Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

Nâng cao hiệu quả Phát triển thị trường tại công ty cổ phần chứng khoán Tân Việt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (344.62 KB, 63 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán ra đời là sự phát triển tất yếu của nền kinh tế
thị trường nhưng đồng thời nó cũng đóng vai trò ngược lại là thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh. Tại Việt Nam thị
truờng chứng khoán ra đời cách đây chưa lâu nhưng nó đang dần khẳng định
vị trí là một kênh huy động vốn hiệu quả, dẫn truyền vốn từ nguồn nhàn rỗi
tới các dự án các công trình… Để thị trường chứng khoán phát triển vững
mạnh thì sự đóng góp của các công ty chứng khoán là vô cùng quan trọng.
Các công ty chứng khoán có vai trò thúc đẩy sự lớn mạnh của thị trường, đưa
chứng khoán đến gần hơn với công chúng. Hoạt động chủ yếu của các công ty
chứng khoán hiện nay là hoạt động môi giới. Hoạt động này phát triển đã đem
lại nhiều lợi ích cho thị trường chứng khoán nói chung cho các công ty chứng
khoán và các nhà đầu tư nói riêng.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động được gần 10
năm, đây tuy là một quãng thời gian ngắn so với lịch sử chứng khoán thế giới.
Tuy nhiên thị trường chứng khoán của chúng ta cũng đã đạt được những
thành tựu nhất định. Thị trường chứng khoán Viêt Nam ngày càng lôi cuốn
được sự quan tâm tham gia của các chủ thể trong nền kinh tế. Khi thị trường
càng phát triển thì yêu cầu đối với các hoạt động càng cao càng phức tạp. Tuy
nhiên công tác phát triển thị trường ở các công ty chứng khoán hiện nay mới
chỉ vẫn còn ở cấp độ đơn giản chưa sâu sát với khách hàng, hoạt động phát
triển thị trường trong các công ty chứng khoán chủ yếu là môi giới, bảo lãnh
phát hành chứng khoán, lưu ký…mà chưa có những lộ trình cụ thể để định
hướng phát triển thị trường chất lượng và bền vững. Với điều kiện cạnh tranh
ngày càng gay gắt, các công ty chứng khoán tham gia thị trường ngày một
nhiều, để có thể phát triển, thu hút được khách hàng, nâng cao thị phần đến và
1
Chuyên đề tốt nghiệp
ở lại với mình thì công tác phát triển thị trường tai công ty chứng khoán phải
được phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng.


Từ thực tế thị trường chứng khoán ở Việt Nam em chọn đề tài :
“ Nâng cao hiệu quả Phát triển thị trường tại công ty cổ phần chứng
khoán Tân Việt”.
Nội dung chuyên đề gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản phát triển thị trường của công ty chứng
khoán.
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường của công ty chứng khoán
Tân Việt.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phát triển thị trường của công
ty cổ phần chứng khoán Tân Việt.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Thanh Tâm đã tận tình hướng dẫn
phương pháp nghiên cứu và triển khai thực hiện chuyên đề này.
Tôi xin cảm ơn các anh chị tại công ty chứng khoán Tân Việt đã tạo
điều kiện, cung cấp các thông tin số liệu cẫn thiết để tôi hoàn thành chuyên đề
tốt nghiệp này.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian và
kiến thức còn có hạn nên tôi không thể tránh khỏi có những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được những ý kiến góp ý của của các thầy cô đặc biệt là TS. Lê
Thanh Tâm.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN PTTT CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN.
1.1. Công ty chứng khoán.
1.1.1 Lịch sử hình thành phát triển.
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách rất tự phát và sơ
khai, xuất phát từ một nhu cầu đơn lẻ từ buổi ban đầu. Vào thế kỷ XV ở tại
những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ
tập tại các quán cà phê để trao đổi mua bán các vật phẩm hàng hóa… lúc đầu

chỉ một nhóm nhỏ, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế
kỷ XV, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với
việc thống nhất các quy ước và dần dần các quy ước này được sửa đổi hoàn
chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham
gia “ thị trường”.
Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia
đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một bảng hiện hình ba túi da với một từ
tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “Sở giao
dịch”.
Vào năm 1547, thành phố Bruges (Bỉ) mất đi sự phồn thịnh do eo biển
Even bị lấp cát nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua
thị trấn Auvers (Bỉ), ở đây thị trường phát triển rất nhanh và giữa thế kỷ XVI
một quan chức đại thần của Anh quốc đã đến quan sát và thiết lập một mậu
dịch thị trường tại London (Anh), nơi mà sau này được gọi là Sở Giao dịch
chứng khoán London. Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành
lập tại Pháp, Đức, và Bắc Âu.
Sự phát triển của thị trường ngày càng mạnh cả về lượng và chất với số
thành viên tham gia đông đảo và nhiều nội dung khác nhau, vì vậy theo tính
3
Chuyên đề tốt nghiệp
chất tự nhiên nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: thị
trường giao dịch hàng hóa, thị trường hối đoái, thì trường giao dịch các hợp
đồng tương lai và thị trường chứng khoán… với đặc tính riêng của từng thị
trường thuận lợi cho giao dịch của người tham gia trong đó.
Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành như một
cách tự phát cũng tương tự ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây
Âu khác và Bắc Mỹ.
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những
ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Cho đến
năm 1921, ở Mỹ, khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch

