Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ngành công
nghiệp có vai trò rất quan trọng.
Công nghiệp là ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất rất
lớn cho xã hội, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp
không những cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng
có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của
toàn xã hội.
Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành
kinh tế khác như nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và
củng cố an ninh quốc phòng. Không một ngành kinh tế nào lại không sử
dụng các sản phẩm của công nghiệp.
Công nghiệp tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên
thiên nhiên ở cỏc vựng khác nhau, làm thay đổi sự phân công lao động và
giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển giữa cỏc vựng lónh thổ.Cụng
nghiệp ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm mới mà không ngành sản xuất
vật chất nào sánh được với nó vì thế tạo khả năng mở rộng sản xuất, mở rộng
thị trường lao động, tạo ra nhiều việc làm mới và tăng thu nhập.
Công nghiệp ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm mới mà không ngành sản
xuất vật chất nào sánh được với nó vì thế tạo khả năng mở rộng sản xuất, mở
rộng thị trường lao động, tạo ra nhiều việc làm mới và tăng thu nhập.
Ngày nay, một nước muốn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đảm
bảo sự phát triển ổn định về kinh tế - xã hội, cần thiết phải có một hệ thống
các ngành công nghiệp hiện đại và đa dạng, trong đó các ngành công nghiệp
mũi nhọn phải được chú ý thích đáng. Quá trình một xã hội chuyển dịch từ
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
1
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
một nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở nông nghiệp sang một nền kinh tế về
cơ bản dựa vào sản xuất công nghiệp được gọi là quá trình công nghiệp hoá.
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, là một tỉnh có
truyền thống tiểu thủ công nghiệp đất trăm nghề. Bên cạnh đó lại có nhiều
tiềm năng và điều kiện phát triển ngành công nghiệp. Ngành Công nghiệp
Băc Ninh ra đời, hình thành và phát triển cùng với sự nghiệp cách mạng của
đất nuớc và dân téc đã có nhiều đóng góp quan trọng trong suốt quá trình
đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước.
Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt kể từ khi tái lập tỉnh (tháng 1 năm
1997), công nghiệp Bắc Ninh đã có những bước phát triển vuợt bậc, với tốc
độ luôn luôn cao hơn bình quân chung của cả nước và khu vực Đồng bằng-
Trung du bắc bé. Khi tái lập tỉnh (1997), Bắc Ninh vẫn mang đặc thù của một
tỉnh thuần nông. Từ năm 1997 đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, sự
điều hành có hiệu quả của HĐND, UBND tỉnh cùng với sự nỗ lực phấn đấu
của cán bộ công nhân viên chức, người lao động trong toàn ngành công
nghiệp, bộ mặt công nghiệp Bắc Ninh có nhiều thay đổi.
Từ những vai trò của ngành công nghiệp nói chung và đặc điểm công
nghiệp Bắc Ninh nói riêng mà tình hình nghiên cứu sự phát triển công
nghiệp của Bắc Ninh (1997-2010) đã trở thành vấn đề lôi cuốn hấp dẫn.
Hơn nữa trong nghiên cứu lịch sử hiện nay việc nghiên cứu đề tài lịch
sử địa phương có nhiều ý nghĩa lớn . Bởi lịch sử địa phương chứa đựng
nhiều nguồn tài liệu phong phú, nhiều vấn đề đề tài để ta khai thác. Cũng từ
những ý nghĩa thực tiễn đó, việc nghiên cứu lịch sử địa phương được đưa
vào giảng dạy trong các trường trung học phổ thông. Từ đó học sinh hiểu
được lịch sử địa phương của tỉnh, thông qua việc hiểu biết về lịch sử địa
phương sẽ giỳp cỏc em hiểu được tinh thần lao động, sáng tạo của cha ông
ta từ ngàn xưa đã để lại.
Với ý nghĩa thực tiễn và khoa học nói trên nên em quyết định chọn đề
tài: “Công nghiệp Bắc Ninh từ 1997 đến 2010” để làm khóa luận tốt nghiệp.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
2
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Ngành công nghiệp Việt Nam đã được Đảng và Bác Hồ xác lập ngày
28/81945 và lấy là ngày truyền thống của ngành. Cũng từ năm 1945, ngành
công nghiệp Bắc Ninh được hình thành phát triển. Đặc biệt ngành có nhiều
sự thay đổi khi đến năm 1962 Bắc Ninh và Bắc Giang sáp nhập với nhau
lập ra tỉnh Hà Bắc, và hơn cả trải qua 35 năm đến năm 1997 tỉnh Bắc Ninh
tái lập tỉnh cho đến ngày nay. Tuy ngành hình thành khá lâu đời, lại có nhiều
biến đổi lớn khi sáp nhập và tách tỉnh như vậy nhưng tới nay chưa có một
công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề này.
Nghiên cứu về vấn đề này có một số tác phẩm đề cập tới như sau:
Tác giả Chu Viết Luân (ch.b), Trần Anh Vũ, Dương Mai Lan với tác
phẩm: “Bắc Ninh -Thế và lực mới trong thế kỷ XXI”, NXB Chính trị Quốc
gia, 2002. Tác phẩm trình bày những thành tựu, chuyển biến tích cực về
kinh tế tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến năm 2002. Cụ thể trong lĩnh vực
công nghiệp, tác phẩm đã đề cập đến sự hình thành và phát triển các khu
công nghiệp trên địa bàn tỉnh, đồng thời trình bày hệ thống các doanh
nghiệp tiêu biểu của Bắc Ninh (như:cụng ty kớnh Đỏp Cầu, công ty cổ phần
giấy Thuận Thành, công ty trách nhiệm hữu hạn Sơn Hà….).
Tác phẩm “Động thái kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 1997-2005”,
NXB Thống Kê, năm 2006. Tác phẩm trình bày tổng quát những thành tựu
kinh tế xã hội Bắc Ninh giai đoạn 1997-2005, ngành công nghiệp có sự
nghiên cứu về hiện trạng cơ sở vật chất, nguồn lực công nghiệp, những kết
quả sản xuất kinh doanh đạt được và những tác động tích cực cũng như
những hạn chế của ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh.
