Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
LỜI CAM ĐOAN
Sinh viên Võ Hồng Cường. Sinh viên lớp Kinh tế đầu tư 51D. Mã số
sinh viên CQ515136 xin cam đoan chuyên đề thực tập “Hoàn thiện công tác
thẩm định đầu tư vay vốn cho dự án Thủy điện tại ngân hàng BIDV- chi nhánh
Nghệ An” là công trình nghiên cứu riêng của tác giả dưới sự hướng dẫn của
TS. Nguyễn Hồng Minh, được thực hiện trong quá trình thực tập tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV – Chi nhánh Nghệ An và không có
sự sao chép các luận văn và chuyên đề của các khóa trước.
Tác giả xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Võ Hồng Cường
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
MỤC LỤC
Bảng 1.4: Tình hình thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng BIDV 10
trong ba năm 10
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
I. BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát
triển Việt Nam Nghệ An qua các năm 2009-2011. Error: Reference source not found
Bảng 1.2. Quy mô và chất lượng cho vay của ngân hàng BIDV giai đoạn 2009-2011. .Error:
Reference source not found
Bảng 1.3: Kết quả thu dịch vụ 2009, 2010 và 2011 Error: Reference source not
found
Bảng 1.4: Tình hình thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng BIDV trong ba năm
Error: Reference source not found
Bảng 1.5: Tổng vốn đầu tư cả Dự án Công trình thủy điện Za Hưngnhư sau Error:
Reference source not found
Bảng 1.6 : Các cổ đông sáng lập Công ty Cổ phần Thủy điện Za Hưng Error:
Reference source not found
Bảng 1.7 : Tình hình góp vốn của các cổ đông đến thời điểm 31/12/2006 Error:
Reference source not found
Bảng 1.8 : Kết quả kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Viet bank Error: Reference
source not found
Bảng 1.9: Sản lượng điện sản xuất và công suất tiêu thụ giai đoạn 2001 – 2005
Error: Reference source not found
Bảng 1.10 : Cân đối nhu cầu điện theo phương án phụ tải của EVN Error: Reference
source not found
Bảng 1.11 : Suất đầu tư của các dự án thủy điện trong thời gian gần đây Error:
Reference source not found
Bảng 1.12: Báo cáo tài chính Error: Reference source not found
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Bảng 1.13. Lãi vay trong thời gian xây dựng cơ bản Error: Reference source not
found
Bảng 1.14: Tổng hợp doanh thu Error: Reference source not found
Bảng 1.15.Kết quả kinh doanh Error: Reference source not found
Bảng 1.16: Bảng luân chuyển tiền tệ của phương án thực tế. Error: Reference source
not found
II. SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cơ cấu Error: Reference source not found
Sơ đồ 1.2: Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng BIDV Error: Reference
source not found
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
LỜI MỞ ĐẦU
Công tác thẩm định dự án đầu tư luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân
hàng trước khi quyết định đầu tư góp vốn hay cho vay vốn. Vì thực tế cho thấy rất
nhiều dự án không mang lại hiệu quả dự kiến cả về mặt kinh tế và xã hội. Nhiều dự
án đang triển khai phải ngừng thực hiện, hoặc phải thay đổi trên nhiều phương diện
đã đưa ngân hàng đầu tư vào con đường bế tắc và có nguy cơ không thu hồi được
vốn. Đặc biệt là các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, các dự án xây
dựng cơ sở hạ tầng là những dự án thường kéo dài và chưa thể tạo ra ngay các sản
phẩm cho xã hội. Nếu không có công tác thẩm định dự án thì dự án sẽ rủi ro rất lớn,
gây khó khăn cho nền kinh tế và ngay bản thân hoạt động ngân hàng. Nó có thể tạo
ra các áp lực cho nền kinh tế như giá cả, lạm phát, lãi suất…Chính vì vậy, công tác
thẩm định dự án đầu tư là một yêu cầu cần thiết đối với các ngân hàng nói chung và
ngân hàng đầu tư và phát triển BIDV - Chi nhánh Nghệ An nói riêng khi quyết định
đầu tư góp vốn hay cho vay vốn.
Trong điều kiện các nguồn lực xã hội còn khan hiếm và có hạn như ở nước ta,
để đảm bảo được các mục tiêu kinh tế, xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra và
nhằm thích ứng với quy trình phát triển kinh tế, với những thay đổi sâu sắc đã và
đang diễn ra trên đất nước ta - bối cảnh một nền kinh tế đang thích ứng với cơ chế
thị trường trong môi trường cạnh tranh khi gia nhập tổ chức kinh tế thế giới (WTO)
và xu thế toàn cầu hoá, đòi hỏi phải sử dụng các nguồn lực trên một cách hợp lý
mang lại hiệu quả như đã định không, thì chỉ có thể thông qua công tác xây dựng và
thẩm định các dự án đầu tư.
Xuất phát từ quan điểm trên, em đã cố gắng nghiên cứu lý luận và thực tiễn và
chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư vay vốn cho dự án
Thủy điện tại ngân hàng BIDV- chi nhánh Nghệ An”.
Với mục đích nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thẩm định dự án
đầu tư cùng với việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng thẩm định dự án trong hoạt
động đầu tư tại Ngân hàng BIDV để từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị
nhằm hoàn thiện thẩm định dự án trong hoạt động đầu tư của Ngân hàng BIDV.
Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê,
phân tích và tổng hợp bài viết của em được chia làm hai chương như sau :
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Chương I: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư vay vốn dự án Thủy điện
tại ngân hàng BIDV – Chi nhánh Nghệ An.
Chương II : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án
đầu tư vay vốn dự án Thủy điện tại ngân hàng BIDV – Chi nhánh Nghệ An.
Do sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên chuyên đề không tránh
khỏi những sai sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo để
chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo T.S Nguyễn Hồng
Minh và sự giúp đỡ của anh chị cán bộ nhân viên tại Ngân hàng BIDV – chi nhánh
Nghệ An đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VAY VỐN DỰ ÁN
THỦY ĐIỆN TẠI NGÂN HÀNG BIDV
1.1 Giới thiệu tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng
BIDV
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng BIDV
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam Nghệ An là đơn
vị trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, được thành lập ngày
26/05/1957 theo nghị định 233NĐ – TCCB của Bộ Tài Chính với tên gọi là Chi
nhánh Ngân hàng Kiến thiết Nghệ An. Là một trong 76 chi nhánh cấp I thuộc khối
Ngân hàng của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Cùng với quá trình thay
đổi tên gọi của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng
TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam Nghệ An cũng có những tên gọi như sau:
- Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Nghệ An ( Từ tháng 05/1957)
- Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Nghệ An ( Từ 12/1981)
- Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam Nghệ An ( Từ 12/1990)
- Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Nghệ An ( từ 04/2012)
Cùng với toàn hệ thống, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển
Việt Nam Nghệ An đã mở rộng hoạt động của mình trên nhiều lĩnh vực, thực hiện
đa dạng hóa và mở rộng dần các lĩnh vực hoạt động kinh doanh tạo bước phát triển
nhanh, mạnh và toàn diện, tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo, chủ lực của một
Ngân hàng thương mại lớn trên địa bàn tỉnh Nghệ An với 6 phòng giao dịch, và 4
quỹ tiết kiệm trên địa bàn tỉnh.