chứng khóan chính thức thành lập.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật, các
phương thức giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán cũng đã được cải tiến
theo tốc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho
giao dịch. Các sở giao dịch dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh
đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử
dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử.
Lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán thế giới trải qua một sự
phát triển thăng trầm lúc lên, lúc xuống. Vào những năm 1875 – 1913, thị
trường chứng khoán thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng
của nền kinh tế thế giới lúc đó, nhưng rồi đến “ngày thứ Năm đen tối”, tức
ngày 29/10/1929, thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản đã
khủng khoảng. Mãi cho tới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các thị
trường mới dần hồi phục và phát triển mạnh và cho tới năm 1987, một lần nữa
các thị trường chứng khóan trên thế giới điên đảo “ngày thứ Hai đen tối” do
hệ thống thanh toán kém cỏi không đảm đương được yêu cầu của giao dịch,
sụt giá chứng khoán mạnh, gây mất lòng tin và phản ứng dây chuyền mà hậu
4
Chuyên đề tốt nghiệp
quả của nó còn nặng nề hơn cuộc khủng hoảng năm 1929. Gần đây nhất, thị
trường chứng khoán ở các nước và lãnh thổ Đông Á, Nga và một số thị
trường ở Châu Mỹ cũng đã rơi vào vòng xoáy của cơn lốc khủng hoảng tài
chính tiền tệ, giảm lòng tin và có tính chất lây lan, tạo ra sự suy giảm ghê
gớm chỉ số giá chứng khoán.
Tuy nhiên, cho tới nay, thị trường chứng khoán phát triển ở mức có thể
nói là không thể thiếu trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị
trường và nhất là những nước đang phát triển đang cần thu hút luồng vốn dài
hạn cho nền kinh tế quốc dân.
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có hiệu quả, một
yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị

trường chúng khoán. Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là
thu hút vốn đầu tư dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh
khoản cho các chứng khoán. Do vậy, để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt
động một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt
động của các công ty chứng khoán. Lịch sử hình thành và phát triển của thị
trường chứng khoán trên thế giới cho thấy thời tiền sử của thị trường chứng
khoán, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau. Sau này, cùng
với sự phát triển của thị trường chứng khoán, chức năng và quy mô hoạt động
giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các công ty
chứng khoán là sự tập hợp có tổ chức của các nha môi giới riêng lẻ.
1.1.2. Khái niệm định nghĩa.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi
diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi chứng khoán. Thị trường chứng khoán
phát triển kéo theo sự ra đời của hàng loạt các công ty chứng khoán và các
nhà môi giới chuyên nghiệp. Có nhiều cách nhìn nhận về công ty chứng
khoán. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau có các khái niệm khác nhau.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo giáo trình thị trường chứng khoán thì công ty chứng khoán là một tổ
chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.
Theo Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17-6-2004 của Bộ Tài Chính
thì: “ Công Ty Chứng Khoán là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu
hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoán theo giấy
phép kinh doanh chứng khoán do Ủy ban chứng khoán Nhà Nước cấp”.
Các công ty chứng khoán có những đặc điểm riêng khác nhau tùy theo
mục đích hoạt động của công ty và mức độ phát triển của thị trường. Ở từng
cấp độ phát triển các công ty chứng khoán sẽ có những định hướng phát triển
các hoạt động và nghiệp vụ khác. Tuy nhiên các công ty này vẫn có những
đặc điểm chung nhất, đặc trưng nhất để được xếp vào cùng một nhóm công ty
chứng khoán.

Trước hết là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường tài chính, nên
công ty chứng khoán có những đặc điểm chung vốn có của một tổ chức tài chính
trung gian. Đây là đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của một công ty chứng
khoán. Ở công ty chứng khoán đặc điểm này được thể hiện thông qua trung gian
về giao dịch, trung gian thông tin, trung gian vốn, trung gian rủi ro.
Công ty chứng khoán là một tổ chức trung gian về giao dịch. Công ty
chứng khoán là nơi kết nối giữa người cần bán chứng khoán và những người
cần mua chứng khoán lại với nhau. Tạo ra một cơ chế giao dịch nhanh, gọn và
tiết kiệm thời gian cho các nhà đầu tư. Ở đây người mua và người bán không
trực tiếp gặp nhau để thỏa thuận giá cả chứng khoán và tiến hành các giao
dịch mà họ sẽ giao dịch qua hệ thống của công ty chứng khoán. Các công ty
chứng khoán sẽ nhận các yêu cầu về mua bán chứng khoán của nhà đầu tư sau
đó nhập những lệnh này vào cùng một hệ thống, hệ thống tự động so khớp các
lệnh này với nhau để đưa ra một mức giá giao dịch tốt nhất.
Công ty chứng khoán là một trung gian về thông tin. Là một tổ chức tài
6
Chuyên đề tốt nghiệp
chính chuyên nghiệp nên công ty chứng khoán có đủ điều kiện trình độ nhân
lực cũng như kỹ thuật để có thể thu thập và tổng hợp thông tin một cách đầy
đủ, chính xác và nhanh nhất. Với đội ngũ các chuyên gia có kiến thức và trình
độ phân tích biến những thông tin này thành những thông tin có ích cung cấp
cho các tổ chức và cá nhân đầu tư trên thị trường chứng khoán. Tùy theo cấp
độ xử lí thông tin tài chính các công ty chứng khoán có thể bán chúng để thu
lời hoặc những thông tin này có thể được cung cấp miễn phí cho khách hàng.
Những sản phẩm thông tin này sẽ được các công ty chứng khoán cung cấp
cho nhà đầu tư cá nhân cũng như tổ chức thông qua nghiệp vụ môi giới hay tư
vấn đầu tư. Nhờ có công ty chứng khoán mà khách hàng sử dụng thông tin
với hiệu quả cao hơn, chi phí thấp hơn và tiết kiệm được nhiều thời gian, từ
đó họ có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn và hợp lí hơn. So với việc
các nhà đầu tư tự thu thập và xử lí thông tin thì đặc điểm trung gian thông tin