Nguyễn Phương Bắc: “Định hướng và giải pháp đầu tư phát triển
kinh tế tỉnh Bắc Ninh”, (Luận án tiến sĩ), năm 2002. Luận án đưa ra thực
trạng đầu tư phát triển kinh tế và định hướng, giải pháp chủ yếu về đầu tư
phát triển kinh tế ở Bắc Ninh đặc biệt là ngành công nghiệp. Như vậy tác
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
3
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
phẩm mới chỉ đề cập tới khía cạnh về đầu tư phát triển của ngành công
nghiệp tỉnh Bắc Ninh.
Mẫn Bá Đạt: “Quỏ trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài
quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 – 2003” (Luận án Tiến sĩ),
năm 2009. Luận án trình bày thực trạng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
ngoài quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 đến 2003. Và đưa ra
phương hướng, giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc
doanh ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tiếp theo.
Bùi Vĩnh Kiên: “Chính sách phát triển công nghiệp tại địa phương
(nghiên cứu áp dụng với tỉnh Bắc Ninh”), (luận án Tiến sĩ), năm 2009.
Luận án trình bày thực trạng chính sách phát triển công nghiệp ở tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2007. Đưa ra những định hướng và giải pháp
hoàn thiện các chính sách chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở
tỉnh Bắc Ninh giai đoạn đến 2020.
-Bùi Vĩnh Kiên: “Phỏt triển các khu công nghiệp – bước đột phá
trong sự nghiệp công nghiệp hóa của tỉnh Bắc Ninh”, Tạp chí Thông tin
khu công nghiệp Việt Nam, số 13, tháng 10/2001. Nội dung nghiên cứu:
thành tựu to lớn của các khu công nghiệp đối với tình hình công nghiệp nói
riêng và kinh tế nói chung trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa
của tỉnh.
Bùi Vĩnh Kiên: “Các khu công nghiệp ở Bắc Ninh: tiềm năng và
triển vọng”,Tạp chí Công nghiệp Việt Nam, tháng 12/2002. Nội dung bài
viết trình bày những tiềm năng và thuận lợi cho ngành công nghiệp Bắc
Ninh phát triển, và đưa ra những phương hướng phát triển bền vững cho
ngành trong tương lai.
Trịnh Trọng Quý: “Bắc Ninh sôi nổi các khu công nghiệp” tạp chí
Kinh tế và phát triển số 142, 4/2009. Nội dung bài viết xoay quanh vấn đề
sự phát triển và tính năng động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
4
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
Ninh như: khu công nghiệp Tiên Sơn, Yên Phong, Quế Võ và khu công
nghiệp Thuận Thành 3.
Đỗ Quang Vui: “Bắc Ninh phát triển các khu công nghiệp với giải
quyết việc làm” Tạp chí Lao động- Xã hội số 279-280/2006. Nội dung chủ
đạo là vấn đề việc làm tỉnh Bắc Ninh là nghiên cứu cụ thể là tại các khu
công nghiệp trong tỉnh.
Các tác phẩm, luận án, bài viết trên mặc dù mới dừng lại ở sự nghiên
cứu chung về lý luận và một số nội dung ngành công nghiệp nhưng bước
đầu có những nghiên cứu nhất định về công nghiệp tỉnh Bắc Ninh. Chưa có
một tác phẩm nào nghiên cứu đầy đủ cụ thể công nghiệp Bắc Ninh từ 1997
đến 2010. Với những nguồn tư liệu thu thập được, với những lý luận và
những nội dung khía cạnh của công nghiệp Bắc Ninh đã được nghiên cứu em
muốn khóa luận sẽ là sự nghiên cứu tổng thể và có hệ thống về vấn đề này.
3. Đối tượng và phạm vi của đề tài.
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài của khóa luận chỉ nghiên cứu các
ngành công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi không gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu về kinh tế công
nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh với những nội dung chính: hiện trạng công nghiệp
và những tác động của công nghiệp đến kinh tế xã hội của tỉnh.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ năm 1997-2010 là thời
kỳ tỉnh Bắc Ninh tái lập tỉnh cho đến nay (theo Nghị quyết của Quốc hội
khóa IX kỳ họp thứ 10 (15/11/1996).
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tư liệu.
Tài liệu bao gồm các loại:
- Tài liệu Văn thư – Lưu trữ của tỉnh Bắc Ninh.
- Tài liệu phòng quản lý công nghiệp- Sở Công thương tỉnh Bắc Ninh.
- Tài liệu Ban quản lý khu công nghiệp
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
5
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh XV,XVI,XVII
- Sách chuyên khảo: Lịch sử Hà Bắc, Địa Chí Hà Bắc, các bài báo
cáo khóa luận trước….)
- Tài liệu thực địa: Điều tra xã hội…
- Tài liệu Internet.
4.2 Phương pháp nghiên cứu.
Để có được tư liệu một cách đầy đủ và chính xác về tổng thể ngành
công nghiệp Bắc Ninh luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu của một bài nghiên cứu lịch sử như:
Phương pháp thống kê: Thống kê những số liệu về kinh tế, văn hóa xã
hội tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là những số liệu liên quan đến ngành công
nghiệp. Sau khi thống kê các số liệu, tài liệu em sử dụng phương pháp phân
tích – tổng hợp, phương pháp so sánh -tổng hợp, phương pháp logic, lịch
sử nhằm khai thác và phát triển đề tài. Bên cạnh đó em còn sử dụng phương
pháp điều tra điền dã tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề
nhằm thu thập những thông tin cụ thể chính xác và thực tế phục vụ cho bài
viết. Từ đó em đưa ra nhận định, đánh giá và kết luận theo mục đích mà bài
luận văn đề ra.
5. Đóng góp của khóa luận:
Là công trình nghiên cứu, luận văn trước hết làm tái hiện bức tranh
công nghiệp Bắc Ninh trong bối cảnh lịch sử nước ta từ năm 1997-2010
trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Bằng các dẫn chứng số liệu, luận
văn xác định vai trò kinh tế-xã hội của công nghiệp Bắc Ninh xu hướng vận
động cũng như vị trí của nó trên bình diện công nghiệp đồng bằng châu thổ
sông Hồng và công nghiệp trên toàn đất nước.
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, lịch sử xã hội địa phương,
khóa luận chỉ ra những động lực thúc đẩy cho công nghiệp Bắc Ninh phát
triển cũng như những trở lực khiến cho sự phát triển đó bị hạn chế, chưa
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
6
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Từ đó rút ra những biện pháp tích cực để
phát triển bền vững và đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn
cho ngành công nghiệp của tỉnh.
