việt trong thanh toán thẻ và những hạn chế
của việc thanh toán bằng tiền mặt, thì thị trường thẻ sẽ có cơ hội phát triển mạnh.
- Yếu tố trình độ dân trí: Trình độ dân trí thể hiện thông qua nhận thức của người
dân về thẻ. Trình độ dân trí cao đồng nghĩa với khả năng thích nghi và áp dụng những
thành tựu khoa học kĩ thuật vào cuộc sống phục vụ con người. Người dân sẽ dần dần tìm
đến thẻ - công cụ thanh toán hữu hiệu trong tương lai.
- Yếu tố thu nhập của người dân: Người dân có thu nhập cao mới có nhu cầu gửi
tiền vào ngân hàng để cất giữ, số lượng tài khoản tăng lên, tạo điều kiện cho các ngân

hàng phát triển dịch vụ thẻ. Mặt khác, thu nhập cao kéo theo nhu cầu mua sắm tăng lên,
19

người tiêu dùng sẽ tìm đến công cụ thanh toán nhanh chóng, hiệu quả, an toàn, tiện ích,
đồng thời, mang lại cho họ khả năng tiêu dùng thu nhập trong tương lai – một điều mà
tiền mặt khó có thể đem lại được.
1.2.3.3 Các nhân tố từ môi trường
- Yếu tố môi trường pháp lý: Mọi hoạt động phát hành và thanh toán thẻ đều được
diễn ra trong một môi trường pháp lý nhất định, khuôn khổ pháp lý đó được thể hiện
thông qua quy chế, quy định cụ thể về lĩnh vực kinh doanh thẻ. Nếu các quy chế đó hợp
lý, phù hợp với tình hình thực tế, sẽ khuyến khích việc kinh doanh và sử dụng thẻ rộng
rãi. Ngược lại, nếu các quy chế đó quá chặt chẽ hoặc quá lỏng lẻo, không phù hợp với
điều kiện kinh tế thực tế, sẽ gây khó khăn, kìm hãm, thậm chí đình trệ việc phát hành và
sử dụng thẻ.
- Môi trường cạnh tranh: Đây là yếu tố quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp thị
phần của một ngân hàng tham gia thị trường thẻ. Nếu trên thị trường chỉ có một ngân
hàng cung cấp duy nhất một dịch vụ liên quan đến thẻ thanh toán, thì thị trường sẽ bị
khuyết tật, dẫn đến giá cả và chất lượng có thể không hợp lý. Với một thị trường cạnh
tranh, người tiêu dùng có cơ hội được hưởng lợi từ sự đa dạng về hàng hóa, dịch vụ và
góp phần giảm các chi phí liên quan đến phương tiện thanh toán này.
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của dịch vụ thẻ
1.3.1 Sự đa dạng về sản phẩm thẻ và tiện ích của dịch vụ thẻ
- Đa dạng về các sản phẩm thẻ: Đây là chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của dịch vụ thẻ
không chỉ về tiện ích mà còn thể hiện mức độ đáp ứng các nhu cầu của khách hàng đang
ngày càng trở nên đa dạng. Việc cho ra đời một loại thẻ mới cũng là một sản phẩm mới
đòi hỏi ngân hàng phải thực hiện hàng loạt các công đoạn như: nghiên cứu thị trường,
thiết kế sản phẩm, marketing, bước đầu tung sản phẩm ra thị trường, điều chỉnh, bán sản
phẩm rộng rãi,
20