Trước quá trình hội nhập quốc tế, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát
triển Việt Nam Nghệ An đã từng bước ứng dụng công nghệ tin học để phát triển các
dịch vụ ngân hàng hiện đại. Năm 2011, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và
phát triển Việt Nam Nghệ An đã thực hiện áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 nhằm chuẩn hóa các quy trình về quản trị điều hành
nâng cao chất lượng hệ thống sản phẩm tín dụng, thanh toán và bảo lãnh. Đến nay
chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam Nghệ An đã có 3500
khách hàng là tổ chức kinh tế, cá nhân quan hệ tiền gửi, vay vốn, giao dịch thanh
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
toán, trên 18000 khách hàng là cá nhân có giao dịch tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu,
trái phiếu…
1.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban của
ngân hàng BIDV
Chi nhánh NH TMCP ĐT & PT Nghệ An có trụ sở tại 216 Lê Duẩn, Thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Mô hình tổ chức của Chi nhánh gồm: Hội sở chi nhánh, 4
phòng giao dịch (huyện Diễn Châu, ga Vinh, chợ Vinh, Quán Bánh) và 2 quỹ tiết
kiệm (số 3, phường Hà Huy Tập)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cơ cấu
Tổng số cán bộ nhân viên của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát
triển Việt Nam Nghệ An là 173 người, trong đó có 156 người có trình độ đại học và
trên đại học tương ứng với 90% có đủ năng lực thực hiện chức năng kinh doanh đa
năng theo luật Ngân hàng, pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Tại Hội sở chi nhánh Ngân hàng BIDV Nghệ An có 14 phòng ban và 93 cán
bộ nhân viên, được cơ cấu gồm Ban lãnh đạo và 7 phòng nghiệp. Với mô hình tổ
chức tại Hội sở làm trung tâm điều hành mọi hoạt động của toàn bộ chi nhánh theo
xu thế tập trung toàn diện và vững mạnh.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
1.1.3 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng BIDV
1.1.3.1 Về hoạt động huy động vốn
Ngân hàng là một định chế tài chính hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ, đóng vai trò là một trung gian tài chính trong quá trình luân chuyển vốn của nền
kinh tế. Vì vậy, nguồn vốn đầu vào là yếu tố rất quan trọng, quyết định đến sự phát
triển của một Ngân hàng. Nguồn vốn đầu vào của các Ngân hàng thương có thể là
từ huy động vốn, từ lợi nhuận giữ lại, từ nguồn vốn ban đầu… Tuy nhiên, huy động
vốn là nguồn quan trọng nhất trong quá trình tạo nguồn vốn đầu vào cho Ngân
hàng, là hình thức Ngân hàng tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức
và cá nhân để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng.
Để đáp ứng nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, BIDV đẩy mạnh công tác
huy động vốn thông qua nhiều kênh khác nhau bao gồm: đa dạng hóa các sản phẩm
tiện ích nhằm tăng cường nguồn vốn huy động từ các cá nhân và các tổ chức kinh
tế, gồm cả phát hành chứng chỉ tiền gửi và chứng khoán nợ dài hạn, tham gia các
hoạt động trên thị trường liên ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng khác cũng như
nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Bảng 1.1: Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và
phát triển Việt Nam Nghệ An qua các năm 2009-2011
(Đơn vị : tỷ đồng)
Chỉ tiêu
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
So sánh
2010 - 2009
So sánh
2011 – 2010
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Tổng NV huy động 1544 2015 1989 471 30,5 (26) (13)
I.Phân loại theo tiền:
1.NV nội tệ
2.NV ngoại tệ
1289
255
1707
308
1731
258
418
53
32
20,7
24
(50)
1,4
(16,2)
II.Phân theo kỳ hạn:
1.TG có KH < 12 tháng
2.TG có KH > 12 tháng
1243
301
1402
613
1357
132
159
312
12,8
103.7
(45)
19
(3,2)
3,1
(Nguồn: Báo cáo phân tích tín dụng Chi nhánh NHTMCP ĐT&PT Nghệ An
năm 2009,2010,2011)
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Qua bảng trên ta thấy: Năm 2010 nguồn vốn huy động cuối kỳ Chi nhánh đạt
2015 tỷ đồng, tăng 471 tương đương 30,5% so với 31/12/2009. Nhưng đến năm
2011 thì nguồn vốn huy động đã giảm xuống còn 1989 tỷ đồng, giảm 26 tỷ (tương
đương với giảm 1,3%) so với năm 2010, điều này có thể do tình hình kinh tế khó
khăn và khủng hoảng tài chính năm 2011 nên nguồn vốn huy động bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên việc sụt giảm này không quá lớn. Nhìn chung thì có thể thấy rõ sự tăng
trưởng về nguồn vốn huy động. Sự tăng trưởng nhanh và mạnh này có từ sự tăng
trưởng nhanh và mạnh của tất cả các loại nguồn vốn như: Tiền gửi các tổ chức kinh
tế và cá nhân, tiền gửi tiết kiệm và các nguồn vốn khác. Điều này được thể hiện rõ
qua bảng trên.
Qua số liệu của 3 năm 2009, 2010, 2011 ta thấy chi nhánh đã có những nỗ lực
trong việc thực hiện huy động vốn. Tốc độ tăng của nguồn vốn nội tệ mạnh hơn so
với nguồn vốn ngoại tệ. Nguồn vốn đồng nội tệ tăng lên rất nhiều. Những số liệu
trên đã thể hiện sự dịch chuyển cơ cấu nguồn vốn của Chi nhánh theo hướng càng
ngày càng tích cực: tăng nguồn vốn trung dài hạn để đảm bảo cân đối giữa huy
động vốn và sử dụng vốn, chuyển dịch cơ cấu loại tiền và tăng nguồn vốn huy động
từ khu vực dân cư để đảm bảo sự ổn định của nguồn vốn. Đó là những kết quả tích
cực trong hoạt động huy động vốn của Chi nhánh. Phương thức huy động vốn này
là nghiệp vụ truyền thống của các NHTM Việt Nam, nguồn vốn này thường chiếm
một tỉ trọng lớn và BIDV – Chi nhánh Nghệ An cũng đặc biệt quan tâm đến việc
tăng tỉ trọng của nguồn vốn này.