Thông qua việc nghiên cứu công nghiệp Bắc Ninh (1997-2010) luận
văn nêu lên sự gắn bó và tác động giữa công nghiệp và nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ thương mại….Những mối quan hệ qua lại tương tác đó sẽ
mang nhiều yếu tố tích cực cần khai thác và tiêu cực cần khắc phục.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể căn cứ vào kế hoạch
đú cỏc cấp ngành đề ra các cơ sở nhằm thúc đẩy hoạt động công nghiệp, góp
phần công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh và đất nước.
6. Bố cục của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục,
luậnvăn gồm 3 chương:
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát điều kiện tự nhiên xã hội tỉnh Bắc Ninh.
Chương 2: Tình hình công nghiệp Bắc Ninh thời kỳ 1997-2010.
Chương 3: Những tác động của sự đổi mới công nghiệp đối với nền
kinh tế xã hội Bắc Ninh.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
7
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI BẮC NINH
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu
thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu
vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh.
- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang
- Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội
- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương
- Phía Tây giáp thủ đô Hà Nội
Với vị trí như thế, xét tầm không gian lãnh thổ vĩ mô, Bắc Ninh có
nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh:
- Nằm trên tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ
1A, quốc lộ 18, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường thuỷ như
sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình rất thuận lợi cho vận chuyển hàng
hoá và du khách giao lưu với các tỉnh trong cả nước.
- Gần thủ đô Hà Nội được xem như là một thị trường rộng lớn hàng
thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh
tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá đồng thời là nơi cung cấp thông tin,
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
8
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước. Hà
Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông -
lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ
Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố
vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoỏ.
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng
kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, trong đó đặc biệt là công nghiệp chế biến
nông sản và dịch vụ du lịch.
- Là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh là cầu nối
giữa Hà Nội và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, trên đường bộ giao lưu
chính với Trung Quốc và có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng.
Trong cấu trúc địa lý không gian thuận lợi như vậy sẽ là yếu tố phát
triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy
một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá
trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh. Xột trờn khía cạnh cấu trúc hệ thống đô
thị và các điểm dân cư của tỉnh thỡ cỏc đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một
hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí
tương tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc
1.1.2. Địa hình, đất đai và khí hậu
Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh.
Nhiệt độ trung bình năm là 23,3°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là
28,9°C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8°C (tháng 1).
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1°C.
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1400 -
1600mm nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
9
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1530 - 1776 giờ, trong đó
tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, thỏng cú ớt giờ nắng trong
năm là tháng 1.
Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông
Nam. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm
sau, gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi
ẩm gây mưa rào.
Nhìn chung Bắc Ninh có điều kiện khí hậu đồng đều trong toàn tỉnh
và không khác biệt nhiều so với các tỉnh đồng bằng lân cận nên việc xác
định cỏc tiờu trớ phát triển công nghiệp có liên quan đến khí hậu như hướng
giú, thoỏt nước mưa, chống nóng, khắc phục độ ẩm dễ thống nhất các
ngành công nghiệp trong vùng; việc xác định tiờu chuẩn qui phạm xây dựng
công nghiệp có thể dựa vào qui định chung cho công nghiệp vùng đồng
bằng Bắc bộ.
Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc
xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ
về sông Đuống và sông Thái Bình. “Mức độ chênh lệch địa hình không lớn,
vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7 m, địa hình trung du đồi
núi có độ cao phổ biến 300 - 400m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ
(0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện
Quế Võ và Tiên Du” [23; tr8]. Ngoài ra còn một số khu vực thấp trũng ven
đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Vừ, Yờn Phong.
Đặc điểm địa chất mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất
thuộc vùng trũng sông Hồng, bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt
của cấu trúc mỏng. Tuy nhiên nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc, Bắc bộ
nên cấu trúc địa chất lãnh thổ Bắc Ninh có những nột cũn mang tính chất
của vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc. Toàn tỉnh có mặt các loại đất đá
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
10
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
có tuổi từ Cambri đến đệ tứ song nhìn chung có thành tạo Kainozoi phủ trờn
cỏc thành tạo cổ. Đây là thành tạo chiếm ưu thế về địa tầng lãnh thổ. Các
thành tạo Triat phân bố trên ở hầu hết các dãy núi, thành phần thạch học chủ
yếu là cát kết, sạn kết. Bề dày các thành tạo đệ tứ biến đổi theo quy luật trầm
tích từ Bắc xuống Nam. ở các vùng núi do bị búc mũn nờn bề dày của chúng
còn rất mỏng, càng xuống phía Nam bề dày có thể đạt tới 100 m, trong khi
đó vùng phía Bắc (Đáp Cầu) bề dày chỉ đạt 30 - 50 m.
Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so
với Hà Nội và vùng đồng bằng Bắc bộ khác trong việc xây dựng các công
trình nhà máy, xí nghiệp phục vụ cho hoạt động công nghiệp. Và về mặt địa
hình có thể hình thành 2 loại hình cơ bản trong hoạt động công nghiệp: khai
thác (cát sỏi, than bùn ở ven sông), và công nghiệp chế biến ở những địa
hình bằng phẳng giao thông thuận lợi .
1.1.3. Đặc điểm thủy văn
Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sụng khỏ
cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km². Có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm
sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình.
Sông Đuống: Có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng
nước bình quân 31,6 tỷ m³. Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là
9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 - 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù
sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m³ nước có 2,8 kg phù sa.
Sông Cầu: Tổng chiều dài sông Cầu là 290 km với đoạn chảy qua tỉnh
Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 5 tỷ m³. Sông Cầu
có mực nước trong mùa lũ cao từ 3 - 6 m, cao nhất là 8 m, trên mặt ruộng 1 -
2 m, trong mùa cạn mức nước sông lại xuống quá thấp (0,5 - 0,8 m).
Sông Thái Bình: thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài
385 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km. Do phần lớn lưu vực sông
bắt nguồn từ cỏc vựng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị sói mũn nhiều nên
nước sông rất đục, hàm lượng phù sa lớn. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
11
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
dốc, đỏy nụng nờn sụng Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều
nhất. Theo tài liệu thực đo thì mức nước lũ lụt lịch sử sông Thái Bình đo
được tại Phả Lại năm 1971 đạt tới 7,21 m với lưu lượng lớn nhất tại Cỏt
Khờ là 5000 m
3
/s.
