Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
NGUỒN: TỔNG CỤC THỐNG KÊ NGHỆ AN
79
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR : Hệ số sử dụng vốn
SNA : Hệ thống tài khoản quốc gia
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
ODA : Viện trợ chính thức
KH&CN : Khoa học công nghệ
ATK : Vùng an toàn khu
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
NSNN : Ngân sách nhà nước
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
BT : Xây dựng - Chuyển giao
BOT : Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao
PPP : Hợp tác nhà nước - tư nhân
PIP : Chương trình đầu tư công cộng
GPMB : Giải phóng mặt bằng
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
I. BẢNG
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của tỉnh Nghệ An đã đạt được nhiều
bước phát triển đáng kể. Kết quả của công cuộc đổi mới đã nâng cao thu nhập, chất
lượng đời sống của người dân, cải thiện bộ mặt chung của cả xã hội. Để đạt được
những thành tựu này, bên cạnh kết quả sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh
tế còn có phần đóng góp rất lớn từ các chính sách điều hành, quản lý nhà nước của
các cơ quan hành chính, hoạt động sử dụng vốn đầu tư phát triển vào các lĩnh vực
phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong những chính chính sách, công cụ điều
hành này, đầu tư công chiếm vai trò vô cùng cần thiết vì đây là công cụ khắc phục
các hạn chế của kinh tế thị trường, là đòn bẫy kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư từ
các khu vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế, đồng thời còn giúp phát triển các mặt về xã hội mà các thành phần kinh tế
tư nhân thường ít khi tham gia. Mặc dù có những thành công và đóng góp tích cực
vào sự phát triển kinh tế - xã hội không thể phủ nhận, đầu tư công của tỉnh Nghệ An
vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Còn tồn tại nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô
cần tiếp tục nghiên cứu, từ việc xác định tỷ trọng hợp lý của đầu tư trong GDP và
ngân sách của tỉnh, đến việc lựa chọn và quyết định dự án, chương trình đầu tư, xác
định cơ cấu đầu tư, chủ đầu tư, tổ chức thực hiện đầu tư, giám sát và đánh giá hiệu
quả của đầu tư. Hiệu quả thấp trong đầu tư công cũng được nói đến rất nhiều trong
thời gian qua. Không ít hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực đầu tư công diễn ra rất
nghiêm trọng và gây ra mối quan ngại về tính hiệu quả của đầu tư công như lãng
phí, tham nhũng, đầu tư dàn trải, đầu tư không đúng mục tiêu… Tất cả những vấn
đề này bắt nguồn cả từ thể chế phân bổ và quản lý đầu tư công chưa hoàn thiện, lẫn
từ sự yếu kém của cơ quan quản lý.
Việc nghiên cứu đầu tư công của tỉnh Nghệ An, đặc biệt trong bối cảnh hiện
nay, có ý nghĩa cả về lý thuyết và thực tiễn. Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thực tiễn
đầu tư công của tỉnh để thấy được điểm yếu, rút ra những bài học và đề xuất cơ sở
khoa học cho việc hoạch định chính sách đầu tư công và hoàn thiện cơ chế quản
lý.Vì vậy em chọn đề tài “Đầu tư công tại tỉnh Nghệ An - Thực trạng và giải pháp”
làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Chuyên đề nhằm đóng
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
1
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
góp một số ý kiến về đầu tư công trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội mới gắn
với thực tiễn tại tỉnh Nghệ An.
Bố cục Chuyên đề chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư công
Chương 2: Thực trạng đầu tư công tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008 - 2011
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công trong mô
hình tăng trưởng kinh tế mới ở tình Nghệ An.
Trong thời gian thực tập tại Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An, là một sinh
viên năm cuối đang trong quá trình tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm thực tế em
nhận thấy đây là môi trường để em có thể trau dồi những lý thuyết đã được học trên
giảng đường và có cơ hội áp dụng vào thực tế. Qua đó em sẽ có được những kinh
nghiệm thực tế quý báu, cần thiết và rất hữu ích sau khi ra trường. Do thời gian
nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, nên chuyên đề này không tránh khỏi
những thiếu sót. Em xin chân thành cảm ơn Th.s Nguyễn Thị Thu Hà và các cán bộ
của phòng Trung tâm xúc tiến Đầu tư và Tư vấn phát triển - Sở Kế hoạch và Đầu tư
tỉnh Nghệ An đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
2
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Đầu tư
Theo cách hiểu thông thường, đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở
hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục
tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh
về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất
khác, là sức lao động. Biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi
là vốn đầu tư.
Những kết quả đạt được có thể là tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản
vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá,
chuyên môn, khoa học kỹ thuật…), và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với
năng suất lao động và hiệu suất công tác cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư được hiểu là tăng vốn (tư bản) nhằm tăng
cường năng lực sản xuất trong tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là tích lũy tư
bản. Chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới tính là đầu tư, còn
tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không được
tính vào phạm trù đầu tư.
Trong thống kê của Việt Nam có hai chỉ tiêu “tổng tích lũy tài sản” (K) và
“vốn đầu tư” (I) mà nội hàm không đồng nhất. “Tổng tích lũy tài sản” được tính
theo phương pháp của thống kê quốc tế khi phản ánh cơ cấu phân bổ GDP. Còn
“vốn đầu tư” được dùng để phản ánh số tiền bỏ ra trong một thời hạn nhất định (1
năm, 5 năm) của các thành phần kinh tế nhằm mục đích tăng cường năng lực sản
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
3
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
xuất kinh doanh. Ở Việt Nam, loại chi phí này cũng được coi là đầu tư. Đây là một
điểm khác biệt lớn trong cách thức đo lường trị giá đầu tư ở Việt Nam so với quốc tế.
Chi phí đền bù đất đai và tài sản chiếm một tỷ trọng rất lớn trong một số loại công trình
xây dựng ở đô thị và những nơi đông dân mà Việt Nam hiện coi là một loại chi phí đầu
tư làm cho tổng giá trị đầu tư tăng lên và vì vậy hiệu suất đầu tư giảm đi (ví dụ như
ICOR của đầu tư công rất cao).
