Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

Phiêu sinh vật và động vật đáy ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 59 trang )

1

Chương I: Phần Mở Đầu
MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
A. Môi Trường Biển Việt Nam:
a. Về phương diện địa lý:
- Phía Bắc: giáp Trung Hoa, biên giới Việt Trung 22
o
30’.
- Phía Đông: biển Đông, mũi Ô Loan, cap Varelle, Đại Lãnh, nằm trên kinh tuyến
Đông 109
o
30’.
- Phía Tây: giáp Lào và Campuchia.
- Phía Nam: tận cùng là mũi Cà Mau 8
o
80’ Bắc, vịnh Thái Lan và Phú Quốc ở kinh
tuyến Đông 104
o
.
b. Phương diện sinh học:
Thành phần động thực vật chính trên môi trường cạn cũng như môi trường nước đều theo
kiểu mẫu chung của biển đảo Indo_Malay gồm có Việt Nam-Miên-Lào-bán đảo Malaysia.
Về sinh vật biển phía bắc là biển Đông, phía Nam là biển Indo-Pacific.
c. Phương diện thủy học:
Gồm có 2 lưu vực (hoặc tam giác châu):
- Phía Bắc lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình.
- Hệ thống sông phía Nam gồm có hệ thống sông Mekong-Bassac và hệ thống sông
Sài Gòn_Đồng Nai. Quan trọng nhất là hệ thống sông từ Campuchia đến Việt Nam.
Trong phạm vi Campuchia sông Mekong được chia làm 3 nhánh:
+ Nhánh 1: tạo hồ Tonle Sap.


+ Nhánh 2 và 3: chảy vào miền Nam Việt Nam.
d. Phương diện khí hậu:
Do ảnh hưởng gió mùa, Việt Nam có hai thời kì rõ rệt:
- Mùa khô ráo (mùa nắng).
- Thời kì ẩm ướt (mùa mưa).
Gió mùa có gió mùa Đông Bắc: tháng 11 – 3; thổi từ Bắc vào Nam (mùa khô).
Tây Nam: tháng 5 – 11 (mùa mưa).
Để phân biệt mùa mưa và mùa nắng ta có thể quan sát nước mưa so với độ bốc hơi:
- lượng nước mưa < lường nước bốc hơi -> mùa nắng.
- ngược lại -> mùa mưa.
Tuy nhiên cách phân biệt này rất khó xác định vì làm sao đo được lượng nước bốc hơi!
2

Cách khác: lập giản đồ khí hậu (Climatogram). Để thiết lập giản đồ này ta cần biết nhiệt
độ và lượng nước mưa trung bình hàng tháng, từ đó vẽ giản đồ vũ lượng.
Trục Ox : tháng trong năm.
Oy
1
: nhiệt độ trung bình hàng tháng.
Oy
2
: vũ lượng trung bình hàng tháng (Pmm)
P < 2T : mùa nắng.
P > 2T : mùa khô.
Ví dụ: biểu đồ vũ lượng ở Trảng Bom (tỉnh Đồng Nai)
Tháng
1
2
3
4

5
6
7
8
9
10
11
12
Pmm
16.2
9.6
26.3
86.7
239.6
312.6
354.5
362.5
399.4
302.9
121.5
44.9
T
o
C
31.5
31.8
33.4
34.7
31.2
32.1

31.2
30.8
29.7
28.7
29.8
80.5

(hình ảnh)

B. Phân Loại Môi Trường:
Môi trường được xem là một vị trí nhất định có một số điều kiện ngoại môi trường và nội
môi trường và tất cả các điều kiện xác định đặc tính môi trường.
Phần lớn tác giả chia môi trường thành hai nhóm: môi trường cạn và môi trường nước.
I. Môi trường cạn:
Là môi trường sống của những sinh vật sống trong đát, trên mặt đất hoặc bay trong khí quyển,
các sinh vật này tùy thuộc các điều kiện ảnh hưởng đến đời sống của chúng: nhiệt độ, ánh
sáng, độ ẩm, khí quyển di chuyển.
1/ nhiệt độ:
Giữa cơ thể sinh vật và khí quyển bên ngoài có hiện tượng trao đổi nhiệt năng, tùy thuộc
nhiệt độ cơ thể (t
1
) và nhiệt độ bên ngoài (t
2
).
Nếu t
1
< t
2
: cơ thể hấp thu Q từ môi trường.
T

1
> t
2
: cơ thể mất Q vào môi trường.
T
1
= t
2
: có sự quân bình Q.
Trong nhóm động vật ở cạn người ta phân biệt:
a) Động vật đẳng nhiệt:
3

Chim (to=40
o
C), hữu nhũ (37
o
C) và không thay dổi thân nhiệt. Động vật đẳng nhiệt được
xem là tiến hóa hơn động vật biến nhiệt. Vì cơ thể tạo một nội môi trường không đổi mặc dù
môi trường ngoài thay đổi. Khi môi trường ngoài thay đổi nhiệt độ thì môi trườn đẳng nhiệt
có những phản ứng để giữ cho thân nhiệt không thay đổi.
+ mùa lạnh: nhiệt độ cơ thể > nhiệt độ bên ngoài : cơ thể sản sinh nhiệt năng để bù vào phần
nhiệt năng bị mất đi.
+ mùa nóng: nhiệt cơ thể < nhiệt bên ngoài : cơ thể hấp thu nhiệt năng từ môi trường ngoài,
để thải bớt nhiệt năng thặng dư bằng cách cơ thể bài tiết nhiều mồ hôi.
Có một số sinh vật đẳng nhiệt có hiện tượng ngủ Đông: gấu Helarctos malayanus và chuyển
hoạt động khi sang Xuân – Hạ. Lúc này thân nhiệt bình thường, biến dưỡng cơ bản cao. Sang
mùa thu tìm hang chui vào và bắt đầu thời kì ngủ Đông. Trong khoảng thời gian này gấu
không ăn uống, cơ thể sống mờ lớp mỡ dự trữ, nhiệt độ cơ thể thấp nhưng cao hơn môi
trường ngoài, biến dưỡng cơ bản thấp. Hoạt động trở lại khi mùa Đông.

b) Động vật biến nhiệt:
Thân nhiệt thay đổi theo môi trường ngoài, mặc dù luôn luôn trong cơ thể bao giờ cũng cao
hơn bên ngoài 2-3
o
C. Thường gặp ở động vật không xương, và loài có xương như cá, ếch, bò
sát.
Khi nhiệt độ môi trường ngoài quá thấp những 10
o
C, cơ thể sinh vật biến nhiệt sẽ giữ nhiệt
độ cơ thể cao hơn một chút và có hiện tượng tiêu hao chậm. Ở những động vật biến nhiệt,
chúng sống ở những nhiệt độ không quá lạnh, ví dụ: Việt Nam là vùng nhiệt đới có rất nhiều
rắn.
Ở vĩ tuyến càng cao (Nhật,…) ít hoặc chỉ có vài loài rắn độc; càng lên cao gần như không có
rắn (New Zealand,…), chỉ có bò sát.
Về phương diện nhiệt độ, sinh vật biến nhiệt ảnh hưởng rất nhiều, hoạt động biến dưỡng thay
đổi phụ thuộc nhiệt độ. Khi nhiệt độ gia tăng – Vận tốc phản ứng gia tăng; nhiệt độ giảm –
Vận tốc phản ứng giảm theo.
Ví dụ: cá sống ở biển miền cực : nhiệt độ nước 0-4
o
C và nhiệt độ cơ thể 3-7
o
C; hoạt động
biến dưỡng rất thấp.
Ếch nhái, bò sát: mùa lạnh chỉ hoạt động tối thiểu.
Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian phát triển, chu kì đời sống.
Ví dụ: bướm Grapholita.
toC
19
22
25