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh cũn cú cỏc hệ thống sông ngòi nội địa như
sông Ngũ huyện Khờ, sụng Dõn, sụng Đụng Cụi, sụng Bựi, ngũi Tào Khờ,
sụng Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình
Với hệ thống sông này nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ
đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiờu thoỏt nước của tỉnh. Trong khi
đó tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m³, trong đó
lượng nước chủ yếu chứa trong cỏc sụng là 176 tỷ m³; được đánh giá là khá
dồi dào. “Cùng với kết quả thăm dò địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm
cũng khá lớn, trung bình 400.000 m³/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất
trung bình 3 - 5 m và có bề dày khoảng 40 m, chất lượng nước tốt” [23;
tr10]. Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản
xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh, trong đó có vai trò đóng góp to lớn cho
hoạt động sản xuất công nghiệp.
Tài nguyên thiên nhiên:
Nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Bắc Ninh được quy về các
dạng sau:
Tài nguyên rừng:
Tài nguyên rừng của Bắc Ninh không lớn, chủ yếu là rừng trồng.
Tổng diện tích đất rừng là 661,26 ha phân bố tập trung ở Quế Võ (317,9 ha)
và Tiên Du (254,95 ha). Tổng trữ lượng gỗ ước tính 3.279 m³, trong đó rừng
phòng hộ 363 m³, rừng đặc dụng 2916 m³.
Tài nguyên khoáng sản:
Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây
dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở
Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
12
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở Vũ
Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m³. Ngoài ra còn có than bùn
ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn.
. Tài nguyên đất:
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 822,7 km2, trong đó
đất nông nghiệp chiếm 64%, đất lâm nghiệp chiếm 0,74%, đất chuyên dùng
và đất ở chiếm 28,4%, đất chưa sử dụng còn 0,81%.
Bảng: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh năm 2005
Các loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Đất nông nghiệp 52.622,25 64,00
Đất nuôi trồng thủy sản 4.981,74 6,10
Đất lâm nghiệp 607,31 0,74
Đất chuyên dùng 13.836,76 16,80
Đất ở 9.517,44 11,60
Đất chưa sử dụng 668,72 0,81
Tổng số 82.271,12 100
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh)
Qua đây ta thấy, Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích tự nhiên không
lớn,
vào thời điểm năm 2005 đất tập trung chủ yếu cho hoạt động nông
nghiệp. Diện tích đất chuyên dùng, trong đó có diện tích đất phục vụ cho sản
xuất công nghiệp cũn khỏ ớt. Đất chưa sử dụng chiếm diện tích nhỏ. Như
vậy để đáp ứng quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa tỉnh thì sự chuyển
dịch cơ cấu sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng là một tất
yếu sẽ xảy ra.
1.2. Điều kiện dân cư xã hội
1.2.1. Vài nét về lịch sử hình thành
Dưới các triều đại phong kiến trước đây, tỉnh Bắc Ninh được gọi là
Kinh Bắc mà lịch sử đã để lại những di sản văn hoá truyền thống phong phú
về mặt vật thể và phi vật thể với hệ thống thành quách ở thị xã Bắc Ninh,
phòng tuyến sông Cầu (sông Như Nguyệt) nổi tiếng thời Lý chống lại các thế
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
13
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
lực ngoại bang phương Bắc, hệ thống các đền chùa, miếu mạo ở cỏc vựng Từ
Sơn, Bắc Ninh - Thị Cầu, Dâu Keo và đặc biệt là hát dân ca quan họ nổi
tiếng cựng cỏc lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc như hội Lim, Đình Bảng
“Từ năm 1822 xứ Kinh Bắc được nhà Nguyễn đổi tên gọi thành tỉnh
Bắc Ninh, sau 2 năm trấn thành Bắc Ninh, thuộc thị xã Bắc Ninh ngày nay,
được xây dựng lại bằng đá ong và hiện diện vị thế của mình bằng cột cờ cao
17m” [24; tr254].
Dưới thời Pháp thuộc vào năm 1931 trấn Bắc Ninh được đổi tên thành
tỉnh Bắc Ninh. Thị xã Bắc Ninh được tổ chức thành một cứ điểm trọng yếu
về quân sự của Bắc Kỳ và là một trung tâm chính trị, kinh tế vùng Năm
1938 thị xã Bắc Ninh được xếp vào thành phố thứ 5 của xứ Bắc Kỳ sau các
đô thị: thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, thành phố Nam Định và thị
xã Hải Dương.
Sau hoà bình lập lại năm 1954, tỉnh Bắc Ninh nói chung và thị xã Bắc
Ninh nói riêng tiếp tục duy trì sự phát triển kinh tế suốt quá trình xây dựng
chính quyền nhân dân và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Vào năm 1962 tỉnh Bắc Ninh được sát nhập với tỉnh Bắc Giang thành
tỉnh Hà Bắc. Mặc dù không còn vị trí tỉnh lỵ như trước đây (lúc đó Bắc
Giang trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới sát nhập), nhưng thị xã Bắc Ninh vẫn là
một trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là trong mối
quan hệ giao lưu với thủ đô Hà Nội.
- Đến năm 1997 tỉnh Hà Bắc lại được chia lại thành hai tỉnh Bắc Ninh và
Bắc Giang theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 (ngày 15 - 11
- 1996). Từ đó thị xã Bắc Ninh lại trở thành thị xã của tỉnh Bắc Ninh mới.
Từ đó đến nay Bắc Ninh đó phỏt triển không ngừng quá trình công
nghiệp hóa hiện đại hóa của tỉnh mà tiêu biểu là việc xây dựng mới:
• Khu vực hành chính và các khu dân cư mới ở thị xã Bắc Ninh.
• Cải tạo và phát triển mạnh bộ mặt trung tâm của các thị trấn huyện
lỵ, nhất là thị xã Từ Sơn.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
14
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
• Đang hình thành và phát triển một số khu công nghiệp tập trung
quan trọng như khu công nghiệp Tiên Sơn, Quế Vừ, Yờn Phong….
• Hệ thống kỹ thuật hạ tầng được cải tạo và nâng cấp đáng kể nhất là QL
1A, QL 1B, QL 18, QL 38, và 11 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dải trên 350 km.
