Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
LỜI NÓI ĐẦU
Triết học Trung Hoa cổ đại là một kho tàng tư tưởng cổ xưa rực rỡ
và phong phú, một chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại. Nghiên cứu
lịch sử tư tưởng triết học thế giới, chúng ta không thể không nghiên cứu
triết học Trung Hoa cổ đại. Trong thời kỳ này đã nảy sinh nhiều học thuyết
chính trị triết học tiêu biểu như: Nho gia, Pháp gia, Đạo gia, Nông gia,
Mặc gia, Âm dương gia, Tạp gia,
Luồng tư tưởng của Nho gia đã tồn tại xuyên suốt bề dày lịch sử
của Trung Quốc, thậm chí cho cả các quốc gia phương Đông, trong đó có
Việt Nam. Như vậy, trong xã hội hiện đại ngày nay, tư tưởng Nho gia có
còn giữ nguyên giá trị ?
Pháp gia đã vùng lên chiếm vị trí độc tôn cuối thời kì Xuân Thu –
Chiến Quốc với công trạng sáng ngời là giúp Tần Thủy Hoàng thâu tóm
toàn thiên hạ, thống nhất bờ cõi Trung Hoa rộng lớn, nhưng sau đó lại
nhanh chóng suy tàn. Điều gì khiến cho tư tưởng Pháp gia hoàn thành sứ
mệnh lịch sử lúc bấy giờ trong khi biết bao tư tưởng lớn khác không thể
nào làm được?
Liệu khi chúng ta kết hợp tư tưởng Nho gia và Pháp gia trong thời
đại ngày nay thì sẽ hiệu quả? Muốn trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải hiểu
sâu sắc cả hai luồng tư tưởng vĩ đại này và so sánh tìm ra đâu là ưu, đâu là
nhược của mỗi trường phái.
Chính vì lẽ đó nên em xin chọn đề tài “ Sự tương đồng của triết học
Nho gia và triết học Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại”
Do tư liệu ít, phạm vi bài viết rộng em không đủ khả năng khái
quát hoặc đưa ra nhận xét hợp lý khi kinh nghiệm thực tiễn không nhiều.
Vượt qua những khó khăn ban đầu, em đã cố gắng hết mình để hoàn thành
đề tài này một cách rõ ràng và đầy đủ nhất có thể.
Em xin chân thành cảm ơn !
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
1
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
MỤC LỤC
I. Nho gia và Pháp gia
1) Bối cảnh lịch sử Trung Quốc lúc bấy giờ.
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có hai miền khác nhau.
Miền Bắc có lưu vực sông Hoàng Hà, xa biển, khí hậu lạnh, đất đai khô
khan, cây cỏ thưa thớt, sản vật hiếm hoi. Miền Nam có lưu vực sông Dương
Tử khí hậu ấm áp, cây cối xanh tươi, sản vật phong phú.
Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III tr. CN kéo
dài tới tận thế kỷ III tr. CN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung
Hoa bằng uy quyền bạo lực mở đầu thời kỳ phong kiến tập quyền. Trong
khoảng 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm hai thời
kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX tr. CN về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII đến
cuối thế kỷ III tr. CN.
Thời kỳ thứ nhất có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và Tây Chu.
Trong thời kỳ thứ nhất này, những tư tưởng triết học đã xuất hiện, tuy chưa
đạt tới mức là một hệ thống. Thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa
duy tâm thần bí là thế giới quan thống trị trong đời sống tinh thần xã hội
Trung Hoa bấy giờ.
Thời kỳ thứ hai là thời kỳ Đông Chu (thường gọi là thời kỳ Xuân
Thu - Chiến Quốc) là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang
chế độ phong kiến. Xã hội lúc này ở vào tình trạng hết sức đảo lộn. Sự tranh
giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào
tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi
hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
2
2
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến
nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển. Sự
biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ
điểm, những trung tâm các "kẻ sĩ" luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề
ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là
thời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách gia minh tranh" (trăm
nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh các nhà tư
t
ưở
ng lớn và
hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm các
trường phái này là luôn lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên
cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị -
đạo đức của xã hội.
