Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

Sự biến động của giai cấp công nhân trong doanh nghiệp quốc doanh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1986 - đến nay)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (764.26 KB, 64 trang )

Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt
trong lịch sử Việt Nam, chứng tỏ rằng giai cấp công nhân nước ta đã
trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, giai cấp công nhân Việt Nam, thông qua
Đảng tiên phong của mỡnh đó làm tròn sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo
quần chúng nhân dân đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít
Nhật và đế quốc Mỹ giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, đưa cả
nước tiến lên CNXH.
Sau năm 1975, trong những chặng đường đầu đầy khó khăn gian
khổ của quãng đường quá độ lên CNXH,giai cấp công nhân Việt Nam
tiếp tục chứng minh tính ưu việt, chứng minh vai trò của mình trước vận
hội mới của đất nước. Bằng ý chí tự lực, tự cường, giai cấp công nhân
Việt Nam đã vượt qua những thử thách to lớn để đóng góp sức mình vào
nhiều lĩnh vực quan trọng như phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an
ninh - quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị.
Trong thời kì đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong
của giai cấp công nhân đất nước ta có những biến đổi sâu sắc, đạt được
nhiều thành tựu đáng ghi nhận trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, giữ vững an
ninh quốc phòng, ổn đinh chính trị, đời sống nhân dân được cải thiện, vị
thế nước ta trong khu vực và trên trường quốc tế không ngừng được
nâng cao. Trong sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước, yêu cầu đối với
giai cấp công nhân ngày càng cao.Giai cấp công nhân Việt Nam được
coi là lực lượng đi đầu, giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
1
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử


Trong giai đoạn hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam đã và đang
đứng trước những vận hội mới và thách thức mới. Phát huy truyền
thống, tính ưu việt và bản lĩnh của giai cấp công nhân, giai cấp công
nhân Việt Nam đang vươn lên mạnh mẽ hoà nhịp với vận hội mới của
đất nước bằng cách nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ lý luận
chính trị. Với trình độ học vấn ngày cao, đội ngũ công nhân đang là lực
lượng sản xuất tiên tiến có mặt ở mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế. Ngoài
việc tác động trực tiếp vào sản xuất công nghiệp, giai cấp công nhân còn
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học kĩ thuật và ứng
dụng khoa học kĩ thuật vào phục vụ trực tiếp cho các ngành kinh tế quốc
dõn.Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một quá trình phát triển biện
chứng, nó có tác dụng quyết định tới sự phát triển của dân tộc.
Chúng ta không thể phủ nhận được vai trò của giai cấp công nhân
đặc biệt trong giai đoạn xây dựng đất nước, phát triển kinh tế hiện nay.
Tuy nhiên trong thời gian gần đây người ta nhắc đến vai trò của đội ngũ
doanh nhân nhiều hơn là đội ngũ công nhân. Các công trình nghiên cứu
về giai cấp công nhân Việt Nam trở nên ít ỏi và mờ nhạt khiến người ta
có cảm giác vị trí vai trò của giai cấp công nhân không còn được đề cao
như trước nữa. Rất nhiều người không thể hình dung được một cách đầy
đủ về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Vấn đề phải dựng lên cho
được toàn bộ chân dung của giai cấp công nhân trong thời kỳ mới, không
phải không được đặt ra đối với các nhà nghiên cứu.
Muốn xây dựng được chân dung giai cấp công nhân Việt Nam một
cách đầy đủ, xác thực sinh động thì phải có quá trình tìm hiểu và khắc
hoạ cho được chõn dung của đội ngũ công nhân trong những thành phần
kinh tế cụ thể.
2
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
Việc đi sâu khảo sát, tìm hiểu sự phát triển cả về lượng và chất,

trình độ nhận thức chính trị, tư tưởng, chuyên môn kĩ thuật, tay nghề của
công nhân là góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của
giai cấp công nhân hiện đại. Để góp một phần nhỏ, bổ xung vào chỗ
khuyết thiếu lớn trong công tác nghiên cứu giai cấp công nhân hiện nay,
tác giả chọn hướng đi sâu tìm hiểu công nhân trong trong một thành
phần kinh tế cụ thể. Chớnh vỡ lớ do đó trong khuôn khổ bài viết này tác
giả sẽ tìm hiểu về: “ Sự biến động của giai cấp công nhân trong doanh
nghiệp quốc doanh”
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về giai cấp công nhân trong thời kì công nghiệp hoá,
hiện đại hoá từ 1986 đến nay là một vấn đề tương đối hay và đã được rất
nhiều người nghiên cứu. Tuy nhiên giai cấp công nhân hiện nay có rất
nhiều những biến động cả về chất lượng và số lượng. Trong từng thành
phần kinh tế thì sự biến động đó không giống nhau và điều đó được thể
hiện rất rõ trong thành phần kinh tế quốc doanh . Chính vì vậy mà việc
nghiên cứu sự biến động của giai cấp công nhân trong thành phần kinh tế
này chưa có nhiều, chỉ có một số ít những tác giả đề cập đến như:
Trong cuốn “Xu hướng biến động giai cấp công nhân trong những
năm đầu thế kỉ XIX” của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam viện công
nhân và công đoàn,Nxb Lao Động,HN, 2001.Đã nờu được sự biến đổi
cơ cấu của đội ngũ công nhân trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá,
hiện đại hoỏ. Đõy cũng chính là một phần trong sự biến đổi của giai cấp
công nhân trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong thành phần
doanh nghiệp nhà nước nói riêng.
Hay trong cuốn “ Một số vấn đề về giai cấp công nhân hiện nay”
của Bựi Đỡnh Bụn” đó nờu được một phần về thực trạng và xu hướng
3
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
biến động về cơ cấu của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, mặc dù