của các công ty chứng khoán đã đem lại rất nhiều lợi ích đối với thị trường
chứng khoán.
Công ty chứng khoán với đặc điểm là một trung gian vốn. Đặc điểm
này được thể hiện rõ ở hình thức cho vay bảo chứng. Các công ty chứng
khoán sẽ đi vay trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu hoặc vay các
ngân hàng, rồi sau đó cho các khách hàng vay lại bằng các hình thức cho vay
ký quĩ, hay là tạm ứng tiền cho khách hàng để mua chứng khoán. Điều này
nhằm mục đích tăng cơ hội cho khách hàng, đồng thời tạo thu nhập cho việc
đa dạng hoá hoạt động của công ty trên thị trường. Tuy nhiên hình thức này
cũng mang lại nhiều rủi ro cho công ty chứng khoán, rủi ro lớn hơn nhiều so
với vai trò trung gian vốn của các ngân hàng thương mại đặc biệt là khi thị
trường chứng khoán mất điểm và rơi vào tình trạng suy thoái.
Công ty chứng khoán còn là một trung gian rủi ro. Dựa trên một thực tế
là có những nguồn vốn nhàn rỗi nhưng chủ nhân của chúng không có đủ thời
7
Chuyên đề tốt nghiệp
gian cũng như kiến thức chuyên môn, khả năng phân tích để đầu tư trên thị
trường chứng khoán. Do đó các quỹ đầu tư chứng khoán được thành lập. Các
quỹ này sẽ thực hiện đầu tư trên một danh mục các chứng khoán được lựa
chọn bởi các chuyên gia, danh mục đầu tư chứng khoán được tính toán xây
dựng với mục đích kiếm lời và phân tán rủi ro. Các quĩ này sẽ thực hiện việc
phát hành các chứng chỉ quĩ đầu tư bán cho công chúng đầu tư.
Công ty chứng khoán là một công ty trong quá trình hoạt động có sự
chuyên môn hóa cao. Công ty chứng khoán hoạt động với rất nhiều nghiệp vụ
phức tạp. Các thông tin số liệu cũng như tình hình thị trường luôn luôn biến
động rất nhanh, do đó khi tham gia vào thị trường các chủ thể phải có những
phản ứng nhanh trước những thay đổi. Do đó mà bộ máy hoạt động của công
ty phải gọn nhẹ để có thể ra các quyết định nhanh kịp thời. Trong các hoạt
động cần sự chuyên môn hoá giữa các bộ phận. Vì thế các hoạt động của công
ty chứng khoán có tính độc lập tương đối. Mỗi bộ phận trong tổ chức công ty

nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau ( bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh,
hay bộ phận bảo lãnh phát hành ). Sự chuyên môn hóa ở mức độ cao trong
từng bộ phận, từng phòng ban.
Công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh phải
thoả mãn được các điều kiện về vốn, điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất
kinh doanh và cả hệ thống công nghệ thông tin như:
- Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định.
Vốn pháp định thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ.
- Công ty phải có giấy phép do ủy ban chứng khoán nhà nước cấp
- Công ty chứng khoán chỉ được kinh doanh những hoạt động đã đăng
ký với ủy ban chứng khoán.
- Công ty hoạt động dưới sự giám sát của Ủy ban chứng khoán nhà nước.
8
Chuyên đề tốt nghiệp
- Các tổ chức cá nhân sáng lập công ty chứng khoán phải đảm bảo yêu
cầu tối thiểu về cơ sở vật chất cho công ty chứng khoán.
Yếu tố công nghệ luôn là yếu tố then chốt trong các công ty chứng khoán.
Tại đây công nghệ thông tin được ứng dụng nhiều nhất. Công nghệ thông tin
giúp khách hàng có thể giao dịch chứng khoán, kiểm tra tài khoản, thanh toán
qua mạng tiện lợi. Đây là yếu tố cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán.
Một đặc điểm nữa của các công ty chứng khoán là luôn luôn tồn tại sự
xung đột lợi ích giữa các nhóm, giữa khách hàng và công ty chứng khoán,
giữa các nghiệp vụ mà công ty thực hiện khi tiến hành hoạt động kinh doanh.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
Hoạt động môi giới
Môi giới là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, đại
diện cho khách hàng tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán để hưởng
hoa hồng. Việc giao dịch chứng khoán được tiến hành thông qua cơ chế giao
dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay trên thị trường OTC. Khách hàng là
người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các quyết định mua bán của

chính mình. Với vai trò là trung gian trong các giao dịch mua bán giữa các
khách hàng, hoạt động này mang lại một khoản phí không nhỏ cho công ty
chứng khoán. Nhân viên môi giới chính là bộ mặt của công ty chứng khoán, họ
là những người tiếp xúc gần nhất và hiểu rõ khách hàng nhất. Những sản phẩm
được công ty đưa ra để phục vụ khách hàng hay những đánh giá về khách hàng
của mình đều được thực hiện thông qua các hoạt động môi giới.
Hoạt động tự doanh
Hoạt động tự doanh thực chất là hoạt động mà các công ty chứng khoán
tự mua bán chứng khoán cho mình. Mục đích của hoạt động tự doanh là lợi
nhuận thu được cho chính công ty thông qua hoạt động mua bán, giao dịch
trên thị trường. Trên thị trường giao dịch tập trung lệnh giao dịch của công ty
9
Chuyên đề tốt nghiệp
chứng khoán được đưa vào hệ thống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch
của khách hàng. Trên thị trường OTC hoạt động này có thể được thực hiện
trực tiếp giữa công ty với các đối tác hoặc thông qua mạng thông tin. Ngoài ra
các công ty chứng khoán còn đóng vai trò như một pháp nhân chuyên nghiệp
khi mà hoạt động tự doanh còn được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị
trường. Các công ty chứng khoán nắm giữ một số lượng nhất định một loại
chứng khoán nào đó và thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm hưởng
phí giao dịch và chênh lệch giá.
Sự tham gia của công ty vào thị trường chứng khoán với nghiệp vụ tự
doanh đã nảy sinh xung đột lợi ích giữa khách hàng và lợi ích công ty. Do đặc
thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các công ty
chứng khoán có thể dự đoán trước được diễn biến của thị trường có thể dẫn
đến việc sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng. Để bào vệ quyền lợi cho các
nhà đầu tư Pháp luật đã qui định công ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên
tắc ưu tiên cho khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ của hoạt động tự doanh.
Công ty chứng khoán cần phải tách biệt rõ ràng giữa hoạt động môi giới với
hoạt động tự doanh, công ty chứng khoán phải ưu tiên đặt lệnh của khách