1.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Huy động vốn là điều kiện cần để hoạt động kinh doanh, còn hoạt động sử
dụng vốn lại đem lại thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng. Hiểu được tầm quan trọng
của hoạt động cho vay nên năm 2011, mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, Chi nhánh vẫn nỗ lực hết mình
có nhiều biện pháp nhằm mở rộng quy mô và chất lượng cho vay, đảm bảo an toàn
vốn, hạn chế rủi ro. Điều này thể hiện rõ trong bảng sau:
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Bảng 1.2. Quy mô và chất lượng cho vay của ngân hàng BIDV
giai đoạn 2009-2011
Chỉ tiêu
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
So sánh
2010 - 2009
So sánh
2011 - 2010
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
trị
Tỷ
trọng
(%)
Tổng dư nợ 1602 2296 2358 694 43,32 62 2,7
I Phân theo loại tiền
1 DN nội tệ
2 DN ngoại tệ
1312
290
1875
421
1882
476
563
131
42,91
45,17
7
55
0,37
13,06
II Phân theo kỳ hạn
1.DN ngắn hạn
2.DN trung hạn
3.DN dài hạn
231
1121
250
432
1316
548
467
1327
564
201
195
298
87,01
17,40
119,20
35
11
16
8,1
0,84
2,92
III Phân theo thành phần KT
1 DN NN
2 DN NQD
3 Cho vay khác
889
464
249
1215
647
434
1231
661
466
326
183
185
36,67
39,44
74,30
16
14
32
1,32
2,16
7,37
IV Phân theo ngành Kinh tế
1 Công Nghiệp
2 Nông Nghiệp
3 TM DV
1239
50
313
1774
65
457
1823
74
461
535
15
144
43,18
30,00
46,01
49
9
4
2,76
13,85
0,88
(Nguồn: Báo cáo phân tích tín dụng Chi nhánh NHTMCP ĐT&PT Nghệ An
năm 2009,2010,2011)
Từ khi thành lập đến nay, hoạt động cho vay của Chi nhánh đối với các doanh
nghiệp luôn coi trọng, đầu tư cho các doanh nghiệp xây dựng, thương nghiệp, sản
xuất, và phân phối điện nước, công nghiệp chế biến Qua bảng trên ta có thể thấy
hoạt động cho vay của BIDV Nghệ An có sự gia tăng qua các năm 2009-2011. Số
dư nợ năm 2010 là 2296 tỷ đồng, tăng 43,32% so với năm 2009. Năm 2011 là một
năm khá khó khăn đối với nền kinh tế nói chung và BIDV Nghệ An nói riêng,
nhưng Chi nhánh cũng đã cố gắng đạt được số dư nợ là 2358 tỷ đồng, vẫn tăng hơn
62 tỷ đồng so với năm 2010(tương đương với 2,7% so với năm 2010.)
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Xét cơ cấu của hoạt động cho vay theo thời hạn của các khoản vay, ta nhận
thấy hoạt động cho vay trung hạn chiếm tỷ trọng chủ yếu. Sở dĩ có điều này là bởi
vì nó phù hợp với hoạt động của cho vay theo thời vụ của Ngân hàng.
Xét cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế: Chủ yếu là tập trung cho vay các
doanh nghiệp nhà nước. Năm 2010, con số cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước
là 1215 tỷ đồng, chiếm 52,9% trên tổng dư nợ, so với năm 2009 tốc độ tăng lên là
36,69%. Năm 2011 con số cho vay đối với DNNN lên tới 1231 tỷ đồng. Còn đối
với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì con số cho vay đã đạt tới 647 tỷ đồng
(năm 2010) chiếm 28,2% trên tổng dự nợ; năm 2011, con số này đã đạt tới 661 tỷ
đồng tăng hơn so với năm 2010 là 14 tỷ(tương đương với 2,16%). Con số cho vay
khác cũng chiếm 1 phần trong tổng dư nợ.
Xét theo ngành kinh tế thì cho vay đối với ngành công nghiệp chiếm phần lớn.
Điều này là phù hợp theo xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta. Con số
cho vay đối với ngành công nghiệp năm 2010 lên tới 1774 tỷ đồng, chiếm tới 77,3%
tổng dư nợ và tăng 535 tỷ đồng so với năm 2009 (tương đương với 43,18%). Và
đến năm 2011 thì con số này đã đạt được 1823 tỷ đồng. Ngành nông nghiệp chỉ
chiếm số ít trong tổng dư nợ, trong đó thương mại và dịch vụ chiếm khoảng 20%
trong tổng dư nợ.
1.1.3.3 Hoạt động thanh toán
Các hoạt động thanh toán vốn tại Chi nhánh NH TMCP ĐT&PT Nghệ An bao
gồm các hệ thống chủ yếu sau: Hệ thống thanh toán bù trừ, Hệ thống thanh toán liên
ngân hàng, Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (ĐTLNH), Hệ thống thanh
toán song phương.
Số lượng cũng như doanh số thanh toán trong nước tại chi nhánh trong thời
gian qua ngày một tăng mạnh, tổng số thanh toán năm 2010 đạt 35.039 tỷ đồng tăng
44,93% so với năm 2009. Trong đó tăng mạnh là doanh số thanh toán qua phương
thức thanh toán bù trừ đạt 4.712 tỷ đồng tăng gần 2 lần so với năm 2009, sau đó là
phương thức thanh toán séc tăng 68.05%, thanh toán liên ngân hàng tăng 58.39%.
Đến năm 2011 thì con số này đã đạt đến 37.024 tỷ đồng. Điều này thể hiện quy mô
thanh toán trong nước nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng của
Chi nhánh ngày càng mở rộng.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
1.1.3.4 Hoạt động dịch vụ
Nguồn thu dịch vụ chủ yếu trong năm 2011 vẫn từ các dịch vụ: Thanh toán,
Tài trợ thương mại, Dịch vụ bảo lãnh, Kinh doanh ngoại tệ, Nhóm sản phẩm phái
sinh và dịch vụ thẻ, trong đó tỷ trọng thu các dịch vụ như sau:
Bảng 1.3: Kết quả thu dịch vụ 2009, 2010 và 2011 (Đơn vị: tỷ đồng)
Khoản mục
2009 2010 2011
Thực hiện
2010 so với
2009
Thực hiện
2011 so với
2010
Dịch vụ thanh toán 3,237 4,345 4,765 134% 109%
Phí tài trợ dịch vụ
thương mại
0,903 0,901 0,904 99% 100,33%
Dịch vụ bảo lãnh 11,299 12,499 13,054 111% 104%
Dịch vụ kinh doah
ngoại tệ
3,411 3,703 3,973 109% 107%
Nhóm sản phẩm phái
sinh
0,097 0,119 0,124 123% 104%
Dịch vụ thẻ 0,558 0,611 0,782 109% 128%
Dịch vụ ngân quỹ 0,034 0,032 0,037 95% 115%
Thu hoạt động tín dụng 0,201 0,255 0,274 127% 107%
Dịch vụ khác 0,559 0,572 0,598 103% 104%
Tổng cộng 20,891 23,037 24,511 110% 106%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2009,2010,2011 BIDV Nghệ An)
Hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ trong năm 2011 của Chi nhánh có sự
tăng trưởng tích cực. Trong năm tỷ giá USD/VND biến động mạnh mẽ tạo ra nhiều
cơ hội cũng như thách thức trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Bằng sự linh hoạt,
khả năng dự đoán và tận dụng thời cơ, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Chi nhánh
đã đạt kết quả tốt với 3,973 tỷ đồng.