không toàn diện nhưng qua đó chúng ta cũng góp phần nào hiểu được sự
biến động của giai cấp công nhân trong doanh nghiệp quốc doanh ở một
số khía cạnh nhất định.
Đặc biệt trong cuốn “ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát
triển của giai cấp cụng nhõn” của PGS Cao Văn Lượng, Nxb chính trị
quốc gia,HN,2001, đã nêu lên được một phần về thực trạng và xu hướng
biến động của giai cấp công nhân trong doanh nghiệp quốc doanh trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên nó chưa thật sụ rõ ràng
về các vấn đề mà chỉ nêu một cách khái quát chung chung.
Ngoài ra còn có rất nhiều các cuốn sách khác nhau có đề cập đến
vấn đề này, tuy nhiên chưa thật sự rõ ràng và cụ thể. Trên cơ sỏ những
nguồn tài liệu khác nhau này tác giả sẽ tìm hiểu rõ hơn, cụ thể hơn về xu
thế biến động của giai cấp công nhân nói chung và trong doanh nghiệp
quốc doanh nói riêng.
3. Nội dung nghiến cứu và đóng góp của đề tài
3.1. Nội dung nghiên cứu
Trong đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
+ Lý luận về giai cấp công nhân nói chung và giai cấp công nhân
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng.
+ Xu thế biến động của giai cấp công nhân trong doanh nghiệp
nhà nước.
+ Dự báo xu hướng biến đổi và phương hướng xây dựng giai cấp
công nhân Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3.2. Đóng góp của đề tài
Trong việc nghiến cứu và học tập lịch sử nói chung thì nghiên cứu
sự phát triển nền kinh tế là một công việc đặc biệt quan trọng. Trong đó
4
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
giai cấp công nhân là một lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế. Giai cấp

công nhân nước ta ra đời từ rất sớm và cho đến ngày nay nó đóng vai trò
là lực lượng nòng cốt. Chính vì vậy nghiên cứu sự biến động của giai
cấp công nhân là điều rất cần thiết đặc biệt qua đề tài này sẽ giúp chúng
ta có được cách nhìn nhận rõ nét hơn sự phát triển của giai cấp công
nhân trong nền kinh tế. Đồng thời nó cũng là đóng góp bước đầu tư liệu
trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử đặc biệt lịch sử kinh tế thời kì
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1986 - đến nay).
4. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử kết
hợp chặt chẽ với phương pháp logic trong quá trình nghiờn cứu. Trong
đó, tác giả đặc biệt chú ý sử dụng phương pháp lịch sử để phù hợp với
yêu cầu bộ môn. Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài cần phải sưu tầm, chọn
lọc và sử dụng rất nhiều các loại tư liệu khác nhau, nờn tụi kết hợp sử
dụng hai phương pháp trên với các phương pháp thống kê, tổng hợp,
phân tích, so sánh, dự bỏo…
5. Đối tượng của đề tài
Đề tài tập trung đi tìm hiểu sự biến động của giai cấp công nhân
trong doanh nghiệp nhà nước trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước từ 1986 đến nay.Cũng do điều kiện thời gian và khả năng có
hạn, tôi chỉ tập trung tìm hiểu những vấn đề chính thể hiện được sự biến
động của giai cấp công nhân như sự biến động về số lượng và chất
lượng, cơ cấu… Chứ không thể nghiên cứu toàn diện tất cả các mặt.
6. Nguồn tư liệu
Để thực hiện được đề tài này tác giả dựa vào những nguồn tư liệu
sau: cỏc sỏch chuyên khảo về giai cấp công nhân, các công trình nghiên
cứu, báo cáo của các nhà khoa học.
5
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
Các tạp chí nghiên cứu: tạp chí cộng sản, tạp chí nghiên cứu lịch sử,

các loại sách bỏo khỏc, cỏc báo cáo tổng kết. Văn kiện Đại hội Đảng…
7. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung bài gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận về giai cấp công nhân
Chương 2: Sự biến động của giai cấp công nhân trong doanh
nghiệp quốc doanh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
(1986 - đến nay)
Chương 3: Dự báo xu hướng biến đổi và phương xây dựng giai
cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

6
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
B. NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1. Một số luận điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về
giai cấp công nhân và cơ cấu giai cấp công nhân hiện nay
Giai cấp công nhân là sản phẩm của lịch sử nó ra đời và phát triển
cùng với sự xuất hiện và phát triển của nền sản xuất hiện đại, tiêu biểu
cho con đường đi lên của lịch sử. Nó đại diện cho nền sản xuất tiên tiến
có tính tổ chức và kỉ luật cao, có ý thức tập thể và lợi ích giai cấp thống
nhất do nền sản xuất tập trung dựa trên công nghệ hiện đại tạo ra. Tuy
mang những đặc tính chung, nhưng sự phát triển đó ở các nước khác
nhau bị chi phối bởi nhiều yếu tố, như sự phát triển không đồng đều của
các nền kinh tế, tính chất khác nhau về chế độ chính trị xã hội, những
đặc điểm lịch sử, văn hóa của các dân tộc. Do đó, mô hình phát triển
khác nhau của giai cấp công nhân ở các nước phát triển và đang phát
triển là điều tất yếu.
Thuật ngữ giai cấp công nhân xuất hiện lần đầu vào khoảng thế kỷ

XVI, khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu phát triển. Trước đó người ta dùng
thuật ngữ thợ thủ công. Giữa thuật ngữ “ cụng nhõn” và “vụ sản” tuy
thống nhất, nhưng không đồng nhất. Dưới chế độ tư bản công nhân được
hiểu như người lao động làm thuê, người làm công ăn lương, không có
tài sản riêng. Khi C.Mỏc và Ph.Ăngghen viết “ Tuyên ngôn Đảng cộng
sản” vào cuối năm 1857, đầu năm 1858, các ông đã bắt đầu nâng vị trí
người công nhân từ làm thuê trở thành người làm chủ, cũng từ đây, giai
cấp công nhân bắt đầu xuất hiện ý thức hệ tư tưởng của mình với tư cách
là một giai cấp cách mạng.
7
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
Kể cả dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, công
nhân đều là một trong những giai cấp cơ bản, lực lượng chủ yếu trong
việc sản xuất của cải vật chất. Chỗ khác nhau là, dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa công nhân có cơ hội cải tạo các quan hệ xã hội, còn dưới chế độ tư
bản chủ nghĩa, thì giai cấp công nhân không có cơ hội làm việc đó. một
điểm khác nhau nữa về mặt lý thuyết, dưới chủ nghĩa xã hội giai cấp
công nhân cầm quyền trong xã hội, còn dưới chủ nghĩa tư bản thỡ
khụng.
Công nhân làm thuê xuất hiện vào thế kỷ XVI, trong suốt một thời
gian dài công nhân chưa phải là một giai cấp đã hình thành một cách một
hoàn chỉnh với tư cách một giai cấp. Sự phát sinh, phát triển của giai cấp
vô sản công nghiệp, sự chuyển biến của nó thành giai cấp độc lập gắn
liền với cuộc cách mạng công nghiệp.
Trong những thập kỉ gần đây, nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã
hội trên thế giới đã đưa ra những khái niệm mới về giai cấp công nhân
trong thời đại ngày nay. Xem đó là một trong những vấn đề quan trọng
hàng đấu liờn quan đến sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác – Lờnin
về giai cấp nói chung và về giai cấp công nhân nói riêng.