28
10
Chu kì đời sống
(ngày)
45
30
25
21
Trứng không nở hoặc
trứng không biến thái

2/ Độ ẩm:
4

Độ ẩm khí quyển bên ngoài cũng ảnh hưởng đến sinh chất trong cơ thể. Nước là thành phần
căn bản của sinh chất, bình thường khi một sinh vật sống ở một môi trường, mất nước qua
hoạt động bài tiết. Nếu môi trường ngoài quá khô khan thì sinh vật không sống được.
Trường hợp những sinh vật sống trong môi trường khô ráo, sa mạc nóng, thiếu nước thì phải
giảm lượng nước tiểu, mồ hôi thoát ra ngoài, sống ít nước (lạc đà).
Ngoài ra, có những sinh vật sống không cần nước (thỏ, bọ,…) không uống nước nhưng vẫn
sống được nhờ nước trong rau cải.
Ví dụ: ngài gỗ Ephestia: môi trường hoàn toàn không có nước.
Mọt gạo Tenebrio: sống được do thực phẩm AH
2
được oxi hóa trong tế bào tạo nước và chất
bã A.
AH
2
+ ½ H
2

O -> A + H
2
O + E
Lượng nước tạo ra theo phản ứng trên rất ít nhưng cũng đủ để gây ra biến dưỡng điều hòa.
Trong khí trời độ ẩm đi đôi với nhiệt độ.
Ví dụ: đặt sinh vật trong môi trường bão hòa 100% thì sinh vật chỉ chịu được nhiệt độ tối đa
là 36
o
C
Trên 37
o
C thì sinh vật chết
Nếu hạ H
bh
còn 50% thì sinh vật chịu được 45
o
C
Nếu độ H
bh
còn 0% thì sinh vật chịu được nhiệt độ 50-55
o
C
 H% càng giảm, khả năng chịu nhiệt độ của sinh vật càng cao.

3/ Ánh sáng:
Ảnh hưởng đến đời sống động vật hoạt động ban ngày, nhất là động vật bắt mồi: độ sáng
giúp động vật tìm bắt mồi; chỉ áp dụng cho những động vật ăn ban ngày: chim, hữu nhũ (cọp,
beo,…) ăn đêm nhưng thực chất là ăn lúc tranh tối tranh sáng (sáng sớm).
Quan sát chim sẻ Muria trong một miền có mùa Hạ (ngày dài), mùa Đông (ngày ngắn). Nếu
ngày ngắn quá, chim không có đủ thời gian kiếm ăn -> phải đi đến một vùng khắc -> hiện

tượng di cư.
Ánh sáng giúp sinh vật định hướng
Ví dụ: chim di cư (én) di cư từ Việt Nam, Malaysia sang Siberia, Nhật. Mùa Đông ở Siberia
và Nhật quá lạnh, én bay trở về Việt Nam, Malaysia. Đây là “địa điểm đồn trú mùa Đông”.
Trong mùa Hạ chúng lại bay về Siberia và Nhật -> đây là địa điểm làm tổ và đẻ trứng. Chim
định hướng phần lớn là nhờ ánh sáng. Có người cho rằng: ban đêm chim bay nhờ vào ánh
sáng các vì sao.
5

Ảnh hưởng độ dài ngày đêm: chu kì sinh sống của động vật, nhất là động vật sống ngoài
thiên nhiên bào giờ cũng theo chu kì ngày đêm. Việt Nam thuộc vào vùng áp nhiệt đới nên
chu kì sinh sống của động vật sống ngoài thiên nhiên cũng theo chu kì ngày đêm, mỗi năm
sinh sản một kì.
Ví dụ: vịt trời ngoài thiên nhiên, cân tuyến sinh dục, người ta thấy độ dài ngày đêm ảnh
hưởng đến tuyến nội tiết và tuyến hạ não.
Khi ngày dài, tuyến hạ não tiết chất Gonadotropia, chất này kích thích tuyến sinh dục hoạt
động tạo giao tử.
Khi ngày bắt đầu ngắn tuyến hạ não không cần tiết, tuyến sinh dục ngưng hoạt động.
Ánh sáng cũng ảnh hưởng đến chu kì biến thái của côn trùng, chu kì biến thái của chu kì do 3
tuyến nội tiết điều khiển: Corpora aleta, Corpora cardiaca, Corpora thoracica.
Chu kì hoạt động là do ánh sáng kích thích, truyền qua mắt, độ dài ngày thay đổi, tuyến hoạt
động hay không hoạt động.
Đối với động vật sống về đêm, tránh ánh sáng ban ngày, ngủ ở nơi khuất, đêm tìm mồi (dơi).
Động vật trong đất trong môi trường tối tăm, không bao giờ có ánh sáng, quan thị giác không
sử dụng -> mắt thoái hóa và biến mất.

4/ Khối khí di chuyển:
Chỉ ảnh hưởng đến phía di chuyển. Những động vật có cánh như bướm và cào cào nhờ khối
khí di chuyển để bay. Còn đối với động vật sống trong đất và trên mặt đất thì không bị ảnh
hưởng.

Phân loại môi trường cạn:
+ Theo vũ lượng:
 Môi trường sa mạc nóng: Pm 0-25 cm/năm.
 Môi trường đồng cỏ: Pm 25-100 cm/năm.
 Môi trường ẩm ướt: Pm >100cm/năm.
+ Theo nhiệt độ:
 Môi trường đới xích đạo: nhiệt độ cao.
 Môi trường ôn hòa: nhiệt độ trung bình.
 Môi trường lạnh: nhiệt độ thấp.
+ Theo vĩ tuyến và thực vật kiểu mẫu:
 Vùng cực (vĩ tuyến 90
o
): rêu và đài tiễn thực vật.
 Vùng áp cực (vĩ tuyến 75
o
): rừng thông rậm, rừng Taigar.
6

 Vùng ôn đới (vĩ tuyến 30-45
o
): đồng cỏ, rừng lá rụng vào Thu – Đông.
 Vùng áp nhiệt đới (vĩ tuyến 15
o
): rừng nhiệt đới ẩm ướt.
 Vùng xích đạo (vĩ tuyến 0
o
): sa mạc nóng.
Thực vật kiểu mẫu của từng miền thì thích ứng với khí hậu miền đó. Người ta cần phân môi
trường theo độ cao so với mực nước biển.
o Ven biển: rừng ngập mặn.

o Vùng cao hơn < 500m: rừng thưa.
o Vùng cao hơn > 1000m: rừng vùng cao nguyên.

II. Môi trường nước:
So với môi trường cạn, môi trường nước có nhiều điểm thuận lợi hơn, môi trường chiếm ¾
diện tích trái đất. Người ta phân biệt nước mặn, lợ, ngọt.
o Nước mặn: S
o
= 18-35‰
o Nước lợ: S
o
= 10-18‰ (lợ mặn, lợ vừa, lợ nhạt)
o Nước ngọt: S
o
< 0.1‰
Nước ngọt nếu là nước mưa hoặc nước sông thì có chứa ít muối hòa tan.