Dịch vụ bảo lãnh là dịch vụ truyền thống và có ưu thế của Chi nhánh, đặc biệt
là bảo lãnh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Tính đến ngày 31/12/2011 thì thu từ
dịch vụ bảo lãnh đạt mức13,054 tỷ đồng.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
1.2 Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại ngân hàng
BIDV.
1.2.1 Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại ngân hàng
BIDV trong thời gian qua
Có thể nhận xét tình hình công tác thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng
BIDV qua bảng sau:
Bảng 1.4: Tình hình thẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng BIDV
trong ba năm
Chỉ tiêu Đơn vị 2010 2011
2012
Dự án xin vay vốn
Tổng số tiền Triệu đồng 2.810.389 3.653.505 4.785.345
Tổng số dự án Dự án 95 134 175
Dự án được chấp
nhận
Tổng số tiền Triệu đồng 2.512.365 3.334.898 4.460.252
Tổng số dự án Dự án 78 117 157
Tỷ lệ được chấp
nhận
Số tiền % 89,4 91,2 93,2
Số dự án % 82,1 87,3 89,7
Tỷ lệ nợ quá hạn
Số tiền quá hạn/ dư
nợ vay theo dự án
% 1,4 1,1 0,9
Thời gian để thẩm
định trung bình
một dự án
Ngày 22 18 16
Nguồn: Phòng Tổng hợp-NH BIDV
Theo bảng này thì cho thấy qua 2 năm 2010 và 2011 thì tổng số dự án lẫn số
tiền cho vay đều tăng qua các năm.Trong năm 2010, Ngân hàng Đầu tư và phát
triển BIDV đã thẩm định 95 dự án, chấp nhận 78 dự án để cho vay, chiếm 82,1% số
dự án được thẩm định. Sang năm 2011 thì cùng với sự tăng trưởng của quy mô vốn
cũng như mở rộng quy mô hoạt động ngân hàng, ngân hàng đã thẩm định tổng cộng
134 dự án, trong đó đồng ý tài trợ cho 117 dự án, chiếm 87,3% số dự án được thẩm
định. Tuy các dự án được chấp nhận tăng nhưng cũng cho thấy rằng các dự án đưa
đến Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển Việt Nam xin vay vốn không phải được
chấp nhận một cách dễ dàng. Ngân hàng sẽ thẩm định kỹ càng trước khi cho vay, ta
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
có thể nhận thấy tỷ lệ % số tiền được xét duyệt cho vay không phải là cao. Những
dự án đưa đến Ngân hàng BIDV xin vay vốn đã bị loại bỏ khá nhiều với những lý
do khác nhau, có thể do doanh nghiệp hoặc bản thân dự án có vấn đề khó khăn nên
không được ngân hàng chấp nhận cho vay. Có những dự án bị từ chối cho vay ngay
khi xin vay ở Chi nhánh, có dự án thì khi đưa đến phòng thẩm định của ngân hàng
mới bị từ chối, điều này có thể thấy công tác thẩm định được phối hợp xét duyệt từ
Chi nhánh đến hội sở.
Điểm tiến bộ nữa của NASB là công tác thẩm định năm 2011 đã rút ngắn hơn
so với năm 2010 là 4 ngày, điều này cho thấy rằng ngân hàng đã nỗ lực để nâng cao
chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng nhanh chóng, chất lượng.
1.2.2 Mục đích của công tác thẩm định dự án
Trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng luôn phải đương đầu với áp lực của sự
cạnh tranh đồng thời là những khả năng xảy ra rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra với bất cứ
loại hình hoạt động nào của ngân hàng như rủi ro tín dụng, thanh toán, chuyển hoán
vốn, lãi suất, hối đoái…Trong rủi ro về tín dụng, đặc biệt là tín dụng trung và dài
hạn là rủi ro mà hậu quả của nó có thể tác động nặng nề đến các hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng xảy ra khi do các biến cố làm
cho khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ vào thời điểm báo hạn. Hay
các khoản nợ đến hạn nhưng khách hàng không có khả năng trả nợ cho ngân hàng
do hoạt động không hiệu quả, ngân hàng gặp rủi ro mất vốn; hay khách hàng sẽ trả
nợ ngân hàng nhưng sau một thời gian kể từ thời điểm báo hạn, như vậy ngân hàng
sẽ gặp phải rủi ro đọng vốn.
Như vậy thẩm định dự án là vô cùng quan trọng trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng nhằm:
- Là căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích, đối tượng và tiết
kiệm vốn trong quá trình thực hiện và mục tiêu lợi nhuận.
- Có cơ sở đảm bảo hiệu quả của vốn đầu tư từ đó ra các quyết định bỏ vốn
đầu tư đúng đắn.
- Đánh giá và bổ sung thêm các giải pháp nâng cao tính khả thi cho việc triển
khai thực hiện dự án, quản lý nguồn vốn tài trợ và hạn chế giảm bớt yếu tố rủi ro,
đảm bảo khả năng hoàn vốn, trả nợ của dự án.
- Rút kinh nghiệm và đưa ra bài học để thực hiện các dự án được tốt hơn.
Đồng thời giúp chủ đầu tư hoàn thiện hơn nội dung của dự án.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
1.2.3 Đặc điểm các dự án thủy điện trong mối quan hệ với công tác thẩm
định tại BIDV – Chi nhánh Nghệ An.
Các dự án thủy điện có những đặc trưng riêng và đây là một lĩnh vực quan
trọng quốc gia. Đồng thời cũng là một trong những dự án chiếm tỷ trọng cho vay
khá cao tại Ngân hàng. Các yếu tố tạo nên các đặc trưng riêng cho dự án điện:
• Nhà máy thủy điện sử dụng nguồn năng lượng vô tận của thiên
nhiên.