hàng trước lệnh tự doanh của công ty.
Vì vậy cần phải có những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong
hoạt động tự doanh. Trong quản lí của công ty chứng khoán phải có sự tách
biệt giữa hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới để đảm bảo tính minh
bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người
và các qui trình nghiệp vụ. Đồng thời các công ty còn phải đảm bảo sự tách
bạch về tài sản của khách hàng với các tài sản của công ty. Công ty phải luôn
đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu. Nghĩa là lệnh và giao dịch của khách
hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty, cung cấp thông tin co
khách hàng một cách trung thực và kịp thời nhất.
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Hoạt động bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành giúp tổ chức
phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc
phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu
sau khi phát hành. Công ty chứng khoán đảm nhiệm thủ tục tư vấn cho doanh
nghiệp phát hành, phân phối chứng khoán giúp cho đợt phát hành được thành
công. Ở đây công ty chứng khoán đóng vai trò là trung gian giữa tổ chức phát
hành chứng khoán với ủy ban chứng khoán nhà nước và nhà đầu tư. Các hình
thức bảo lãnh phát hành bao gồm.
Thứ nhất là bảo lãnh với cam kết chắc chắn, tổ chức bảo lãnh cam kế
sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết số
chứng khoán hay không. Thứ hai là bảo lãnh theo phương thức dự phòng,
được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu.
Thứ ba là bảo lãnh với cố gắng cao nhất, ở hình thức này tổ chức bảo lãnh
thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành, họ cam kết sẽ cố gằng hết sức để
bán chứng khoán ra thị trường nhưng nếu không bán được hết thì họ cũng
không bị bắt buộc phải mua mà sẽ trả lại cho tổ chức phát hành. Thứ tư là bảo
lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không, công ty chứng khoán khi thực

hiện bảo lãnh nếu số không phân phối được hêt sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành.
Hình thức thứ năm là bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa. Theo
phương thức này tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức tổ chức bảo lãnh bán tối
thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định, nếu đợt phát hành chứng khoán bán
được tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ.
Hoạt động tư vấn đầu tư
Hoạt động tư vấn đầu tư là việc công ty chứng khoán thông qua các
hoạt động phân tích các thông tin, phân tích các tình huống có thể xảy ra trên
thị trường chứng khoán để đưa ra các lời khuyên cho khách hàng. Cụ thể như
11
Chuyên đề tốt nghiệp
việc cung cấp các dịch vụ tư vấn phát hành cho các tổ chức phát hành, tư vấn
đầu tư và cơ cấu danh mục đầu tư cho các khách hàng.
Có ba tiêu trí để phân loại hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán.
Việc phân loại diễn ra tùy theo cách thức tiến hành tư vấn, mức độ của nghiệp
vụ và đối tượng của chúng.
Theo phương thức tiến hành tư vấn thì công ty chứng khoán có thể tư
vấn trực tiếp cho khách hàng. Các nhà tư vấn gặp gỡ các khách hàng, nghiên
cứu tình hình tài chính của từng khách hàng để đưa ra các lời khuyên phù
hợp. Hoặc công ty có thể tư vấn một cách gián tiếp thông qua việc phát hành
các ấn phẩm hay là đưa thông tin lên mạng Internet để bất kỳ khách nào cũng
tiếp cận được nếu muốn.
Theo mức độ ủy quyền của tư vấn: tùy theo yêu cầu của khách hàng mà
công ty chứng khoán có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn từ việc đưa ra các gợi
ý cho khách hàng về những phương pháp, cách thức xử lý nhưng quỳen quyết
định là của khách hàng. Hoặc là ở cấp độ cao hơn thì nhà tư vấn sẽ tư vấn và
quyết định hộ khách hàng theo mức độ ủy quyền của khách hàng.
Theo đối tượng của hoạt động tư vấn thì hoạt động này được chia ra
thành tư vấn cho nhà phát hành và tư vấn cho nhà đầu tư. Tư vấn cho tổ chức
phát hành bao gồm việc tư vấn phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho các tổ chức

này. Hoạt động này được thực hiện tốt sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các
doanh nghiệp và tạo ra hàng hóa có chất lượng cho thị trường. Tư vấn đầu tư
là các hoạt động thường ngày của các công ty chứng khoán diễn ra phổ biến
trên thị trường thứ cấp. Đây có thể là những lời khuyên, những bản tin hay
những hợp đồng dịch vụ.
1.2. Phát triển thị trường tại công ty chứng khóan.
1.2.1. Khái niệm Phát triển thị trường.
Phát triển thị trường tại các công ty chứng khoán là hình thức tiến hành
12
Chuyên đề tốt nghiệp
thực hiện các hoạt động, nghiệp vụ đưa ra các dịch vụ hay các sản phẩm với
những chiến lược cụ thể của từng công ty nhằm nâng cao, phát triển để đạt
được mục tiêu của công ty.
1.2.2. Các phương thức Phát triển thị trường.
Cùng với các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán, thì các phương
thức PTTT cũng dựa trên các hoạt động cơ bản đó, nhằm gia tăng số lượng tài
khoản giao dịch với giá trị giao dịch chất lượng. Tăng thị phần của công ty so
với toàn thị trường, tạo dựng hình ảnh thương hiệu tốt thu hút nhiều đối tượng
khách hàng.
Một công ty chứng khoán muốn khẳng định vị trí của mình trên thị
trường chứng khoán thì hoạt động môi giới tại các công ty này phải trở thành
thế mạnh và có sức cạnh tranh lớn. Do đó vấn đề phát triển hoạt động môi
giới chứng khoán trở thành vấn đề quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của các công ty chứng khoán hiện nay.
Phát triển hoạt động môi giới chứng khoán được hiểu là sự phát triển cả
về mặt lượng và mặt chất của hoạt động môi giới. Hoạt động môi giới phải
được phát triển một cách toàn diện cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Sự phát triển
ấy được thể hiện thông qua việc tăng thị phần hoạt động môi giới của công ty
so với các công ty khác, sự tăng lên của số lượng các tài khoản giao dịch của
khách hàng tại công ty, phát triển mở rộng địa bàn hoạt động( mở thêm các