2) Triết học Nho gia
a) Sự ra đời của Nho gia
Khổng Tử (551-479) tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, ông là
nhà triết học, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Học cố đại. Ông
được coi là người sáng lập ra môn phái Nho gia. Ông được các học trò tôn
là:"chí thánh tiên sư, vạn thế sư biểu".
Khổng Tử sống trong thời kỳ thay đổi lớn, biến động lớn. Từ lâu, thiên
tử nhà Chu đã mất hết uy quyền, quyền lực rơi vào tay các vua chư hầu, cục
diện xã hội biến chuyển thay đổi nhanh chóng, người ta mỗi người chọn cho
mình những thái độ sống khác nhau. Là một triết nhân, thái độ của Khổng Tử
hết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ, vừa sùng thượng đổi mới. Trong tâm trạng
phân vân, dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhân nghĩa để giữ vững sự tồn
tại chung và khai sáng hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần là học phái
Nho gia tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc.
Hệ thống tư tưởng Nhân và Nghĩa của Khổng Tử, bất kể hàm nghĩa
phong phú phức tạp đến đâu, nói cho cùng cũng chỉ là để thiết lập một trật tự
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
3
3
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
nghiêm cẩn của bậc đế vương và thành lập một xã hội hoàn thiện. Hệ thống tư
tưởng của ông ảnh hưởng tới hơn 2500 năm lịch sử Trung Quốc.
Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng
không được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học
như Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân tử truyền bá rộng về sau. Trải qua nhiều
nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng tử và tư tưởng
Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống.
Do Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua
nhau đề xướng nên Nho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọi
giai tầng xã hội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thành
tâm lý của cộng đồng dân tộc Trung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và
tập tính.
b) Tư tưởng triết học cơ bản của Nho gia
i) Thái độ của Nho gia đối với cuộc sống
Trước hết phải nói Nho giáo là đạo quan tâm đến con người, đến cuộc
đời và tìm thú vui trong cuộc sống. Khác với các tôn giáo ở chỗ đó. Phật giáo
cho cuộc đời là bể khổ nên tìm cách giải thoát, cần sự “bất sinh”. Lão giáo
cũng yếm thế, bi quan như vậy, nên cần sự “vô vi tịch mịch”. Chỉ có đạo Nho
là trân trọng sự sống hơn cả. Không cần phải hỏi ta sinh ra ở cõi đời để làm
gì, chết rồi thì đi đâu, chết rồi có linh hồn nữa không “Người muốn biết người
chết rồi có biết gì nữa không ư? Chuyện đó không phải là chuyện cần kíp bây
giờ, rồi sau biết” (Khổng Tử gia ngữ). Cho nên Khổng Tử ít bàn đến chuyện
quỷ thần, đến chuyện quái lạ, huyền bí. Làm người ở đời hãy lo lấy việc của
con người. Chuyện của con người lúc sống còn chưa lo hết, lo gì đến việc sau
khi chết! “Phải vụ lấy việc nghĩa của con người, còn quỷ thần kính mà xa ta”
(Luận ngữ) khi khoa học chưa phát triển, các tôn giáo còn thịnh hành, những
chuyện mê tín dị đoan còn huyền hoặc người ta gây bao nhiêu tai hại, thì thái
độ “kinh nhi viễn chi” là đúng.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
4
4
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Khổng Tử tuy chưa thoát ra được cái “thiện đạo quan” của đời Chu,
nhưng ông đã bắt đầu hoài nghi quỷ thần, trời mặc dù ông vẫn trong việc tế
trị. Nho học khuyên con người ta nên yêu đời, vui đời, sống có ích cho đời
cho xã hội. Sống là hành động, đem tài trí giúp đời. Khổng Tử chính là tấm
gương cho các nhà Nho đời sau noi theo. Ông không tìm thú vui ở chỗ ẩn dật
hay ở chỗ suy tưởng suông, mà ở chỗ hành động, hành đạo. Khổng Tử đi chu
du thiên hạ ngoài mục đích tìm cách thực hiện lý tưởng của mình suốt 14
năm. Không ai dùng, trở về đã 70 tuổi ông vẫn dạy học, viết sách, truyền bá
tư tưởng của mình. Đây có thể nói là điểm sáng nhất của Nho giáo so với các
học thuyết khác, và có lẽ chính nhờ nó mà Nho giáo giữ vị trí độc tôn và ưa
chuộng trong thời gian rất dài của lịch sử.
ii) Quan niệm về đạo đức
Trong Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người. Phải nói đạo làm
người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xã hội phong kiến. Chúng ta
đều biết trong xã hội có giai cấp thì những nguyên tắc để đánh giá hành vi của
con người, phẩm hạnh của con người trong mối quan hệ với người khác và
trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ quốc đều mang tính giai cấp rõ rệt và
có tính chất lịch sử. Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay
đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này đến thời đại khác
đến nỗi thường thường trái ngược hẳn nhau” (Enghen).