1. Môi trường nước ngọt:
Về phương diện khối lượng và diện tích, môi trường nước ngọt nhỏ hẹp và hạn chế so với
môi trường nước mặn. Nước ngọt thì do mây tạo ra và do mưa rơi xuống mặt đất, nên tháng
đầu địa cầu xuất hiện, khí quyển chứa nhiều nước tụ thành mây. Khi vỏ trái đất nguội mây
đọng thành mưa rơi xuống đất, tụ thành ao, hồ và khi đầy tràn ra biển. vậy môi trường nước
mặn xuất hiện sau nước ngọt và môi trường nước mặn là do nước ngọt hòa tan muối khoáng
từ nước ngọt chảy ra.
+ Hồ: khối nước ngọt lớn, chứa nước quanh năm, có thể từ nước mưa hay nước ngầm.
+ Ao: khối nước ngọt nhỏ chỉ chứa nước vào mùa mưa, mùa nắng đôi khi bị cạn.
Thành phần muối khoáng trong nước ngọt.
Ion
CO
3

2-

Ca
2+

SO
4
2-

SiO
2-

Na
+

Cl
-

Mg
2+

Oxit Fe/Al
Tỉ lệ theo P
(%)
31.15
20.39
12.14
11.67
5.79
5.68

3.41
2.75

CO
3
2-
và Ca
2+
: 2 ion quan trọng ở môi trường nước ngọt.
Na
+
và Cl
-
: 2 ion quan trọng ở môi trường nước mặn.
Oxit Fe và Al : 2 ion quan trọng ở môi trường nước phèn.
*Phân loại: môi trường nước ngọt có thể phân thành hai loại có điều kiện khác nhau.
7

+ môi trường nước ngọt tù hãm: nước không di chuyển như bãi sình lầy hoặc di chuyển chậm
(hồ, ao: hồ Xuân Hương – Đà Lạt).
+ môi trường nước ngọt di chuyển: sông, suối.
a. Hồ:
1. Sự xuất hiện của hồ:
Do băng hà di chuyển: nước ngọt trên mặt lạnh -> đóng băng và di chuyển làm xói mòn lớp đất
trên mặt.
+ nếu đường xói mòn thẳng ra biển: tạo sông.
+ nếu đường xói mòn chỉ tạo một chỗ trũng sâu: tạo hồ.
Hồ do băng hà tạo ra, ró nhất là hồ Caspienne, là hồ nước ngọt lớn nhất địa cầu 130.000km2, rất
dồi dào các chủng loại thực vật và động vật. Hồ Baikal (Siberia) cũng lớn.
o Do hiện tượng tạo sơn: hiện tượng vỏ trái đất di chuyển, chỗ nhô cao lên là núi, chỗ trũng

xuống là hồ.
Ví dụ: hồ Động Đình ở Trung Quốc đẹp nổi tiếng và hệ thống hồ ở Đà Lạt.
o Uốn khúc sông: sự xói mòn bờ lõm và bồi thêm bờ lồi  dòng sông tách hẳn thành một
khúc tạo thành hồ hình móng ngựa. Thời gian sau chỗ uốn khúc nối lại thành hồ.

o Do miệng núi lửa bịt kín, chứa nước mưa tạo hồ; ví dụ: DakLak, Kontum.
Vùng Indonesia, Philippine cũng có cái hồ dạng này. Nước rất trong, dồi dào động vật –
thực vật chúng.
o Do đập nước thành lập: tại vị trí đất lở ngăn chặn đường sông hoặc đập nước thiên nhiên
xuất hiện ngăn đường nước hình thành hồ.
Nước hồ chảy tràn qua đập tạo ra thác nước (thác Dambri, ).
Đà Lạt ở những nói có thác đều có sự xuất hiện của hồ ở phía sau thác.
Đập Đa Nhim và đập Trị An là những hồ nhân tạo, có nước quanh năm sau vài năm hệ
động vật – thực vật chúng giống hồ thiên nhiên.
8

Hồ ngầm dưới đất: nước mưa có chứa H
2
CO
3
chảy qua nham thạch có chứa CaO. Khi đó,
CaCO
3
sẽ làm tan nham thạch này tạo Ca(HCO
3
)
2
và từ đó hang ngầm dưới đất xuất hiện
(vùng núi đá vôi).
2. Cấu tạo của hồ và chia miền:

Theo chiều sâu: - miền thấu quang: photi
-miền vô quang.

Độ sâu của 2 miền này thay đổi thuộc độ trong của nước.
Về phương diện phiêu sinh:
o Thực phiêu sinh: chỉ sống được ở miền thấy quang, để hoạt động quang hóa.
o Động phiêu sinh vật: có thể xuất hiện ở cả 2 miền
Thực vật:
Miền ven hồ: được đặt trong miền photic, có rong rêu (miền có thực vật).
Miền sâu (miền đáy): không có ánh sáng, không có thực vật.
3. Điều kiện vật lý (ánh sáng và nhiệt độ):
o Ánh sáng: tia tới tiếp xúc phân chia hai môi trường, một phần ánh sáng phản xạ
theo tia R, phần còn lại bị khúc xạ.
Độ chiếu quang: sin i/ sin r.
(hình ảnh)
Khi vào nước tia r’ bị phân tán Er bị mất đi khi va vào phân tử nước.
Khi tia sáng vào trong tế bào rong, trong tế bào chứa sắc tố quang hóa, sắc tố
vàng sẽ nhận một phần năng lượng tia khúc xạ, đó là hìện tượng hấp thu.
Vì có 2 hiện tường phát tán và khúc xạ nên tia khúc xạ vào môi trường nước chỉ
tới được một độ sâu tối đa nào đó thôi khác độ trong của nước (đo độ trong bằng
dĩa sechi ).
9

Đơn vị cường độ ánh sáng là Lux: Lux là cường độ của một nguồn sáng có thể
kích thích mắt bình thường tạo ra cảm giác bức xạ ánh sáng. Độ dài trung bình λ
là 560 mµ, khi luồng sáng đặt cách mắt 1m.
Các bức xạ có ánh sáng trắng thì có độ dài sóng từ 700-4000 mµ và khi qua lăng
kính ta được bức xạ 7 màu. Tia hồng ngoại và tia tử ngoại mắt thường không thấy
được nhưng ta cảm thấy nóng vì bức xạ này kích thích trên võng mô.
Ví dụ: ống dòm: nhìn bằng ánh sáng hồng ngoại, máy ảnh chụp hình từ máy bay

ban đêm.
Để nghiên cứu thực vật phiêu sinh ta nghiên cứu ba bức xạ: đỏ 680 mµ, lục 570
mµ, lam-chàm 470 mµ.
Đây là những bức xạ được các sắc tố thông thường nhất, hấp thụ:
Chlorophylle (diệp lục tố): hấp thu bức xạ lam-chàm.
Phycoerythrin (diệp hồng tố): hấp thu bức xạ lục.
Để đo độ trắc quang và độ đâm thấu tối đa, người ta dùng Lux kế. Muốn độ đâm
thâu các bức xạ nào, ta bọc tế bào photoelectrique bằng một tấm giấy kiếng có
màu bức xạ đó và thả xuống.
Bức xạ đỏ chỉ xuống được 15m -> độ đâm thâu 15m.
Bức xạ lục chỉ xuống được 20m -> độ đâm thâu 20m.
Bức xạ lam chàm chỉ xuống được 27m -> độ đâm thâu 27m.
o Nhiệt độ: nhiệt độ trên nước thay đổi tùy nhiệt độ khí quyển. Ngoài ra, nhiệt độ
khí quyển thay dổi theo chu kì ngày đêm và chu kì mùa trong năm. Nhiệt độ dưới
sâu phụ thuộc sự di chuyển khối nước trong hồ.
- Hồ:
+ Hồ miền nhiệt đới:
Trường hợp hồ không sâu, gió trên mặt nước thổi mạnh: nước trên mặt hồ thay
dổi theo chiều gió từ ven bờ phía bên này -> bên kia -> xuống đáy, tạo thàng 1
vòng di chuyển hoàn bị -> nhiệt độ đáy gần bằng nhiệt độ trên mặt. ví dụ: hồ Đà
Lạt.
Trường hợp hồ sâu, gió trên mặt nước thổi nhẹ: chỉ có lớp nước gần mặt chịu ảnh
hưởng của gió, lớp dưới bị lớp trên trì kéo, bề sâu của hồ chia làm 3 miền.
 Epilumnion: sâu 3-5m, nhiệt độ thay đổi ít.
 Metalumnion: sâu 5-15m, nhiệt độ thay đổi nhanh, tạo nên một đường dị nhiệt
Thermocline.
 Hypolumnion: sâu lớn hơn hoặc bằng 15m đến đáy, nhiệt độ ít thay đổi.
10