Như đã biết, NMTĐ sử dụng năng lượng của các dòng nước tự nhiên để
biến đổi thành điện năng, đó là nguồn năng lượng vô tận, gắn liền với sự tồn tại
vĩnh viễn của các dòng sông, dòng suối …Đối với NMTĐ sau một thời gian khoảng
vài chục năm thì nhà máy vẫn hoạt động bình thường. Các dòng sông vẫn tiếp tục
cung cấp đều năng lượng cho nhà máy hoạt động. Vì đặc điểm này, cần phải chú ý
nhiều hơn đến các lợi ích dài lâu của dự án thủy điện. Một vị trí có nhiều tiềm năng
thủy điện mà xây dựng công trình với quy mô nhỏ do thiếu vốn sẽ không có khả
năng phát triển cho sau này.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Vì dự án thủy điện sử dụng nguồn
năng lượng thiên nhiên là nguồn đầu vào nên cán bộ thẩm định Ngân hàng BIDV
phải chú ý đến thuế tài nguyên khi tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính. (thuế tài
nguyên được áp dụng theo hướng dẫn tại thông tư số 05/2006/TT-BTC ngày
19/01/06 của Bộ Tài chính). Đây cũng là một đặc trưng của dự án thủy điện khác
biệt so với các dự án khác.
•Nhà máy thủy điện có chi phí vận hành thấp, vận hành đơn giản, dễ
dàng thực hiện tự động hóa.
Nhiên liệu cần sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện thường chiếm tỷ lệ
lớn trong chi phí vận hành. Không có phần chi phí này làm cho NMTĐ có giá thành
điện năng sản xuất rất thấp. So với nhà máy nhiệt điện, NMTĐ không có phấn lò, gia
công nhiên liệu, giảm nhiều được công sức vận hành. Lò hơi là một bộ phận vận hành
phức tạp trong nhà máy nhiệt điện, tua bin hơi làm việc với áp suất hơi lớn, nhiệt độ
cao , tốc độ quay nhanh… gây căng thẳng cho người phục vụ. Vận hành NMTĐ còn
nhẹ nhàng hơn nhiều do điều kiện môi trường tốt, thực hiện tự động hóa được hầu hết
ở các bộ phận… Số người làm việc tại NMTĐ thường ít hơn khoảng 8 - 10 lần so với
nhà máy nhiệt điện. Chính những điều này làm chi phí vận hành thấp.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Cán bộ thẩm định khi xem xét hạng
mục chi phí vận hành của dự án, nếu chi phí lớn khác thường thì hồ sơ dự án cần
xem xét lại.
• Tổng vốn đầu tư của dự án thường rất lớn.
Trái lại với ưu điểm chi phí vận hành thấp, NMTĐ lại có nhược điểm là vốn
đầu tư cao. Thông thường vốn đầu tư tập trung vào các công trình cột nước và điều
tiết ( xây dựng hồ đập, hồ chứa, kênh, ống dẫn kín…). Những công trình đòi hỏi
một khối lượng lớn bê tông, sắt thép. Việc san lấp mặt bằng , khơi sâu lòng hồ trước
khi xây dựng đập đòi hỏi nhiều công sức.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Do đặc trưng của đặc điểm này nên cán
bộ thẩm định có thể so sánh về quy mô vốn cho dự án với các dự án khác đã được
thẩm định tại ngân hàng để bước đầu xác định tính trực quan cho dự án.
•Thời gian xây dựng, vận hành của dự án thường rất dài.
Thời gian xây dựng kéo dài từ 7- 15 năm. Những NMTĐ lớn có thể phải xây
dựng vài chục năm. NMTĐ Hòa Bình được khởi công xây dựng năm 1979, sau 9
năm mới đưa vào vận hành tổ máy đầu tiên năm 1988, khánh thành đầy đủ 8 tổ máy
năm 1994. NMTĐ Sơn La của Việt Nam khởi công xây dựng vào tháng 12 năm
2005, dự kiến phát điện tổ máy đầu tiên vào năm 2012.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Do đặc điểm này của dự án nên khi
tính toán các hiệu quả tài chính của dự án, các bộ thẩm định phải xét thời gian
tương đối dài để phù hợp với thực tế của dự án.
•Đại đa số các công trình thủy điện đều nằm ở những vùng sâu, vùng xa.
Các công trình này thường được xây dựng ở những địa hình phức tạp. Quy
hoạch hệ thống về thủy điện, Bộ Tài nguyên và môi trường chịu trách nhiệm cung
cấp toàn bộ số liệu về nước trong vòng 100 năm ở tất cả các vùng; tính toán về
dòng chảy tối thiểu cho quy hoạch, đưa ra số liệu tính toán về đa dạng sinh học bị
ảnh hưởng các hồ nước bị ngập, các loại đất rừng bị thu lại để làm thủy điện như thế
nào. Quy hoạch về phát triển thủy điện năm 2005 đến 2015 và tầm nhìn đến năm
2025 là một quy hoạch làm rất căn cơ và có cơ sở khoa học. Nếu triển khai thực
hiện theo đúng quy hoạch thì hiệu quả rất lớn.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Cán bộ thẩm định phải dựa vào Quy
hoạch về phát triển thủy điện năm 2005 đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2025 là một
quy hoạch làm rất căn cơ và có cơ sở khoa học. Dự án thủy điện muốn thực hiện
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
được thì việc đầu tiên phải được cấp chính quyền phê duyệt. Đây là yếu tố ảnh
hưởng đến tính pháp lý của dự án.
• Dự án thủy điện có diện tích xây dựng thường rất lớn, hầu hết phải di
dời dân.
Ví dụ như : Theo báo cáo khảo sát của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh
Quảng Nam cho biết: khoảng 10 nghìn héc-ta (ha) đất rừng trên địa bàn tỉnh bị các
dự án thủy điện “nhấn chìm” dưới lòng hồ trong quá trình triển khai xây dựng.
Số liệu này được tổng hợp từ 50 dự án thủy điện triển khai (8 dự án khác
đang xem xét phê duyệt do có ảnh hưởng nhiều đến diện tích đất sản xuất). Trong
đó, nhiều công trình gây tác động xấu đến đất rừng như: thủy điện Sông Tranh 2,
Sông Tranh 3 (chiếm hơn 2.600 ha đất lâm nghiệp), thủy điện A Vương (gần 1.000
ha); còn lại là các dự án Sông Tranh 1, Sông Tranh 4, Đăk Mi 1, Đăk Mi 2, Đăk Mi
4A, Đăk Mi 4B… Số liệu này chưa tính đến lượng lớn diện tích rừng khác sẽ bị mất
do mở hệ thống đường dân sinh và các công trình phụ trợ khác được xây dựng khi
thực hiện dự án thủy điện.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Đối với đặc điểm này thì việc di dời dân
có ảnh hưởng tới chi phí của dự án. Đồng thời cũng ảnh hưởng tới tình hiệu quả về
mặt hiệu quả xã hội khi dự án chiếm diện tích rừng quá lớn.
•Điều kiện về khí tượng thủy văn của công trình.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định Điều kiện khí tượng thủy văn có ảnh
hưởng lớn và có ý nghĩa ứng dụng lớn trong các tính toán và thiết kế và vận hành
của nhà máy thủy điện.