- Đa dạng về tiện ích của dịch vụ thẻ: Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh
giá sự phát triển của dịch vụ thẻ không thể không kể tới đó là những tiện ích mà dịch vụ
thẻ của ngân hàng mang lại. Từ những chiếc thẻ đơn thuần để rút tiền, hiện nay thẻ còn
dùng để thanh toán, chuyển khoản, mua hàng qua mạng, thanh toán các hoá đơn điện,
nước, và rất nhiều tiện ích khác giúp cho thẻ thực sự là phương tiện thanh toán hiện
đại, như vậy nếu dịch vụ thẻ của ngân hàng càng cung cấp nhiều tiện ích rõ ràng càng có
thế mạnh trong việc thu hút khách hàng, đóng góp vào sự phát triển nói chung của dịch
vụ này.
1.3.2 Số lượng thẻ phát hành và số lượng khách hàng sử dụng thẻ
Số lượng khách hàng sử dụng thẻ và số lượng thẻ phát hành không phải là một.
Trong xu thế hiện nay, một khách hàng có thể sử dụng nhiều loại thẻ cùng lúc, trong đó
có những loại thẻ được sử dụng với tần suất nhiều hơn, với các loại thẻ này, ngân hàng sẽ
có thu nhập lớn hơn. Như vậy, mục tiêu của ngân hàng không chỉ gia tăng số lượng khách
hàng sử dụng thẻ và thanh toán bằng thẻ, mà còn làm thế nào để cho thẻ mà ngân hàng
mình phát hành, được sử dụng như là những thẻ “chính” của khách hàng. Số lượng khách
hàng không ngừng gia tăng cùng với số lượng thẻ phát hành cũng là mục tiêu của bất cứ
một ngân hàng nào, đó là một trong các tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ thẻ của
ngân hàng.
1.3.3 Số lượng thẻ hoạt động trên tổng số lượng thẻ phát hành
Con số thẻ được phát hành không đồng nghĩa với việc khả năng ngần ấy thẻ đang lưu
hành trong đời sống người dân. Có thể hiểu thẻ không hoạt động hay thẻ “non active” là
những thẻ đã được phát hành nhưng không có giao dịch rút tiền ra và nạp tiền vào trong
một thời gian dài sau khi mở tài khoản hoặc trong tài khoản chỉ có số dư đủ ở mức tối
thiểu để duy trì thẻ. Thẻ không hoạt động gây lãng phí tài nguyên của ngân hàng, tốn kém
chi phí marketing, phát hành, chi phí quản lý hoạt động kinh doanh thẻ đối với ngân
21

hàng. Do đó, tỷ lệ thẻ hoạt động cùng là một trong các tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh
doanh thẻ của các ngân hàng.
1.3.4 Tốc độ tăng quy mô thị phần đi cùng tốc độ tăng doanh thu

Thông thường, tốc độ tăng doanh thu thường đi cùng tỷ lệ tương ứng với tốc độ tăng
quy mô thị phần, nghĩa là trong điều kiện kinh tế bình thường, tốc độ tăng doanh thu
thường bằng với tốc độ tăng quy mô thị phần (hoặc có thể lớn hơn do tác động của lạm
phát).
1.4 Hoạt động thanh toán bằng thẻ trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay
1.4.1 Hoạt động thanh toán bằng thẻ trên thế giới
Trong khi ở Việt Nam, thẻ thanh toán còn khá mới mẻ, mới chỉ xuất hiện trong
khoảng 20 trở lại đây, thì trên thế giới, chiếc thẻ thanh toán đã trở lên khá quen thuộc.
Chiếc thẻ đầu tiên được ra đời vào giữa thế kỷ XX, khoảng sau thế chiến thứ hai, và hiện
nay trở thành công cụ thanh toán hữu hiệu và khá phổ biến. Có khá nhiều thẻ mang
thương hiệu quốc tế, trong đó có 5 nhãn thẻ quen thuộc thường được nhắc tới, gồm:
- Thẻ Visa: Tiền thân là Bank Americard do Bank of America phát hành vào năm
1960. Ngày nay VISA là thẻ có quy mô phát triển nhất trên toàn cầu. Với hơn 21000
thành viên là các tổ chức tài chính ngân hàng, VISA International's đã trở thành hệ thống
thanh toán cung cấp đầy đủ nhất các dịch vụ. Các sản phẩm thẻ VISA có mặt tại 300
nước và vùng lãnh thổ, với hệ thống xử lí số liệu lớn nhất và phức tạp nhất trên thế giới,
VISA có thể thực hiện trên 3700 giao dịch mỗi giây với 160 loại tiền tệ khách nhau trên
thế giới. Cho đến nay, VISA đã phát hành hơn 1 tỷ thẻ, được chấp nhận tại hơn 20 triệu
điểm POS, trên 840000 máy ATM tại 150 nước trên thế giới.
- Thẻ MasterCard: Ra đời vào năm 1966 với tên gọi là MASTER CHARGE do hiệp
hội thẻ gọi tắt là ICA (Interbank Card Association) phát hành thông qua các thành viên
trên thế giới. Năm 1990, thẻ MASTER đã phát hành được trên 178 triệu thẻ, có 5000
22

thành viên phát hành và trên 9 triệu điểm chấp nhận thanh toán trên thế giới. Đến nay, số
lượng thành viên tham gia vào hiệp hội thẻ MASTER đã lên tới 25000 thành viên và đến
tháng 6/2003 đã phát hành 604,4 triệu thẻ trên thế giới.
- Thẻ Dinner Club: Thẻ du lịch giải trí đầu tiên được phát hành vào năm 1949. Năm
1960 là thẻ đầu tiên có mặt tại Nhật, chi nhánh được quản lý bởi Citicorp, đứng đầu trong
số các ngân hàng được phát hành thẻ. Năm 1990, Dinner Club có 6,9 triệu người sử dụng