Ở Việt Nam, vốn đầu tư I được thống kê (thông qua báo cáo và các cuộc điều
tra, khảo sát, ước lượng) và được sử dụng một cách thông dụng trong quản lý nhà
nước, còn tích lũy tài sản K thì được tính toán một cách ước lượng trong hệ thống
tài khoản quốc gia SNA (bao gồm tài sản cố định và thay đổi tồn kho). Gọi là ước
lượng, bởi vì hệ thống hạch toán hiện nay, các doanh nghiệp thống kê và báo cáo tài
sản theo nguyên giá tại thời điểm mà tài sản được hình thành, nên trong điều kiện
lạm phát khá cao thì số liệu về tài sản tích lũy có thể ít có ý nghĩa
1
. Số liệu về tích lũy
tài sản K ít được sử dụng trong các nghiên cứu và trong công tác quản lý nhà nước của
các ngành và địa phương. Tuy nhiên, K có ý nghĩa khi phân tích so sánh quốc tế, vì số
liệu dựa trên cùng một phương pháp tính toán. Mặt khác, khi so sánh K với I sẽ thấy
được có bao nhiều phần vốn đầu tư thực tế đã trở thành tài sản sản xuất.
Theo thống kê, những năm gần đây ở Việt Nam, khối lượng “tích lũy tài sản”
bằng khoảng 60 - 73% so với “vốn đầu tư”. Nhưng điều rất đáng lưu ý là sự chênh lệch
này liên tục tăng lên: Tích lũy tài sản từ chỗ bằng 72.5% so với vốn đầu tư vào năm
2000 mỗi năm đã giảm đi, đến mức chỉ còn bằng 60.7% so với đầu tư năm 2009;
nhưng đã bắt đầu tăng lên bằng 62.3% so với đầu tư năm 2011. Điều này có nghĩa là tỷ
lệ vốn đầu tư trở thành tài sản tích lũy ngày càng giảm sút và có dấu hiệu tăng trở lại.
1
Lấy một ví dụ đơn giản: đơn vị có 2 chiếc xe ô tô cùng kiểu cách, một chiếc mua 5 năm trước và
chiếc khác mới mua. Hai chiếc xe này có giá cả rất khác nhau, có khi chênh nhau tới 2 - 3 lần. Vì thế, gái trị
tài sản mỗi chiếc lấy theo cách tính trung bình cộng sẽ trở nên ít ý nghĩa đối với hạch toán.
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
4
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
Bảng 1.1. Vốn đầu tư và tích lũy tài sản của Việt Nam 2000 - 2011
(ĐVT: nghìn tỷ đồng, theo giá 1994)
Năm Vốn đầu tư Tích lũy tài sản Khác biệt (tích lũy tài
sản/vốn đầu tư) (%)
2000 115,1 83,5 72,5
2001 129,4 92,5 71,5
2002 148,0 104,3 70,4
2003 168,8 116,6 69,9
2004 189,3 128,9 68,1
2005 213,9 143,3 67,0
2006 243,3 160,2 65,9
2007 309,1 203,2 65,7
2008 333,2 215,9 64,8
2009 371,3 225,3 60,7
2010 400,2 248,7 62,1
2011 362,8 225,9 62,3
Nguồn:Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2009, 2011.
1.1.2. Đầu tư công
Việc gia tăng tư bản tư nhân được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã
hội được gọi là đầu tư công. Việc gia tăng tư bản xã hội thuộc chức năng của chính
phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà chính phủ thực hiện.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đầu tư của Nhà
nước là chủ yếu và lúc đó trong quản lý kinh tế và thống kê chỉ sử dụng khái niệm
"đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước". Đầu tư của khu vực tập thể và nhân dân
(chủ yếu bằng công lao động và nguyên vật liệu địa phương) xây dựng các công
trình công cộng (như đường xá, thủy lợi, ) hầu như không thống kê được. Thuật
ngữ "đầu tư công" được sử dụng ở Việt Nam từ khi chuyển sang cơ chế thị trường,
bên cạnh các thuật ngữ "đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh" và "đầu tư
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
5
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
trực tiếp nước ngoài". Các khái niệm "đầu tư công" và "đầu tư của Nhà nước" được
sử dụng với ý nghĩa giống như nhau. Theo thống kê hiện nay, đầu tư công (hay đầu
tư của Nhà nước) bao gồm:
- Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành Trung ương và phân cho các
địa phương).
- Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương
trình mục tiêu trung và dài hạn) cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách
hàng năm, nhưng về chủ trương lại thường được quyết định cho thời kỳ dài hơn 1
năm, ví dụ 3-5 năm.
- Tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định.
- Đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước, mà phần vốn quan trọng của doanh
nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
Có một số điểm khác biệt giữa định nghĩa mang tính lý thuyết về "đầu tư
công" và vận dụng trong thực tế:
Theo lý thuyết kinh tế học thì đầu tư công là việc đầu tư để tạo năng lực sản
xuất và cung ứng hàng hóa công cộng và chi tiêu chính phủ là các khoản chi của
chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng như xây dựng đường xá, trường học,
dịch vụ phòng và chữa bệnh, đảm bảo an ninh, quốc phòng, Hàng hóa công cộng
phải thỏa mãn 2 đặc tính: không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ. Tuy
nhiên, trên thực tế, chính phủ của nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đảm nhận
chức năng rộng hơn: Chính phủ không chỉ sản xuất và cung ứng các hàng hóa công
cộng, mà còn sản xuất và cung ứng rất nhiều hàng hóa khác mà không hẳn có 2
thuộc tính trên. Chẳng hạn, đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước để sản xuất ra
những hàng hóa không thỏa mãn cả 2 đặc tính nói trên như sắt thép, xi măng, tàu
thủy, hóa chất, sách báo, rượu bia, dịch vụ ngân hàng,… Mặt khác, trong thực tế rất
khó có thể phân định hàng hóa nào là hàng hóa công cộng, bởi vì ở một số nước, có
rất nhiều loại hàng hóa vốn được coi là công cộng hiện nay chính phủ cũng thuê
khoán cho các công ty tư nhân thực hiện, như xây dựng đường xá, vận tải công
cộng, dạy học và thậm chí cả đảm bảo an ninh trật tự công cộng, quản lý nhà tù.
Trong những trường hợp này, đầu tư mà các công ty tư nhân thực hiện để sản xuất
và cung ứng hàng hóa công cộng thuê cho nhà nước khó có thể coi là đầu tư công.
Để tránh sa vào khó khăn mang tính hàn lâm "thế nào là một hàng hóa công
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
6
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
cộng?", khái niệm “đầu tư công” còn được hiểu là việc sử dụng nguồn vốn Nhà
nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
không nhằm mục đích kinh doanh. Cách hiểu này hiện chưa được phổ biến, nhưng
đang được Dự thảo Luật Đầu tư công của Việt Nam đề nghị áp dụng. Theo cách
hiểu này, lĩnh vực đầu tư công gồm:
- Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã
hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội
hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo và
các lĩnh vực khác.
- Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm,
sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp.
- Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của
pháp luật.
- Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của
Chính phủ.
Như vậy, ở quan niệm này, đầu tư nhằm mục đích kinh doanh của các doanh
nghiệp thuộc sở hữu nhà nước không nằm trong đầu tư công. Song cũng không thể
coi nó là đầu tư tư nhân, bởi vì đây là tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Vì vậy, việc sử
dụng quan niệm này thực ra không làm đơn giản hơn cách phân loại và quản lý đầu
tư của Nhà nước. Trước hết nó đòi hỏi phải bổ sung thêm khái niệm "đầu tư nhằm
mục đích kinh doanh của các đơn vị thuộc khu vực nhà nước", bên cạnh các khái
niệm "đầu tư tư nhân" và "đầu tư công". Sau nữa, nó làm cho quá trình phân loại để
thống kê trở nên phức tạp hơn. Chẳng hạn, một con đường, nếu được đầu tư bằng
vốn ngân sách thì sẽ thuộc loại đầu tư công, nhưng nếu thực hiện bằng vốn "xã hội
hóa" - tức là do cộng đồng hoặc tư nhân bỏ vốn đầu tư - sẽ thuộc đầu tư tư nhân,
còn nếu có cả sự hỗ trợ vốn của chính phủ thì sẽ rất khó phân định đó là đầu tư công
hay đầu tư tư nhân.
Hiện tại "đầu tư công" vẫn được quan niệm một cách đơn giản hơn: đó là bao
gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế nhà nước tiến hành. Trong quan niệm này, đầu tư công được xét không phải từ
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
7
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
góc độ mục đích (có sản xuất hàng hóa công cộng hay không, có mang tính kinh
doanh hay là phi lợi nhuận) mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu
tư. Cụ thể là đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của
pháp luật hiện hành, bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước
bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của
các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý, đây là cách hiểu
phổ biến và cũng là đối tượng của chính sách đầu tư của Nhà nước hiện nay.
1.1.3. Dự án công
Trên thực tế có nhiều cách tiếp cận khái niệm dự án công. Dù tiếp cận như
thế nào đi nữa chúng cũng thống nhất nhau ở quan điểm cho rằng dự án công là tập
hợp những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu công cộng.
Dự án công là những dự án do Chính phủ tài trợ (cấp vốn) toàn bộ hay một
phần hoặc do dân chúng tự nguyện góp vốn bằng tiền hay bằng ngày công nhằm
đáp ứng mọi nhu cầu mang tính cộng đồng. Nếu mở rộng hơn nữa, dự án công còn
bao gồm những dự án mà Chính phủ hoặc chính quyền địa phương đề xuất và kêu
gọi tài trợ quốc tế. Cũng được xem là một dự án công cho dù dự án đó do một đơn
vị kinh doanh thực hiện nếu nó hướng đến việc nâng cao phúc lợi công cộng. Như
thế có thể nhận diện tính chất “công” của một dự án ở mục đích của nó; và ta có thể
nói một cách ngắn gọn, dự án công là dự án hướng đến việc tạo ra những lợi ích
cộng đồng.
Dự án công khác biệt dự án tư ở các điểm sau:
- Mục đích và mục tiêu: Dự án công và dự án tư được phân biệt trước hết ở
mục đích và mục tiêu của dự án. Mục đích và mục tiêu của dự án công thường
không chỉ mang tính tài chính mà còn mang tính kinh tế, thậm chí chứa đựng cả
tính chính trị. Nói cụ thể, mục đích cao nhất mà dự án công hướng đến là nâng cao
phúc lợi xã hội. Phúc lợi xã hội là một tập hợp gồm mức sống vật chất, tình hình an
sinh xã hội, thể trạng sức khỏe, môi trường sinh thái, sự tham gia vào các hoạt động
xã hội,… Có thể nói một cách khác, phúc lợi xã hội thể hiện qua mức độ hài lòng
trong cuộc sống bản thân và đời sống xã hội.
- Tài trợ: Sự khác biệt thứ hai giữa dự án công và dự án tư là ở chi phí tài trợ.
Phần lớn nguồn tài trợ cho dự án tư đều xác định được chi phí một cách tường
minh. Nguồn tài trợ các dự án công một phần đến từ thuế mà chi phí cơ hội của thuế
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
8
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
không dễ xác định.
- Hiện tượng chèn lấn: Khi thực hiện các dự án đầu tư của mình, Chính phủ
sẽ thu hút một phần nguồn lực của nền kinh tế dành cho các dự án khác và tăng
cung thay cho những dự án khác, trong đó có dự án của khu vực tư nhân. Nên trước
khi thực thi một dự án, khu vực công luôn phải có câu trả lời rõ ràng và dứt khoát
đối với câu hỏi tại sao Chính phủ can thiệp vào lĩnh vực này.
Tuy nhiên tại một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, tình trạng thị trường tư
nhân chưa phát triển cũng là một lý do khiến Chính phủ phải can thiệp vào hoạt
động kinh tế. Trong tình huống này, không phải Chính phủ chèn lấn khu vực tư, mà
Chính phủ đề xuất các dự án nhằm tạo động lực, kích thích khu vực tư phát triển.
- Phân cấp dự án đầu tư: Ở Việt Nam, các dự án đầu tư được phân cấp cho
địa phương thích ứng với nhiệm vụ chi ngân sách.
- Thị trường các đầu ra của dự án công: Có những dự án công mà đầu ra có
thị trường. Tuy nhiên vẫn nảy sinh tình trạng nhiều dự án công thiếu thị trường của
đầu ra. Ví dụ cho những trường hợp đầu ra không có thị trường là dự án cải tạo hệ
thống cấp, thoát nước, dự án nạo vét luồng, lạch, kênh và mương, dự án thủy lợi, dự
án vệ sinh môi trường, dự án nâng cấp trường công lập, dự án nâng cao thể trạng
người dân, dự án phủ xanh đồi trọc, dự án xóa đói giảm nghèo, dự án chống biến
đổi khí hậu và nước biển dâng,…
- Đánh giá: Đánh giá dự án công phức tạp hơn dự án tư. Cả bốn phương
pháp đánh giá đều có thể cùng được sử dụng để đánh giá: ngoài hai phương pháp cơ
bản là tài chính và phân tích lợi ích - chi phí, hai phương pháp khác cũng được dùng
đến là phương pháp nhu cầu cơ bản và phân phối thu nhập.
- Giám sát: Đây là một điểm khác biệt quan trọng giữa dự án công và tư.