Trường hợp hồ rất sâu: có 2 đường dị nhiệt Thermocline.
+ Hồ miền ôn đới:
Mùa hè: mặt nước hồ không đóng băng, nhiệt độ <30
o
; xuống sâu 5m nhiệt đọ
thay dổi đột ngột. ở 10m nhiệt độ chỉ còn 10
o
C, nên hồ chỉ có 1 đường dị nhiệt từ
5-10m. Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng bởi sự thay đổi theo mùa và tỷ trọng của
nước.
Thay đổi theo nhiệt độ, dmax ở 4
o
C.
Trên và nhỏ hơn 4
o
C, d giảm.
 Mùa Đông: mặt hồ đóng băng, nhiệt đồ mạt bằng 0
o
C, bên dưới lớp băng khối
nước không di chuyển, t
o
=1-5
o
C.
 Mùa xuân: ánh sáng môi trường làm tan băng, nhiệt độ nước mặt bằng 4
o
C;
d(4
o
C) cao chuyển xuống đáy đẩy nước dưới đáy lên trên mặt cho đến khi

toàn bộ khối nước được 4
o
C và dmax.
 Mùa hạ: nước trên mặt 28
o
C; nước dưới đáy có nhiệt độ thấp hơn cộng ảnh
hưởng của gió -> nước trên mặt hồ có nhiệt độ từ 24-28
o
C, nước dưới đáy từ
5-10
o
C, giữa là đường dị nhiệt.
 Mùa thu: nhiệt độ khí quyển thấp; nước trên mặt 4
o
C, đáy 5-10
o
C -> nước mặt
chuyển xuống đáy, đẩy nước đáy lên mặt đến khi toàn bộ khối nước có nhiệt
độ 4
o
C.
11


o Áp suất nước: tỷ trọng d = 1g/cm
3
; xuống sâu 10m, ấp suất tăng 1atm, tuy nhiên
ở những hồ ao nước ngọt, độ sâu nhỏ hơn hoặc bằng 20-30m, ảnh hưởng áp suất
không quan trọng.
o Khí hòa tan: trong môi trường nước, khí hòa tan O

2
và CO
2
được động vật và
thực vật thủy sinh sử dụng biến dưỡng.
Khí hòa tan thay đổi theo:
+ Độ sâu: khí hòa tan trên mặt nước lớn hơn dưới sâu.
+ Nhiệt độ: nhiệt độ giảm -> khí hòa tan tăng; Mức hoạt động quang hóa của
Thực vật Phiêu sinh – hoạt động hô hấp của Đ-TV phiêu sinh
Lượng khí hòa tan lớn nhất có trong 1l nước được gọi là lượng bão hòa.
Một lít nước ngọt ở 30
o
C có thể hòa tan 5.27 cm
3
O
2
và 667cm
3
CO
2
.
Đối với CO
2
trong tự nhiên có 3 dạng: H
2
CO
3
-
, CO
3

2-
, HCO
3
-
(H
2
CO
3
-
hòa tan
trong môi trường nước).
Trong môi trường nước tỷ lệ của từng thành phần cũng thay đổi theo pH.
Ví dụ: môi trường nước ngọt 20
o
C.
pH
7
8
9
10
H
2
CO
3

20
2.4
0.8
0
HCO

3
-

80
97
95
71
CO
3
2-

0
0.6
4.2
29

Độ kiềm của nước thay đổi theo độ cao. Hồ ở vùng có độ cao trên 1500m -> pH
hồ acid.
Ví dụ: hồ Đà Lạt có pH = 5; hồ ở đồng bằng pH chuyển về kiềm. Hồ quanh vùng
Nha Trang có pH -> 10.
Ở trong những bãi đầm lầy, có nhiều thực vật hô hấp tiết ra những hợp chất hữu
cơm những chất hữu cơ thối làm thức ăn cho vi khuẩn thối -> pH thay đổi về acid
hay kiềm chua.
o Muối bổ dưỡng:
Phiêu sinh vật cần có những hợp chất hữu cơ: PO
4
3-
, NO
2
-

, SiO
2
-
và những ion
như NH
4
+
, những hợp chất này do nước mưa từ môi trường cạn đưa xuống hồ ao;
hoặc do xac động thực vật từ cạn trôi xuống ao hồ, lên men thối, chua -> những
hợp chất vô, hữu cơ.
Hiện tượng ô nhiễm do chất cặn bã: phân, nước tiểu , nước bẩn,… từ những khu
vực đông dân cư dẫn xuống môi trường nước, phân biệt 3 dạng:
12

- Hồ ưu sinh (Eutrophe): khi một hợp chất hữu cơ bổ dưỡng quá cao, thực vật
phiêu sinh phát triển rất nhanh đồng thới với các thực vật khác sống trong
môi trường nước, dân số tăng nhanh sử dụng hết CO
2
trong môi trường nước
và phóng nhiều chất cặn bã làm cho động vật phiêu sinh và các động vật khác
sống trong nước bị chết -> hiện tượng Blooming.
- Hồ thiểu sinh (Oligotrophe): hợp chất bổ dưỡng thấp, đây là nhờ ở núi cao
thành phần phiêu sinh vật ở những hồ này tương đối ít.
- Hồ khang sinh (Dystrophe): nước trong hồ chứa nhiều hợp chất tạo ra môi
trường acid hoặc môi trường phèn làm vi khuẩn không sống được. Những xác
động thực vật trong hồ không bao giờ bị hư thối.
Điều kiện sinh lý: sinh vật sống trong môi trường nước ngọt phải thích ứng với
các điều kiện của môi trường. Môi trường bên ngoài nhược trương so với môi
trường bên trong cơ thể là ưu trương. Muối từ trong cơ thể sẽ theo ra môi trường
ngoài qua mô che chở và nước tiểu. Nước từ bên ngoài xâm nhập vào bên trong

cơ thể qua mô che chở, thực phẩm và nước uống để bù lại phần muối thoát ra bên
ngoài và sinh vật phải hấp thu muối từ môi trường ngoài, muối được vào cơ thể
theo đường thực phẩm gồm nước, lượng muối hòa tan trong nước còn được
những cơ quan đặc biệt hấp thu như mang là cơ quan hô hấp có thêm nhiệm vụ
hấp thu muối. Ngoài ra, cơ thể sinh vật còn thải ra ngoài lượng nước thặng dư qua
nước tiểu và phần. Phần và nước tiểu của những sinh vật sống trong môi trường
nước ngọt thường thiếu nhiều nước hơn.
4. Hồ xuất hiện và biến chuyển:
Ô nhiễm môi trường nước ngọt
hồ
xuất hiện thường trải qua chu kì 5 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: hồ mới xuất hiện, mực nước còn sâu và đáy hồ chưa có phù sa ở bờ hồ có những
cây lớn.
Ví dụ: Picus khasifa.
Ven bờ hồ cỏ mọc trên cạn gồm lác Cyperus. Carex, và cỏ mọc dưới nước ven bờ gồm một
số cỏ đa niên: Juncus, Heliocharis,…; giữa hồ có sen: Nymphae, rau mác: SagiHavia. Nổi
trên mặt thì có bèo, lục bình, đáy hồ chưa có thực vật -> miền không thực vật.
Ở giai đoạn này phiêu sinh vật mới xuất hiên ở ven bờ.
- Giai đoạn 2: cây thủy sinh, sen, rau mác tiến dần về phía trung tâm hồ. Ở đáy hồ được nâng
cao và dưới đáy có thực vật là Naies, miền không thực vật đó biến mất.
- Giai đoạn 3: đáy hồ tiếp tục nâng cao và trên mặt hồ: sen, súng, rau mác mọc lấn che lấp mặt
hồ. Đây là giai đoạn phiêu sinh vật trong nước cao nhất.
- Giai đoạn 4: hồ đã gần cạn vì đáy đã được nâng cao, rau mác phải nhường chỗ cho Juncus,
đáy hồ vẫn còn Naies; giai đoạn này lượng phiêu sinh vật giảm, hồ thành bãi sình cạn.
- Giai đoạn 5: hồ gần biến mất chỉ để lại vài vũng nước, toàn Juncus còn lại là Lác Cyperus,
Carex và cây lớn, dần tiến về phía giữa hồ.