•Dự án điện sử dụng công nghệ thiết bị cao, kỹ thuật phức tạp.
Xây dựng dự án điện sử dụng khối lượng lớn về nhân lực, thiết bị, nguyên
vật liệu… Chính vì vậy mà các tính toán cần độ chính xác rất cao. Các dự án thủy
điện sử dụng những khái niệm chuyên môn mà đòi hỏi các cán bộ thẩm định phải có
trình độ nhất định.
Khi xem xét đặc điểm này thì cần chú ý tới các thông số kỹ thuật của dự án như:
- Mực nước dâng bình thường
- Mực nước chết
- Diện tích toàn bộ hồ
- Diện tích hữu ích
- Cột nước tính toán
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
- Công suất lắp máy
- Công suất đảm bảo
- Điện lượng trung bình hằng năm…
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Chính đặc điểm này làm cho việc thẩm
định dự án thủy điện đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có một trình độ am hiểu nhất
định về lĩnh vực này. Việc thẩm định kỹ thuật này tại ngân hàng chủ yếu tập trung
thẩm định vào các lĩnh vực trên.
•Mức độ rủi ro của các dự án thủy điện rất cao.
Biến đổi khí hậu đặt ra nhiều thách thức đối với ngành công nghiệp thuỷ điện
trong tương lai. Thông thường, ba nhân tố chính là gió, nhiệt độ và lượng mưa có
ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất thuỷ điện. Nhiệt độ tăng làm tăng sự bốc hơi nước
trong các hồ chứa (tốc độ gió cũng ảnh hưởng đến quá trình bốc hơi) và sự làm mát
tuabin, lượng mưa ảnh hưởng đến lưu lượng dòng chảy. Những thay đổi thông
thường của khí hậu sẽ không ảnh hưởng nhiều nhưng khi có những sự cố đáng kể
thì ngành sản xuất nhiệt điện sẽ phải gánh chịu thiệt hại đáng kể.
Tùy thuộc diễn biến của khí hậu, những tác động đối với ngành thủy điện sẽ
mang tính hỗn hợp. Nó có thể hưởng lợi và phát triển ở vùng này nhưng lại bị thu
hẹp, thiệt hại ở nơi khác.
Nhiều hồ chứa lớn đã được xây dựng và các tiêu chuẩn kỹ thuật được đặt ra
dựa trên những sự cố, thảm họa từng trải trong quá khứ. Tuy nhiên, nếu trong tương
lai cả tần suất và mức độ thiên tai gia tăng thì có thể những hồ chứa đó không đủ
sức chống chịu và giữ nước. Lúc đó, người ta có thể nghĩ tới giải pháp gia cố công
trình, song trong nhiều trường hợp biện pháp khắc phục này quá tốn kém và không
khả thi. Một số nhà máy thủy điện mới hoàn thành hoặc đang xây dựng đã khắc
phục được yếu điểm này khi đưa yếu tố rủi ro biến đổi khí hậu vào trong quá trình
thiết kế.
Bên cạnh những khó khăn về việc thích nghi, một yếu tố khác có thể cản trở
sự phát triển của thủy điện là việc đưa nội dung biến đổi khí hậu vào quá trình
hoạch định sách lược.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định : Cán bộ thẩm định thủy điện thường tính
đến rủi ro, không chắc chắn của các phương án do yếu tố khí hậu. Họ có thể chuẩn
bị nhiều phương án với những giả thuyết khác nhau để giảm thiểu sự thiếu chắc
chắn đó.
•Sự tác động mạnh của dự án điện đến môi trường và kinh tế xã hội.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
- Khi xây dựng một công trình thủy điện, ngoài những giá trị kinh tế to lớn
mà dự án mang lại thì chúng ta cũng cần phải chú ý đến các lợi ích tổng hợp khác
của nguồn nước để các thể phối hợp khai thác tối đa hiệu quả theo nhiều mục đích:
phục vụ tưới tiêu, chống lũ lụt, cung cấp nước ngọt, phát triển thủy sản, du lịch…
Đồng thời cũng phải hết sức quan tâm đến các tác động gây ảnh hưởng đến môi
trường như:
- Tác động đến nguồn lợi đất và hệ sinh thái trên đất.
- Khi xây dựng hồ chứa nước và nhà máy thuỷ điện, Nhà nước sẽ phải trưng
dụng vùng đất để ngập nước, gia cố bờ chắn sóng, đưa một số công trình và khu
vực sinh hoạt cho cán bộ, công nhân xây dựng, xây dựng khu tái định cư cho người
dân sinh sống từ trước ở khu vực hồ chứa nước.
- Tác động đến thế giới động vật.
Hồ chứa nước của các công trình thuỷ điện chiếm một diện tích rất đáng kể
đất ngập nước, đã làm mất đi hệ quần thể thực vật, vốn là thức ăn nuôi sống động
vật. Hậu quả là nhiều loại động vật cũng bị tiêu diệt hoặc phải di cư đến nơi khác
sinh sống. Vì vậy, khi thiết kế xây dựng hồ chứa nước bắt buộc phải có các tính toán
về thiệt hại đối với thế giới động vật, tính toán thiệt hại về kinh tế. Và phải tính đến
các biện pháp hoàn bù đất, cải tạo, tăng độ phì nhiêu của đất, cải thiện điều kiện cho
thực vật phát triển và áp dụng các biện pháp công nghệ sinh học khác để cải tạo đất.
Tác động đến hệ sinh thái dưới nước.
Tác động của các hồ chứa nước và hoạt động của nhà máy thuỷ điện sẽ làm
thay đổi hệ sinh thái dưới nước ở khu vực có công trình thuỷ điện. Hệ sinh thái sông
sẽ phải nhường vị trí cho hệ sinh thái hồ tại khu vực hồ chứa nước.
Tác động của công trình thuỷ điện đến ngư trường.
Xây dựng công trình thuỷ điện sẽ hạn chế các luồng di cư/ bán di cư của các
loài cá, làm thay đổi điều kiện sinh sản, có nguy cơ làm kiệt quệ nguồn thức ăn của
cá tại các công trình lấy nước tại nhà máy thuỷ điện. Kết quả là nguồn thuỷ sản bị
giảm, đặc biệt là các loại cá quý hiếm, trong một số trường hợp còn bị tuyệt chủng.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Hậu quả đối với với khí hậu.
Các hồ chứa nước lớn sẽ tác động đến vi khí hậu các vùng lân cận, có thể
giảm nhiệt độ cực trị của khí quyển. Nhiệt độ cao nhất về mùa hè có thể giảm xuống
2-3oC, mùa đông tăng lên 1- 2oC, độ ẩm không khí cũng có thể thay đổi.