Các hệ thống hạ tầng kỹ thuật cấp nước, cấp điện cũng được đầu tư đáng kể.
• Hệ thống di tích lịch sử văn hoá lâu đời của xứ Kinh Bắc xưa
được khôi phục, bảo tồn và phát triển có hiệu quả, thu hút khách du lịch
thập phương.
Ngoài ra với hàng trăm ngành nghề khác nhau của tỉnh Bắc Ninh
cũng được khuyến khích phát triển tạo điều kiện cho sự hình thành và phát
triển tiểu thủ công nghiệp như: ở Đông Hồ, Xuân Lai, Đại Bái, Đại Lâm,
Đình Bảng, Đa Hội, Tương Giang, Phự Khờ, Nội Duệ
1.2.2. Dân cư và xã hội
“Theo điều tra dân số 01/04/2009, Bắc Ninh có 1.024.151 người. Bao
gồm 503.200 nam (49,1%); 520.951 nữ (50,9%). Sau 10 năm, dân số Bắc
Ninh tăng thêm 82.045 người. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giữa hai cuộc tổng
điều tra (1999 và 2009) là 0,84%/năm. Dân cư khu vực thành thị chiếm tỷ
trọng 23,6%, khu vực nông thôn chiếm 76,4% ” [23; tr 39]. Mật độ dân số
của tỉnh ngày càng tăng, chỉ đứng sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiền năng phát triển kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tỉnh lại
dồi dào, đã tạo điều kiện cho cư dân nơi đây phát triển. Bắc Ninh vốn là
vùng có nhiều nghề thủ công nổi tiếng, vùng đất “trăm nghề”. Hiện nay trên
toàn tỉnh cú trờn 100 làng nghề, trong đó có 62 làng nghề truyền thống, nổi
tiếng như: làng tranh dân gian Đông Hồ, làng gốm Phự Lóng, làng đồng Đại
Bái, làng rèn Đa Hội, làng dệt Lũng Giang, Hồi Quan, Sơn mài Đình Bảng,
chạm khắc Đồng Kỵ, làng nghề tre trỳc Xuõn Lai….Ngày nay một số làng
nghề đã bị mai một, việc khôi phục và phát triển các làng nghề vừa để phát
triển kinh tế địa phương vừa để phát triển tiềm năng du lịch được tỉnh quan
tâm với việc quy hoạch, xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
15
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
Về chất lượng lao động: Năm 2010 Lực lượng lao động tốt nghiệp
tiểu học 8,35%, tốt nghiệp trung học cơ sở 68,71%, tốt nghiệp trung học phổ
thông 21,94%. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ
cấp/học nghề trở lên chiếm 22,9%; lao động qua đào tạo từ công nhân kỹ
thuật có bằng trở lên chiếm 14,16%.
Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như trên:
Kinh tế công nghiệp Bắc Ninh thời kỳ 1997 – 2010 phát triển có
nhiều yếu tố thuận lợi và khó khăn. Tỉnh Bắc Ninh đã cố gắng phát huy mọi
tiềm năng và điều kiện thuận lợi cũng như khắc phục mọi khó khăn để thúc
đẩy công nghiệp của tỉnh phát triển:
*Những điều kiện thuận lợi:
- Bắc Ninh là một tỉnh đồng bằng nằm trong tam giác kinh tế động lực
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh có nhiÒu thế mạnh về giao thông, có đội
ngò lao động có trình độ khá và rất đa ngành với nhiều làng nghề truyền thống.
- Bắc Ninh đã sớm xác định được nhiệm vô trọng tâm là tiến hành
xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời triển khai
quy hoạch các ngành kinh tế trong đó có quy hoạch phát triển công nghiệp,
quy hoạch phát triển lưới điện đến năm 2010, đồng thời cụ thể hoá những
chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước bằng những quy định phù
hợp với đặc thù địa phương, tạo được môi trường thuận lợi thu hót nhanh và
nhiều dự án vào đầu tư trên địa bàn.
- Sù chỉ đạo điều hành tập trung của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh cùng với sự
quan tâm giúp đỡ của các cơ quan bộ, ngành Trung ương đã phát huy có
hiệu quả nguồn nội lực của địa phương, tạo bước tăng trưởng đột phá trong
lĩnh vực phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh
tế trên địa bàn tỉnh.
* Những khó khăn:
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
16
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
- Khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập, điểm xuất phát kinh tế thấp, tỷ trọng
công nghiệp mới chỉ chiếm 24,1% trong GDP, lực lượng lao động công
nghiệp chiếm 6,32% lao động xã hội trong tỉnh.
- Công nghiệp địa phương còn nhỏ bé, tiến độ đầu tư đổi mới thiết bị
công nghệ diễn ra còn chậm, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh trên thị trường,
trình độ quản lý kinh doanh và tính năng động của đội ngò cán bộ là chủ
doanh nghiệp còn hạn chế.
1.3. Tình hình công nghiệp trước năm 1997.
Phần lãnh thổ Bắc Ninh trong tỉnh Hà Bắc (cũ) bao gồm các huyện: Yên
Phong, Thuận Thành, Gia Lương, Quế Vừ, Tiờn Sơn và thị xã Bắc Ninh.
Với diện tích khoảng 17,2% nhưng dân số trên địa bàn Bắc Ninh
chiếm 39,2% dân số tỉnh Hà Bắc năm 1995 và mật độ dân số gấp 2,27 lần
mật độ dân số tỉnh Hà Bắc
Mặc dù diện tích nhỏ, nhưng các hoạt động kinh tế trên địa bàn Bắc
Ninh đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của tỉnh Hà Bắc trong những
năm trước năm 1997, nhất là trong sản xuất công nghiệp.
1.3.1. Công nghiệp Bắc Ninh trước năm 1986.
Từ khi thành lập tỉnh đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX,
Công nghiệp của Hà Bắc nói chung (và phần lãnh thổ Bắc Ninh nói riêng)
có 10 ngành công nghiệp sau đây:
1. Công nghiệp điện
2. Công nghiệp khai thác, chế biến kim loại
3. Công nghiệp hóa chất, phân bón và dược phẩm
4. Công nghiệp khai thác và chế biến lâm sản
5. Công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
6. Công nghiệp sành, sứ, gốm và thủy tinh
7. Công nghiệp chế tạo và sửa chữa cơ khí
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
17
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
8. Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, bánh kẹo và thức ăn
gia súc
9. Công nghiệp dệt da may mặc
10.Công nghiệp in
Trên phạm vi lãnh thổ Hà Bắc thuộc phần Bắc Ninh, mạng lưới công
nghiệp trung ương và địa phương được bố trí như sau:
• Công nghiệp Trung ương:
Các nhà máy xí nghiệp công nghiệp ở Hà Bắc do trung ương quản lý
gồm có:
1. Nhà máy 250 xe:
Nhà máy do bộ thủy lợi quản lý, được xây dựng ở núi Và (Tiên Sơn).
