Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 1
Mục đích đánh giá công nghệ
1. Đánh giá công nghệ ngành sản xuất dầu thực vật ở Việt Nam được thực hiện bởi Bộ
Công Thương.
Mục đích: Đánh giá công nghệ để điều chỉnh hay kiểm soát công nghệ.
Nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm dầu thực vật ở Việt Nam, nâng cao năng
lực cạnh tranh của ngành để phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới.
2. Đánh giá công nghệ sản xuất lúa, gạo tại các nướ cẤnĐộ, Thái Lan, Việt Nam thực
hiện bởi Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới.
Mục đích: Đánh giá công nghệ để kiểm soát hay điều chỉnh công nghệ.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp th giới là diễn đàn Quốc tế quan trọng về lương
thực và nông nghiệp, đồng thời tư vấn về chính sách trong phát triển nông thôn. ẤnĐộ,
Thái Lan và Việt Nam là 3 nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nên việc kiểm soát và
điều chỉnh công nghệ là hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng của lương thực và cải
thiện đời sống, điều kiện canh tác của nông dân các nước.
3. Đánh giá công nghệ sản xuất ô tô của hãng Toyota, Huyndai, Honda thực hiện bởi Bộ
Công thương Việt Nam.
Mục đích: Đánh giá công nghệ để chuyển giao hay áp dụng một công nghệ
Đánh giá công nghệ để kiểm soát hay điều chỉnh công nghệ.
Để xác định mặt mạnh mặt yếu của công nghệ sản xuất ô tô của doanh nghiệp so với các
doanh nghiệp cùng ngành từ đó có kế hoạch phát triển và đối sách phù hợp.
4. Đánh giá công nghệ sản xuất đường của nhà máy đường Lam Sơn được thực hiện
bởi doanh nghiệp đường Lam Sơn với sự tư vấn của Sở Kế hoạch và Công nghệ tỉnh
Thanh Hóa.
Mục đích: Đánh giá công nghệ để cung cấp một trong những đầu vào của quá trình ra
quyế tđịnh.
Ngành sản xuất mía đường là một ngành đang phát triển tại Việt Nam, điển hình là
Doanh nghiệp đường Lam Sơn. Tuy vậy, hiện nay trong ngành vẫn còn tồn tại nhiều bất
cập như nhà máy phải đóng cửa không thu mua mía của người dân. Chính vì vậy, Doanh
nghiệp phải đánh giá lại công nghệ của nhà máy để ra quyết định tốt hơn.
5. Đánh giá các công nghệ tế bào thực vật, công nghệ gen, công nghệ chế biến nông sản
thực phẩm.
Mục đích: Đánh giá công nghệ để chuyển giao hay áp dụng một công nghệ.
Vì Việt Nam là một nước đi sau, phát triển chậm hơn so với các nước phát triển khác trên
thế giới nên đất nước ta áp dụng những thành quả của công nghệ của các nước khác bằng
cách chuyển giao công nghệ, góp phần bắt kịp sự phát triển của công nghệ tế bào, công
nghệ gen, công nghệ chế biến nông sản của thế giới.
1
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 3
Xây dựng chiến lược công nghệ ở doanh nghiệp
1. Vai trò của chiến lược công nghệ đối với doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường:
Lựa chọn chiến lược công nghệ giúp doanh nghiệp đo lường hiệu quả của quá trình
kinh doanh then chốt.
Chiến lược công nghệ định hướng chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp
Chiến lược công nghệ hợp lý giúp doanh nghiệp thích ứng tốt với sự phát triển công nghệ
trên thị trường, góp phần tập trung nguồn lực mang lại hiệu quả cho hoạt động sản xuất – kinh
doanh.
Mối quan hệ giữa chiến lược công nghệ và chiến lược cạnh tranh:
Trong nền kinh tế thị trường, chiến lược công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc
định hướng chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp phát triển những
dây chuyền sản xuất lớn, họ có thể có những ưu thế về gía thành sản xuất do sản xuất quy mô
lớn. Họ hoàn toàn có thể áp dụng chiến lược dẫn dầu chi phí thấp và nhắm thị trường mục tiêu và
đa số khách hàng trên thị trường, những người ít nhiều thấy sự hấp dẫn do giá cả phải chăng của
doanh nghiệp mang lại.
Mặt khác, đối với các doanh nghiệp đầu tư vào các dây chuyền để tạo ra sản phẩm với
những tính năng đặc biệt, đột phá, họ sẽ có xu hướng theo đuổi chiến lược khác biệt hóa sản
phẩm và hướng thị trường mục tiêu của mình vào những nhóm khách hàng bị hấp dẫn bởi sự
khác biệt cho sản phẩm của họ.
2. Hãy lựa chọn sơ bộ chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nên lựa chọn chiến lược tập trung trọng điểm. Bởi vì:
- Doanh nghiệp Sao Sáng đang bị cạnh tranh gay gắt bởi những máy móc nông cụ có
tính năng vượt trội, giá thành hợp lý, do đó doanh nghiệp khó có thể theo đuổi chiến
lược chi phí thấp trong hoàn cảnh đang cần phải đổi mới.
- Tạo sự khác biệt đối với các dòng sản phẩm nông cụ là khó khăn, tốn kém nhiều thời
gian, chi phí, không khả dĩ trong tình trạng doanh nghiệp đang thua lỗ.