Đây cũng chính là điểm yếu khiến dự án công không mang tính bền vững. Giai
đoạn đầu, các dự án công thường thu hút quan tâm nhiều của dư luận, sau đó gần
như “không còn được ai quan tâm”. Sự giám sát của người dân và các tổ chức, đoàn
thể quần chúng chỉ có thể bị hạn chế nhiều trong những công trình đòi hỏi tính công
nghệ cao như: nhà máy điện nguyên tử, công trường khai thác bauxite và nhà máy
luyện nhôm, dự án đóng tàu,…
- Áp lực chính trị: Ngoài ra, những quan điểm tiếp cận và phương pháp cơ
bản để tiến hành đánh giá hoàn toàn tương tự với quan điểm và phương pháp đối
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
9
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
với dự án do khu vực tư tiến hành.
1.2. Vai trò của đầu tư công đối với nền kinh tế - xã hội
1.2.1. Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội
Vai trò điều hành của nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội là một trong
những vấn đề nghiên cứu trọng tâm của các nhà kinh tế qua các thời kỳ. Mỗi một
thời kỳ, mỗi giai đoạn lại có các học thuyết, mô hình khác nhau đưa ra nhằm lý giải
về việc nhà nước có nên tham gia tác động vào nền kinh tế và nếu có thì cách thức
tác động như thế nào là thích hợp.
Lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế với các đại diện là Adam Smith,
David Ricardo được đề ra vào những năm đầu phát triển kinh tế tư bản cho rằng vai
trò của Chính phủ là hoàn toàn không cần thiết cho điều hành kinh tế. Trên cơ sở
những khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng những năm 1929 - 1933, Keynes đã mạnh
mẽ thay đổi quan niệm cổ điển về nền kinh tế có xu hướng tự điều chỉnh đi đến cân
đối mới, nơi có công ăn và việc làm đầy đủ cho tất cả mọi người. Trong nghiên cứu
của mình ông đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng và đi
đến kết luận, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước phải thực hiện
điều tiết bằng các chính sách kinh tế nhằm tăng cầu tiêu dùng. Để đạt được điều
này, ông đề nghị sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các
đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp. Để thúc đẩy tăng
trưởng và giảm lãi suất nhằm kích thích đầu tư, Chính phủ chấp nhận lạm phát có
mức độ, đẩy mạnh đầu tư vào các công trình công cộng và các biện pháp khác nhau
như một cú huých trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút.
Trường phái kinh tế hiện đại ra đời với đại diện là P.A Samuelson, những nội
dung cơ bản của lý thuyết này là:
Trên thực tế, sản lượng cân bằng thường ở dưới mức sản lượng tiềm năng,
trong điều kiện hoạt động bình thường, nền kinh tế luôn có thất nghiệp và lạm phát.
Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có thể chấp nhận
được. Sự cân bằng của nền kinh tế được xác định tại giao điểm của tổng cung và
tổng cầu.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế này cũng thống nhất với cách xác định của mô
hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất. Họ cho rằng tổng mức
cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất, đó là
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
10
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ.
Y=f(K,L,R,T).
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Samuelson cho rằng thị trường là yếu tố cơ
bản điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Mặt khác, trong sự phát triển kinh tế hiện
nay, việc mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước
không chỉ vì thị trường có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà dù
thị trường có hoạt động tốt cũng không thể đáp ứng được.
Theo Samuelson trong nên kinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ có bốn chức
năng cơ bản: thiết lập khuôn khổ pháp luật, xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ
mô; tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế; thiết lập các
chương trình tác động đến việc phân phối lại thu nhập. Chính phủ cần tạo ra môi
trường ổn định để cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình có thể tiến hành sản
xuất và trao đổi sản phẩm một cách thuận lợi. Chính phủ cũng cần đưa ra những
định hướng cơ bản về phát triển kinh tế và những hướng ưu tiên cần thiết cho từng
thời kỳ và sử dụng các công cụ như thuế quan, chương trình tín dụng, trợ giá để
hướng dẫn các ngành, các doanh nghiệp hoạt động. Chính phủ thường xuyên tìm
cách duy trì công ăn, việc làm ở mức cao bằng cách đưa ra các chính sách thuế, tài
khóa và tiền tệ hợp lý. Đồng thời, Chính phủ khuyến khích một tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế vững chắc, chống lạm phát và giảm ô nhiễm môi trường. Chính phủ thực
hiện phân phối lại thu nhập của cải giữa các doanh nghiệp và các hộ gia đình thông
qua thuế thu nhập, thuế tài sản và những biện pháp khác. Chính phủ cũng thực hiện
các hoạt động phúc lợi xã hội như cung cấp phúc lợi cho người già, người tàn tật và
những người thất nghiệp.
Cho đến nay, vẫn có nhiều nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu về vai trò của nhà
nước đối với phát triển kinh tế - xã hội. Những nghiên cứu này được thực hiện trên
nhiều mặt, trên nhiều quốc gia và đã đạt được nhiều kết quả nghiên cứu quan trọng,
nhìn chung những nghiên cứu này đều xác định vai trò của nhà nước là cần thiết
cho phát triển kinh tế - xã hội.
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
11
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
1.2.2. Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh, khuyến khích tất cả
các doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp muốn đứng vững
được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý. Do
vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra sự dư thừa hàng hóa để cho
phép thỏa mãn nhu cầu ở mức tối đa. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp chủ yếu hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, dẫn đến những thất bại của thị
trường. Sự can thiệp của Nhà nước sẽ bảo đảm cho sự vận động của thị trường được
ổn định, nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế, bảo đảm định hướng chính trị của sự phát
triển kinh tế. Một trong những kênh để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế đó là
đầu tư công. Nhà nước bỏ vốn thực hiện các dự án thuộc những lĩnh vực mà tư nhân
không có khả năng hoặc không có nhu cầu đầu tư. Ví dụ như các dự án xây dựng
công trình cầu, đường, các công trình công cộng; đầu tư phát triển cho vùng miền
núi, dân tộc thiểu số, Bởi đó đều là những dự án phải bỏ nhiều vốn đầu tư ban
đầu, thời gian thu hồi vốn lâu, hoặc khả năng thu hồi được vốn là không cao. Do đó,
cần có đầu tư của nhà nước để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cộng đồng được
đáp ứng, giữ vững ổn định xã hội, tránh tình trạng bất công bằng, bất bình đẳng
trong xã hội.