Ở phương Tây đã xuất hiện khái niệm công nhân lao động cổ xanh,
cổ trắng. Khái niệm giai cấp công nhân “ đa cổ húa” ngày nay đã được
nhiều nước đang phát triển, kể cả Trung Quốc chấp nhận. Sự tiến bộ của
khoa học kĩ thuật và sự phát triển nhanh chóng của “ khu vực 3” (kinh tế
dịch vụ) tất yếu sẽ làm cho giai cấp công nhân truyền thống phõn hoỏ
thành hai giai tầng là công nhân cổ xanh và công nhân cổ trắng.
Những nhà nghiên cứu khoa học xã hội Pháp, trong đó có
MichelVerret cho rằng: cần phải nhận thức lại quá trình phát triển lịch sử
của giai cấp công nhân một cách biện chứng. Cách nhận thức sự phát
8
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
triển của giai cấp công nhân theo một con đường thẳng với thành tựu
tổng hợp luôn luôn to lớn về các mặt lực lượng, quyền lợi, lòng tin và ý
thức cho đến thắng lợi cuối cùng là nắm vai trò bá quyền là tỏ ra không
thực tế.
Khái quát những quan điểm của các nhà nghiên cứu Macxit về giai
cấp công nhân, nhà triết học Pháp Lucienseve nhấn mạnh: “ Trong điều
kiện nền kinh tế đang toàn cầu hoá và chúng ta đang sống với cuộc cách
mạng thông tin mà kết quả của nó cả hai mặt tích cực và tiêu cực đều
chưa thể lường hết được, cần phải nêu cao vấn đề đạo đức con người và
đồng tiền đang chiếm ngôi vua trong xã hội hiện đại”.
Cũng cần phải xác nhận lại định nghĩa cấu trúc của Mác về chức
năng của giai cấp công nhân trong phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa như là một giai cấp, làm công ăn lương, sản xuất trực tiếp ra của
cải vật chất tinh thần, có nhiệm vụ lịch sử là xây dựng chế độ xã hội mới
trong đó “ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát
triền tự do của tất cả mọi người”.
2. Khái niệm giai cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra nhiều vấn
đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong đó có vấn đề khái niệm về
giai cấp công nhân hiện nay. Nghiên cứu làm rõ khái niệm về giai cấp
công nhân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước sẽ góp
phần quan trọng vào việc khẳng định vị trí, vai trò, sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân nước ta trong thời kỳ mới của cách mạng, góp phần
vào việc xây dựng và thực hiện chủ trương chính sách, giải pháp xây
dựng và phát triển giai cấp công nhân, củng cố và tăng cường vị trí của
9
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
giai cấp công nhân trong xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới kinh tế -
xã hội của đất nước.
2.1. Một số quan điểm của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước
ta về khái niệm giai cấp công nhân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của giai cấp
công nhân, của cả dân tộc đã viết nhiều bài quan trọng về giai cấp công
nhân. Khẳng định vị trí, vai trò to lớn của giai cấp công nhân. Thông qua
các tác phẩm của người, chúng ta hiểu được nội hàm khái niệm giai cấp
công nhân Việt Nam như sau:
+ Trong xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến, công nhân là
những người lao động làm thuê cho chủ nghĩa tư bản đế quốc, bị bóc lột
nặng nề.
+ Công nhân là những người đấu tranh dũng cảm nhất, cách mạng nhất.
+ Nhờ có lý luận cách mạng soi đường công nhân đã trở thành lực
lượng lãnh đạo cách mạng.
+ Giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
nhờ có Đảng tiên phong, có liờn minh công nông vững chắc, có công
đoàn làm trường học cách mạng của giai cấp công nhân.
+ Sau khi cách mạng giành được chính quyền nhà nước, công

nhân không còn là người làm thuê nữa mà đã cùng với các tầng lớp nhân
dân lao động khác trở thành người làm chủ nhà nước về mọi mặt, làm
chủ cả trong sản xuất và phân phối.
+ Vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong CNXH
là phải nâng cao năng suất lao động và tham gia quản lý xã hội, quản lý
xã hội đi tiên phong trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN.
Trong Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá VII), đồng chí Đỗ
Mười đã đề cập đến một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam,
10
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
trong thời kỳ đổi mới đất nước, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
gợi ra những nội hàm về khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam trong
thời kỳ mới: “phải coi vấn đề xây dựng giai cấp công nhân và công tác
công đoàn là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng trong thời kỳ phái triển
mới, bởi vì chỉ với một giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có
trình độ tổ chức, kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp cao mới có thể là
nòng cốt để liên minh với nông dân, trí thức, tập hợp và đoàn kết các
thành phần khác, phấn đấu cho thành công của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoỏ”.
Về cơ cấu thành phần giai cấp, đồng chí Đỗ Mười đã chỉ rõ: “
Ngày nay, đội ngũ công nhân không chỉ là những người lao động sản
xuất và dịch vụ. Công nhân thuộc các doanh nghiệp nhà nước và các hợp
tác xã mà còn bao gồm những công nhân lao động thuộc khu vực tư
nhân, cá thể, hợp tác liên doanh với nước ngoài…đó, đang và sẽ xuất
hiện những ngành nghề, lĩnh vực mới do tiến bộ khoa học – công nghệ
và đòi hỏi khách quan của xã hội, của việc quốc tế sản xuất và đời sống.
Xu hướng tri thức hoá công nhân, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc,
tăng cường yếu tố trí tuệ và lao động trí óc ngay trong dây chuyền công
nghệ đang lờn”.