- Doanh nghiệp đang có lợi thế về địa bàn kinh doanh và uy tín với người nông dân so
với các doanh nghiệp khác, vì vậy chiến lược tập trung trọng điểm vào nhóm khách
2
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
hàng này là hợp lý, từ đó đề ra các phương án đổi mới công nghệ làm bàn đạp để
doanh nghiệp vượt qua khó khăn.
Lựa chọn phương án đổi mới cho doanh nghiệp (trên cơ sở phân tích giả định tình hình
doanh nghiệp).
Trước mắt, doanh nghiệp cần phải đổi mới sản phẩm của mình ngay lập tức. Sản
phẩm của doanh nghiệp đã trải qua một thời gian dài làm ăn phát đạt nên có thể thấy hiện
giờ sản phẩm đó đã lỗi thời. Do đó để chiếm lĩnh lại thị phần trên các sản phẩm này là
không khả thi. Việc thay đổi sản phẩm mới là con đường tất yếu mà doanh nghiệp sẽ phải
làm nếu muốn tồn tại. Việc đổi mới sản phẩm nông cụ sẽ là bàn đạp để doanh nghiệp có thể
tận dụng lợi thế cạnh tranh sẵn có (địa bàn thuận lợi, uy tín lâu đời với người nông dân),
mặt khác có thể thúc đẩy các hoạt động sản xuất – kinh doanh, giảm chi phí.
Với phương pháp đổi mới đã chọn thì quản lý đổi mới cụ thể như thế nào?
Doanh nghiệp có những chính sách để khuyến khích để các cá nhân trong doanh
nghiệp chấp nhận và tiến hành đổi mới trong tình trạng khó khăn. Đây là điều không dễ
nhưng là cần thiết bởi lẽ không phải ai cũng muốn và cũng có đủ trình độ để tham gia quá
trình này. Để làm được điều này, doanh nghiệp phải có kế hoạch tuyển dụng nhân sự có
trình độ, đồng thời cắt giảm nhân sự không cần thiết trong bộ máy cũ để tiết kiệm chi phí
cho việc đổi mới.
Bên cạnh đó là những chính sách đãi ngộ thích hợp để tăng động cơ làm việc sáng tạo,
giữ chân những người tài năng. Họ sẽ là nòng cốt cho việc củng cố doanh nghiệp, đưa doanh
nghiệp thoát khỏi khó khăn, giành lại thị phần đã mất.
Các nguồn lực cần thiết để đổi mới.
- Nguồn lực tài chính. Trong quá trình đổi mới sản phẩm sẽ kéo theo ít nhiều sự biến động
về quy trình sản xuất, công nghệ của doanh nghiệp nên chắc chắn nguồn lực tài chính là
cần thiết cho đầu tư thiết bị máy móc mới, tài sản cố định.
- Nguồn nhân lực. Cơ bản của quá trình đổi mới là con người. Cần tuyển dụng những
người có trình độ, giữ chân những người có khả năng, khuyến khích sự sáng tạo của họ.
- Thông tin. Cần có những thông tin chính xác về nhu cầu nông cụ cho các mô hình sản
xuất đặc thù (trang trại, cây dược liệu, cây cao sản…) và các thông tin về nguôn liệu, qui
trình, sản phẩm để có được sự đổi mới chính xác, đạt hiệu quả cao.
- Năng lực quản lý: để đảm bảo việc đổi mới hiệu quả thì năng lực quản lý phải thay đổi
phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của doanh nghiệp.
3
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 4
1. Chiến lược nhập công nghệ có danh tiếng
Trình độ công nghệ khai thác dầu của Việt Nam đang đạt ở mức tiên tiến
- Đây là dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong ngành khai thác và chế biến các sản
phẩm hóa dầu, dưới sự quản lý của chính phủ Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó công
nghệ này đang thuộc quyền sở hữu của Việt Nam.
- Về yếu tố máy móc thiết bị: Việt Nam đang sở hữu dây chuyền máy móc tiên tiến từ Nga
- Về yếu tố con người: Đa phần cán bộ công nhân viên là người Việt Nam được đào tạo để có
thể vận hành được dây chuyền này, vì vậy chúng ta hoàn toàn có tri thức để làm chủ công
nghệ được chuyển giao.
Khi các chuyên gia và cán bộ kỹ thuật Nga về nước thì việc tiếp nhận và vận hành công nghệ
khai thác dầu thì phía Việt Nam hoàn toàn có khả năng đảm nhiệm được công nghệ này.
- Việt Nam và Nga đã có hợp tác trong nhiều năm đối với lĩnh vực khai thác và chế biến dầu,
nhiều cán bộ, công nhân viên người Việt đã được đào tạo và vận hành dây chuyền công nghệ
trong thời gian dài cùng với sự hướng dẫn và giám sát của các kĩ sư Nga.
- Chuyển giao công nghệ không có nghĩa chỉ là máy móc thiết bị mà còn là kiến thức, kỹ năng
về công nghệ. Khi đã sở hữu nền tảng kỹ thuật, chúng ta có thể tiếp nhận và vận hành dây
chuyền bình thường.
Hiệu quả việc tiếp nhận dự án
Việc tiếp nhận dự án sẽ đạt hiệu quả cao vì những lí do sau:
- Cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng công nghệ ở Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện, do đó việc
tiếp nhận dự án sẽ có được nhiều thuận lợi về mặt khách quan.