Vai trò đầu tư công ở Việt Nam gắn liền với quan niệm về vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước nói chung và vai trò bà đỡ của bàn tay nhà nước nói riêng
trong quá trình CNH - HĐH theo yêu cầu phát triển bền vững và đảm bảo an sinh
xã hội. Trong nhiều thập kỷ qua, đầu tư công ở nước ta được xem là động lực quan
trọng nhất cho sự phát triển của nền kinh tế, là một thành phần quan trọng của tổng
cầu xã hội, cũng như góp phần gia tăng tổng cung và năng lực kinh tế; định vị và
củng cố nền kinh tế của đất nước trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế; đầu tư
mồi, tạo cú huých và duy trì động lực tăng trưởng, thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo việc làm xã hội. Thực tế cho thấy, nhà nước đã và đang là nhà đầu tư áp đảo,
dẫn dắt thị trường, tác động mạnh tới diễn biến của thị trường…
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đầu tư công càng nổi bật vai
trò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và góp phần bảo đảm việc làm và an sinh xã
hội thông qua các gói kích cầu của Chính phủ. Đầu tư công thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ thuật tối
thiểu chung cho xã hội. Đây cũng đồng thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
12
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư và phát triển. Ngoài ra, đầu tư công giúp
cho có cơ hội được tập trung nguồn lực cao, hoặc Trung ương có thể điều tiết được
một cách hợp lý các nguồn đầu tư, tránh tình trạng cục bộ, địa phương, nơi thừa nơi
thiếu. Đầu tư công còn góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình
đằng, bất công trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng
khó khăn, vùng sâu vùng xa, các dân tộc thiểu số (chương trình 134, 135 của Chính
phủ, các chương trình xóa đói giảm nghèo, ), nâng cao và ổn định đời sống người
dân. Trong 40 năm qua, các chương trình xã hội này đã chiếm một phần ngày càng
tăng trong hoạt động đầu tư của chính phủ. Đầu tư công đảm bảo ổn định và không
ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh. Các công trình, dự án về an ninh quốc
phòng đều không mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nên khu vực tư nhân không
thể và cũng không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Nhưng đó lại là cơ sở quan trọng
của đất nước để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia.
Về hoạt động điều tiết nền kinh tế vĩ mô, đầu tư công được xem như một
công cụ quản lý của nhà nước. Bằng đầu tư công, nhà nước thực hiện quyền lực nhà
nước thông qua các chính sách tài khóa và tiền tệ, từ đó ổn định nền kinh tế, hạn
chế đà suy giảm kinh tế trước các tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính từ bên
ngoài. Chính sách tài khóa trong kinh tế là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu
tư công để tác động đến nền kinh tế. Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ
là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế. Khi
có những tác động của các cuộc khủng hoảng từ bên ngoài, Chính phủ phải đối phó
với những biến động gây nên bởi việc hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu. Việc
Chính phủ lựa chọn các ưu tiên, trì hoãn hoặc hủy bỏ các dự án đầu tư công, đồng
thời ý thức một cách rõ ràng những rủi ro gây nên bởi các tổng công ty nhà nước
quy mô lớn trong việc tạo ra hoặc kiểm soát các công ty tài chính trung gian, cũng
như việc sẵn sàng nhìn nhận lại việc quản lý, giám sát và đầu tư của các tổ chức
kinh tế và tập đoàn nhà nước sẽ có những tác động tốt trong việc ứng phó và phát
triển kinh tế khi có khủng hoảng.
Một phương pháp phổ biến dùng để đánh giá vai trò của đầu tư nói chung và
đầu tư công nói riêng đối với tăng trưởng kinh tế là phân tích sự đóng góp của các
yếu tố vào sự tăng trưởng GDP. Ở đây người ta sử dụng hàm sản xuất, với hai yếu
tố đầu vào cơ bản là vốn (K) và lao động (L). Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh
tế là do hai phần chính: (1) Sự gia tăng của các yếu tố đầu vào K, L; (2) Sự gia tăng
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
13
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
về năng suất bằng hệ số năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity -
TFP). TFP là quan hệ giữa đầu ra với tổng hợp các đầu vào, bao gồm cả các yếu tố
không định lượng được như quản lý, khoa học công nghệ,… Khi hàm sản xuất chỉ
có hai yếu tố vốn (K) và lao động (L) theo dạng: thì A
t
trong mô
hình chính là TFP. Chỉ tiêu TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng
trong quá trình sản xuất. Ngoài ra, TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công
nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý,…
Giả thiết rằng hàm sản xuất dạng Cobb - Douglass là hàm số liên tục theo
thời gian và được biểu diễn như sau:
Chia hai vế của phương trình trên cho Y và sau phép biến đổi ta có:
Dưới dạng rút gọn, ta có:
Trong đó:
G(Y): tốc độ tăng của sản lượng (Y).
G(A): tốc độ tăng của năng suất các yếu tố tổng hợp
G(L): tốc độ tăng của lao động (L).
G(K): tốc độ tăng của vốn (K).
MP
L
= dY/dL và MP
K
= dY/dK là năng suất biên tương ứng của yếu
tố lao động và vốn.
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tỷ lệ sinh lợi của vốn sẽ bằng năng
suất biên của vốn (MP
K
), còn tiền lương của lao động sẽ bằng năng suất biên của
lao động (MP
L
). Trong trường hợp này MP
K
(K/Y) và MP
L
(L/Y) sẽ lần lượt là tỷ lệ
đóng góp của vốn và lao động trong giá trị sản xuất. Mô hình trên được viết lại
dưới dạng:
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
14
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
Trong đó
và
Từ đó, tốc độ tăng của năng suất các yếu tố tổng hợp (G(A) hay G(TFP))
được tính như sau:
Sau khi tính được tốc độ tăng của từng yếu tố lao động G(L) và vốn G(K), chúng ta
sẽ xác định được đóng góp của chúng vào tốc độ tăng trưởng của GDP như sau:
Đóng góp của TFP = G(TFP)/G(Y)
Đóng góp của lao động = α.G(L)/G(Y)
Đóng góp của vốn = (1 - α).G(K)/G(Y)
1.3. Phân loại hoạt động đầu tư công
Chủ trương của Đảng là “vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tập trung cho kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, y tế,
trợ giúp vùng khó khăn. Vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước dành ưu tiên cho việc
xây dựng các cơ sở thuộc kết cấu hạ tầng có thu hồi vốn và hỗ trợ đầu tư một số dự
án quan trọng của nền kinh tế Xây dựng Chiến lược thu hút và sử dụng vốn
ODA, tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các trung tâm kinh tế và các
vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn.” (Văn kiện Đại hội X, Trang 239-240).