đại lý nhận lệnh sang các khu vực khác), tăng giá trị giao dịch chứng khoán
của các khách hàng thông qua hoạt động môi giới của công ty. Bên cạnh đó là
phát triển các loại hình hoạt động môi giới đa dạng và phong phú hơn, tăng
thêm hàm lượng chất xám trong hoạt động, không chỉ có môi giới giao dịch
mà còn phát triển cả môi giới tư vấn, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung
cấp cho khách hàng, tăng tính tích hợp giữa các dịch vụ bằng cách tạo thêm
các giá trị gia tăng để tạo nên những dịch vụ nhiều tiện ích.
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Hoạt động môi giới tại các công ty chứng khoán được quan tâm, chú trọng
phát triển sẽ mang lại những lợi ích lớn lao cho thị trường chứng khoán.
Những hoạt động tích cực của hoạt động môi giới chứng khoán góp phần hình
thành nên một thị trường chứng khoán năng động, tạo ra môi trường đầu tư
chuyên nghiệp.
Bên cạnh đó hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán thực hiện các
nghiên cứu phân tích chứng khoán, cung cấp thông tin kịp thời và tin cậy kèm
theo nhận định đánh giá giúp khách hàng đưa ra quyết định đầu tư phù hợp
nhất. Khách hàng được cung cấp bản tin ngày, tuần và tháng miễn phí qua
email hoặc tại quầy giao dịch. Ngoài ra, còn thực hiện các phân tích chuyên
sâu theo ngành, hàng, các nhóm cổ phiếu, trái phiếu, các công ty đặc thù theo
yêu cầu.
Hoạt động bảo lãnh phát hành giúp doanh nghiệp hoàn tất các thủ tục
phát hành chứng khoán. Cung cấp dịch vụ trọn gói bao gồm các khâu tư vấn,
định giá, lập hồ sơ phát hành, thực hiên việc mua, bán và phân bổ chứng
khoán trên thị trường.
Tư vấn tài chính doanh nghiêp cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính cho
các doanh nghiệp, tập đoàn đầu tư trong nước và nước ngoài. Cung cấp dịch
vụ chất lượng cao, kịp thời, khách quan và tin cậy. Bên cạnh đó, có sự hỗ trợ
của các đối tác là chuyên gia và tổ chức quốc tế uy tín.
Dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp bao gồm:

Tư vấn cổ phần hóa;
Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp;
Dịch vụ sáp nhập và chuyển nhượng doanh nghiệp; và,
Các dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp khác.
Hoạt động Lưu ký chứng khoán: lưu ký chứng khoán của nhà đầu tư, cùng
với việc mở tài khoản chứng khoán tại công ty để giao dịch chứng khoán.
14
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới PTTT của công ty chứng khoán.
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Là các nhân tố xuất phát từ trong bản thân công ty, ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động của công ty và công ty có thể có các tác động để điều
chỉnh các nhân tố này.
1.3.1.1 Mục tiêu phát triển của công ty
Công ty chứng khoán có rất nhiều các hoạt động liên quan đến chứng
khoán và thị trường chứng khoán. Vì vậy bất kỳ sự phát triển của hoạt động
nào đều phải phụ thuộc vào chính sách và mục tiêu của công ty về mảng hoạt
động đó. Hoạt động môi giới thường là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận
cho các công ty chứng khoán. Đối với các công ty chứng khoán thì hoạt động
môi giới chính là bộ mặt của công ty giúp công ty tạo dựng được chỗ đứng và
vị thế trên thị trường. Thấy được tầm quan trọng đấy ban lãnh đạo các công ty
thường có các chiến lược phát triển xây dựng các hoạt động môi giới cho phù
hợp với năng lực hoạt động của công ty và điều kiện thị trường trong từng
giai đoạn. Nếu một công ty luôn coi việc doanh số bán hàng là trên hết với
mong muốn bán được càng nhiều sản phẩm càng tốt, phớt lờ đi lợi ích của
khách hàng thì công ty đó không thể hoạt động một cách bền vững và lâu dài
được.Tuy nhiên nguợc lại nếu mục tiêu hoạt động của công ty là vì quyền lợi
của khách hàng thì hoạt động của công ty không chỉ có hiệu quả cao mà còn
phát triển một cách vững mạnh. Vì vậy các công ty chứng khoán khác nhau sẽ
có các chính sách khác nhau, ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động môi