Nhiệm vụ của nhà máy là sửa chữa đại tu các loại máy kéo, công suất đại tu
250 xe trong 1 năm.
2. Nhà máy 150 xe:
Nhà máy do Bộ Giao thông quản lý, được xây dựng ở Dâu Keo
(Thuận Thành). Nhiệm vụ của nhà máy là sửa chữa đại tu các loại xe ô tô,
công suất đại tu 150 xe mỗi năm.
3. Nhà máy Quy Chế Từ Sơn:
Nhà máy do Bộ Cơ khí và luyện kim quản lý, được xây dựng ở thị
trấn Từ Sơn (Tiên Sơn). Nhiệm vụ chính của nhà máy là sản xuất các loại bu
long, ốc vít theo tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo độ chính xác cao.
4. Nhà máy xay Đáp Cầu:
Nhà máy do Bộ Lương thực quản lý, được xây dựng ở Đáp Cầu
(Bắc Ninh). Nhiệm vụ chính của nhà máy là xay xát gạo, công suất
khoảng 90 tấn /ngày.
5. Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn:
Nhà máy do Bộ Thực Phẩm quản l, được xây dựng ở Đáp Cầu.
Nhiệm vụ của nhà máy là sản xuất các loại thuốc lá từ nguồn nguyên liệu
thuốc lá Hà Bắc.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
18
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
6. Nhà máy X2:
Nhà máy máy Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý được xây dựng ở Đáp
Cầu. Nhiệm vụ của nhà máy là may các loại quần áo dùng trong nước và
xuất khẩu. Công suất nhà máy theo thiết kế là 35000 mét vải/năm.
• Công nghiệp địa phương:
1. Công nghiệp khai thác và chế biến nhiên liệu:
- Mỏ than Yên Phụ Yên Phong:
Than bùn Yên Phụ được phát hiện từ khá sớm (năm 1964). Diện tích
chứa than khoảng 20 ha, trữ lượng khoảng 157.160 tấn. Than bùn Yên Phụ
ngoài việc sử dụng làm chất đốt (dùng nung, gạch, ngúi, vụi) cũn có thể chế
biến thành phõn khoỏng phục vụ cho thâm canh cây trồng tốt. Trước năm
1986, mỏ than vẫn do huyện quản lý khai thác. Sau năm 1986 thì do tỉnh
quản lý. Sản lượng than khai thác hàng năm không đáng kể. Do điều kiện
còn nhiều khó khăn, nên công nghệ chế biến than bùn thành phõn khoỏng
chưa được thực hiện.
2. Công nghiệp chế tạo và sửa chữa cơ khí:
Vào đầu những năm 80 toàn tỉnh Hà Bắc có 5 cơ sở công nghiệp cơ
khí quốc doanh làm nhiệm vụ sản xuất và sửa chữa các loại công cụ cho các
ngành nông lâm, công nghiệp xây dựng ….Sản phẩm bao gồm các loại công
cụ cải tiến và các loại công cụ cầm tay như: máy bơm nước các loại, bơm
nước trừ sâu, xe cải tiến,xe trõu, mỏy chế biến màu, guồng tuốt lúa, máy
nghiền thức ăn gia súc, phụ tùng máy nông nghiệp, phụ tùng xe đạp, cày
bừa, cuốc, xẻng…Dưới đây là nhiệm vụ của từng nhà máy thuộc phạm vi
lãnh thổ Bắc Ninh:
- Nhà máy Cơ khí Đáp Cầu:
Nhà máy xây dựng từ năm 1960 ở Thị Cầu (Bắc Ninh), sau đó chuyển
sang Cổ Mễ - Đáp Cầu –Bắc Ninh. Những năm đầu nhà máy sản xuất các loại
công cụ như cày cuốc, xe bò, xe cải tiến, máy tuốt, máy đập lúa. Từ năm 1965
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
19
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
đến nay sản xuất máy nghiền thức ăn gia súc, xe cải tiến và phụ tùng xe cải
tiến Công suất nhà máy đạt 500 -1000 tấn sản phẩm/ năm. (1980).
- Xí nghiệp cơ khí trùng tu:
Xí nghiệp được xây dựng năm 1966 ở Long Khám (Tiên Sơn), đến
năm 1981 di chuyển về Đáp Cầu. Sản phẩm chủ yếu là sửa chữa máy bơm
nước các loại và sản xuất phụ tùng nổ thay thế. Cồng suất sửa chữa 1000 lần
mỏy/năm.
3. Công nghiệp hóa chất:
- Xí nghiệp dược phẩm Hà Bắc:
Xí nghiệp do Ty Y tế quản lý, được xây dựng năm 1960 tại thị xã
Bắc Ninh. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xí
nghiệp sơ tán về Phật tích (Tiên Sơn). Năm 1981 xí nghiệp lại di chuyển về
địa điểm mới ở Vũ Ninh (Bắc Ninh). Sản phẩm chính của xí nghiệp là các
loại thuốc chữa các bệnh thông thường, các loại thuốc bổ…. Xí nghiệp đã có
nhiều cố gắng sản xuất được một số loại thuốc kháng sinh (những năm
80).Giai đoạn này xí nghiệp còn cung cấp 1 lượng thuốc quan trọng phục vụ
công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh.
4. Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng:
Từ sau năm 1954, ngành công nghiệp khai thác và vật liệu xây dựng
Hà Bắc đã từng bước xây dựng và phát triển, góp phần quan trọng vào việc
cung cấp nguyên vật liệu trong quá trình khôi phục và phát triển kinh tế. Sau
ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, nhu cầu vật liệu xây dựng
tăng lên rất nhanh, nhất là gạch ngúi, vụi, xi măng (đặc biệt là vôi, ngoài
việc đáp ứng nhu cầu cho xây dựng, còn phải đáp ứng một lượng lớn vôi
bón ruộng, cải tạo đất, chế biến giấy…)
Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ V Đảng bộ tỉnh (1979) đã ghi:
“Tiếp tục phát triển mạnh sản xuất vật liệu xây dựng, phấn đấu giải quyết
nhiều vôi cho cải tạo đất và xây dựng…” và “….phấn đấu ở nông thôn có
từ 70-80% số hộ nông dân có nhà ngúi…”
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
20
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
Thực hiện nghị quyết này, trong những năm 1979-1986, mặc dù
ngành sản xuất vật liệu xây dựng đang gặp nhiều khó khăn như thiếu than
thiếu đỏ….nhưng ngành sản xuất vật liệu xây dựng đã có nhiều cố gắng, vẫn
ổn định và giữ vững sản xuất, phục vụ kịp thời cho công tác xây dựng và
một phần do cải tạo đất.
- Về sản xuất gạch ngói:
Bắc Ninh có 2 trong 7 xí nghiệp quốc doanh sản xuất gạch, ngói toàn
tỉnh Hà Bắc (Do ty xây dựng quản lý) là: + Xí nghiệp gạch ngói Cầu Ngà
(Quế Võ), công suất khoảng 1.000.000 viờn ngúi /năm và 500.000 viên
gạch/năm.
+ Xí nghiệp gạch ngúi Yờn Phong (Vạn An), công suất 1.500.000
viên gạch/năm
- Về sản xuất vôi:
Bắc Ninh có 2 xí nghiệp trong tổng số 5 xí nghiệp toàn tỉnh Hà Bắc
(do Ty xây dựng quản lý)
+ Xí nghiệp vôi Nam Thắng Đáp Cầu, công suất 25000 tấn vụi/năm.
+ Xí nghiệp vôi Gia Thuận (Hồ - Thuận Thành).
5. Công nghiệp khai thác và chế biến lâm sản:
Bắc Ninh không có thế mạnh để khai thác lâm sản như Bắc Giang, chỉ
có công nghiệp chế biến lâm sản có điều kiện phát triển. Hà Bắc là tỉnh có
nghề thợ mộc truyền thống (cả về thợ mộc xây dựng và thợ mộc đóng gỗ).
Bắc Ninh có Xí nghiệp mộc Bắc Ninh (Cổ Mễ, Đáp Cầu), xây dựng năm
1970. Sản phẩm chính là bàn ghế làm việc, học tập, giường tủ…Hai xí
nghiệp đều chế biến gỗ sản xuất mộc dân dụng.
6. Công nghiệp sành, sứ, gốm, thủy tinh.
Tiếp thu và phát triển truyền thống, trong thời gian này, công nghiệp
gốm, sành, sứ của Hà Bắc (ở cả khu vực: quốc doanh và tập thể) đều được
phát triển và tiến bộ cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Riêng công
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
21
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
nghiệp thủy tinh, toàn tỉnh mới chỉ có hợp tác xã Cộng lực (Bắc Ninh) và
đầu năm 1981 xây dựng thêm nhà máy sản xuất kính ở Đáp Cầu.
- Hợp tác xã sản xuất sứ cách điện:
Hợp tác xã sản xuất sứ cách điện Thanh Sơn (Đáp Cầu), là cơ sở sản
xuất sứ cách điện đã lâu. Sản phẩm chủ yếu là loại cầu chì 5A, cầu chì 10A và
phích điện 5A. Là một đơn vị kinh tế tập thể, mặc dù trên đà phát triển cả về số
lượng và chất lượng sản phẩm, nhưng trang thiết bị và dây chuyền chưa được
đầu tư và cải tiến hiện đại, các sản phẩm còn làm thủ công là chủ yếu.
- Hợp tác xã thủ công nghiệp: hợp tác xã tráng men Đại Tân (Quế Võ).
- Công nghiệp thủy tinh:
Sau giải phóng năm 1975 mới có một cơ sở của tập thể sản xuất thủy tinh là
hợp tác xã Cộng Lực. Hợp tác xã này tuy được xây dựng từ lâu, nhưng dây
chuyền sản xuất cơ khí chưa có, mà đại bộ phận là thủ công . Sản phẩm chủ
yếu là chai, lọ, bình và ống tiêm.
Từ năm 1982-1985 đã xây dựng cơ sở làm thủy tinh ở Quế Võ với
công suất lớn để sử dụng nguồn cỏt bói Bựng.
7. Công nghiệp chế biến lương thực và thực phẩm:
Đây là ngành công nghiệp giữ vị trí quan trọng đặc biệt trong các
ngành sản xuất hàng tiêu dùng ở Bắc Ninh. Nó làm nhiệm vụ nâng cao giá
trị hàng hóa nông phẩm vừa khai thác, tận dụng các nguồn nguyên liệu trong
nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, chăn nuụi…nhằm thúc đẩy các ngành
này phát triển, vừa đảm bảo cung cấp lương thực và thực phẩm cho nhân
dân với yêu cầu ngày càng lớn,chất lượng ngày càng cao và thuận tiên trong
tiêu dùng.
- Công nghiệp chế biến lương thực và hoa màu:
Ngành này chỉ tập trung phát triển địa bàn Bắc Giang. Bắc Ninh chỉ
có nhà máy xay Đáp Cầu do trung ương quản lý và mạng lưới các cụm xay
xát nhỏ, các hợp tác xã, để đảm bảo nhu cầu xay xát thúc cho nhân dân. Chế
biến hoa màu chủ yếu là khoai lang và sắn.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
22
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
Xí nghiệp chế biến sắn chỉ có ở Khả Lễ (Võ Cường). So với toàn tỉnh
Hà Bắc nói chung và Bắc Ninh nói riêng thì công nghiệp chế biến lương
thực hoa màu còn phát triển chậm.
- Công nghiệp chế biến thức ăn gia súc:
Toàn tỉnh Hà Bắc có 2 xí nghiệp quốc doanh chế biến thức ăn hỗn
hợp cho gia súc thì Bắc Ninh có 1 xí nghiệp: Võ Cường xây dựng năm
1970. Sản phẩm của xí nghiệp mới chỉ cung cấp được cho các trại chăn nuôi
quốc doanh của tỉnh và cung cấp 1 phần cho trung ương, chưa cung cấp cho
chăn nuôi tập thể gia đình.