Ngoài ra còn rất nhiều ý kiến nữa như của đồng chí Lê Khả Phiờu,
Lờ Duẩn.
2.2. Quan điểm của giới nghiên cứu khoa học nước ta về khái
niệm giai cấp công nhân Việt Nam.
Trong công trình nghiên cứu của mình viết về “ giai cấp công nhân
Việt Nam sự hình thành và phát triển của nó, từ giai cấp tự mình đến giai
cấp cho mỡnh”. GS Trần Văn Giàu không đưa ra một định nghĩa cụ thể
nào về giai cấp công nhân Việt Nam, nhưng cấu trúc khoa học của toàn
11
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
bộ công trình lại thể hiện đầy đủ nội hàm cần thiết của khái niệm giai
cấp công nhân Việt Nam khi mới hình thành như sau:
+ Sự xuất hiện những người vô sản Việt Nam từ chỗ là những
người nông dân lao động bị bần cùng hoá, bị tước hết tư liệu sản xuất,
chỉ còn sức lao động phải bán cho đế quốc thực dân.
+ Họ là những người lao động làm công ăn lương, nhưng bị tư bản
đế quốc áp bức, bóc lột, phải đứng lên đấu tranh.
+ Qua đấu tranh và được giác ngộ ý thức giai cấp nên cả về số
lượng và chất lượng về giai cấp của họ đều phát triển, dẫn tới một thời
kỳ có đủ điều kiện để hình thành một giai cấp “ cho mỡnh”.
+ Giai cấp này đó cú sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Định nghĩa của trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận, Tổng liên
đoàn Lao động Việt Nam trong chương trình “ Đổi mới chính sách xã
hội đối với công nhân và thợ thủ cụng”,Nxb Lao Động,HN,1995: “giai
cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn xã hội những người lao động ở
Việt Nam có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống
và làm việc gắn liền với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Do
nắm giữ những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản
xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân tất yếu có vai trò đi

tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại”.
Định nghĩa của TS Bựi Đỡnh Bụn trong “Một số vấn đề về giai
cấp công nhân Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,HN,1997”
“Giai cấp công nhân hiện đại là một cộng đồng người lao động
hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, với nhịp độ
phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại có tính chất xã hội hoá ngày
càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong các hoạt động
công nghiệp, trực tiếp sản xuất của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã
12
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
hội, là động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội".
Định nghĩa của Đan Tâm trong bài “ Vai trò của giai cấp công
nhân hiện đại - một cách tiếp cận, Tạp chí cộng sản số 5,1997”
“Giai cấp công nhân Việt Nam là cộng đồng xã hội, những người
làm công ăn lương, người thu nhập chủ yếu bằng tiền công, trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp, nắm giũ những cơ sở vật
chất – kĩ thuật then chốt của xã hội và tiêu biểu cho phương thức sản
xuất tiên tiến của xã hội".
Định nghĩa của Gs Văn Tạo trong “ Một số vấn đề về giai cấp
công nhân và công đoàn Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia,Hn,1997”
Theo Gs Văn Tạo, định nghĩa giai cấp công nhân lúc này cần làm
rõ hai vấn đề:
+ Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là gì và bao gồm những ai
+ Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân trong cộng đồng xã hội,
cộng đồng dân tộc như thế nào.
Trên cơ sở đó tác giả đi đến một định nghĩa:
“Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn những người lao
động có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm

việc gắn liền với sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Do lao động
và quản lý một nền công nghiệp hiện đại, then chốt của nền kinh tế quốc
dân và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp
công nhân có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử
xã hội Việt Nam”.
Như vậy có thể thấy xét về giai cấp công nhân nói chung và giai
cấp công nhân Việt Nam nói riêng có rất nhiều ý kiến khác nhau của các
nhà nghiên cứu trong nước và thế giới. Chúng ta không thể sao chép một
13
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
cách máy móc những luận điểm đó, nhưng cần nghiên cứu tham khảo
chúng để làm phong phú nhận thức lý luận của mình về giai cấp công
nhân và trong chừng mực nhất định có thể vận dụng một cách sáng tạo
vào hoàn cảnh của nước ta.
3. Giai cấp công nhân Việt Nam trong lịch sử và hiện tại.
Năm 1858, quân viễn chinh Pháp bắt đầu đổ bộ nổ súng xâm lược
Việt Nam. Từ đấy, Pháp bắt đầu lôi kéo tầng lớp tư sản mại bản vào Việt
Nam. Khi tầng lớp tư sản mại bản vào Việt Nam, thì những nhóm công
nhân Việt Nam riêng lẻ cũng xuất hiện và từng bước trưởng thành với tư
cách là một giai cấp.
Có hai đặc điểm chung nhất của giai cấp công nhân Việt Nam là
hầu hết xuất thân từ nông dân mà ra và giai cấp công nhân Việt Nam ra
đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam. “ Cha chạy ra Hòn Gai cuốc
mỏ, Anh chạy vào đất đỏ làm phu”. Thời Việt Nam thuộc Pháp, chủ nhà
máy, xí nghiệp chia công nhân ra làm hai loại: “ công nhân áo xanh” và
“cụng nhõn ỏo nõu”. Công nhân áo xanh là công nhân đứng máy, công
nhân ỏo nõu là công nhân tạp vụ.
Khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập vào đầu năm 1930,
đánh dấu cái mốc về sự chuyển biến về chất trong cuộc đấu tranh của