Khổng Tử giảng chữ Nhân cho học trò không lúc nào giống lúc nào,
nhưng xét cho kỹ, cốt tuỷ của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính
là Khổng Tử nói “đối với người như đối với mình, không thi hành với người
những điều mà bản thân không muốn ai thi hành với mình cả. Hơn nữa cái
mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái gì mình muốn đạt tới thì
cũng phải làm cho đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn mà không
làm cho người xấu đi” (Luận ngữ) “Nghĩa” là lẽ phải, đường hay, việc đúng.
Mạnh Tử nói “nhân là lòng người, nghĩa là đường đi của người” (Cáo Tử
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
5
5
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
thượng), “Nhân là cái nhà của người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của
người” (Lâu ly thượng), “ở với đạo nhân, nói theo đường nghĩa, tất cả mọi
việc của đại nhân là thế đó” (Tồn tâm thương).
Nghĩa thường đối lập với lợi. Theo lợi có khi không làm cái việc phải
làm nhưng trái lại, theo nghĩa có khi lại rất lợi. Có cái nghĩa đối với người
xung quanh có cái nghĩa đối với quốc gia xã hội.
Tuy nhiên quan niệm đạo đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm
tích cực. Một trong những đặc điểm đó là đặt rõ vấn đề người quân tử, tức là
người lãnh đạo chính trị phải có đạo đức cao cả, dù nguyên tắc ấy không
được thực hiện trong thực tế nó vẫn là một điểm làm chỗ dựa cho những sĩ
phu đấu tranh. Nho giáo đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả
với xã hội. Truyền thống hiếu học, truyền thống khí tiết của kẻ sĩ không thể
bảo là di sản của Nho giáo chỉ có tiêu cực.
iii) Tư tưởng trị nước an dân
Toàn bộ tư tưởng cơ bản của học thuyết Khổng Tử là nhằm vào việc
giải quyết những vấn đề xã hội - chính trị, những vấn đề cấp bách trong thời
đại của ông .
Xã hội là một tổng thể của những quan hệ giữa người với người.
Nhưng Khổng Tử đã coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ
cơ bản, đề cao vai trò những quan hệ ấy thâu tóm những quan hệ ấy vào ba
mối quan hệ được ông coi là rường cột chủ đạo (gọi là tam cương): vua - tôi,
cha - con, chồng - vợ. Từ ba mối quan hệ đó mở rộng ra việc giải quyết các
mối quan hệ khác. Có thể coi đây là phương pháp luận trong việc giải quyết
vấn đề triết học xã hội của ông.
Để giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội, mà trước hết là mối quan
hệ "tam cương", Khổng Tử nêu ra thuyết "chính danh".
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
6
6
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Để thực hiện chính danh, Khổng Tử đề ra đường lối trị quốc là "nhân
trị", chứ không phải "pháp trị". Do đó hệ thống các phạm trù và bảng giá trị
về chính trị - đạo đức được đặc biệt coi trọng là: nhân, lễ, trí, dũng. Trong đó
chữ "nhân "được đặc biệt đề cao và có thể coi là cốt tuỷ của hệ thống đó.
Muốn có đức "nhân" thực hạnh theo đức nhân thì phải có trí và dũng.
Theo Khổng Tử, có đức nhân thì chẳng việc gì lo buồn, có đức trí thì chẳng
bao giờ sai lầm, có đức dũng thì chẳng bao giờ kính sợ.
Chủ trương "nhân trị "của Khổng Tử phản ánh tư tưởng triết học nhân
bản của ông: tin tưởng vào bản chất tín thiện nơi con người .