- Việc chuyển giao công nghệ được tiến hành trong thời gian dài kết hợp công tác đào tạo
nguồn nhân lực nên chúng ta có đủ khả năng tiếp nhận, vận hành dây chuyền công nghệ.
- Chính sách của Việt Nam là tăng cường công nghiệp hóa vì vậy những công nghệ này sẽ
được chú trọng và phát triển.
2. Chiến lược sử dụng công nghệ bản xứ
Căn cứ vào tình hình thực tế, Việt Nam không nên lựa chọn việc nghiên cứu tại Việt Nam
cho tình huống trên vì:
- Mặt dù ngành điện – điện tử Việt Nam đã có những bước phát triển trong những năm gần
đây song phần lớn là nhờ sự đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài như Sony, Sanyo,
JVC, LG, Toshiba, Panasonic…
- Mặc dù nhà nước có những chính sách trọng điểm để phát triển ngành điện – điện tử Việt
Nam nhưng các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn không chú trọng vào công tác nghiên cứu
phát triển mà chạy theo lợi nhuận trước mắt, nhập khẩu linh kiện để bán ra thị trường. Do đó
trình độ nghiên cứu của ta là không đủ để phát triển ngành.
4
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
- Việc sử dụng vốn đầu tư và quản lý kinh tế lỏng lẻo. Con số thực tế cho việc tự nghiên cứu
có thể lớn hơn 200.000USD. Hơn nữa thời gian nghiên cứu và hoàn vốn dài (tổng cộng là 7
năm) khiến cho nhà nước sẽ phải chịu chi phí vốn lớn, khả năng có lãi thấp.
- Đối với ngành điện – điện tử là ngành phát triển rất nhanh và mạnh trên thế giới, nên công
nghệ do chúng ta nghiên cứu và áp dụng sau 2 năm có thể đã tụt hậu so với thế giới.
Do đó chúng ta nên chọn Nhật Bản để chuyển giao công nghệ vì những lí do sau:
- Tuy có chi phí chuyển giao và vận hành cao (500.000USD) nhưng thời gian để đưa công
nghệ vào sử dụng ngắn (6 tháng) thích hợp với ngành mà công nghệ phát triển nhanh.
- Nếu sử dụng công nghệ thành công sẽ là bàn đạp cho ngành nghiên cứu trong nước phát
triển vì chỉ khi trình độ công nghệ bắt kịp với thế giới thì nghiên cứu mới có thể phát triển
ổn định.
- Có thể thu hồi vốn nhanh nếu có những chính sách hợp lý
3. Chiến lược định hướng công nghệ nhập
Định hướng công nghệ cho từng ngành theo mục tiêu phát triển, tiếp thu và làm chủ
công nghệ.
- Công nghiệp chế biến thực phẩm
Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Việt Nam đang phát triển mạnh, không chỉ thỏa mãn
nhu cầu nội địa và còn đang là ngành xuất khẩu mạnh. Ưu thế của công nghiệp chế biến nông,
lâm, thuỷ sản là có nguồn nguyên liệu tại chỗ phong phú. Việc định hướng thực hiện ba chương
trình kinh tế (sản xuất lương thực, thực phẩm ; sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) tạo
điều kiện cho ngành này có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Đây là ngành công nghiệp mà Việt Nam đang có thế mạnh với giá trị xuất khẩu lớn, tạo
được thương hiệu trong và ngoài nước và đang là ngành công nghiệp trọng điểm. Vì vậy định
hướng phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm như sau:
Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của một số sản
phẩm, nhóm sản phẩm trọng điểm quốc gia.
Xúc tiến thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ .
- Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng là ngành công nghiệp trọng điểm ở nước ta
bởi sự thích hợp với một nền kinh tế đang phát triển. Với thị trường trong nước đông dân cư là
nơi tiêu thụ rộng lớn cho các mặt hàng tiêu dùng. Bên cạnh đó ngành còn mang lại nguồn lợi
kinh tế cao bởi các chi phí nguyên liệu, nhân công thấp tạo điều kiện thu hồi vốn nhanh. Đối với
ngành này, định hướng công nghệ như sau:
5
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của một số sản
phẩm, nhóm sản phẩm trọng điểm quốc gia.
Đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn đo
lường chất lượng sản phẩm.
- Công nghiệp khai thác khoáng sản
Ở Việt Nam, ngành khai khoáng là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng GDP lớn, và
cũng là một trong những ngành công nghiệp gây nhiều tác động nhất đến môi trường và xã hội.
Bên cạnh những mặt tích cực như xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
và cải thiện cơ sở hạ tầng còn có nhiều hạn chế về môi trường, đời sống dân cư, an ninh trật tự,
việc làm và sức mạnh nền kinh tế. Do đó, ngành phát triển theo hướng:
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý khoa học và phát triển
công nghệ.
Ưu tiên đảm bảo các nguồn lực tài chính, đặc biệt là kinh phí sự nghiệp khoa học và
công nghệ và kinh phí của các doanh nghiệp cho hoạt động hội nhập quốc tế về khoa
học và công nghệ; có cơ chế chi tiêu phù hợp cho các hoạt động khoa học và công nghệ
được triển khai trong nước và ngoài nước.
- Công nghiệp chế tạo máy
Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc tiến hành công nghiệp hóa theo con
đường phát triển các ngành công nghiệp nặng gặp nhiều khó khăn do hạn chế về trình độ nghiên
cứu cũng như cần vốn đầu tư lớn. Do đó đối với ngành Công nghiệp chế tạo máy, hướng phát
triển như sau:
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý khoa học và phát triển
công nghệ.
Tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho một số tổ chức khoa học và công nghệ
đạt trình độ quốc tế
Huy động có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho hoạt động hội nhập quốc tế về khoa
học và công nghệ
Tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 5
Lựa chọn công nghệ
I. Tình huống 1
6
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
Doanh nghiệp Sony đã lựa chọn được công nghệ thích hợp căn cứ vào các lý do sau:
Tại thời điểm hãng Western Electric bán bản quyền phát minh transitor, không có
doanh nghiệp nào ở cả Mỹ và Nhật Bản quan tâm. Masaru Ibuka đã định hướng được sự phát
triển của công nghệ nên mua bản quyền phát minh này.
Ông đã ý thức rõ được những lợi ích mà phát minh mang lại:
a) Lợi ích khi ứng dụng công nghệ tiên tiến: Transitor là một phát minh có tầm đột phá quan
trọng, hiện nay phát minh này vẫn được sử dụng rộng rãi trong chế tạo các thiết bị điện
tử. Ông Ibuka đã ý thức được điều đó trước các doanh nghiệp khác tại cả Mỹ và Nhật
Bản.
b) Định hướng được phát triển của công nghệ
- Công nghệ chất bán dẫn đã đưa đến thành công cho doanh nghiệp vì từ đó có thể cho ra
đời hàng loạt sản phẩm như Radio bỏ túi hay các đồ điện dân dụng khác
- Đây là 1 cuộc cách mạng trong công nghệ sản xuất đồ điện dân dụng trong đó sản phẩm
Radio bỏ túi có thế là sản phẩm có tính đột phá nhất vì sản phẩm cực kì tiện lợi vào thời
bấy giờ khi hầu hết người dân nghe đài để cập nhật tin tức. Sản phẩm đã đem lại cho
người sử dụng cuối cùng lợi ích to lớn, tiện dụng khi họ có khả năng nghe đài mọi lúc
mọi nơi
II. Tình huống 2
a) Phân tích
Bốn công nghệ đã nêu trên đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng, bao gồm:
- Trường hợp 1 : Nhập toàn bộ công nghệ cũng như dịch nho khô từ Pháp về nước sản xuất
Trường hợp này, doanh nghiệp có thể khá yên tâm về quá trình sản xuất cũng như
chất lượng thành phẩm. Thế nhưng khi nhập khẩu toàn bộ công nghệ sản xuất cũng như
nguyên liệu chính từ nước ngoài sẽ làm chi phí sản xuất rượu khá lớn dẫn đến khó tiếp
cận người tiêu dùng. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro như phụ thuộc khá
nhiều vào doanh nghiệp của Pháp và khả năng bảo quản dịch nho khô tại cơ sở sản xuất.
- Trường hợp 2: Công nghệ do chuyên gia Việt Nam nghiên cứu, nguyên liệu sẵn có không
cần nhập khẩu
Trường hợp này, doanh nghiệp có thể giảm đáng kể chi phí sản xuất to công nghệ
và nguyên liệu đều sẵn có. Thế nhưng do đây là loại rượu mới nên công nghệ sản xuất
rượu chưa phổ biến, chưa qua sự kiểm định lâu dài của thị trường. Vì vậy, khả năng rủi ro
khi sử dụng công nghệ trong nước là khá cao. Ngoài ra, phải xét đến khả năng nguyên
liệu trong nước không thích hợp với công nghệ này.
- Trường hợp 3: Công nghệ sản xuất và kĩ thuật trồng nho được áp dụng thành công tại các
nước nhiệt đới, được chuyển giao bởi chuyên gia Pháp
Trường hợp này rủi ro được hạ xuống mức thấp nhất khi công nghệ và kĩ thuật
trồng đã được áp dụng thành công trước đó tại các quốc gia có điều kiện khí hậu, thổ
7
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
nhưỡng tương tự nước ta. Trong khi đó, doanh nghiệp có thể đầu tư 1 lần nhập công nghệ
về nước nhưng sau thời gian học hỏi kinh nghiệm cùng với kĩ thuật trồng nho, doanh
nghiệp có thể tự chủ được hoàn toàn cả công nghệ lẫn nguyên liệu đầu vào của sản phẩm
- Trường hợp 4 : Doanh nghiệp tự bỏ chi phí ra nghiên cứu công nghệ sản xuất
Khi sử dụng cách này, doanh nghiệp đã lựa chọn sự rủi ro khá lớn. Chi phí nghiên
cứu công nghệ là cực kì cao trong khi không thể nắm chắc 100% sẽ thành công.
b) Đề xuất: Để tránh tối đã rủi ro, doanh nghiệp nên áp dụng công nghệ trường hợp 3
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 6
Sở hữu trí tuệ
I. Tình huống 1
- Trường hợp 1 : doanh nghiệp ở Anh đã vi phạm tiêu chí bản quyền
Doanh nghiệp Nhật Bản đã nghiên cứu và phát triển chương trình với giá trị rất
lớn, tạo ra sản phẩm bán với giá 500 đô la. Doanh nghiệp ở Anh sao chép lại chương
trình nên vi phạm tiêu chí bản quyền.