Theo đây, đầu tư công bao gồm các hoạt động chủ yếu sau đây:
(1) Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Có đầu tư mạnh mẽ thì mới có tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo thế nhưng
có đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đi trước thì mới tạo điều kiện để tăng trưởng
nhanh vốn đầu tư toàn xã hội. Kinh tế kết cấu hạ tầng là chủ đề quan trọng đối với
công cuộc phát triển đất nước và ngày càng được chú trọng phát triển.
(2) Đầu tư phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ
Gắn phát triển văn hoá với phát triển kinh tế-xã hội. Nhà nước chú trọng xây
dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống văn minh, gia đình hạnh phúc trong
cộng đồng dân cư. Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã
hội và sinh hoạt của nhân dân.
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
15
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ
(KH&CN) cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền
tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặc dù nước ta
còn nghèo, nhưng trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc
biệt là sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN trong cả nước, tiềm lực
KH&CN đã được tăng cường, KH&CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Do vậy, Nhà nước ta rất chú trọng cho đầu tư phát triển văn hóa, xã hội và
đặc biệt là giáo dục và khoa học – công nghệ.
(3) Đầu tư cho y tế và an sinh xã hội
Trong lĩnh vực xây dựng và phát triển các cơ sở y tế hiện nay, chủ trương
của Nhà nước ta là cần tập trung cho tuyến xã, cụm xã và tuyến huyện. Đây là vấn
đề cấp bách và cần thiết, vì thực trạng hiện nay các cơ sở y tế khu vực này đã xuống
cấp, không đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhân
dân. Điều đó vừa gây quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, vừa không phục vụ kịp
thời việc khám, chữa bệnh cho bà con, nhất là người dân vùng xa xôi, khó khăn,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Do đó việc đầu tư cho y tế và an sinh xã hội đang là
một lĩnh vực đầu tư quan trọng của đầu tư công.
1.4. Nguồn vốn đầu tư công
Vốn đầu tư công bao gồm 3 nguồn chủ yếu:
1.4.1. Vốn ngân sách nhà nước
(1) Vốn từ nguồn thu trong nước của Ngân sách Nhà nước phân cho các Bộ
ngành và phân cho các địa phương. Vốn đầu tư này hướng vào đầu tư không hoàn
lại cho các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, phát triển nguồn nhân
lực, bảo vệ môi trường mà không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn rất
chậm, cũng như các khoản đầu tư duy tu bảo dưỡng các công trình công cộng. Đối
với một số dự án có thể tạo được nguồn thu khi đi vào hoạt động nhưng không có
khả năng hoàn trả đủ vốn đầu tư, thì nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước chỉ đóng
vai trò hỗ trợ một phần cho đầu tư.
(2) Vốn ngân sách đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường
là các chương trình mục tiêu trung và dài hạn), cũng được thông qua trong kế hoạch
ngân sách hằng năm, nhưng về chủ trương được quyết định cho thời kỳ dài hơn 1
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
16
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
năm, thường là 3 đến 5 năm. Đây cũng là vốn không hoàn lại. Có hai loại chương
trình quốc gia: “Chương trình mục tiêu quốc gia” là những chương trình xuyên suốt
các ngành và địa phương, nhằm những mục tiêu được xác định cụ thể; “Chương
trình ngành” thực hiện trong một số ngành hay vùng cụ thể.
Trong thời kỳ 2001 - 2005 có 6 chương trình mục tiêu quốc gia; thời kỳ 2006
- 2010 có 11 chương trình mục tiêu quốc gia
2
. Ngoài ra, có hai chương trình, tuy
không được gọi là chương trình mục tiêu quốc gia, nhưng quy mô lớn hơn nhiều
chương trình mục tiêu quốc gia và cũng bao trùm nhiều tỉnh; đó là Chương trình
phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi và dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn
(Chương trình 135) và Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng. Có hơn 30 “Chương
trình ngành” hỗ trợ các mục tiêu khác
3
, nhằm thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của
Bộ chính trị và một số nghị quyết của Chính phủ.
1.4.2. Vốn vay
(1) Vốn vay trong nước
Bên cạnh vốn từ quỹ đầu tư phát triển của Nhà nước được cấp không hoàn
trả cho các dự án đầu tư không nhằm mục đích kinh doanh, có nguồn vốn tín dụng
đầu tư do Nhà nước bảo lãnh có mức độ ưu đãi nhất định. Chính phủ cho vay theo
lãi suất ưu đãi bằng nguồn vốn tự có hoặc vốn vay ODA và cho vay lại để đầu tư
vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch nhà nước đối với một số
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Về mặt nguyên tắc, chủ đầu tư được
vay vốn tín dụng nhà nước có trách nhiệm hoàn trả vốn và lãi đúng thời hạn do Nhà
nước quy định và theo hợp đồng vay vốn. Trên thực tế, do những nguyên nhân
2
11 chương trình mục tiêu quốc gia trong thời kỳ 2006 - 2010 là: (1) Chương trình giảm nghèo; (2)
Chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình; (3) Chương trình phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch
nguy hiểm và HIV/AIDS; (4) Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; (5) Chương trình
văn hóa; (6) Chương trình giáo dục - đào tạo; (7) Chương trình phòng, chống tội phạm; (8) Chương trình
phòng chống ma túy; (9) Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm; (10) Chương trình việc làm; (11) Chương
trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
3
Đó là các chương trình mục tiêu dựa vào Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về Tây Nguyên; Nghị
quyết 21 về Đồng bằng sông Cửu Long; Nghị quyết 37 về trung du miền núi Bắc bộ và Tây Thanh Hóa,
Nghệ An; Nghị quyết 39 về Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung; Nghị quyết 54 về Đồng bằng sông
Hồng; Đầu tư thực hiện Nghị quyết 08, bao gồm cả hệ thống thi hành án; và các hỗ trợ theo mục tiêu khác
của Chính phủ như Chương trình biển Đông hải đảo; Chương trình quản lý biên giới; Đầu tư vùng ATK; Hỗ
trợ khu neo đậu tàu thuyền tránh bão; Dự án tin học hóa các hoạt động của Đảng; Hỗ trợ hạ tầng du lịch; Hạ
tầng khu kinh tế cửa khẩu; Chương trình nuôi trồng thủy sản; Hỗ trợ đầu tư các trung tâm y tế; Hỗ trợ các
trung tâm cai nghiện; Hỗ trợ các tỉnh huyện mới tách; Hỗ trợ các dự án bảo tồn văn hóa; Hỗ trợ ODA các
tỉnh khó khăn; Hỗ trợ các trường đại học lớn ở các địa phương; Hỗ trợ trở lại sau thuế cho Tập đoàn dầu khí;
Bảo tàng lịch sử quốc gia; Nhà Quốc Hội; Chương trình mở rộng mạng phủ sóng; Quy hoạch mạng lưới giáo
dục quốc phòng; Hỗ trợ 6 dân tộc ít người; Bố trí lại dân cư và cả đầu tư theo các quyết định riêng lẻ của lãnh
đạo Đảng và Nhà nước.