Ngoài ra Khổng Tử còn chủ trương đừng để giàu nghèo cách biệt thái
quá: không lo thiếu mà lo không đều, không lo nghèo mà lo không yên .
Về giáo dục Khổng Tử cho rằng: Tính của con người do trời phú mà
cứ buông lơi, thả lỏng trong cuộc sống thì tính không thể tránh khỏi tình trạng
biến chất theo muôn vàn tập tục, tập quán.
Trong hoàn cảnh ấy con người có thể trở thành vô đạo, dẫn đến cả
nước vô đạo và thiên hạ vô đạo. Vì vậy, Khổng Tử khuyên nên coi trọng
"giáo" hơn "chính", đặt giáo hoá lên chính trị. Muốn dẫn nhân loại trở về tính
gần nhau, tức là chỗ "thiện bản thân"thì phải để công vào giáo dục vì giáo dục
có thể hoá ác thành thiện. "Tu sửa đạo làm người" là mục đích tối cao của
giáo dục trong việc cải tạo nhân tính của Khổng Tử. Ông không coi giáo dục
chỉ là để mở mang tri thức, giải thích vũ trụ mà ông chú trọng đến việc hình
thành nhân cách đầy đủ, lấy giáo dục để mở mang cả trí, nhân, dũng, cốt dạy
người ta hoàn thành con người đạo lý .
3) Triết học Pháp gia.
a) Sự ra đời của Pháp gia
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
7
7
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Quản Trọng (thế kỷ VI TCN) là người nước Tề, vốn xuất thân từ giới
bình dân nhưng rất có tài chính trị, được coi là người đầu tiên bàn về vai trò
của pháp luật như là phương cách trị nước.
Sau Quản Trọng phải kể đến Thân Bất Hại (401-337 TCN), là người
nước Trịnh chuyên học về hình danh, làm quan đến bậc tướng quốc. Thân
Bất Hại đưa ra chủ trương ly khai "Đạo đức" chống "Lễ" và đề cao
"Thuật" trong phép trị nước. Thân Bất Hại cho rằng "thuật" là cái "bí
hiểm" của vua, theo đó nhà vua không được lộ ra cho kẻ bề tôi biết là vua
sáng suốt hay không, biết nhiều hay biết ít, yêu hay ghét mình bởi điều đó
sẽ khiến bề tôi không thể đề phòng, nói dối và lừa gạt nhà vua.
Một đại biểu nữa của phái Pháp gia thời kỳ này là Thận Đáo
(370-290 TCN), ông là người nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư
tưởng triết học về đạo của Lão Tử, nhưng về chính trị ông lại đề xướng
đường lối trị nước bằng pháp luật. Thận Đáo cho rằng Pháp luật phải khách
quan như vật "vô vi" và điều đó loại trừ thiên kiến chủ quan, riêng tư của
người cầm quyền. Phải nói rằng đây là một tư tưởng khá tiến bộ mà sau này
Hàn Phi đã tiếp thu và hoàn thiện. Trong phép trị nước, đặc biệt Thận Đáo đề
cao vai trò của "Thế". Ông cho rằng: "Người hiền mà chịu khuất kẻ bất tiếu
là vì quyền thế nhẹ, địa vị thấp: kẻ bất tiếu mà phục được người hiền vì
quyền trọng vị cao. Nghiêu hồi còn làm dân thường thì không trị được ba
người mà Kiệt khi làm thiên tử có thể làm loạn cả thiên hạ, do đó biết
rằng quyền thế và địa vị đủ để nhờ cậy được mà bậc hiền, trí không đủ cho ta
hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi, kẻ
bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sức giúp đỡ của quần chúng,
do đó mà xét thì hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng, mà quyền
thế và địa vị đủ khuất phục được người hiền".