Các tuyển tập các tác phẩm văn học nghệ thuật, chẳng hạn như các bộ bách khoa
từ điển và các hợp tuyển, nhờ phương pháp chọn lọc và kết cấu tư liệu mà tạo thành một
sáng tạo trí tuệ, cũng được bảo hộ như một tác phẩm mà không phương hại đến quyền tác
giả của các tác phẩm tạo nên các hợp tuyển này.
Doanh nghiệp ở Anh không có quyền sao chép cũng như bán chương trình ra thi
trường. Doanh nghiệp ở Anh không có quyền thu bất cứ khoản lợi nào từ chương trình
dưới mọi hình thức. Mọi giá trị mà chương trình mang lại đều thuộc về doanh nghiệp
Nhật Bản
- Trường hợp 2:
Doanh nghiệp A ở Ấn Độ đã đầu tư công sức soạn thảo từ điển, doanh nghiệp B
sao chụp lại và bán trên thị trường. Doanh nghiệp B không có quyền sao chép và thu lợi
từ từ điển vì đây là sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp A.
Ngoài ra, doanh nghiệp B sao chép lại tạo nên sản phẩm kém chất lượng, hàng
giả, hàng nhái, bôi nhọ thanh danh của doanh nghiệp A, giảm giá trị sử dụng của sản
phẩm. Doanh nghiệp B đã vi phạm tiêu chí nhãn hiệu hàng hoá.
- Trường hợp 3: Doanh nghiệp tư nhân đã vi phạm tiêu chí nhãn hiệu hàng hoá và bằng
sáng chế.
Doanh nghiệp tư nhân đã ăn cắp mẫu mã của Thuỵ Sỹ, ghi cả tên nhà sản xuất,
sản xuất hàng giả với chất lượng kém: chỉ sử dụng kim loại mạ vàng chứ không phải
vàng 18 cara nên vi phạm quyền sở hữu nhãn hiệu của doanh nghiệp Thuỵ Sỹ
8
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
- Trường hợp 4: Doanh nghiệp đã vi pham quyền sở hữu nhãn hiệu vì nhãn hiệu quần áo
Sport đã đc quảng cáo rộng rãi trên thị trường nên ai cũng biết đến, sẽ dễ bán được sản
phẩm hơn. Ngoài ra, doanh nghiệp đã coppy mẫu mã của hãng để bán thu lợi bất chính
nên vi phạm cả quyền sở hữu bằng sáng chế.
II. Tình huống 2
Trường hợp là sở hữu trí tuệ bao gồm
- TH 3: quy trình sản xuất rau sạch đã được cấp bằng sáng chế
Thuộc loại quyền sở hữu Bằng sáng chế
- TH 4: Các vở kịch vủa Sechpia nhà văn nước Anh
Thuộc loại quyền sở hữu Bản quyền
Cho dù thời hạn bảo hộ theo Công ước Bern sẽ là suốt cuộc đời của tác giả và
năm mươi năm sau khi tác giả chết nhưng quyền sở hữu trí tuệ vẫn luôn luôn thuộc về tác
giả.
- TH 5: Một sáng chế cải tiến máy vô tuyến điện
Thuộc loại quyền sở hữu Bằng sáng chế
- TH 6: Công nghệ sản xuất nước uống có ga cao cấp
Thuộc loại quyền sở hữu Bí mật thương mại
- TH7: Album mới nhất của nhóm nhạc The Bell vừa mới phát hình
Thuộc loại quyền sở hữu Bản quyền
Khi sản xuất album nếu bài hát không phải của ban nhạc sáng tác thì ban nhạc sẽ
phải mua bản quyền mới đc biểu diễn
Các cá nhân, tổ chức khác không được phép sử dụng các bài hát của ban nhạc nếu
không được sự cho phép
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 7
Hợp đồng chuyển giao công nghệ
Các công trình xây dựng cơ bản là các công trình hạ tầng kỹ thật , hạ tầng cơ sở kinh tế -
Xã hội có tính chất xây dựng như : XD công trình giao thông , thủy lợi thủy điện, cầu cảng , xây
dựng nhà cửa , công sở , nhà máy phục vụ sản xuất phát triển kinh tế ; các công trình phúc lợi xã
hội như nhà văn hóa công viên rạp chiếu phục vụ phát triển của xã hội . Như vậy XDCB có đặc
thù riêng đó là lợi nhuận của nó phục vụ cho mọi người , mọi ngành trong xã hội , nguồn vốn
đấu tư lớn cần có sự đầu tư của nhà nước.
Nội dung của lập dự án chuyển giao công nghệ bao gồm các bước:
9
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
1. Mục tiêu:
- Tính tất yếu của việc nhập công nghệ:
Nhờ việc áp dụng công nghệ, các dự án thuộc lĩnh vực BCVT của doanh nghiệp ngày càng
phát triển, đã rút ngắn khoảng cách về thời gian và đạt mức chính xác cao. Thêm vào đó, đội
ngũ cán bộ trẻ có trình độ tin học cao trong doanh nghiệp có thể thực hiện được công tác
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản nhiều dự án hơn, tiết kiệm được 1 lượng kinh phí lớn cho
doanh nghiệp, không phụ thuộc vào các doanh nghiệp tư vấn…; rút ngắn khoảng cách công
nghệ với khu vực, tạo điều kiện trao đổi và phát triển đồng đều với các quốc gia trên thế giới,
tạo sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
- Các căn cứ: quan điểm, đường lối của Đảng: công nghiệp hóa- hiện đại hóa của đất nước;
Điều 32, 33, 34 Luật Chuyển giao công nghệ…
2. Xác định các nguồn lực
- Đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ tin học cao, có chuyên môn tốt, ham học hỏi tìm kiếm
công nghệ mới.