- Công nghiệp đường, giấy, rượu:
Bắc Ninh có xí nghiệp liên hợp sản xuất đường, giấy và rượu ở Hồ
(Thuận Thành), thành lập năm 1970. Vào những năm đầu thập niên 80, do
điều kiện nguyên liệu đặc biệt là mía chưa đảm bảo nên chưa sử dụng hết
công suất thiết bị. Năng lực sản xuất của xí nghiệp có thể sản xuất được 500
tấn đường/năm, 1000 tấn giấy/năm và 500.000 lít rượu/năm. Nguồn nguyên
liệu chính là mía. Ngoài xí nghiệp này ra, với chủ trương tận dụng tiềm năng
sẵn có dồi dào ở địa phương, đã mở thêm và phát triển các cơ sở sản xuất
giấy thủ công, sản xuất giấy dó ở Phong Khê (Yên Phong), sản xuất giấy
nến ở Từ Sơn (Tiên Sơn)…
8. Công nghiệp dệt da may mặc:
Do điều kiện nguyên liệu khó khăn, nên nghề dệt sợi chưa được phát
triển trên quy mô lớn và chưa có xí nghiệp quốc doanh mà chủ yếu do các
hợp tác xã dệt. Bắc Ninh có xí nghiệp thảm len xuất khẩu ở thị xã Bắc Ninh.
Hà Bắc nói chung và Bắc Ninh nói riêng đều chưa có cơ sở quốc doanh
thuộc da và làm đồ da, mà mới chỉ có hợp tác xã thủ công nghiệp nên sản
lượng chưa lớn và chưa có giá trị kinh tế.
Qua đây ta thấy công nghiệp phần lãnh thổ Bắc Ninh trong toàn tỉnh
Hà Bắc trước năm 1986 còn chậm phát triển, chỉ có 2 thành phần kinh tế cơ
bản là: công nghiệp Trung ương và công nghiệp địa phương. Cơ cấu ngành
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
23
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
đơn giản, sức sản xuất còn thấp, các sản phẩm công nghiệp chưa đa dạng
phong phú.
1.3.2. Công nghiệp Bắc Ninh từ năm 1986-1996
Theo phương hướng của đại hội VI (12/1986), công nghiệp địa
phương tỉnh Hà Bắc từ năm 1986 đến những năm đầu thập niên 90 giữ vị trí
quan trọng để phát triển nông nghiệp toàn diện, tăng nhanh sản xuất hàng
tiêu dùng, góp phần trực tiếp nhằm ổn định đời sống, tăng giá trị hàng xuất
khẩu và tạo điều kiện xõy dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong khi nắm vững
nông nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở từng bước tăng dần giá
trị tổng sản lượng trên địa bàn tỉnh và từng huyện thị theo hướng công nông
nghiệp hoặc nông công nghiệp.
Trong giai đoạn này, cơ cấu kinh tế theo GDP có sự thay đổi rõ rệt:
phát triển theo chiều hướng tốt, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp tăng dần tỷ
trọng công nghiệp –xõy dựng và dịch vụ
Bảng: Cơ cấu kinh tế các ngành theo GDP (1991-1995)
Đơn vị: %
1991 1992 1993 1994 1995
Công nghiệp 6,8 7,2 8,0 10,99 11,08
Xây dựng 9,1 10,1 9,3 8,51 8,01
Nông lâm ngư nghiệp 59,8 57,9 56,6 51,88 52,34
Dịch vụ 24,3 24,8 26,1 28,62 28,57
(Nguồn: Sở Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Hà Bắc)
Công nghiệp trong giai đoạn 1991-1995 tăng qua các năm (tăng 5 %),
đặc biệt nông nghiệp giảm 7,5%. Tuy nhiên chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu
vẫn là ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp tuy có tăng nhưng chiếm tỷ
trọng nhỏ (6,8% năm 1991 và 11,08% năm 1995).
Tính đến hết năm 1995 hiện trạng công nghiệp trên địa bàn được thể hiện
qua các mặt:
Về cơ sở sản xuất: Hà Bắc có tổng số 15.240 cơ sở sản xuất.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
24
Khóa luận tốt nghiệp Bùi Thị Giang
Tâm
- Phân loại theo thành phần kinh tế:
+ Doanh nghiệp trung ương: 11 cơ sở (phần lãnh thổ Bắc Ninh có 4
cơ sở: Quy chế Từ Sơn, nhà máy thuốc lá Bắc Sơn, nhà máy kớnh Đỏp Cầu,
xí nghiệp gạch Từ Sơn).
+ Doanh nghiệp quốc doanh địa phương: có 22 cơ sở. (Trong đó phần
lãnh thổ Bắc Ninh có 6 cơ sở: cơ khí Đáp Cầu, nhà máy Thuận Thành, xí
nghiệp gạch Cầu Ngà, xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc Võ Cường, công ty
sản xuất vật liệu xây dựng, xí nghiệp Dược).
+ Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Tổng số 15207 cơ sở: hợp tác xã
Tiểu thủ công nghiệp 144, hộ sản xuất tiểu hủ công nghiệp 15044, làng nghề
truyền thống 19.
- Cơ cấu công nghiệp theo ngành giai đoạn 1986-1996:
Tính đến năm 1995, cơ cấu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Bắc nói
chung và Bắc Ninh nói riêng có sự thay đổi, tuy nhiên về cơ bản là những
ngành chủ đạo của giai đoạn trước và xuất hiện thêm một số ngành mới.
Khái quát cơ cấu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Bắc như sau:
1. Ngành công nghiệp nhiên liệu: 0,43%
2. Ngành công nghiệp cơ khí, điện kỹ thuật, điện tử: 9,42%
3. Ngành công nghiệp hóa chất, phân bón: 33%
4. Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, sành sứ, thủy tinh: 19%
5. Ngành công nghiệp chế biến gỗ, giấy, lâm sản: 16,8%
6. Ngành công nghiệp lương thực, thực phẩm: 16,7%
7. Ngành công nghiệp dệt, may, da: 3,3%
8. Ngành công nghiệp khác: 1,12%
- Về giá trị sản xuất công nghiệp:
Bảng: Giá trị sản lượng công nghiệp tỉnh Hà Bắc (1991-1995)
Đơn vị: tỷ đồng (Giá năm 1989)
1991 1992 1993 1994 1995
Tổng số 124,6 155,8 180,2 222,895 263,81
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
25