trên thế giới với doanh số khoảng 16 tỷ đôla. Hiện nay số người sử dụng thẻ Dinner Club
đang giảm dần.
- Thẻ JCB: Được xuất phát từ Nhật vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa, năm 1981
JCB đã vươn ra thế giới. Mục tiêu chủ yếu của thẻ là hướng vào lĩnh vực giải trí và du
lịch.
- Thẻ American Express (AMEX): Ra đời vào năm 1958, hiện nay đang là tổ chức
thẻ du lịch giải trí lớn nhất thế giới với tổng số thẻ phát hành gấp 5 lần DINNERS CLUB.
Hiện nay, thị trường thẻ trên thế giới khá phát triển, tuy nhiên ở mỗi vùng thì thị
trường thẻ có những bước phát triển riêng.
Phân theo vị trí địa lý, thị trường thẻ trên thế giới hiện nay được phân chia theo 6 khu vực
chính:
 Thị trường Mỹ: Là nơi khai sinh, đồng thời cũng là nơi mà hoạt động thanh toán
phát triển nhất. Thị phần khu vực này thường chiếm khoảng gần 50% thị phần của toàn
bộ thị trường thẻ trên thế giới. Khu vực này dường như đã bão hoà về thẻ tín dụng, do đó
sự cạnh tranh và phân chia thị trường rất khốc liệt, thêm vào đó dịch vụ ATM dường như
có mặt tại khắp nơi ở Mỹ. Tuy nhiên, mỗi năm doanh số từ thị trường này vẫn tăng
khoảng 20%. Visa và MasterCard là hai loại thẻ phát triển mạnh nhất trên thị trường này.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ trọng thị phần ở đây có phần giảm, nguyên nhân
được cho là sự bão hòa của thị trường, nền kinh tế Mỹ gặp nhiều khó khăn và sự vươn lên
của các nền kinh tế mới nổi khác.
 Thị trường Châu Âu: Bắt đầu xuất hiện thẻ vào năm 1966, và là thị trường mạnh
thứ hai thế giới. Đa phần thẻ lưu hành trên thị trường này là thẻ ghi nợ. Là khu vực có
23

trình độ dân trí cao, kinh tế phát triển, việc sử dụng thẻ trong thanh toán trở nên phổ biến.
Tuy nhiên, giống như thị trường Mỹ, thị trường châu Âu có phần đi xuống, nhường chỗ
cho các thị trường tiềm năng khác. Cho dù vậy, tính đến nay, đây vẫn là 2 thị trường lớn
nhất trên thế giới.
 Thị trường Châu Á - Thái Bình Dương: Khu vực Châu á - TBD gồm 41 quốc gia
với những điều kiện cơ sở hạ tầng, tập quán tiêu dùng khác hẳn nhau. Tại khu vực này,

hầu hết các nước đều có sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ. Tại đây, Visa và MasterCard là 2
loại thẻ đứng ở vị trí hàng đầu, JCB có thị phần nhỏ hơn nhưng hiện nay là loại thẻ đang
có tốc độ phát triển rất nhanh. Việt Nam nằm trong vùng thị trường này, cũng chịu ảnh
hưởng không nhỏ từ các nhãn hiệu thẻ kể trên.
 Thị trường Canada: Là một trong những thị trường mạnh nhất trên thế giới của
thẻ tín dụng. Tại đây, khách hàng khá trung thành với ngân hàng của mình nên thường
chỉ chấp nhận thanh toán thẻ của hiệp hội. Tại thị trường này, Visa hoạt động vượt trội
hẳn so với MasterCard.
 Thị trường Châu Mỹ La tinh: Là khu vực có sự phát triển không đồng đều, bao
gồm cả những nước phát triển và những nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng thông
tin nhìn chung là yếu kém, khu vực này có sự phát triển về hoạt động thanh toán thẻ tại
mỗi quốc gia không đồng đều. Đây được dự đoán là thị trường có khả năng tăng trưởng
mạnh mẽ nhất trong thời gian tới.
 Thị trường Trung Đông và Châu Phi: Đây là vùng nổi tiếng về du lịch và là khu
vực tốt để kinh doanh thẻ. Các loại thẻ chính tại đây là MasterCard, Visa và AMEX.
Mạng lưới ATM ở đây cũng khá mạnh, chủ yếu được cài đặt ở Nam Phi và Trung Đông.
Nhờ sự gia tăng của các thành viên, hiện nay một số chương trình phát hành thẻ mới đã
được giới thiệu đến một số quốc gia ở vùng này.