- Nguồn vốn: dự tính lượng vốn dưới 15 tỷ đồng
Phương án huy động vốn: ngân sách nhà nước, vốn chủ đầu tư, vốn vay…
3. Sơ đồ phương án nhập
- Địa điểm: tập đoàn BCVT Việt Nam 57 Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội
- Quy mô: lớn, sử dụng rộng rãi trong tập đoàn.
4. Nghiên cứu thị trường công nghệ nhập
- Hiện trạng công nghệ liên quan trên thế giới:
+ Công cụ phát triển phần mềm Visual Studio Dot Net 2005; Ứng dụng Web base,
ASP.NET; Hệ quản trị Cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server 2000/2005
+ Phần mềm LifeAIIM : quản lý đầu tư, quản lý oto, quản lý công trình, quản lý hợp
đồng, quản lý thầu, quản lý kho, quản lý tài sản…
- Đề xuất nguồn cung cấp công nghệ: Các công ty trong nước như Lạc việt, lieftek ; Các
công ty từ Mỹ, Singapore, Nhật
5. Dự báo sơ bộ hiệu quả kinh tế- xã hội
- Đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả:
+ Kinh phí
+ Tính chính xác
+ Thời gian
+ Số lượng dự án
…
- Dự kiến sẽ đạt được: tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả làm việc, rút ngắn thời gian
10
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 8
Doanh nghiệp Pin Hà nội có dây chuyền thiết bị công nghệ lạc hậu, không đồng bộ dẫn đến chất
lượng sản phẩm kém, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao. Để thay đổi quá trình sản xuất
kinh doanh, doanh nghiệp dự kiến nhập dây chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến cùng bí quyết công nghệ
của Trung quốc.
Để đánh giá hiệu quả của quá trình chuyển giao công nghệ mới so với công nghệ cũ yêu cầu bộ phận
tiếp nhận công nghệ thực hiện các công việc sau:
- Phân tích thực trạng công nghệ của doanh nghiệp
- Phân tích công nghệ mới và ảnh hưởng của nó
- Đánh giá quá trình chuyển giao công nghệ
Phân tích thực trạng công nghệ của doanh nghiệp
Từ trước tới nay, ngành pin Việt Nam nói chung và Pin Hà nội nói riêng đều sử dụng công nghệ pin
chưng hồ điện để sản xuất pin. Công nghệ này có ưu điểm là:
- Đơn giản, dễ chế tạo
- Tính năng điện của pin tương đối ổn định
- Giá thành thấp
Tuy nhiên công nghệ này cũng có nhược điểm:
- Dây chuyền sản xuất có nhiều công đoạn khiến cho năng suất lao động thấp
- Chi phí cho 1 đơn vị điện lượng cao
- Khả năng cơ giới hóa, tự động hóa thấp, mặt bằng sản xuất lớn.
- Môi trường sản xuất luôn ẩm ướt
Phân tích công nghệ mới và ảnh hưởng của nó
Hiện nay hàng ngoại ồ ạt đổ vào với giá rẻ, sản xuất trong nước bị điêu đứng. Với dây chuyền công
nghệ tiên tiến mới là sản xuất pin bằng giấy tẩm bổ và công nghệ sản xuất pin kiềm, doanh nghiệp sẽ có
được những ưu điểm là:
- Pin có dung lượng lớn hơn dung lượng pin hồ điện
- Dây chuyền sản xuất ngắn gọn
- Khả năng cơ giới hóa, tự động hóa cao, mặt bằng sản xuất nhỏ gọn
- Môi trường sản xuất khô ráo, sạch sẽ
- Thời gian bảo quản pin dài, an toàn cho các thiết bị phụ tải
Đánh giá quá trình chuyển giao công nghệ:
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 9
Tình huống 1:
11
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
Trong trường hợp doanh nghiệp Online vừa muốn sử dụng nhãn hiệu Nokia, vừa muốn
có sản phẩm do mình thiết kế, doanh nghiệp Online cần mua lại công nghệ sản xuất điện thoại
của Nokia và phải đàm phán cho đến khi nhận được sự đồng ý của Nokia về việc thiết kế sản
phẩm của mình. Doanh nghiệp Nokia có thể cử người giám sát quy trình sản xuất điện thoại sử
dụng công nghệ đã được chuyển giao từ Nokia sang Online để đảm bảo rằng các sản phẩm được
sản xuất ra không có bất cứ khuyết điểm và thiếu sót nào ảnh hưởng đến uy tín và nhãn hiệu của
Nokia.
Quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng:
- Doanh nghiệp Online có quyền sử dụng hoàn toàn công nghệ đã được bên doanh nghiệp
Nokia chuyển giao theo những điều khoản của hợp đồng. Đó có thể là việc được cung
cấp những tài liệu hướng dẫn hoặc việc đào tạo nhân viên do bên Nokia đảm nhiệm
- Doanh nghiệp Nokia sẽ nhận được một khoản tiền thanh toán theo thỏa thuận với doanh
nghiệp Online cho một giai đoạn nhất định theo những điều khoản đã được thỏa thuận ghi
trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng:
Các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ phải thực hiện đúng tất cả những thỏa thuận và những
điều khoản thỏa thuận đã được ghi trong hợp đồng. Bên phía doanh nghiệp Nokia có nghĩa vụ
cung cấp những tài liệu hướng dẫn hoặc chịu trách nhiệm đào tạo nhân viên của doanh nghiệp
Online … Ngược lại bên phía doanh nghiệp Online có nghĩa vụ bảo mật, không được tiết lộ công
nghệ đã được chuyển giao cho bên khác.