13

5. Ao – bãi sình – hồ cạn:

Ao là khối nước ngọt mực nước tương đối nông và chỉ có nước trong mùa mưa
Bãi sình là hồ cạn, mực nước dưới 1m, môi trường này có nhiều cây thủy sinh, về mùa khô cây
chết -> nhiều thối -> môi trường acid. Môi trường các bãi sình rất ít phiêu sinh.

C. Môi trường di chuyển sông ngòi:
1. Môi trường nước ngọt:
Nước ngọt di chuyển ở môi trường sông ngôi khác hẳn môi trường ao hồ.
Độ sâu trung bình của sông thường nhỏ hơn độ sâu trung bình của hồ.
Bề rộng của sông hay lòng sông cũng tương đối thu nhỏ hơn kích thước trung bình của hồ.
Nước sông luôn luôn di chuyển, tốc độ cao phía nguồn, thấp phía sông.
Đáy sông luôn luôn bị nước sói mòn và những vật liệu được gọi là phù sa sẽ theo dòng sông
chảy ra cửa sông và tạo thành những tam giác châu.
Nhiệt độ nước thường thay đổi theo độ sâu, từ những con sông có độ sâu 30-40m, tuy nhiên
nhiệt độ nước sông cũng thay đổi tùy vị trí.
Ví dụ ở nguồn do đặt trên núi cao nên có nhiệt độ thấp; nước trong: nước sông về phía nguồn
do ít phiêu sinh nên nước tương đối trong. Nước dòng sông và cửa sông tùy thuộc vào mùa
mưa hay nắng thì có độ trong thay đổi. Mùa mưa nước chứa nhiều phù sa  độ trong giảm:
từ 20-20cm.
Khí hòa tan: đối với oxy nồng độ tương đối cao vì nước luôn di chuyển ngoài ra nồng độ oxy
trên nguồn cao hơn ở dòng sông và cửa sông. Và nồng độ này cũng gia tăng vào ban ngày do
thực vật phiêu sinh quang hóa.
Khí CO
2
: nồng độ tương đối thấp, khí CO
2
từ cơ quan hòa tan vào nước sông và hầu hết bị
thực vật quang hóa hấp thụ.
Khí độc khác như SH
4
, CH

4
có C tương đối thấp.
pH: chỉ trao đổi từ 6.5 – 7.5, lượng phiêu sinh hiện diện trong môi trường nước ngọt di
chuyển tùy thuộc vào sự hiện diện của sinh vật thủy sinh, và cũng tùy thuộc vào sự hiện diện
của hồ nước ngọt liên lạc với dòng sông. Nếu tốc độ dòng chảy tương đối thấp thì phiêu sinh
vật có thể sống bám vào thực vật ven bờ  sinh lượng cao; dòng chảy mạnh, nền đáy ít thực
vật thủy sinh thì sinh lượng phiêu sinh giảm. Do đó sinh lượng nước tù hãm > sinh lượng
môi trường nước chảy.

2. Môi trường nước lợ: S
o
0.1‰ – 17‰
Olegoholine có S
o
từ 1 – 1‰
14

Mesohaline có S
o
từ 1.1 – 5.5‰
Polyhaline có S
o
từ 5.6 – 10‰
Metohaline có S
o
từ 10.1 – 17‰
Đây là môi trường ven bờ biển, nhất là cửa sông, là nơi có nước ngọt từ sông chảy ra pha
trộn với nước mặn và độ mặn tại vị trí cửa sông cũng thay đổi nhanh chóng thường sau cơn
mưa hoặc thay đổi theo mùa. Ở rừng Sác Mangrove (Vũng Tàu) đôi khi S
o

xuống tới 5‰
nâng từ đất liền cũng đủ nhiều muối bổ dưỡng như NO
3
, PO
4
, CO
3
. Môi trường nước lợ là
môi trường có điều kiện sống rất khó khăn. Do S
o
thay đổi tùy mùa trong năm và có thể thay
đổi tùy theo giờ trong ngày. Thường thì nhiệt độ nước trên mặt tương đối cao, lượng hòa tan
tương đối thấp. Lượng CO
2
, SH
2
, CH
4
tương đối cao vì trong môi trường có nhiều hơp chất
hữu cơ hư thối. Do đó môi trường nước lợ thường có rất ít phiêu sinh thực vật.
3. Môi trường nước mặn:
S
o
gần bằng 35‰ (g/l)
Môi trường nước ngọt, nước lợ là những môi trường có thể thay đổi được điều kiện từ nơi
này sang nơi khác. Nhưng môi trường nước mặn của biển khơi thì không thể thay đổi hoặc
chỉ thay đổi chút ít trong những giới hạn rất nhỏ.
1. Hóa chất hòa tan:
Trong môi trường nước biển, hóa chất hòa tan được duy trì trong mật độ nhất định và
nồng độ hóa chất hòa tan được biểu thị bằng độ muối Salinity S

o
=35‰. Ở phòng thí
nghiệm thường người ta dùng AgNO
3
để kết tủa các ion Cl
-
và Br
-
. Lúc đó, AgCl và
AgBr sẽ xuất hiện và tủa, từ đó thấy được lượng CL và Br -> gọi là ion Cl
-
hay độ
Chlorynity. Công thức của Knudsen chi sự liên lạc giữa Salinity và Chlorynity.
S
o
= Cl
o
x 1.805
Thành phần ion trong môi trường nước mặn
Ion
g/l
% tổng số ion
Chlorua Cl
-

18.980
55.4
Natri Na
+


10.556
30.61
Sulfua SO4
2-

2.649
7.69
Magiesium Mg
2+

1.272
3.09
Calci Ca
2+

0.400
1.16
Kali K
+

0.380
1.10
Bromur Br
-

0.140
0.41
Acid Boric BO
3
H

2

0.026
0.07
Strotium Sr
2

0.003
0.04
Fluor F
-

0.010
0.01
Silicium Si
Rất ít


34.482 g/l
100%

2. Khí hòa tan:
15

Tất cả các khí là thành phần của khí trời đều hiện diện trong nước biển; lượng CO
2
, O
2
trong
nước và trên mặt có liên hệ quan trọng với phiêu sinh vật. Thực vật phiêu sinh chỉ hoạt động

trong miền thấu quang để quang hóa và động vật phiêu sinh cũng hoạt động trong miền này
để ăn thực vật phiêu sinh. Ở thực vật phiêu sinh hoạt động quang hóa là hấp thu khí CO
2
, nhả
O
2
; vừa hoạt động hô hấp là hấp thu khí O
2
và thải CO
2
. Động vật phiêu sinh chỉ hô hấp.
Do đó ở môi trường nước trên mặt biển hoạt động quang hóa ở Thực phiêu sinh có cường độ
cao nên lượng O
2
hòa tan rất cao có thể rất cao, có thể vượt quá 100% bão hòa, lượng khí O
2

và CO
2
bão hòa trong nước biển thay đổi tùy nhiệt độ, độ Cl, độ mặn. Trong thực tế nước
biển ngoài thiên nhiên S
o
=35%o, Cl
o
=19.5%o trữ lượng oxy hòa tan tối bão hòa hoặc có thể
trên độ bão hòa. Lượng CO
2
hòa tan trong môi trường nước thiên nhiên thường rất xa độ bão
hòa thường chỉ 20-40cc/l.
3. Ánh sáng:

Môi trường ven biển, độ trong của nước thay đổi; hằng số tách quang và độ đâm sâu tối đa
cũng thay đổi. Ở môi trường biển khơi thì hằng số tách quang giống hằng số nước cất
k=0.039. Còn độ đâm thâu tới đa 200m. Độ sâu từ 0-200m: miền thấu quang. Thực vật thủy
sinh cần ánh sáng chỉ sống trong môi trường này.
4. Nhiệt độ:
Nước biển trên mặt: biến chuyển từ nhiệt độ khí trời vì thế thay đổi tùy theo vĩ tuyến, vĩ
tuyến cực nhiệt độ rất thấp, vĩ tuyến ôn đới nhiệt độ trung bình, vĩ tuyến nhiệt đới xích đạo
thì nhiệt độ cao. Nhiệt độ trên mặt còn thay đổi theo hải lưu (nóng, lạnh). Độ mặn của hải lưu
cũng nhỏ hơn nước biển.

Nhiệt độ dưới biển sâu bình thường không thay đổi vì ảnh hưởng của sóng gió chỉ thực hiện
trên mặt biển. Tuy nhiên môi trường biển sâu cũng phân thành 3 miền:
- Epilimnion
- Hypolimnion
16

- Metalimnion
Hai hiện tượng:
- Upwelling: ở biển Đại Lãnh có hiện tượng này nước lạnh từ đáy chuyển lên mặt nên
nhiệt độ nước trên mặt nhỏ hơn vùng lân cận. Hệ động vật và thực vật cũng khác với
một số sinh vật bình thường sống ở đáy, cũng theo dòng nước chuyển lên mặt.
- Downwelling: theo một số tác giả hiện tương này đi đôi với upwelling, nước ở Bắc
Cực và Nam Cực có nhiệt độ thấp tỷ trọng gia tăng nước trên mặt chuyển xuống đáy
sâu, đó là hiện tưởng Downwelling. Tại xích đạo nước từ đáy chuyển lên trên; giữa
cực và xích đạo nước di chuyển để hoàn tất chu kì và hiện tượng upwelling chỉ quan
sát được ở vùng xích đạo và nhiệt đới.
(hình ảnh)

5. pH và hệ thống đệm:
môi trường nước biển ven bờ pH có thể thay đổi từ 7-8 còn môi trường biển khơi pH=7.5 độ

kiềm pH còn thay đổi theo vĩ tuyến. Môi trường nhiệt đới pH cao hơn chút đĩnh ở những
vịnh nhỏ như vịnh Nha Trang pH có thể thay đổi tùy ng đo quang hợp và hô hấp của thực vật
phiêu sinh.
Hệ thống đệm: có những hệ thống để giữ pH ổn định
CO
3
2-/HCO
3
-
CO
3
Na2/CO
3
HNa
Khi môi trường dư acid thì pH sẽ giảm và lúc đó ta có: CO
3
Na2 + HCl -> CO
3
HNa + NaOH
 pH tăng.
Khi môi trường dư base thì pH sẽ giảm, ta có: NaHCO
3
+ NaOH –> Na2CO
3
+ H
2
P
 pH giảm.

Phosphat dibasic PO

4
HNa2

Phosphat monobasic PO
4
H
2
Na
Khi môi trường dư acid: pH giảm  PO
4
HNO
2
+ HCl  PO
4
H
2
Na + NaCl  pH tăng
Khi môi trường dư base: pH tăng  PO
4
H
2
Na

+ NaOH  PO
4
HNa
2
+ H
2
O  pH giảm


6. Điều kiện sinh lý:
17

Áp suất thẩm thấu và áp suất nước môi trường sinh sống của những sinh vật là môi trường ưu
trương so với môi trường bên trong cơ thể. Do đó, nước cơ thể mất qua mô che chở và nước
tiểu.
Nước thoát ra, NaCl vào cơ thể qua mô che chở và hệ tiêu hóa do đó cơ thể dư thừa muối và
phải thải lượng muối thừa qua nước tiểu ngoài ra cơ thể phải giữ nước do đó lượng nước tiểu
đậm đặc.
7. Phân phối các miền trên địa cầu:
Miền AB miền thủy triều (A là mực nước lúc thủy triều lớn, B là mực nước lúc thủy triều
ròng).
Miền BC miền thấu quang = thềm lục địa, tương ứng độ sâu 200m.
Miền CD miền vô quang = dốc lục địa, độ sâu 200-300m. ở độ sâu 3000m được gọi là độ sâu
trung bình của biển.
Miền thấu quang được xem là vùng quan trọng vì những sinh vật đều sinh sống trong miền
này và ở độ sâu 200m được xem là giới hạn trung bình để phân chia miền photic và aphotic.

18

Chương 2: PHIÊU SINH VẬT VÀ ĐỜI SỐNG PHIÊU SINH

I. Định nghĩa:
Joham Muller là người đầu tiên khảo sát phiêu sinh vật sống trong môi trường nước.
Công trình khảo cứu xuất bản 1854. Ông gọi những sinh vật sống trong môi trường nước
là Auftries. Từ này thông dụng đến khi Victor Henson (1884) xác định tiếng Plankton,
Henson phân biệt trong môi trường nước thì Plakton là những sinh vật sống sát môi
trường nước hay nổi trên mặt nước.
Benthos là những sinh vật sống dưới đáy.

Nekton là những sinh vật bơi tự do trong môi trường nước.
Theo ông Plankton gồm tất cả những sinh vật sống sát môi trường nước (nổi trên mặt
nước) và có cơ quan di chuyển yếu ớt, vì thế chúng sống trôi dạt theo dòng nước.
Benthos gồm những sinh vật bình thường sống dưới đáy biển và không ra khỏi môi
trường đáy biển. Trong đó chia ra:
Rhizobenthos: là những cây có rễ chức năng gắn xuống đáy.
Elpibenthos: là những sinh vật bò trên đáy.
Psansonsbenthos: là những sinh vật chui vào bùn cát dưới tầng đáy.
Nekton: là những sinh vật bơi lội tư do trong nước như tôm cá, chúng có những cơ quan
di chuyển thích hợp.
II. Phân loại phiêu sinh
1. Đặc điểm
Euplankton: là những động vật hay thực vật sống phiêu sinh trong toàn thể chu kì đời
sống.
Trypton: là những sinh vật bình thường sống dưới đáy là Benthos nhưng đôi khi rời khỏi
đáy do ảnh hưởng Upwelling để lên mặt.
2. Sinh học:
Thực phiêu sinh Phytoplankton có đặc tính thực vật nhờ có sắc tố quang hợp, sống tự
dưỡng.
Động phiêu sinh Zooplankton có đặc tính động vật sống dị dưỡng.
19