giai cấp công nhân Việt Nam từ tự phát lên tự giác.
Trong lịch sử của mình, giai cấp công nhân Việt Nam đã theo đội
tiên phong của mình là Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện thành công
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên cách mạng XHCN. Những ngày
chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản, giai cấp công nhân Việt Nam đó cú
những cuộc đấu tranh quyết liệt chống thực dân và tư bản nước ngoài,
giành quyền lợi chính trị và kinh tế cho giai cấp mình và dân tộc mình.
Rất nhiều công nhân chân chính đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh này
14
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
để cho giai cấp và dân tộc mình hồi sinh. Trong cuộc kháng chiến chống
Pháp, cứu nước rất nhiều công nhân đã xung phong tình nguyện vào bộ
đội chiến đấu. Từ công nhân trở thành quân nhân. Nhiều công binh
xưởng do công nhân bộ đội đảm nhiệm đã sản xuất ra rất nhiều vũ khí
cung cấp cho các chiến trường. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, giai cấp công nhân Việt Nam ở miền Bắc và miền Nam đó cú
những cống hiến đặc biệt xuất sắc
Từ năm 1955 đến năm 1960, miền Bắc bước vào khôi phục và cải
tạo kinh tế. Từ năm 1960 đến năm 1975, miền Bắc xây dựng CNXH ở
thời kỳ quá độ. Các nhà máy xí nghiệp ở miền Bắc ở thời kỳ này phần
lớn là quốc doanh, tiếp đến là công tư hợp doanh, một số xưởng sản xuất
nhỏ của tư nhân. Giai cấp công nhân miền Bắc thời kỳ này sôi nổi thi
đua phấn đấu theo lời kêu gọi của Bác Hồ: “Mỗi người làm việc bằng
hai, vì miền Nam ruột thịt”. Công nhân làm việc tại các cơ sở quốc
doanh và công tư hợp doanh được Đảng và Chính phủ quan tâm khá chu
đáo. Họ được ở nhà tập thể, ngày làm việc tối về học bổ túc văn hoá,
nâng cao trình độ tay nghề. Nhiều công nhân đã có trình độ bậc 7/7.
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện có khoảng 5 triệu người, chiếm
khoảng 6% dân số. Điểm thuận lợi nhất của giai cấp công nhân Việt

Nam hiện nay là có Đảng cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công
nhân và nhân dân Việt Nam lãnh đạo. Đảng cầm quyền là điều kiện
thuận lợi cho giai cấp công nhân Việt Nam phát triển. Trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giai cấp công nhân Việt Nam có
bước phát triển mới.
15
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
Chương 2
SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG DOANH
NGHIỆP QUỐC DOANH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC (1986 ĐẾN NAY)
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình phát triển tất yếu của
xã hội loài người, là con đường đưa nước ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trên thế giới và khu vực. Cái thiếu
lớn nhất của đất nước ta, kể từ khi bước vào thời kỳ qỳa độ lên CNXH
đến nay, vẫn là thiếu một lực lượng sản xuất phát triển hiện đại.
1. Thực trạng và xu hướng biến động của giai cấp công nhân
Việt Nam hiện nay.
Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới của sự phát triển, thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuẩn bị hành trang
bước vào thế kỷ XIX, thế kỷ của nền văn minh hậu công nghiệp. Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,
tạo thờm cụng ăn việc làm,nõng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống nhân
dân, thúc đẩy xã hội trên nguyên tắc công bằng và tiến bộ xã hội. công
nghiệp hoá, hiện đại hoá kéo theo và đặt ra những yêu cầu mới về số
lượng, cơ cấu và chất lượng của lực lượng lao động xã hội, đặc biệt là
công nhân đội quân nòng cốt đi tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên giai cấp công nhân hiện nay cùng với quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoỏ thỡ cú sự biến đổi, phát triển về số lượng và
chất lượng, và cả cơ cấu.
Như chúng ta đã biết thì trong nền kinh tế nhiều thành phần trong
chặng đường đầu của thời kỳ quá độ quy định sự biến động thường
16
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
xuyên, ngày càng đa dạng, phức tạp, không thuần nhất về cơ cấu số
lượng và chất lượng của giai cấp công nhân Việt Nam. Điều đó được thể
hiện trờn cỏc phương diện sau:
. Một là, sự phát triển không ổn định và sự giảm sút nhanh chóng
về số lượng công nhân trong khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Những năm 1976 đến 1980, thực hiện đường lối phát triển kinh
tế của Đại hội Đảng lần thứ IV, công nghiệp được chú trọng đầu tư và có
bước phát triển mạnh, nhất là công nghiệp nặng. Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của công nghiệp, của kinh tế quốc doanh, giai cấp công nhân
Việt Nam có sự phát triển nhanh về số lượng. Sự phát triển này chậm
dần từ 1981 đến 1985 và từ năm 1986 đến nay, có xu hướng giảm dần và
đặc biệt giảm mạnh trong 2 năm 1989 – 1991, nhất là bộ phận công nhân
khu vực kinh tế nhà nước. Bộ phận công nhân khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh có sự phát triển nhanh về số lượng trong những năm 1986 –
1988 giảm đi về số lượng tuyệt đối trong 2 năm 1989 – 1990 và đầu năm
1991, từ năm 1993 đến nay lại tăng nhanh.
Số lượng công nhân làm việc trong khu vực tập thể tư nhân khu
vực ngoài quốc doanh nói chung tăng nhanh từ năm 1993 đến nay.
Sự biến động trên của giai cấp công nhân Việt Nam liờn quan và
gắn chặt với đường lối phát triển kinh tế, với chính sách sử dụng và cải
tạo các thành phần kinh tế trong mỗi giai đoạn của Đảng và Nhà nước ta,
với đường lối mở cửa, quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học kĩ thuật và
lao động của Việt Nam với nước ngoài. Sự biến động của đội ngũ công