Tình huống 2:
Với tư cách là đại diện doanh nghiệp bia Halida, việc quyết định mua công nghệ sản xuất
bia của Heniken là thực sự cần thiết. Vì doanh nghiệp bia Heniken là một doanh nghiệp sản xuất
bia có tiếng, được nhiều người biết đến và tiêu dùng, thêm vào đó, công ty bia Heniken còn rất
chú trọng vào khâu quảng cáo nên sản phẩm của Heniken có thể nói là sản phẩm bán chạy nhất
trong ngành công nghiệp sản xuất bia hiện nay. Ngược lại, doanh nghiệp bia Halida chỉ là một
doanh nghiệp có ít tiếng tăm hơn Heniken và sản phẩm không được ưa chuộng bằng. Sau khi
mua công nghệ sản xuất từ Heniken, dưới sự hướng dẫn sử dụng công nghệ và kiểm soát chặt
chẽ, Heniken cam đoan rằng sẽ giúp Halida trong việc sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao.
Từ đó, việc sử dụng nhãn hiệu Heniken sẽ đem lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp bia Halida và
lớn hơn chi phí mà Halida sẽ phải bỏ ra để có thể sử dụng nhãn hiệu hàng hóa. Halida sẽ có sẵn
nguồn tiêu thụ là những khách hàng trung thành với sản phẩm bia Heniken và thị trường tiêu thụ
này vô cùng tiềm năng. Việc kí hợp đồng này sẽ đem lại lợi ích cho cả hai doanh nghiệp Heniken
và Halida.
12
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 10
Trong trường hợp này, nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp đá quý JCS- American sẽ
không được luật pháp bảo hộ. Vì nhãn hiệu JCS- American không được đăng ký, tức là nhãn
hiệu này không có giá trị và không được pháp luật bảo hộ, người chủ sở hữu nhãn hiệu này
không có quyền cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của họ.Thêm vào đó, doanh nghiệp này
muốn thành lập thêm chi nhánh ở nước Mỹ, theo luật pháp, một doanh nghiệp muốn đăng kí
nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài thì phải đăng kí nhãn hiệu hàng hóa ở trong nước trước nhưng
doanh nghiệp đá quý JCS thậm chí còn không được đăng kí ở trong nước. Nên doanh nghiệp này
sẽ không có quyền khởi kiện khi tìm thấy những đồ trang sức giả mang nhãn hiệu hàng hóa của
họ. Theo luật pháp, nhãn hiệu hàng hóa JCS- American không thuộc về bất cứ doanh nghiệp nào
vì chưa có ai đăng kí sử dụng nhãn hiệu hàng hóa này.
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 11
6. Tình huống 1
• Việc Doanh nghiệp thực phẩm đa quốc gia Visan của Việt Nam nộp đơn xin bằng
sáng chế mà không có ý định sử dụng tại Anh vẫn được coi là hợp pháp. Vì
doanh nghiệp xin bằng sáng chế để bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ của mình, không
bị ăn cắp. Nhưng như vậy người sáng chế đã vi phạm trách nhiệm của người có
bằng sáng chế: Sử dụng sáng chế ở nước đã đăng kí bằng sáng chế.
• Nếu một doanh nghiệp ở Anh bắt đầu sử dụng quy trình của doanh nghiệp thực
phẩm Visan một năm sau khi cấp bằng sáng chế thì Doanh nghiệp Visan có thể
đưa ra tòa để yêu cầu cấm sử dụng.
Vì Doanh nghiệp thực phẩm Visan đã nhận bằng sáng chế tại Anh, theo luật của
WIPO quy định : Người có bằng sáng chế có quyền sử dụng hợp pháp để chống
lại bắt cứ ai sử dụng bằng sáng chế mà không được phép trong thời gian bảo hộ.
Doanh nghiệp sử dụng quy trình của Doanh nghiệp thực phẩm Visan mà không
được Doanh nghiệp thực phẩm Visan cho phép là vi phạm pháp luật.
• Doanh nghiệp thực phẩm Visan có thể bán bằng sáng chế của họ cho doanh
nghiệp ở Anh.
Theo luật của WIPO quy định: Người có bằng sáng chế có quyền chuyển nhượng,
bán bằng sáng chế hoặc cho thừa kế.
• Doanh nghiệp thực phẩm Visan có thể cấp Lixăng cho doanh nghiệp ở Anh.
Theo luật của WIPO quy định : Người có bằng sáng chế có quyền cấp Lixăng cho
người khác.
• Theo luật sau 2 năm Doanh nghiệp thực phẩm Visan mới hoàn thành trách nhiệm
của họ là vẫn được.
• Theo luật, sau 6 năm Doanh nghiệp thực phẩm Visan mới hoàn thành trách nhiệm
của họ là vẫn được.
13
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
7. Tình huống 2
• Phương án 1 :Ông có thể xin bằng sáng chế ở các nước có nền công nghiệp phát
triển. Khi đó ông có thể nhập khẩu máy của Ông vào các nước này và bán chúng.