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
17
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
khách quan bất khả kháng và cả do chủ quan, các đơn vị vay không có khả năng
hoàn trả, thì trong không ít trường hợp Nhà nước phải hoãn nợ, khoanh nợ, cho vay
đảo nợ và xóa nợ.
Một nguồn vốn đầu tư vay trong nước quan trọng khác là từ trái phiếu chính
phủ. Đây là vốn Nhà nước vay của nhân dân để đầu tư cho phát triển theo một số
mục tiêu nhất định (như giáo dục, năng lượng…) và sẽ hoàn trả từ ngân sách sau
một thời hạn nhất định.Việc phát hành trái phiếu luôn đảm bảo nguyên tắc công
khai, minh bạch, công bằng. Toàn bộ số tiền thu được từ phát hành trái phiếu Chính
phủ đều được tập trung vào ngân sách trung ương để sử dụng theo đúng mục đích
phát hành theo quy định của pháp luật. Hiện có 6 loại trái phiếu Chính phủ: Tín
phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng Tổ
quốc, trái phiếu đầu tư và trái phiếu công trình Trung ương.
(2) Vốn vay ngoài nước
Vốn vay ngoài nước là khoản tiền mà Chính phủ vay nợ, nhận viện trợ từ bên
ngoài thông qua kênh hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) để tập trung đầu tư những
dự án đã được cam kết với các nhà tài trợ.
Ở nước ta, ODA là một trong những nguồn vốn quan trọng của Nhà nước, sử
dụng cho những mục tiêu ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những
trọng tâm sử dụng vốn ODA là để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Căn cứ
vào nhu cầu vốn đầu tư và định hướng phát triển theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh
thổ đề ra trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt
Nam đưa ra định hướng chiến lược, chính sách và những lĩnh vực ưu tiên sử dụng
vốn ODA cho từng thời kỳ. Năm lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA bao gồm:
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thủy lợi, lâm
nghiệp, thủy sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo).
- Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số và phát
triển và một số lĩnh vực khác).
- Bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao
công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai.
1.4.3. Vốn của doanh nghiệp Nhà nước
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
18
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
Đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước gồm vốn của doanh nghiệp mà phần
quan trọng có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước (vốn của các doanh nghiệp Nhà
nước từ khấu hao cơ bản để lại, từ lợi nhuận sau thuế, từ đất đai, nhà xưởng còn
chưa sử dụng đến, được huy động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh) và vốn
doanh nghiệp vay với sự bảo lãnh của Chính phủ.
1.5. Quy trình thẩm định dự án đầu tư công
Công tác thẩm định đầu tư công thường xem xét ảnh hưởng của dự án về tài
chính (ngân sách), kinh tế và thu phân phối thu nhập. Toàn bộ quy trình thẩm định
có thể được chia ra làm bốn giai đoạn thẩm định và bốn điểm ra quyết định trước
khi dự án được chấp thuận sau cùng. Những giai đoạn này được thể hiện qua sơ
đồ1.1.
Sơ đồ 1.1. Quy trình thẩm định dự án
Là mốc ra
quyết định
- Giai đoạn ý tưởng và định dạng là giai đoạn mang tính phôi thai cho toàn
bộ quy trình của dự án, tại giai đoạn này cần phải có một xác định sơ bộ về nhu cầu
tương đối của dự án. Nếu ngay từ giai đoạn này đã có bằng chứng cho thấy người
sử dụng dịch vụ của dự án không đưa dự án vào danh mục ưu tiên của họ thì có thể
từ bỏ ý định về dự án trước khi tiến hành các nghiên cứu tiếp theo.
- Giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi là nỗ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển
vọng chung của dự án, thường bao gồm sáu lĩnh vực như sau:
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
19
Thiết kế chi tiết
Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu khả thi
Ý tưởng và định dạng
Thực hiện dự án
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
+ Phân tích thị trường hay sức cầu nhằm ước tính, định lượng hóa và lý giải
chứng minh sức cầu hàng hóa và dịch vụ, giá cả hay các nhu cầu tương đối về dịch
vụ xã hội.
+ Phân tích kỹ thuật nhằm xác định một cách chi tiết các thông số đầu vào
của dự án và xây dựng các ước tính về chi phí.
+ Phân tích nhân lực và quản lý nhằm định rõ chi tiết nhu cầu về nhân lực
cần thiết cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án, xác định và định hướng cụ
thể nguồn nhân lực.
+ Phân tích hiệu quả kinh tế nhằm điều chỉnh các dữ liệu tài chính theo ý nghĩa
kinh tế, thẩm định chi phí và lợi ích của dự án trên quan điểm của cả nền kinh tế.
+ Phân tích hiệu quả xã hội nhằm thẩm định dự án theo quan điểm của những
đối tượng được hưởng lợi từ dự án và những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án.
Khi có thể được, cần lượng hóa lợi ích thụ hưởng và chi phí phải chịu của các nhóm
này.
- Giai đoạn nghiên cứu khả thi là giai đoạn nghiên cứu khả năng dự án có thể
đáp ứng các tiêu chí về tài chính, kinh tế và xã hội mà chính quyền đề ra cho các
khoản đầu tư không. Chức năng của giai đoạn này là nhằm tăng cường mức độ
chính xác các tính toán những biến số chủ chốt nếu dự án cho thấy có triển vọng
thành công. Chính vào giai đoạn này là lúc mà quyết định quan trọng nhất phải
được đưa ra là liệu có nên chấp thuận dự án không.
- Giai đoạn thiết kế chi tiết là lúc phải xác định rõ các yêu cầu kỹ thuật, tăng
cường độ chính xác của mọi dữ kiện đã được sử dụng trong các phần phân tích
trước đó để có thể xây dựng kế hoạch vận hành chính thức. Sau khi quy trình này
hoàn tất, dự án sẽ được xem xét lại một lần nữa để xác định có còn đáp ứng được
những tiêu chuẩn đề ra được phê duyệt và thực hiện hay không.
- Giai đoạn thực hiện dự án bao gồm việc điều phối và phân bổ tài nguyên
hay nguồn lực để dự án có thể hoạt động. Một kế hoạch đúng đắn ở giai đoạn này là
rất quan trọng để bảo đảm dự án không bị trì hoãn một cách không cần thiết, cũng
như hình thành các quy trình hành chính phù hợp để điều phối hài hòa mọi hoạt
động cần thiết để thực hiện dự án.