nhân nói chung, cũng như của từng bộ phận công nhân nói riêng phụ
thuộc vào những nguyên nhân khách quan và chủ quan của từng giai
đoạn. Xét cho cùng là do nguyờn nhõn kinh tế, do sự phát triển của nền
kinh tế nước ta quy định. Song, chúng ta không thể phủ nhận một thực tế
17
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
đã diễn ra là trong những năm qua là, sự tăng lên hay giảm đi của cả đội
ngũ công nhân hay từng bộ phận công nhân, trước hết là phụ thuộc vào
nguyên nhân chủ quan, đó là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chính
sách sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế, chính sách kinh tế đối
ngoại, chính sách đối với giai cấp công nhân của Đảng và Nhà nước.
Đây là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định, trực tiếp ảnh hưởng đến sự
phát triển của đội ngũ công nhân.
. Hai là, có sự tăng lên về tuổi đời và nghề nghiệp của bộ phận
công nhân khu vực doanh nghiệp nhà nước, sự trẻ hoá công nhân khu
vực ngoài doanh nghiệp Nhà nước, tỷ lệ nữ công nhân, công nhân lâu
năm và công nhân nhiều đời giảm. Song nhìn chung trong toàn bộ giai
cấp công nhân, tỷ lệ công nhân có tuổi đời còn trẻ ngày càng tăng.
Những năm gần đây, do đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, do tác
động của kinh tế thế giới vào nước ta, tình hình sản xuất kinh doanh
trong công nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, vật tư, thị trường tiêu thụ,
nhiều xí nghiệp rơi vào cảnh làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả phải thu hẹp
sản xuất hoặc chuyển hướng sang kinh tế tập thể, cá thể, thậm chí phải
giải thể. Do vậy, việc tuyển dụng lực lượng mới vào đội ngũ công nhân
rất hạn chế. Khu vực kinh tế Nhà nước, thực hiện quyết định 176 của
Hội đồng Bộ trưởng, đã và đang giảm một lực lượng lớn công nhân.
Lao động trong doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp và bố trí lại
theo hướng tinh gọn, phát triển theo chiều sâu. Như vậy, hiện nay và
trong một vài năm tới, nhu cầu bổ xung lao động trẻ trong công nghiệp

quốc doanh rất hạn chế. Điều đó đã và sẽ dẫn đến sự tăng lên về tuổi đời
và tuổi nghề của bộ phận công nhân trong khu vực kinh tế doanh nghiệp
Nhà nước. Trong khi đó, khu vực kinh tế ngoài doanh nghiệp Nhà nước
đang và còn phát triển mạnh.
18
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
Những năm trước đõy, do hoàn cảnh chiến tranh, cơ chế bao cấp
nên nữ công nhân chiếm tỷ lệ cao. Trong quá trình sắp xếp lại lao động ở
khu vực kinh tế doanh nghiệp Nhà nước, số người nghỉ hưu, mất sức,
thôi việc hưởng trợ cấp một lần phần đông là nữ. Trong số công nhân
mới được tuyển dụng do chú ý nhiều đến hiệu quả kinh tế nên lao động
nam được tuyển dụng nhiều hơn nữ. Vì vậy, tỷ lệ công nhân nam tăng
lên và nữ công nhân đã và sẽ còn giảm đi. Mặt khác quá trình tinh giảm
biên chế, sắp xếp lại lao động, số công nhân lâu năm đã và sẽ nghỉ hưu
chiếm một tỷ lệ lớn. Số tuyển dụng mới hầu hết là lao động trẻ, vì thế, đã
làm cho tỷ lệ công nhân lâu năm và công nhân nhiều đời giảm xuống ở
khu vực kinh tế Nhà nước.
. Ba là, sự đa dạng không thuần nhất và phõn hoỏ trong nội bộ giai
cấp, giữa các bộ phận công nhân trong các ngành, nghề và thành phần
kinh tế.
Ngoài bộ phận công nhân khu vực kinh tế Nhà nước, công ty hợp
doanh và tập thể , hiện nay cũn cú cỏc bộ phận khác: công nhân làm thuê
trong các xí nghiệp tư bản tư nhân, công nhân làm thuê ở nước ngoài,
công nhân trong cỏc xớ nghiệp……Ngay khu vực kinh tế Nhà nước và
tập thể cũng có bộ phận công nhân thuộc các nhà máy xí nghiệp, nhà
máy, công ty, cổ phần. Và trong những xí nghiệp này có công nhõn cú
cổ phần, có công nhân không có cổ phần.
. Bốn là, có sự già hoá, đứt đoạn và giảm đi của đội ngũ công nhân
lành nghề, thợ bậc cao, thợ giỏi nhất là ở bộ phận công nhân khu vực

kinh tế Nhà nước.
Nhiều doanh nghiệp Nhà nước chưa có biện pháp khuyến khích
thỏa đáng để thu hút thợ bậc cao, lành nghề, thợ giỏi. Bởi vậy, một số
không nhỏ trong lực lượng này bỏ nhà máy, xí nghiệp ra làm ở khu vực
19
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
kinh tế ngoài quốc doanh, vì ở đó có thu nhập cao hơn, làm cho đội ngũ
thợ bậc cao, lành nghề trong khu vực kinh tế doanh nghiệp Nhà nước
ngày càng giảm.
. Năm là, có sự mất cân đối về cơ cấu đội ngũ công nhân giữa các thành
phần, ngành kinh tế, trờn cỏc địa bàn dân cư, giữa số lượng và chất lượng.
Hiện đang có sự mất cân đối giữa số lượng và chất lượng của đội
ngũ công nhân Việt Nam. Điều này thể hiện ở toàn bộ giai cấp công
nhân cũng như ở từng bộ phận công nhân trong các thành phần kinh tế,
nhất là ở bộ phận công nhân trong khu vực kinh tế Nhà nước. Việc đào
tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công nhân nhìn chung còn thiếu quy
hoạch, không theo kịp yêu cầu mở rộng sản xuất và phát triển công
nghiệp, dẫn đến số lượng đông nhưng chất lượng không cao.
Như vậy, nhìn chung, cơ cấu giai cấp công nhân còn chưa cân đối
và đồng bộ. Công nhân trong các ngành công nghiệp nặng chiếm tỷ lệ
còn thấp, trong khi đó ngành công nghiệp nhẹ và chế biến chiếm tới
40%. Đảng và Nhà nước ta coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nhưng
chưa chú trọng phát triển đội ngũ công nhân nông nghiệp. Bộ phận công
nhân nông nghiệp cũn quỏ ớt. Điều này thể hiện sự phát triển chưa cân
đối và đồng bộ giữa công nghiệp và nông nghiệp. Đó cũng là biểu hiện
của một nền nông nghiệp còn ở tình trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu.
. Sáu là, do có sự liên kết, hỗn hợp, đa dạng của các thành phần
kinh tế nên cơ cấu giai cấp công nhân cũng có sự đa dạng, phức tạp, đan
xen giữa các bộ phận.