giới là khác nhau.
1.3.1.2 Trình độ của đội ngũ nhân viên
Trình độ nguồn nhân lực là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự hoạt
động và phát triển của bất kỳ một công ty nào. Con người là trung tâm trong
các hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi con người là chủ thể trực tiếp vận
15
Chuyên đề tốt nghiệp
hành công việc đó, và công việc có hiệu quả hay không phụ thuộc vào quá
trình họ làm việc có hiệu quả hay không. Nghề môi giới là một nghề mà yếu
tố con người luôn đóng vai trò quyết định sự thành bại trong kinh doanh.
Không giống với các hoạt động môi giới thông thường khác, hoạt động môi
giới đòi hỏi các nhân viên môi giới không chỉ giỏi về nghiệp vụ mà còn cần
phải có tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Khi mà một công ty có
được một đội ngũ nhân viên như thế có nghĩa là công ty đó đã có được nền
tảng vững chắc cho sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động môi giới chứng
khoán. Không chỉ đội ngũ nhân viên môi giới mà tất cả các nhân viên thuộc
các phòng ban khác trong công ty chứng khoán đều có tác động ảnh hưởng rất
đến sự phát triển của hoạt động môi giới.
1.3.1.3 Vốn
Vốn là điều kiện tiên quyết khi bất kỳ một công ty nào muốn tham gia
hoạt động trên thị trường chứng khoán. Điều kiện về vốn được đảm bảo trên
tùng hoạt động dịch vụ mà công ty tham gia cung cấp trên thị trường. Do đây
là một lĩnh vực có nhiều rủi ro nên các công ty chứng khoán có vốn hoạt động
càng lớn sẽ càng đứng vững trên thị trường. Vì các công ty có vốn lớn sẽ có
khả năng điều chỉnh hoạt động hay phản ứng môt cách nhanh nhạy hơn trước
các biến động phức tạp thất thường của thị trường. Hơn nữa một công ty
chứng khoán khi hoạt động trên thị trường với một lượng vốn lớn thì có thể
tham gia cung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính có thể phục vụ cho khách hàng
của mình một cách chu đáo, thỏa mãn tối đa trong mức có thể nhu cầu của họ.
Đây cũng là một yếu tố để tăng niềm tin cho các nhà đầu tư khi tham gia giao

dịch với công ty chứng khoán, tạo ra ưu thế cạnh tranh đối với các công ty
khách trong ngành, thể hiện sức mạnh và qui mô của công ty. Vì thế nguồn
vốn cũng là một chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của hoạt động môi giới.
16
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.1.4 Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động môi giới
Do đặc thù của nghề đòi hỏi phải sử dụng các trang thiết bị hiện đại,
công nghệ cao nên các điều kiện về cơ sở vật chất có ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán. Yếu tố này quyết định
tính chính xác, kịp thời của giao dịch. Quan trọng là các bảng giao dịch điện
tử phải thể hiện một cách liên tục sự giao động giá của các chứng khoán,
cùng với nó là hệ thống máy tính nối mạng phải đảm bảo luôn thông suốt để
đảm bảo các lệnh của khách hàng luôn được đưa vào hệ thống một cách kịp
thời. Cơ sở vật chất tốt thì mới có thể giúp các nhân viên môi giới có đủ điều
kiện để tiếp cận các thông tin mới nhất để thực hiện tư vấn cho khách hàng và
cung cấp các dịch vụ tài chính khách phục vụ yêu cầu của khách hàng. Những
trang thiết bị này càng hiện đại thì càng giúp cho công việc của các nhân viên
môi giới được nhanh chóng và hiệu quả. Cơ sở vật chất hiện đại tân tiến cũng
là một sự thể hiện cho sự phát triển một cách chuyên nghiệp của hoạt động
môi giới tại công ty chứng khoán. Đây cũng là yếu tố cơ sở cho việc tìm tòi
sáng tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới kịp thời phục vụ cho các nhu cầu của
khách hàng.
1.3.1.5 Sự phát triển của các hoạt động khác
Tại công ty chứng khoán thì hoạt động của các phòng ban bộ phận có
sự tương tác với nhau, sự phát triển của hoạt động này là động lực, tiền đề cho
sự phát triển của các hoạt động khác. Công ty chứng khoán có hoạt động
marketing tốt thì hình ảnh công ty trở nên quen thuộc với khách hàng. Thu
hút khách hàng đến với công ty với sự tin tưởng cao, biến việc khách hàng
đến với công ty diễn ra như một thói quen, làm tăng khối lượng và chất lượng
của các tài khoản cho bộ phận môi giới.

Ngoài ra còn có hoạt động phân tích, hoạt động này cung cấp các
thông tin đã qua phân tích cho nhà môi giới, tạo nền tảng thông tin chắc chắn
17
Chuyên đề tốt nghiệp
cho các nhà môi giới khi thực hiện các nghiệp vụ với khách hàng, làm cho
chất lượng của hoạt động môi giới ngày càng trở nên tốt hơn, phục vụ khách
hàng một cách chuyên nghiệp hơn. Vì vậy các bộ phận khác làm việc tốt sẽ là
điều kiện cho hoạt động môi giới phát triển. Hoạt động môi giới và các hoạt
động khác có tác dụng hỗ trợ nhau, có tác động qua lại bổ sung cho nhau.
1.3.2 Các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là những nhân tố từ bên ngoài tác động đến
hoạt động của công ty. Đây là các những yếu tố có ảnh hưởng một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động môi giới chứng khoán.
1.3.2.1 Sự phát triển của nền kinh tế và sự ổn định về chính trị
Nền kinh tế phát triển là yếu tố thúc đẩy TTCK phát triển kéo theo hoạt
động môi giới phát triển và ngược lại. Nền kinh tế chung phát triển sẽ tạo ra
một nhu cầu rất lớn về đầu tư và huy động vốn. Đây là những động lực để thị
trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng ngày càng
khẳng định tầm quan trọng và vị trí trung tâm trong nền kinh tế.
Môi trường kinh tế chính trị ổn định là yếu tố thuận lợi cho các hoạt
động kinh tế phát triển, đặc biệt là sự phát triển của thị trường vốn. Môi
trường kinh tế chính trị ổn định sẽ tạo công ăn việc làm, giảm tình trạng thất
nghiệp, tăng thu nhập, kích thích tiêu dùng và đầu tư trong dân chúng, thu hút
các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào các hoạt động trong nền
kinh tế. Từ đó thị trường chứng khoán được hình thành và phát triển kéo theo
sự phát triển của một loạt các hoạt động bổ trợ trong đó có hoạt động môi giới
chứng khoán. Mặt khác thị trường ổn định sẽ tạo ra các cơ hội đầu tư, tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển các hoạt động của mình.
Các công ty chứng khoán hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm, liên quan
đế tài chính của nền kinh tế, hoạt động lại bao hàm nhiều rủi ro nên chịu sự