24


Bảng 1.1: So sánh mức độ phổ cập thẻ tín dụng tại một số quốc gia
(Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử 2012)
Tên nƣớc
Dân số
(triệu)
Thẻ tín dụng

(Triệu)
Bình quân số thẻ
tín dụng/ngƣời
Chỉ số tiêu dùng
cá nhân qua thẻ
Mỹ
313
800
2,6
25%
Nhật Bản
128
320
2,5
12%
Hàn Quốc
49
100
2,0
62%
Đài Loan
23
32
1,4
20%
Trung
Quốc
1341
285
0,21

22%
Indonesia
230
15
0,065
N/A
Việt Nam
87
1,46
0,017
N/A

Cùng với xu hướng chuyển đổi thị phần, trên thế giới, xu hướng sử dụng thẻ thông
minh (Smart card) cũng ngày càng trở nên phổ biến. Theo báo cáo mới nhất "Dự báo thị
trường thẻ đến năm 2012" của RNCOS - Công ty cung cấp dịch vụ tư vấn và nghiên cứu
thị trường toàn cầu, có trụ sở tại Mỹ, thẻ thông minh đã tăng trưởng hơn 10% trong năm
2010 so với năm 2009, trong đó thị trường phần lớn được nắm giữ bởi 4 công ty lớn:
Gemalto, Oberthur, Sagem Orga (Ingenico) và Giesecke&Devrient. Trong lĩnh vực ngân
hàng, liên minh thẻ EMV (Euro Pay, MasterCard và Visa) được xem là nền tảng để nhiều
ngân hàng đầu tư và triển khai giải pháp phát hành thẻ thông minh. Theo EMVCo, tính
đến hết quý I năm 2011, có khoảng 1,2 tỷ thẻ chip EMV đã được phát hành và 18,7 triệu
điểm POS chấp nhận thẻ EMV đang hoạt động trên toàn thế giới. Con số này tương
đương với 40.1% tổng số thẻ thanh toán đang được lưu thông và 71% số lượng POS đã
được cài đặt trên toàn cầu. Tại Việt Nam, thị trường thẻ cũng đang ngày càng sôi động
hơn, đặc biệt sự xuất hiện của thẻ thông minh Link card sẽ tạo một bước ngoặt mới cho
thị trường thẻ với những ứng dụng và tiện ích độc đáo. Theo đó, ngoài tính năng thanh
toán như những thẻ thanh toán và thẻ ATM thông thường, các thành viên sử dụng thẻ
Link card sẽ được hưởng những ưu đại của cộng đồng tiêu dùng cao cấp như: các sản
phẩm, dịch vụ cao cấp, các thương hiệu nổi tiếng, CLB thương hiệu do TopLink cấp giấy
25


chứng nhận đối với từng nhãn hàng… Thẻ Link card sẽ thay thế cho thẻ khuyến mại,
giảm giá của hàng loạt những thương hiệu cao cấp, nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.


Hình 1.1: Biểu tượng của một số hãng thẻ thanh toán quốc tế
1.4.2 Hoạt động thanh toán bằng thẻ ở Việt nam
- Các sản phẩm trên thị trường thẻ tại Việt Nam
Hàng hóa và các dịch vụ thẻ hiện nay rất đa dạng, đó là các loại thẻ khác nhau,
theo đó là các loại dịch vụ thanh toán bằng thẻ do ngân hàng và các tổ chức phi ngân
hàng cạnh tranh đưa ra thị trường. Một số sản phẩm dịch vụ chủ yếu là:
Sản phẩm mang thương hiệu thẻ Visa và MasterCard. Đây là hai thương hiệu nổi
tiếng hàng đầu thế giới và được ưu chuộng trên thị trường thẻ ngân hàng hiện nay. Các
sản phẩm mang thương hiệu hai tổ chức này rất đa dạng và phong phú:
 Thẻ Visa, thẻ MasterCard thông thường: Là các thẻ tín dụng, cho phép
khách hàng thanh toán thông thường, trong phạm vi hạn mức tín dụng cho phép.
 Thẻ Visa Electron, thẻ MasterCard Electronic: Là thẻ ghi nợ có phạm
thanh toán rộng hơn phạm vi thanh toán trước đây.
 Thẻ Charge: chức năng giống thẻ thanh toán sau.
 Thẻ Affinity: Là loại thẻ tín dụng, cho phép người sử dụng ủng hộ một tổ
chức từ thiện nào đó, tên của tổ chức tín dụng đó sẽ được in trên thẻ. Khi sử
dụng thẻ, chủ thẻ phải sử dụng một khoản phí gia nhập và khoản phí dịch vụ
theo tỷ lệ phần trăm trên số tiền chủ thẻ thanh toán. Khoản tiền phí dịch vụ thu
được từ chủ thẻ sẽ được ngân hàng chuyển đến tổ chức từ thiện mà chủ thẻ ủng
hộ.

×