Các đơn vị sản xuất kinh doanh không tồn tại và hoạt động độc lập,
khép kín. Trái lại, trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, có nhiều loại
hình hỗn hợp, đan kết với nhau, xu hướng liên kết liên doanh ngày càng
phát triển, chẳng những trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng trong
20
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
phạm vi quốc tế.Những đơn vị sản xuất ấy vừa có mặt ở thành phần kinh
tế này, vừa nằm trong thành phần kinh tế khác, khó có sự phân biệt rạch
ròi giữa các thành phần kinh tế. Bởi thế, người công nhân trong các đơn vị
sản xuất này cũng không thuần nhất thuộc một thành phần kinh tế nhất
định. Người công nhân không chỉ có mặt trong một thành phần kinh tế
nhất định nào đó, mà họ có thể hiện diện ở hai, hoặc vài thành phần kinh
tế : họ vừa là công nhân trong khu vực kinh tế Nhà nước, vừa làm việc ở
khu vực kinh tế tập thể, cá thể hoặc tư nhân có những trường hợp họ vừa
là công nhân vừa không phải là người công nhân một khi họ sống bằng
nghề phụ hoặc bằng thu nhập khác là chủ yếu
Tình hình phát triển về số lượng, cơ cấu đa dạng phức tạp, thường
xuyên biến dộng như trên, đã và đang dẫn đến một thực trạng về chất lượng
giai cấp công nhân: đang có sự yếu kém về nhiều mặt và sự phõn hoỏ,
không thuần khiết giữa các bộ phận của đội ngũ công nhân Việt Nam hiện
nay. Thực trạng này được phản ánh trờn cỏc bình diện như sau:
. Thứ nhất, trình độ văn hoá tay nghề thấp và không đồng đều, mất
cân đối giữa các bộ phận công nhân, ý thức học tập nâng cao trình độ văn
hoá, nghiệp vụ chuyên môn, tay nghề, nhìn chung, có xu hướng giảm.
So với trước đây, trình độ văn hoá của công nhân có được tăng
lên, nhưng so với công nhân ở các nước khác và yêu cầu của nền sản
xuất công nghiệp hiện đại, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nền sản xuất, thì công nhân Việt Nam hiện nay, trình độ văn hoỏ cũn
thấp. Trình độ kĩ thuật, kiến thức quản lý kinh tế, khả năng nghề nghiệp

của công nhõn cũn thấp so với yêu cầu đòi hỏi của cuộc cách mạng về kĩ
thuật, công nghệ của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những
yêu cầu của một nền sản xuất hiện đại. Trình độ thấp đã ảnh hưởng
21
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
không tốt đến việc tiếp thu khoa học, kĩ thuật, đến năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm, ý thức chính trị của công nhân.
Hệ thống các trường đào tạo công nhân vốn đã thiếu, lạc hậu, lại
xuống cấp nghiêm trọng nhất là những năm gần đây. Vì thế, chưa đủ
khả năng cung cấp đội ngũ công nhân được đào tạo tay nghề tốt cho các
ngành kinh tế. Số được đào tạo ít, lại thiếu cân đối, số được đào tạo
nhưng sử dụng không đúng ngành nghề khá nhiều.
Cơ cấu công nhân giữa bậc thấp và bậc cao, giữa công nhân kĩ
thuật với các bộ phõn khỏc chưa cân đối: công nhân thợ bậc 7, thợ lành
nghề ít hơn phó tiến sĩ, công nhân thợ bậc 6 ít hơn công nhân có trình độ
kỹ sư. Hiện nay đang có tình trạng là số công nhân có trình độ học vấn
cao thì phổ biến là có tay nghề thấp, vì còn trẻ mới vào nghề; trái lại, thợ
bậc cao lành nghề, thường có trình độ học vấn thấp.
Tình hỡnh trờn đõy do nhiều nguyên nhân : do điều kiện lịch sử -
kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi giai đoạn,mỗi vùng, khu vực có sự khác
nhau; do tính chất và đòi hỏi của ngành, nghề không giống nhau…
nhưng nguyên nhân sâu xa và xét đến cùng là do trình độ phát triển còn
thấp của nền kinh tế, do chúng ta chậm có chiến lược kinh tế - xã hội
đúng đắn, nhất quán ngay từ đầu, do chưa có sự quan tâm đầy đủ đến
việc xây dựng giai cấp công nhân …Do đó, chưa có một hệ thống chính
sách kinh tế - xã hội cụ thể, đồng bộ, phù hợp đối với giai cấp công
nhân. Tình hình đú đó kìm hãm sự phát triển cả về số lượng và chất
lượng của giai cấp công nhân. Tuy vậy ở một số ngành nghề nhất là
trong các ngành nghề mới như dầu khớ,điện tử, tin học, bưu chính viễn

thông đã và đang xuất hiện ngày càng đông đảo đội ngũ công nhân trẻ,
có trình độ văn hoá, tay nghề cao.
22
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
. Thứ hai. Trong một chừng mực nhất định, những nguyên nhân
nêu trên đã dẫn đến một tỡnh hình đáng tiếc là trong nhiều năm qua giai
cấp công nhân nước ta chưa thực sự làm chủ mọi mặt của đời sống xã
hội , nhất là trong sản xuất, kinh doanh, phân phối. Một phần, vì công
nhân chưa có thói quen và năng lực làm chủ; mặt khác do nhiều cơ quan
lãnh đạo, quản lý các cấp trong xí nghiệp và ngoài xã hội không tôn
trọng quyền làm chủ của họ có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Đây là
mặt yếu rất đặc trưng của giai cấp công nhân ở những nước chưa có
công nghiệp lớn. Hơn nữa, mấy năm gần đây tình hình việc làm ngày
một căng thẳng, lương không đủ sống, người công nhân phải xoay sở
bằng mọi cách để tồn tại, phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày người
công nhân chưa làm chủ được bản thân mình thì khó có thể làm chủ
được nhà máy, xí nghiệp và xã hội.
. Thứ ba, ở một bộ phận không nhỏ đội ngũ công nhân, trình độ
chính trị, phẩm chất giai cấp giảm, kỷ luật lao động tác phong công nghiệp.
Nguồn bổ sung vào đội ngũ công nhân Việt Nam hiện nay chủ yếu
là học sinh, phần lớn xuất thõn từ nông dân, dân nghèo thành thị, đa số
tuổi đời còn trẻ. Nguồn sống chính của công nhân hiện nay không phải
từ lương, từ thu nhập do nhà máy xí nghiệp cấp, mà từ thu nhập phụ.
Thêm vào đó là tình trạng thất nghiệp, không đủ việc làm, đời sống khó
khăn tất cả những vấn đề nêu trên đã làm hạn chế trình độ chính trị,
giác ngộ giai cấp, ý thức tổ chức kỉ luật, thái độ và phong cách lao động
của đội ngũ công nhân Việt Nam.
. Thứ tư, tỷ lệ đảng viờn, đoàn viờn thanh niên, đoàn viên trong
công đoàn trong công nhân thấp.