điều tiết rất chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Các văn bản pháp lý này chính là
18
Chuyên đề tốt nghiệp
hành lang để công ty chứng khoán phát triển các hoạt động kinh doanh nói
chung và hoạt động đầu tư chứng khoán nói riêng. Một hệ thống pháp lý đầy
đủ, chặt chẽ sẽ tạo ra một môi trường đầu tư an toàn cho các nhà đầu tư, tăng
thêm sức hút của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế. Từ đó mà hoạt
động môi giới chứng khoán sẽ có điều kiện mở rộng và phát triển thị trường
khách hàng của mình theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
1.3.2.2 Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán phát triển và ổn định sẽ dẫn tới các cơ hội phát
triển cho các công ty chứng khoán và là môi trường lý tưởng cho hoạt động
môi giới. Hàng hóa của thị trường chứng khoán đa dạng và phong phú thì các
nhà đầu tư có nhiều lựa chọn cho các quyết định của mình, sẽ thu hút được số
lượng lớn các đầu tư tham gia thị trường. Đây là cơ hội lớn cho sự phát triển
của hoạt động môi giới. Với sự phát triển của hệ thồng kiểm toán, hệ thống
công bố thông tin…góp phần làm tăng độ tin cậy của thị trường, cung cấp các
thông tin cần thiết và tin cậy, giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng dẫn
đến các lựa chọ đối nghịch và rủi ro đạo đức.
Ở các thị trường chúng khoán phát triển các chính sách điều tiết, cơ chế
quản lý thị trường được xây dựng một cách đồng bộ và hoạt động hiệu quả.
Các ý kiến cũng như chính sách hoạt động đúng đắn và hợp lý sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho mọi hoạt động của công ty chứng khoán nói chung và hoạt
động môi giới nói riêng và ngược lại.
1.3.2.3 Sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán
Cạnh tranh là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của các công ty
chứng khoán. Cạnh tranh vừa là yếu tố tích cực thúc đẩy hoạt động của Công
ty, phát triển của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán vừa là yếu tố
kích thích các công ty chứng khoán giảm chi phí giao dịch, nâng cao chất
lượng dịch vụ. Trên thị trường có cạnh tranh này, công ty có khả năng đáp

19
Chuyên đề tốt nghiệp
ứng được các nhu cầu thị trường thì không những sẽ giữ được thị phần vốn có
mà còn có thể mở rộng hoạt động ra các khu vực khác trong nền kinh tế.
Trong môi trường như thế các công ty chứng khoán luôn trong quá trình phải
tự tìm ra hướng phát triển và hoàn thiện mình vượt lên trên đối thủ cạnh tranh
để thu hút khách hàng. Sự cạnh tranh càng cao thì sang lọc trong các công ty
chứng khoán càng lớn. Các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ tốt mang
nhiều lợi ích cho khách hàng sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, ngược lại thì sẽ
phải chịu sự đào thải của thị trường. Quá trình này diễn ra làm cho hoạt động
môi giới chứng khoán của các công ty không ngừng phát triển và đạt được
nhiều thành tích trong hoạt động phục vụ khách hàng theo xu thế vận động
chung của thị trường.
1.3.2.4 Các yếu tố tác động đến từ phía các nhà đầu tư
Mức thu nhập và tỉ lệ tiết kiệm là những yếu tố không thể thiếu khi xem
xét những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động môi giới của công ty chứng khoán.
Đây là các yếu tố tạo ra nguồn vốn dồi dào cho thị trương chứng khoán. Vì
khi đó nhà đầu tư có khả năng tài chính để tham gia các hoạt động trên thị
trường, có khả năng mua các dịch vụ hoạt động môi giới cung cấp.
Tuy nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần để các nhà đầu tư tham gia vào
thị truờng, để thu được các lợi ích và tránh được các rủi ro thì kiến thức là
một điều vô cùng quan trọng. Khi nhà đầu tư có kiến thức về chứng khoán thì
họ sẽ có một cái nhìn mới hơn về thị trường chứng khoán, hoạt động môi giới
và vai trò của nhân viên môi giới chứng khoán. Sự hiểu biết của các nhà đầu
tư giúp cho các nhà môi giới dễ dàng hơn trong việc truyền đạt thông tin, tư
vấn cho khách. Nhưng yêu cầu cho các nhà môi giới chứng khoán cũng cao
hơn, khắt khe hơn. Để giữ vững được vị thế của mình trên thị trường thì hoạt
động môi giới của các công ty chứng khoán phải phát triển không ngừng, các
nhà môi giới phải tự học hỏi nâng cao trình độ của mình thì mới đứng được
20