Cùng thời với Thận Đáo, có một người cũng nêu cao tư tưởng Pháp
trị, đó là Thương Ưởng. Ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật hành
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
8
8
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
chính và kinh tế làm cho nước Tần trở nên hùng mạnh. Trong phép trị nước
Thương Ưởng đề cao "pháp" theo nguyên tắc "Dĩ hình khử hình" (dùng hình
phạt để trừ bỏ hình phạm). Theo ông pháp luật phải nghiêm và ban bố cho
dân ai cũng biết, kẻ trên người dưới đều phải thi hành, ai có tội thì phạt và
phạt cho thật nặng. Trong chính sách thực tiễn, Thương Ưởng chủ trương: Tổ
chức liên gia và cáo gian lẫn nhau, khuyến khích khai hoang, cày cấy, nuôi
tằm, dệt lụa, thưởng người có công, phạt người phạm tội. Đối với quý tộc
mà không có công thì sẽ hạ xuống làm thường dân. Ông cũng là người đã
thực hiện cải cách luật pháp, thi hành một thứ thuế thống nhất, dụng cụ đo
lường thống nhất nhờ đó chỉ sau một thời gian ngắn, nước Tần đã mạnh hẳn
lên và lần lượt thôn tính được nhiều nước khác.
Cuối cùng phải kể đến Hàn Phi, người có công tổng kết và hoàn thiện
tư tưởng trị nước của pháp gia. Trước hết Hàn Phi đề cao vai trò của pháp trị.
Theo ông, thời thế hoàn cảnh đã thay đổi thì phép trị nước không thể viện
dẫn theo "đạo đức" của Nho gia, "Kiêm ái" của Mặc gia, "Vô vi nhi trị" của
Đạo gia như trước nữa mà cần phải dùng Pháp trị. Hàn Phi đưa ra quan điểm
tiến hóa về lịch sử, ông cho rằng lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hoá
và trong mỗi thời kỳ lịch sử thì mỗi xã hội có những đặc điểm dấu ấn
riêng. Do vậy, không có một phương pháp cai trị vĩnh viễn, cũng như không
có một thứ pháp luật luôn luôn đúng trong hệ thống chính trị tồn tại hàng
ngàn năm. Từ đó, ông đã phát triển và hoàn thiện tư tưởng pháp gia thành
một đường lối trị nước khá hoàn chỉnh và thích ứng với thời đại lúc bấy giờ.
c) Tư tưởng triết học cơ bản của Pháp gia
i) Ba cơ sở của thuyết Pháp trị của Hàn Phi
Một là, thừa nhận sự tồn tại của lý - tính quy luật hay những lực lượng
khách quan trong xã hội. Lý chi phối mọi sự vận động của tự nhiên xã hội.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
9
9
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Ông yêu cầu con người phải nắm lấy cái lý của vạn vật luôn biên hóa mà
hành động phù hợp.
Hai là, thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội. Do không có chế độ
xã hội nào bất di bất dịch nên không có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội.
Theo ông người thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử,
dựa vào đặc điểm của thời thế mà lập ra chế độ, đặt ra chính sách, vạch ra
cách trị nước sao cho thích hợp. Ông cho rằng không có thứ pháp luật nào là
luôn luôn đúng trong mọi thời đại mà nó luôn có sự thay đổi.
Ba là, thừa nhận bản tính con người là ác: do bản tính con người là ác
và trong xã hội người tốt thì ít, với nhiều kẻ xấu như vậy để xây dựng được
một xã hội bình yên không nên trong chờ vào số ít mong họ làm việc thiện
mà phải xuất phát từ số đông ngăn chặn không cho họ làm điều ác (thực hiện
pháp trị)
ii) Nội dung cơ bản của thuyết Pháp trị
Nếu như trong phép trị nước Thận Đáo đề cao “Thế”, Thân Bất Hại đề
cao “Thuật”, Thương Ưởng đề cao “Pháp” thì học thuyết Pháp trị của Hàn
Phi lại coi trọng cả ba yếu tố Thế, Thuật, và Pháp. Ông cho rằng ba yếu tố đó
phải thống nhất không thể tách rời trong đường lối trị nước bằng pháp luật.
Trong đó, "Pháp" là nội dung trong chính sách cai trị được thể hiện bằng luật
lệ; "Thế" là công cụ, phương tiện tạo nên sức mạn; còn "Thuật" là phương
pháp cách thức để thực hiện nội dung chính sách cai trị. Tất cả đều là công cụ
của bậc đế vương.