Một bộ phận công nhân, nhất là thanh niên công nhân không thiết
tha vào đảng, lòng tin vào đảng vào chế độ giảm sút. Tỷ lệ đảng viờn,
23
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
đoàn viên thanh niên, đoàn viên công đoàn giữa khu vực kinh tế Nhà
nước với ngoài doanh nghiệp Nhà nước có sự chênh lệch lớn.Vai trò của
tổ chức cơ sở đảng, đoàn thanh niên và công đoàn ở khu vực ngoài
doanh nghiệp Nhà nước yếu hơn khu vực doanh nghiệp Nhà nước.
. Thứ năm, tình trạng sức khoẻ của công nhõn khụng đảm bảo yêu
cầu của sản xuất công nghiệp, bệnh nghề nghiệp phát triển, điều kiện lao
động, vệ sinh lao động công nghiệp kém.
Công tác bảo hộ lao động không tốt, số vụ tai nạn lao động ngày
càng nhiều, công tác bảo hộ lao động đang bị thả nổi. Các cơ sở sản xuất
thì tuỳ tiện thực hiện. Các ngành, các cấp quản lý trước đây hầu như
không cũn trỏch nhiệm chỉ đạo đôn đốc cơ sở về bảo hộ lao động. Tình
hình trên đây ở các xí nghiệp, cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh xấu hơn
khu vực quốc doanh. Theo số liệu điều tra của Tổng liên đoàn lao động
Việt Nam: hơn 80% công nhân lao động làm việc trong môi trường có từ
hai yếu tố độc hại trở lên, trung bình yếu tố độc hại vượt quá tiêu chuẩn
cho phép từ 30 đến 50 lần, có nơi tới 100 lần. Trong các cơ sở sản xuất
quốc doanh, trung bình hàng năm có khoảng 200 người chết do tai nạn
lao động, 90% công nhân được kiểm tra mắc bệnh bụi phổi Silớc.
Thực trạng này do nhiều nguyên nhân trong đó trước hết là chưa
có sự quan tâm đầy đủ đến yếu tố con người trong nhiều chính sách kinh
tế - xã hội. Mọi công tác sản xuất, kinh doanh, bảo hộ lao động trong
từng xí nghiệp chưa “đặt con người vào vị trí trung tõm”. Thậm chí, con
người còn bị coi là phương tiện để đạt mục tiêu kinh tế đơn thuần hoặc
vì quyền lợi của một cá nhân, một nhóm nhỏ, vì một “ cái chung” vô
hình. Chúng ta, chưa có một hệ thống chính sách , văn bản pháp luật,

pháp quy, chế độ, quy định đồng bộ trong việc chăm lo sức khoẻ, phòng
24
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Hoa - K54C
Lịch sử
chống bệnh nghề nghiệp, đảm bảo điều kiện lao động, vệ sinh, an toàn
lao động tốt cho công nhân.
Ngoài ra, tình hình trờn cũn do cơ chế quản lý (cả cũ và mới) kìm
hãm. Cơ chế bao cấp đã làm cho sự chỉ đạo thiếu tầm vĩ mô, sa vào sự
vụ, chắp vá, thiếu đồng bộ, không điều hành, quản lý theo kỷ cương của
luật lệ, chế độ mà nặng về sự hô hào quan tâm một cách chung chung.
. Thứ sáu, một bộ phận công nhân bị thoỏi hoỏ và tha hoá nghiêm
trọng về lao động, phẩm chất giai cấp và lối sống.
Do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân về cơ chế chính
sách, về công tác tổ chức và quản lý về ý thức lao động chưa tốt… khiến
cho một số người chưa giỏc ngộ,khụng quan tâm đến hiệu quả sản xuất,
kinh doanh đã làm dối, làm ẩu, không coi trọng quy trình kĩ thuật, quy
tắc an toàn lao động….nạn cờ bạc, nghiện hút, mê tín dị đoan phát triển,
cả ở trong và ngoài xí nghiệp. Chủ nghĩa thực dụng chiếm ưu thế trong
tư tưởng tâm lý của một bộ phận công nhân. Tham nhũng ăn hối lộ trong
cán bộ lãnh đạo, quản lý hầu như ở xí nghiệp nào cũng cú. Đó xuất hiện
tâm lý làm liều, bất chấp đạo lý, coi thường pháp luật, kỷ cương, đạo đức
nhân phẩm miễn là có lợi cho bản thân. Một số cán bộ có chức, có quyền
lợi dụng sơ hở trong cơ chế chính sách làm giàu bất chính.
Sự tha hoá của một bộ phận cán bộ, công nhân nêu trên, không
phải là bản chất của chế độ mới và cũng không phải là giai cấp công
nhân Việt Nam hiện nay đã biến chất. Đó là những hiện tượng cần khắc
phục và giai cấp công nhân cần ý thức rõ trách nhiệm và tăng cường rèn
luyện bởi vì từ một giai cấp bị trị trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội, làm
chủ xã hội, thì cùng với việc tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới, giai cấp công nhân Việt Nam cũng đồng thời phải cải tạo và xây

dựng chính bản thân mình.
25

×