Chuyên đề tốt nghiệp
trên thị trường. Các nhà đầu tư thông minh hơn, đầu tư hợp lý và có chiến
lược rõ ràng giúp thị trường chứng khoán ngày càng lành mạnh hơn, tránh
được tâm lí đầu tư theo kiểu bầy đàn – kiểu đầu tư thường hay xuất hiện ở các
thị truờng chứng khoán kém phát triển.
21
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PTTT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN
TÂN VIỆT
2.1. Khái quát về công ty chứng khoán Tân Việt.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty.
Như tất yếu của nền kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán Việt
Nam ra đời và đi vào hoạt động từ năm 2000.Tuy vẫn còn non trẻ nhưng thị
trường chứng khoán đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế,
trở thành kênh huy động vốn hiệu quả góp phần thúc đẩy hoạt động của các
doanh nghiệp. Cùng với sự ra đời của thị trường chứng khoán đó là việc xuất
hiện hàng loạt các công ty chứng khoán và các dịch vụ đi kèm. Tính đến đầu
năm 2006 mới chỉ có hơn 14 công ty chứng khoán hoạt động, nhưng đến đầu
năm 2010 con số này đã lên đến hơn 100 công ty chứng khoán. Các công ty
chứng khoán phát triển theo định hướng không chỉ cung cấp các dịch vụ đa
dạng mà còn nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, phát triển cả về chất
và lượng, tạo điều kiện cho sự phát triển vững chắc của thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Công ty CP chứng khoán Tân Việt được thành lập ngày 28 tháng 12
năm 2006 với vốn điều lệ là 55 tỷ VNĐ và chính thức hoạt động từ ngày 07
tháng 02 năm 2007 trở thành công ty chứng khoán thứ 44 có mặt trên thị
trường. Công ty được tổ chức theo mô hình công ty cổ phần. Trong quá trình
hoạt động công ty đã bổ sung thêm các loại hình kinh doanh là quản lý danh
mục đầu tư và bảo lãnh phát hành chứng khoán. Tháng 04 năm 2009 công ty

tăng vốn điều lệ lên 350 tỷ VNĐ.
Tên Công ty : Công ty Cổ phần Chứng khoán Tân Việt
Tên tiếng Anh : Tan Viet Securities Incorporation
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Logo :
Vốn điều lệ : 350 tỷ đồng
Trụ sở chính : 152 Thụy Khuê, Quận Tây Hồ, Hà Nội
Điện thoại ; 04-7280920
Fax : 04-7280921
Email :
Website : www.tvsi.com.vn
Chi nhánh : HCM: Tầng 2, Tòa nhà Vạn Thịnh Phát
193-203 Trần Hưng Đạo, Quận 1
HN: số 26C Trần Hưng Đạo, HK, HN
Điện thoại : 08-38386868 – 043 728 0921
Fax : 08-9207542 – 04 3728 0920
Giấy CNĐKKD : Số 0103015019 ngày 20/12/2006 của Sở Kế hoạch và đầu
tư Hà Nội
Giấy phép hoạt động
KDCK
: Số 40/UBCK-GPHĐKD ngày 28/12/2006 của Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước
Mã số thuế : 0102117529
Ngành nghề kinh
doanh
: - Môi giới chứng khoán
- Tự doanh chứng khoán
- Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán

- Lưu ký chứng khoán
- Các dịch vụ khác
Cổ đông chiến lược - Tập đoàn HiPT (HiPT
Group): Tập đoàn được thành lập năm 1994, với tên gọi
ban đầu là Công ty TNHH Hỗ trợ và phát triển tin học.
Với thế mạnh trong lĩnh vực cung cấp thiết bị và giải
pháp tin học, trong 10 năm qua, HiPT đã thực hiện
23
Chuyên đề tốt nghiệp
thành công nhiều dự án công nghệ thông tin và luôn giữ
vững vị thế của một trong những công ty tin học hàng
đầu Việt Nam.
- Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Sài Gòn (SCB) tiền thân là Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Quế Đô, thành lập theo Quyết định số
00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Ngân hàng Nhà
nước, với vốn điều lệ ban đầu 10 tỷ đồng. Cuối năm
2006, vốn điều lệ của SCB đã vượt 600 tỷ đồng và lên
đến 1.200 tỷ đồng năm 2007. Mạng lưới hoạt động hiện
tại của SCB gồm Hội sở chính, Sở giao dịch, 25 chi
nhánh và phòng giao dịch, điểm giao dịch tại Hà Nội,
TP HCM, An Giang và Vĩnh Long. Sự kết hợp giữa
TVSI và SCB sẽ tạo ra những gói sản phẩm tài chính
trọn gói, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng.
Quá trình hình thành và phát triển công ty:
Ngày 28/12/2006 Công ty Cổ phần Chứng khoán Tân Việt (TVSI) được Ủy Ban
Chứng khoán Nhà nước cấp phép hoạt động kinh doanh chứng
khoán với các dịch vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh
phát hành, lưu ký chứng khoán, tư vấn tài chính và đầu tư chứng
khoán và các dịch vụ khác.

Ngày 07/02/2007 TVSI được công nhận là thành viên số 44 của Trung tâm Giao
dịch Chứng khoán Hà Nội (HASTC)
Ngày 05/04/2006 TVSI được công nhận là thành viên số 39 của Sở Giao dịch
Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE)
Ngày 18/04/2006 TVSI khai trương sàn giao dịch tại 152 Thụy Khuê, Hà Nội
Ngày 24/07/2006 TVSI chính thức ra mắt bộ sản phẩm giao dịch chứng khoán trực
tuyến iTrade bao gồm: iTrade Home, iTrade Pro, iTrade Self
service
Ngày 25/07/2006 TVSI khai trương sàn giao dịch tại Chi nhánh TP Hồ Chí Minh
Ngày 29/10/2007 Khai trương điểm đại lý nhận lệnh tại Quy Nhơn
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngày 30/11/2007 Khai trương điểm đại lý nhận lệnh tại Vĩnh Long
Ngày 17/12/2007 Khai trương điểm đại lý nhận lệnh tại Gia Định
Ngày 17/12/2007 Khai trương điểm đại lý nhận lệnh tại An Giang
Ngày 31/12/2009 20 chi nhánh, Phòng giao dịch trong cả nước: Hài Phòng, Đà
Nẵng, Daklak, Bình Định, Củ Chi
Hoàn tất và đưa vào phục vụ dịch vụ Contact Center 24/7, với
đội ngũ nhân viên toàn công ty lên tới 300 nhân viên.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty.
Bảng 2.1 Sơ đồ tổ chức
(Nguồn: công ty Cp chứng khoán Tân Việt)
Các hoạt động, nghiệp vụ, sản phẩm dịch vụ của Công ty.
• Môi giới và lưu ký chứng khoán
25

×