Ví dụ: Vùng hạ lưu của các công trình thuỷ điện lớn ở Sibiri đã chịu tác dụng
tiêu cực về vi khí hậu. Tại khu vực này về mùa đông, nước nóng chảy dài trong một
không gian lớn đã không đóng băng hoàn toàn, là nguyên nhân gây ra hiện tượng
sương mù, gây khó khăn cho sinh hoạt của nhân dân trong vùng và làm thay đổi
theo hướng tiêu cực hệ sinh thái khu vực.
* Hậu quả về xã hội.
Tác động của công trình thuỷ điện đến tình hình xã hội ở khu vực xây dựng
công trình, trước hết là phải di dời dân ra khỏi khu vực công trình và vùng sẽ bị
ngập nước.
Tác động tiêu cực thứ hai là sự thay đổi điều kiện khí hậu, sinh thái sẽ gây
ảnh hưởng đến sức khoẻ và hoạt động trong đời sống của nhân dân. Ngoài ra, có
thể có những thay đổi điều kiện tác động của công trình thuỷ điện đến môi
trường thiên nhiên.
Quá trình di dời, tái định cư cho người dân từng sống ở khu vực công trình
thuỷ điện là vấn đề phức tạp nhất. Để di dời dân, cần phải xây dựng các điểm tái
định cư thuận tiện cho sinh hoạt, phải xây dựng các công trình kỹ thuật, tạo thành tổ
hợp các công trình văn hoá – xã hội. Ngoài ra, các dự án công trình thuỷ điện phải
được xem xét phù hợp với quy định của luật pháp hiện hành về đền bù giá trị công
trình.
Trong các dự án công trình thuỷ điện hiện đại, người ta xem xét toàn bộ các
biện pháp có liên quan với nhau và được trình bày trong một phần đặc biệt gọi là
“Chương trình xã hội xây dựng”. Mục tiêu của chương trình này là nhằm giảm nhẹ
căng thẳng về xã hội, giảm tác động tiêu cực của công trình đến đời sống xã hội, cải
thiện điều kiện sống cho người dân địa phương.
Ảnh hưởng đến công tác thẩm định: Yêu cầu là phải tuân thủ quy định của
Luật Bảo vệ môi trường sẽ làm tăng chi phí chuẩn bị khu vực xây dựng hồ chứa
nước. Khoản chi phí này thông thường chiếm từ 20 đến 50% tổng chi phí cụm công
trình thuỷ điện, trong một số công trình đặc biệt, khoản chi phí này có thể chiếm tới
70% tổng chi phí.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Liên quan đến yêu cầu về bảo vệ môi trường trong khai thác công trình thuỷ
điện, gần đây xuất hiện khái niệm “An toàn sinh thái”. An toàn sinh thái là trạng
thái bảo vệ lợi ích sinh thái quan trọng đối với đời sống con người, trước hết là tạo
ra trạng thái sạch, đảm bảo thuận lợi cho sức khoẻ con người và môi trường thiên
nhiên. Nếu xem xét theo các tiêu chí này, thì nhà máy thuỷ điện và hồ chứa nước
không thải ra chất độc hại, gây ô nhiễm không khí, một số chất thải do nhà máy
thuỷ điện xả ra nằm trong phạm vi cho phép của quy định hiện hành. Đây chính là
những điều kiện để nhà máy thuỷ điện vẫn tiếp tục phát triển trên phạm vi toàn thế
giới. Chính những yếu tố trên đã ảnh hưởng đến công tác thẩm định dự án điện.
Nhận xét của SV: Từ những đặc điểm trên ta thấy dự án thủy điện chứa
đựng sự phức tạp về kỹ thuật, công nghệ, mỗi đặc trưng có ảnh hưởng đến việc tính
toán, xác định các chỉ tiêu. Do vậy, cán bộ thẩm định phải có kiến thức nhất định về
lĩnh vực này để việc thẩm định được thực hiện phù hợp.
1.2.4 Quy trình thẩm định dự án đầu tư vay vốn
Quy trình thẩm định được thông qua các phòng Tín dụng, phòng Thẩm định,
CBTD, CBTĐ, phòng Nguồn vốn và một số phòng khác có liên quan. Tuy nhiên quy
trình này chỉ mang tính chất định hướng, tổng quát và cơ bản. Trong quá trình thẩm định
dự án, tuỳ theo quy mô, tính chất, đặc điểm của từng dự án đầu tư xin vay vốn, tuỳ từng
khách hàng và điều kiện thực tế, CBTĐ sử dụng linh hoạt các nội dung theo mức độ hợp
lý để bảo đảm tính hiệu quả của công tác thẩm định. Tuỳ theo từng dự án cụ thể mà
CBTĐ cũng có thể xem xét bỏ qua một số nội dung nếu không phù hợp.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
Quy trình thẩm định dự án đầu tư như sau:
Sơ đồ 1.2: Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng BIDV
Phòng Tín dụng Cán bộ thẩm định Trưởng phòng thẩm định
Chưa đủ cơ sở để thẩm định
Chưa
rõ
Chưa đạt yêu
cầu
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
19
Nhận hồ sơ để thẩm
định
Đưa yêu cầu, giao hồ
sơ vay vốn
Tiếp nhận hồ sơ
Lập báo cáo thẩm
định
Lưu hồ sơ, tài liệuNhận lại hồ sơ và kết
quả thẩm định.
Bổ sung, giải trình
T
h
ẩ
m
đ
ị
n
h
K
i
ể
m
t
r
a
,
k
i
ể
m
s
o
á
t
K
i
ể
m
t
r
a
s
ơ
b
ộ
h
ồ
s
ơ
Đạt
Nguồn :Phòng dự án ngân hàng BIDV
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
1.2.5 Phương thức thẩm định dự án đầu tư vay vốn
1.2.5.1 Thẩm định theo trình tự
Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình tự
biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau.
Theo đó, CBTD áp dụng khá phổ biến đối với các dự án với độ chính xác và
an toàn cao của nó. Trước hết, CBTD xem xét tổng quát về dự án đưa ra những
đánh giá chung về dự án như tính pháp lý và đầy đủ của hồ sơ, uy tín của người lập
dự án, hoạt động của doanh nghiệp… Từ đó, CBTD bước đầu có được nhận định
khái quát về quy mô và sự cần thiết của dự án.
Sau đó, CBTD mới đi sâu phân tích, nghiên cứu đánh giá từng nội dung bởi vì
nếu một nội dung cơ bản bị bác bỏ thì không cần thực hiện bước tiếp theo.
1.2.5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu
Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, dễ áp dụng. Đối với các chỉ tiêu đã
được tiêu chuẩn hóa, CBTD căn cứ vào các dự án trong quá khứ, các quy định của
pháp luật, các quy định, tiêu chuẩn, định mức trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật cụ
thể, các quy ước, thông lệ quốc tế, đặc biệt là trên cơ sở kinh nghiệm thực tế của
CBTD để so sánh, đối chiếu. Khi dự án đáp ứng được các tiêu chuẩn, các nội dung
yêu cầu, CBTD mới có thể đưa ra các đánh giá dự án có thể cho vay vốn hay không.