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
20
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
1.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công
(1) Năng lực của cơ quan nhà nước
Đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án. Để dự án
đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thực hiện đầu tư công và quản lý đầu tư
công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết,
trình độ, năng lực). Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình
độ, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án.
(2) Kinh phí
Đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn chung đều
cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt động đó.
Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu tư xây dựng
cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quan tâm chặt chẽ. Nguồn
kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà nước. Do nguồn ngân sách này còn
phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác, nhiều dự án khác nhau nên việc đảm
bảo đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng.
(3) Thủ tục hành chính và các quy định pháp luật
Việc thực hiện đầu tư công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục
hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách. Về nguyên
tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạch cho hoạt động
quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi. Các quy định
pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, đảm bảo định hướng
hoạt động của dự án đầu tư công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
(4) Bối cảnh thực tế
Các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tiến bộ khoa học - công nghệ… đều có
ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư. Những biến động này
đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưng không thực hiện dự án nữa
do không còn phù hợp.
(5) Công luận và thái độ của các nhóm liên quan
Sự ủng hộ hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực
hiện dự án. Các dự án công bị người dân phản đối, ngăn chăn ngay từ khâu giải tỏa
mặt bằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về sau. Bên cạnh đó, mỗi dự án được thực hiện
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
21
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
sẽ mang lại lợi ích và bất lợi cho những nhóm đối tượng khác nhau và do vậy cũng
sẽ nhận được sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tượng tương ứng.
1.7. Đánh giá hiệu quả của đầu tư công
1.7.1. Phương pháp đánh giá đầu tư công
1.7.1.1. Phương pháp tài chính
Theo cách thức phân tích tài chính, các dự án được đánh giá trên cơ sở xác
định doanh thu và chi phí của mọi đầu vào theo giá trị thị trường của chúng.
Phương pháp này quan tâm đến dòng tiền ròng đơn thuần và phân tích ảnh hưởng
đến một nhóm dân cư cụ thể mà không tính đến tác động tổng thể lên toàn nền kinh
tế. Mặc dù phương pháp tài chính không phù hợp với dự án đầu tư công nhưng
không nên bỏ qua bởi một dự án không thể đem lại phúc lợi xã hội bền vững khi nó
không tự “nuôi” được chính nó. Vì thế trước khi sử dụng phương pháp phân tích lợi
ích - chi phí cần phải dùng phương pháp phân tích tài chính để đánh giá tính bền
vững về mặt tài chính của dự án.
1.7.1.2. Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí
Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí là một phương pháp để đánh giá sự
mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được
đo lường bằng trị giá kinh tế tạo ra cho toàn xã hội. Phương pháp này tìm ra sự
đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội có được từ một phương án cụ thể với các
nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt được lợi ích đó. Đây là một
phương pháp thường được các nước phát triển áp dụng trong việc thẩm định các dự
án công và các dự án tư có quy mô rất lớn. Điểm đặc trưng của phương pháp này là
việc lượng hóa một cách đầy đủ các lợi ích và chi phí của xã hội và dựa trên đó đưa
ra quyết định lựa chọn các phương án thay vì chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính.
Một cách tổng quan, phương pháp phân tích lợi ích - chi phí bao gồm các
bước sau:
a. Nhận dạng vấn đề và xác định các phương án giải quyết.
b. Nhận dạng các lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án.
c. Đánh giá lợi ích và chi phí của mỗi phương án.
d. Lập bảng lợi ích và chi phí hàng năm.
e. Tính toán lợi ích xã hội ròng của mỗi phương án.
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
22
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
g. So sánh các phương án theo lợi ích xã hội ròng.
h. Kiểm tra ảnh hưởng của sự thay đổi trong giả định và dữ liệu.
i. Đưa ra đề nghị cuối cùng.
1.7.1.3. Phương pháp phân phối thu nhập
Khi sử dụng phương pháp này, các nhà phân tích phải tính đến phương án
phân chia lợi ích tài chính cho mọi đối tượng chịu ảnh hưởng gián tiếp hoặc trực
tiếp của dự án. Phương pháp này đặc biệt chú trọng làm rõ nhóm dân cư nào thụ
hưởng lợi ích và họ có xứng đáng được hưởng không, đồng thời chỉ ra nhóm nào
gánh chịu chi phí, tại sao họ phải gánh chịu, gánh chịu trong bao lâu,… Phân tích
phân phối thu nhập được xây dựng trên cơ sở các phân tích lợi ích - chi phí và tài
chính với điều kiện chúng được thực hiện theo quan điểm của tất cả các bên liên
quan tới dự án. Nó được xây dựng bằng tất cả ngoại ứng do dự án tạo ra, dẫn đến
thay đổi thu nhập của các nhóm khác nhau trong xã hội.
1.7.1.4. Phương pháp nhu cầu cơ bản
Trong phân tích nhu cầu cơ bản, các hình thức thưởng/phạt đối với ngoại ứng
mà dự án tạo ra khi làm thay đổi mức tiêu dùng một số hàng hóa hay dịch vụ nhất
định được xã hội coi là nhu cầu cơ bản hay có tác dụng tiêu cực. Các nhà phân tích
quy ra các mức thưởng/phạt đẻ phản ánh giá trị của ngoại ứng được cộng đồng gán
ghép với việc tiêu thụ loại hàng hóa và dịch vụ mà xét theo quan điểm xã hội là
đáng khen (như giáo dục) hay đáng trách (như nghiện ma túy).
Trong bốn phương pháp nói trên, hai phương pháp đầu là quan trọng nhất và
cần phải được phân biệt rõ ràng. Sự khác biệt chủ yếu giữa phương pháp phân tích
lợi ích - chi phí và phương pháp tài chính là ở chỗ: trong khi đánh giá tài chính xem
xét dự án từ quan điểm phúc lợi của một bộ phận nhỏ dân cư thì phân tích lợi ích -
chi phí gộp chung lợi ích và chi phí của toàn xã hội để xác định xem dự án có cải
thiện phúc lợi xã hội của nền kinh tế không. Đánh giá tài chính tập trung vào dòng
tiền ròng tính theo giá thị trường, giá tài chính, còn phân tích lợi ích - chi phí quan
tâm đến lợi ích kinh tế.
1.7.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư công
1.7.2.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư công ở tầm vĩ mô
Ở tầm vĩ mô, các hiệu quả kinh tế thường biểu hiện một cách không rõ nét,
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
23