Saproplankton: gồm những phiêu sinh sống trên xác của những động vật, thực vật thối
rữa.
Nhóm Bacterioplankton: gồm những loài vi khuẩn.
3. Kích thước: Các phiêu sinh vật còn được phân chia theo kích thước của chính
sinh vật hay kích thước mắt lưới sử dụng bắt sinh vật.
Kích thước được chia theo 2 phương pháp khác nhau
Phương pháp Miller (châu Âu) : đơn vị ô vuông cạnh 1 mm.
Phương pháp Johnston (Mỹ): Ví dụ lưới xx25 là mắt lưới có ô vuông cạnh 1/25 mm = 40

µm được sử dụng bắt phiêu sinh có kích thước lớn hơn 40 µm.
Thực tế ảnh hưởng do sự có xát của nước nên những sinh vật có kích thước nhỏ hơn 40
µm một chút vẫn bị giữ lại.
Có mắt lưới chính được sử dụng thông thường: xx25 = 1/25 mm = 40 µm
xx20 = 1/20 mm = 50 µm
xx10 = 1/10 mm = 100 µm
xx5 = 1/5 mm = 200 µm
Phương pháp Johnston đơn vị ô vuông có cạnh 1 inch = 2,3 cm.
Ký hiệu GG20 = 1/20 inch = 1000 µm
GG72 = 1/72 inch = 200 µm = xx5
Phiêu sinh động vật là thành phần phiêu sinh vật lọt vào lưới có mắt lưới khoảng 200 µm
(hay xx5 hay GG72), còn phiêu sinh thực vật là thành phần phiêu sinh được giữ lại trong
lưới có mắt lưới khoảng xx25 = 40 µm.
Về phân loại theo kích thước:
Megaloplankton: > 5 mm, kích thước lớn như sứa lửa.
Macroplankton: 0,5 – 5 mm: cần kính lúp, kính hiển vi để quan sát chi tiết.
Microplankton: 50 µm – 500 µm: hầu hết thành phần phiêu sinh vật đều nằm trong
khoảng kích thước này.
Nanoplankton: 5 µm – 50 µm không thể kéo lưới, vì nếu cung cấp nước quá cao làm
cho nước không chui qua mắt lưới. Để có Nanoplankton ta lấy nước biển cho vào chai,
dùng máy li tâm -> Nanaplankton sẽ lắng xuống đáy.
Ultraplankton: 1 µm – 5 µm gồm những thành phần vi khuẩn sống trong nước.
20

Gần đây người ta để ý đến Ultraplankton vì là thành phần biển chuyển các hợp chất hữu
cơ trong môi trường, chịu ảnh hưởng cung cấp những vi khuẩn lên men biến thành những
hợp chất hóa dưỡng: NO
3
, N
2

, CO
3
, PO
4
. Trường hợp không có vi khuẩn lên men hoặc
hợp chất hữu cơ với số lượng quá cao không biến chuyển được sẽ gây ra hiện tượng ô
nhiễm.
4. Chu kì đời sống
Holoplankton: toàn bộ chu kì đời sống đều thực hiện theo lối phiêu sinh Copepoda,
Cyclop.
Chu kì đời sống gồm 5 thời kì ấu trùng – 5 thời kì lột xác, cả ấu trùng và sinh vật trưởng
thành đều sống phiêu sinh.
Meroplankton: trong chu kì đời sống chỉ có thời kì ấu trùng là sống phiêu sinh và sinh vật
ở dạng trưởng thành là Nekton hay Benthos. Ví dụ Pices ấu trùng chuyển nó -> trưởng
thành sẽ lội đi nên khác.
5. Chiều sâu
Hầu hết động phiêu sinh – thực phiêu sinh hiện diện trong môi trường thấu quang ->
Epiplankton.
Từ 200 m trở xuống môi trường không còn thấu quang: thành phần phiêu sinh trong này
gọi là Hypoplankton, còn gọi là Nyctoplankton.
Ví dụ nhóm foraminiferida, Radiolaria lúc còn non có vỏ mỏng sống dạng phiêu sinh.
Khi trưởng thành, vỏ cứng chìm xuống đáy, sau khi chết xác chúng lắng tụ lâu ngày
thành túi chứa dầu.
6. Mùa
Tại vị trí có 4 mùa, thành phần phiêu sinh vật thay đổi theo mùa. Tại Việt Nam có 2 mùa
nắng và mưa, chúng ta có sự phân phối phiêu sinh vật theo mùa khô và mưa.
III. Đời sống phiêu sinh: đòi hỏi 1 số đặc điểm rõ ràng, những sinh vật sống phiêu
sinh cũng phải có 1 số đặc tính thích ứng đời sống phiêu sinh. Ví dụ quan sát Cyclop
trong bình nước thì tỉ trọng Cyclop d = 1,01 > nước d = 1. Vì vậy cơ thể chìm dần xuống
đáy bình. Khi sát đáy sinh vật dùng râu lớn ngoi lên mặt nước. Phiêu sinh vật sống sát

mặt nước hoặc có những cơ quan di chuyển hoặc có nhưng yếu ớt để bơi từ dưới lên mặt
nước. Ngoài thiên nhiên thì ảnh hưởng của những phản ứng hay của dòng nước giúp cho
sinh vật giữ nguyên vị trí sát mặt nước.
1. Sinh vật nổi trên mặt
21

Sứa lửa Physallia: có phao là túi khí giúp nổi trên mặt nước hay sứa buồm Vellela có
buồm hay có phao nổi trên mặt nước, hay ốc tóm Janthine thò lưỡi ra tích trữ khí để nổi
lên mặt nước.
2. Cơ thể chìm chậm
Cơ thể có d > d nước, nên cơ thể chìm dần xuống . Tốc độ chìm là V thường tăng tỉ lệ
thuận trọng lượng P và tăng tỉ lệ nghịch với sức cọ xát W, độ nhớt n của nước.
V = P/(W*n)
Tuy nhiên nước cất có n = 1 -> ít ảnh hưởng.
Để giảm tốc độ chìm V thì phải giảm P hoặc gia tăng sức cọ xát W nhưng động vật thuộc
thành phần phiêu sinh vật thì để giảm P. Trường hợp sinh chất trở nên rất loãng hoặc
trong sinh chất có nhiều hạt mỡ. Ví dụ Nodiluca.
Ngoài ra phiêu sinh vật tăng sức cọ xát W bằng cách gia tăng diện tích mặt ngoài cơ thể
vì chính mặt ngoài cơ thể cọ xát với môi trường nước. Ví dụ sinh vật kích thước càng nhỏ
thì diện tích cơ thể càng lớn so với trọng lượng. Ví dụ sinh vật hình lập phương 6 mặt,
cạnh 1 cm thì ta có:
Tỷ lệ S/P = 6/10 (cm
2
/g), nếu cắt sinh vật ra làm 2 thì trọng lượng chỉ còn 5g và S = 4
cm
2
.
Tỷ lệ lớn hơn trường hợp trước -> tốc độ chìm sẽ tăng.
Ngoài ra sinh vật bình thường có hình dẹp, hoặc có hình gai dài hay tết bào có thêm vỏ
mucus (là một chất nhầy thấm nước và tỷ trọng nước cũng ngang tỷ trọng chất nhầy. Ví

dụ Chaetoceros có gai, Coscinodiscus hình dẹp, Copepoda phụ bộ có nhiều lông.
3. Điện tích ngoài cơ thể
Nghiên cứu Maitsudaine: phiêu sinh vật khi còn sống để vào bình -> lơ lửng trong môi
trường nước và không lắng tụ xuống đáy.
Động phiêu sinh di chuyển, thực phiêu sinh không di chuyển và vốn lơ lửng.
Tế bào phiêu sinh vật có điện tích (-) ở môi trường ngoài cơ thể và nhờ có điện tích này
chúng sẽ đẩy nhau và không lắng tụ.
Ví dụ như sinh vật chứa trong bình trong môi trường nước, cho Formol vào sẽ có hiện
tượng lắng tụ của sinh vật ở dưới đáy bình.
4. Hiện tượng thay đổi hình thái theo mùa (Cyclomorphosis):
22

Một số phiêu sinh vật thay đổi cấu tạo cơ thể theo mùa trong năm. Hiện tượng này
thường xảy ra cùng 1 lúc với sự thay đổi về điều kiện môi trường.
Vào mùa mưa
Vào mùa nắng
Tỷ trọng nước biển tăng cao
Nhiệt độ cao
Lượng muối bổ dưỡng có nồng độ thấp
Tỷ tọng nước biển hạ thấp
Nhiệt độ thấp
Lượng muối bổ dưỡng có nồng độ cao
Ví dụ như phiêu sinh nước mặn, khuê tảo: Rhizosolenia, mùa nắng có gai ngắn, mùa mưa
gai dài.
Đối với động phiêu sinh Ceratium hinundinella (nước ngọt), mùa nắng có 3 gai, mùa
mưa có 4 gai.