Tuy nhiên, dự án chưa chắc có thể đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn, CBTD căn
cứ tùy điều kiện thực tế và từng trường hợp cụ thể có những vận dụng phù hợp.
Để đảm bảo sự vận dụng phù hợp, CBTD đã tham khảo ý kiến từ các luồng
thông tin khác nhau, tránh sự vận dụng cứng nhắc, rập khuôn có thể dẫn đến những
kết luận chưa toàn diện. Tại hội sở, CBTD thường áp dụng phương pháp này để
thẩm định nội dung kỹ thuật của dự án và so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính.
Ngoài ra, phương pháp còn được vận dụng để đối chiếu dự án với các văn bản quy
định của pháp luật liên quan đến dự án.
Phương pháp này tuy được CBTD sử dụng phổ biến song trong thực tế gặp
phải vấn đề đặt ra là hệ thống chỉ tiêu dùng để so sánh, đối chiếu chưa được hệ
thống hóa một cách khoa học để dễ dàng áp dụng, khó có thể áp dụng do thiếu tính
thực tế, các căn cứ so sánh, đối chiếu đã cũ, không mang tính kịp thời mà hiện nay
những nội dung này có thể đã bị thay đổi, không còn phù hợp.
1.2.5.3 Phương pháp phân tích độ nhạy
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài
chính của dự án. Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
có thể xảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những yếu tố
đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án.
Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động, đặc biệt yếu tố về giá, CBTD
xem xét sự thay đổi của các biến số chủ yếu, thường cho thay đổi từ 1-10%. Trong
điều kiện rủi ro có thể xảy ra ( khi thay đổi ) mà hiệu quả và kết quả của các chỉ tiêu
vẫn được đảm bảo thì các chỉ tiêu này có thể phản ánh tính khả thi vững chắc về
mặt tài chính.
Thực tế chưa có căn cứ rõ ràng để CBTD có thể tính toán tỷ lệ % thay đổi
dùng để phân tích độ nhạy. Đối với mỗi dự án lại có những yếu tố cấu thành, tác
động khác nhau nên sự biến động của các yếu tố không giống nhau. Chủ yếu CBTD
dựa vào các dự án trong quá khứ trong từng lĩnh vực, có quy mô vốn tương tự. Cách
áp dụng như trên không đảm bảo tính khoa học và chính xác, gây ra những sai lệch
về hiệu quả tài chính.
1.2.5.4 Phương pháp dự báo
Đây là phương pháp mà CBTD tại hội sở thường sử dụng để đánh giá chính
xác tính khả thi của dự án. Theo đó, CBTD tiến hành thu thập thông tin theo chuỗi
thời gian. Trên cơ sở phân tích số liệu trong quá khứ và hiện tại, dự báo đến tính
khả thi của dự án trong tương lai. Phương pháp này chủ yếu thẩm định khía cạnh thị
trường của dự án để xác định cung cầu về sản phẩm dự án trong tương lai, khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, xác định thị phần…
Các phương pháp dự báo thường được sử dụng là Phương pháp ngoại suy
thống kê, Phương pháp mô hình hồi quy tương quan, Phương pháp lấy ý kiến
chuyên gia. Phương pháp ngoại suy thống kê được sử dụng khi CBTD nhận định
rằng cầu sản phẩm do dự án tạo ra chỉ thay đổi theo thời gian. Phương pháp này dễ
dàng áp dụng bởi vì đa số người lập dự án thường nghiên cứu lịch sử của sản phẩm
dự án theo chuỗi thời gian. CBTD chủ yếu kiểm tra tính chính xác, hợp lý trong
việc tính toán. Phương pháp mô hình hồi quy tương quan được CBTD áp dụng phổ
biến hơn cả bởi có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sản phẩm dự án trong tương lai.
CBTD xác định một số nhân tố này và xây dựng hàm hồi quy tương quan để xác
định sản phẩm dự án phụ thuộc vào nhân tố nào nhiều hơn cả.
1.2.5.5 Phương pháp triệu tiêu rủi ro
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự án
đến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh ngoài
ý muốn chủ quan. Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người ta thường dự đoán một
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hồng Minh
số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính thích hợp, hạn chế thấp
nhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có liên quan đến dự án.
Một số loại rủi ro bắt buộc phải có biện pháp xử lý như: đấu thầu, bảo hiểm
xây dựng, bảo lãnh hợp đồng. Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro quen thuộc
nhất là bảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và
uy tín, thế chấp tài sản. Để tránh tình trạng thế chấp tài sản nhiều lần khi vay vốn
nên thành lập Cơ quan đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm.
1.2.6 Nội dung thẩm định đầu tư vay vốn dự án thủy điện
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển BIDV thẩm định dự án trên các nội dung sau:
1.2.6.1 Thẩm định hồ sơ pháp lý.
- Cán bộ thẩm định liệt kê các hồ sơ, cần bổ sung những loại hồ sơ nào?.
Theo căn cứ hiện hành của Pháp Luật, của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam BIDV xác định hồ sơ pháp lý của dự án đã đầy đủ và hợp lệ chưa.
- Khi thẩm định hồ sơ pháp lý cần lưu ý các điểm sau đây:
+ Dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chưa? (cần xác định xem
mức đầu tư Dự án thuộc nhóm nào, thuộc cấp nào phê duyệt, ngành nghề/ địa bàn
mà Dự án đầu tư có quy định đặc biệt nào về việc cấp phép đầu tư).
+ Các thủ tục liên quan đến quá trình xây dựng Dự án đã được phê duyệt
đầy đủ chưa: chứng chỉ quy hoạch, giấy phép xây dựng, ý kiến của cơ quan phòng
cháy chữa cháy, cơ quan môi trường…
+ Các thủ tục về đất đai của Dự án đã triển khai đến giai đoạn nào? (xem
xét hồ sơ đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư, Hợp đồng thuê đất, Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất,…).
+ Về cơ bản, kế hoạch đấu thầu và việc triển khai mua sắm thiết bị, chọn
nhà thầu xây lắp hay tổng thầu EPC đã tuân thủ quy chế đấu thầu hiện hành?
+ Hồ sơ vay vốn cần đầy đủ theo quy chế cho vay hiện hành của NHNT VN:
đơn xin vay vốn, báo cáo tài chính các năm, các hợp đồng/giấy tờ chứng minh năng
lực hoạt động kinh doanh của đơn vị (nếu có), hồ sơ đảm bảo tiền vay,…Đặc biệt,
cần nghiên cứu kỹ điều lệ hoạt động của đơn vị để xác định cấp có thẩm quyền phê
duyệt đối với việc vay vốn và thế chấp tài sản.
SV: Võ Hồng Cường Lớp: Kinh tế Đầu tư 51D
22