Ưu điểm:
John Smith sẽ không bị ăn cắp phát minh tại các nước này do đó
sản phẩm của ông có lợi thế khác biệt, có thể đem lại doanh số và
lợi nhuận cao.
Việc nhập khẩu máy của mình vào các nước này và bán chúng
khiến ông có nhiều cơ hội để tiếp tiếp xúc với nhiều khách hàng,
cũng như sẽ nhiều khách hàng biết đến sản phẩm của ông.
Nhược điểm:
Chi phí để xin bằng sáng chế tại những nước này là lớn.
Việc nhập khẩu khiến giá thành sản phẩm sẽ rất cao, và là trở ngại
cho khách hàng khi có ý định mua.
• Phương án 2 :Ông có thể xin bằng sáng chế ở các nước có nền công nghiệp phát
triển. Khi đó Ông có thể cấp Lixăng cho các nhà sản xuất tại địa phương ở các
nước sản xuất loại máy của ông.
Ưu điểm:
John Smith sẽ không bị ăn cắp phát minh tại các nước này do đó
sản phẩm của ông có lợi thế khác biệt, có thể đem lại doanh số và
lợi nhuận cao.
Ông không phải tham gia trực tiếp sử dụng sáng chế của mình mà
vẫn nhận được một khoản tiền ( giá trị của khaonr tiền này có thể
cao hơn giá trị ông nhận được nếu tự mình sản xuất do có quy mô
và cách thức sản xuất, tiêu thụ hiệu quả hơn)
Nhược điểm:
Chi phí để xin được bằng sáng chế tại những nước này là lớn.
Ông chỉ nhận được một khoản tiền hoặc giá trị vật chất khác nhỏ
hơn giá trị thực tế mà sáng chế của ông mang lại.
Có thể các nhà sản xuất tại các nước này không có hứng thú với
công nghệ của ông.
• Phương án 3 :Ông có thể xin bằng sáng chế ở các nước có nền công nghiệp phát
triển. Khi đó Ông có thể tự sản xuất máy của Ông ở từng nước.
Ưu điểm:
John Smith sẽ không bị ăn cắp phát minh tại các nước này do đó
sản phẩm của ông có lợi thế khác biệt, có thể đem lại doanh số và
lợi nhuận cao.
Ông tự sản xuất máy của ông ở từng nước do đó sẽ có rất nhiều cơ
hội và khách hàng tiềm năng.
Tiết kiệm được thuế nhập khẩu.
Nếu kế hoạch tốt và thuận lợi thì khả năng sinh lời sẽ cao.
Nhược điểm:
Chi phí để xin bằng sáng chế lớn.
14
Nhóm 3 – D11QT3 Bài tập tình huống môn Quản trị công nghệ
Phải nghiên cứu để thâm nhập vào thị trường mới.
Rủi ro cao.
• Phương án 4 :Ông có thể xin bằng sáng chế ở các nước có nền công nghiệp phát
triển. Điều đó giúp Ông chống lại tệ ăn cắp phát minh của ông tại nước này. Khi
đó Ông có thể không cần sử dụng bằng sáng chế.
Ưu điểm:
John Smith sẽ không bị ăn cắp phát minh tại các nước này do đó
sản phẩm của ông có lợi thế khác biệt, có thể đem lại doanh số và
lợi nhuận cao.
Nhược điểm:
Không sử dụng bằng sáng chế, Ông John Smith đã vi phạm Trách
nhiệm của một người có bằng sáng chế. Theo quy đinh: Nếu có
dấu hiệu cho thấy một nhà sáng chế không còn hoạt động gì để
hoàn thiện sáng chế của họ, trong khi có nhà sáng chế khác sau đó
tiếp tục hoàn thiện sáng chế này, bằng sáng chế có thể được
chuyển giao cho nhà sáng chế sau chứ không phải là nhà sáng chế
đầu.
Không mang lại lợi ích kinh tế hay xã hội nào.
• Phương án 5 : Ông ta dự kiến ở từng nước đang phát triển, chi phí nộp đơn cho
việc cấp Lixăng bằng sáng chế là cao, trong khi lợi nhuận tiềm năng thì nhỏ, ở
một số nước Ông sẽ thu được lợi nhuận, ở một số nước Ông chỉ hoà vốn, ở một số
nước ông sẽ bị lỗ. Vì vậy Ông quyết định không nộp đơn xin bất cứ bằng sáng
chế nào ở các nước đang phát triển.
Ưu điểm:
Phương án này giúp Ông tránh được nhiều rủi ro.
Nhược điểm:
John Smith sẽ bị mất những cơ hội và khách hàng tiềm năng ở các
nước đang phát triển,
John Smith có khả năng sẽ bị ăn cắp phát minh sáng chế tại các
nước này để phục vụ cho nước họ.
Phương án tối ưu nhất cho ông John Smith: Phương án 3
John Smith là kỹ sư chế tạo máy, ông có khả năng tự sản xuất máy của mình, do đó
phương án này vừa tiết kiệm chi phí, lợi nhuận đem lại cũng rất cao, tuy nhiên ông đòi
hỏi phải có kế hoạch cụ thể đồng thời tìm hiểu rõ thị trường thâm nhập.
Phương án tốt nhất cho các nước đang phát triển: Phương án 2
John Smith không bị ăn cắp phát minh sáng chế tại các nước này trong khi đó vẫn thu
được giá trị tiền hoặc vật chất do sáng chế mang lại mà không cần chịu rủi ro kinh doanh.
15