Ceratium hinundinella (mùa nắng) Ceratium hinundinella (mùa mưa)
Giải thích trong môi trường nước ngọt, tỷ trọng không thay đổi giữa mùa nắng và mùa
mưa, chỉ có nhiệt độ môi trường thay đổi và nồng độ các chất hòa tan thay đổi. Vào mùa

mưa nước trên cao đổ xuống lôi theo nhiều hợp chất bổ dưỡng và sinh vật tăng diện tích
có thể để hấp thụ chất bổ dưỡng do đó Ceratium thay đổi cấu tạo cơ thể để thích ứng với
điều kiện bên ngoài.
Ví dụ loài phiêu sinh Daphnia (sống trong nước ngọt) sẽ có 2 dạng hình thái theo mùa
nắng và mùa mưa. Vào mùa khô có sừng nhỏ, mùa mưa sừng lớn hơn, gai đuôi dài hơn
thích ứng với sự thay đổi của hàm lượng chất dinh dưỡng trong môi trường nước. Khi
trưởng thành có sừng nhỏ, giữa 2 mùa không có sự thay đổi diện tích và tỷ trọng.
23


Hiện tượng biến thể của Daphnia là do sự thích ứng với sự thay đổi của nhiệt độ và hiện
diện của hợp chất bổ dưỡng trong môi trường nước.






24

Chương 3: PHIÊU SINH THỰC VẬT (Phytoplankton)

I. Định nghĩa:
Phiêu sinh thực vật là thành phần sản xuát trong chu kì thủy sinh nhờ có sắc tố quang hợp,
thực vật phiêu sinh sử dụng quang năng ánh sáng mặt trời và hợp chất vô cơ hòa tan để
tổng hợp ra hợp chất phức tạp như glucid, lipid, protid là thành phần của sinh chất.
II. Sắc tố quang hóa:
Là những hợp chất hữu cơ phức tạp có màu sắc đặc biệt để hấp thu hoặc bức xạ hoặc
thành phần của ánh sáng mặt trời. trong thực vật phiêu sinh có 4 nhóm quang hóa:
Diệp lục tố: Chlorophylle gồm 5 loại Chlorophylle A B C D E chúng có màu xanh lục.

Công thức hóa học C
40
H
56
O
6
N
4
Mg.
Caroten: gồm có Caroten alpha, beta, gama; chúng có màu vàng cam; công thức C40H56.
Caroten liên hệ vitamin A được gọi là provite A có trong Caroten.
Xanthophylle: C
40
H
56
O
6
gồm có Flavoxanthin có màu vàng, Dinoxanthin có màu nâu,
Peridinin có màu xám, Vialoxanthin có mầu tím.
Nhóm Phycobilin: C
40
H
56
O
2
gồm có Fucoerythrin -> đỏ, Fucocyanin -> xanh lam.
Trong thực tế chỉ chú trọng đến 2 nhóm Chlorophylle và Caroten là 2 thành phần quan
trọng hơn cả.
Hoạt động sắc tố:
Trong thực vật phiêu vật sắc tố quang hóa nằm trong hạt nhỏ lục lạp, sắc lạp, bên trong

sắc lạp có những hạt nhỏ hơn gọi là Grana xếp trên những vách ngăn. Hạt grana sử dụng
ánh sáng môi trường; cấu tạo hạt grana: bên ngoài là vỏ ngoài, vách trong tạo vách ngăn
sepsta, chất keo chứa những sắc tố hòa tan.
Tác dụng hạt grana đối với ánh sáng:
Ánh sáng dịu hoạt động mạnh nhất, grana xếp thành tấm thẳng góc với luồn ánh sáng.
Ánh sáng mạnh: cường độ quang hóa sẽ giảm, grana xếp thành tấm thẳng đứng song song
với luồn ánh sáng.
Ánh sáng cực mạnh (giữa trưa): cường độ quan hóa xuống đến mức thấp nhất; hạt grana
xếp lại thành khối và không hoạt động.
Phản ứng quang hóa:
25

Theo Nolatson, các hoạt động quang hóa ở thực phiêu sinh cũng trường tự như quang hợp
ở cây xanh. Phiêu sinh quang hóa cũng gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn ngoài ánh sáng: phản ứng Hill. Diệp lục tố Chlorophylle dưới ánh hưởng ánh
sáng môi trường từ giai đoạn thường biến sang giai đoạn kích động. Chlorophylle kích
động hợp với phần hon tố hiện diện trong lục lạp để phân tách 4 phân tử nước cho ra 4
ion H
+
và 4 ion OH
-
với 1 năng lượng gần bằng 100kcal.
Phản ứng này thường xảy ra trong hạt grana khi có ánh sáng dịu.
Chlorophylle  Chlorophylle kích động  4 nước  4H + 4 OH
-
100kcal
Phản ứng tối (Blackman)
4 ion H
+
sẽ hóa hợp acid carbonic dưới ảnh hưởng của ATP và chuyển vào DPN để cho

ra HCHO đây là 1 chất rất độc nên sau khi được thành lập sẽ trùng hợp để biến thành
glucid.
Từ phân tử glucid phân hóa tố này hiện có trong tế bào sẽ tổng hợp chuyển protid, lipid.
4 ion OH
-
sẽ tạo ra H
2
O và O
2
khi hình thành sẽ được giải thoát và hòa tan trong môi
trường nước.
4H+ H
2
O
3
 (ATP/DPN) HCHO + 2 H
2
O
6HCHO  C
6
H
12
O
6

4OH-  2H
2
O + O
2


III. Điều kiện hoạt động quang hợp:
1. Quang phổ hấp thu:
Một sắc tố quang hóa thường không sử dụng toàn bộ các bức xạ trong quang phổ, sắc tố
chỉ sử dụng một hoặc 2 bức xạ để trở thành sắc tố khởi động.
Muốn biết rõ sắc tố sử dụng bức xạ nào ta dùng máy quang phổ kế và đặt hình chiếu sắc
tố hòa tan trên đường di chuyển của luồng ánh sáng.
Sau khi ánh sáng đi qua lăng kính bức xạ có 7 màu từ 700 µm (đỏ) -> 400 µm (tím) (600
µm là lục)
a) Quang phổ hấp thu sắc tố Chlorophylle:
Đặt hình chiếu dd Chlorophylle trên đường di chuyển của luồng ánh sáng; trên quang phổ
xuất hiện 2 vệt đen đó là 2 bức xạ được sắc tố Chlorophylle hấp thu : bức xạ đỏ 680mu;
bức xạ chàm tím 440mu.
Chlorophylle hấp thu bức xạ này để trở thành sắc tố khởi động.

×