Đầu tiên ta sẽ tìm hiểu về Pháp, Pháp được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa
rộng "Pháp" là thể chế quốc gia là chế độ chính trị xã hội của đất nước; Nghĩa
hẹp "Pháp" là những điều luật, luật lệ, những luật lệ mang tính nguyên tắc và
khuôn mẫu. Kế thừa và phát triển tư tưởng Pháp trị của pháp gia thời trước,
Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay
phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật,
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
10
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo Pháp". Tính cách của pháp luật
theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia, là vua tượng trưng cho
quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Với Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định
danh phận, phải trái, tốt, xấu, thiện, ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều
qui về một mối, đều lấy pháp làm chuẩn, và mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
Chủ trương của Pháp gia là bậc vua chúa phải làm cho dân theo đúng
pháp luật, như vậy là nước trị.
Tiếp đến sau đó là Thế, Thế là yếu tố không thể thiếu được trong pháp
trị. Pháp gia cho rằng muốn có luật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt
đối tôn trọng thi hành thì nhà vua phải có "Thế".
Hàn Phi cho rằng cách thưởng phạt là mầm trị hay loạn của quốc gia,
trong đó dựa theo nguyên tắc: Thưởng thì phải tín, phạt thì phải tất; Thưởng
thì phải trọng hậu, phạt thì phải nặng; Sự thưởng phạt phải theo đúng phép
nước, chí công vô tư; Vua phải nắm hết quyền thưởng phạt.
"Thế" có vị trí quan trọng đến mức có thể thay thế được hiền nhân:
"Chỉ có bậc hiền trí không đủ trị dân, mà địa vị quyền thế lại đủ đóng vai trò
của bậc hiền vậy "Thế" không chỉ là địa vị, quyền hành của vua mà còn là
sức mạnh của dân, của đất nước, của vận nước. Hàn Phi giải thích: "Cái ná
yếu lại bắn được mũi tên lên cao là nhờ có "gió kích động", và nếu không có
sự trợ giúp của quần chúng thì làm sao kẻ kém tài lại cai trị được thiên hạ”.
Và cuối cùng là Thuật, thuật được hiểu là phương pháp, thủ thuật,
cách thức, mưu lược khiển việc, khiến người ta triệt để thực hiện mệnh lệnh
mà không hiểu người sai dùng họ như thế nào. Nhiệm vụ chính của thuật cai
trị là phân biệt quan lại trung thành, tận tâm và những quan lại ma giáo, thử
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
11
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
năng lực của họ kiểm tra công trạng và những sai lầm của họ với mục đích
tăng cường bộ máy cai trị trên cơ sở bộ máy luật pháp và chế độ chuyên chế.
Theo Hàn Phi “Thuật” có hai khía cạnh: kỹ thuật và tâm thuật. Kỹ
thuật: là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng quan lại. Tâm thuật tức mưu
mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ ra.
Tâm thuật: có rất nhiều và thiên biến vạn hóa, thường không theo quy
tắc nào ngoài quy tắc gạt bỏ người sao cho có kết quả. Chẳng hạn như: Làm
bộ như ra lệnh và ra lệnh giả; Giấu điều mình biết rồi mà hỏi để biết thêm
những điều khác; Nói ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của
người; Ngầm hại những kẻ bề tôi mình không cảm hóa được.
Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là
thuật trừ gian và dùng người. Ông kể ra những hạng gian thần và có thể làm
loạn là: kẻ thân thích của vua và quần thần. Đó là hai hạng đều đánh vào tình
cảm thị dục, nhược điểm của vua để lung lạc, che giấu vua. Để ngăn cấm bọn
đó, Pháp gia chủ trương, vua phải: Không để lộ sự yêu thích, giận ghét của
mình; Không cho họ biết mưu tính của mình; Nếu không phải việc riêng thì
không để họ tự ý hành động, việc gì cũng phải hỏi mình trước; Bắt họ phải
theo đúng luật mà chính vua cũng phải theo đúng pháp luật trong việc thưởng
phạt họ; Xem hành động của họ có hợp với lời nói của họ không… Tìm kẻ
gian thì khi một việc xảy ra, hại cho nước hoặc cho người khác thì xét xem ai
là kẻ có lợi.
"Thuật" còn thể hiện trong "thuật dùng người". Quy tắc cơ bản của
thuật dùng người theo Pháp gia là thuyết Hình danh và Chính Danh, Thực
Danh. Thuyết này là Pháp gia kế thừa từ Khổng Tử, và Phái Danh gia. Nhưng
Hàn Phi có óc thực tế, không bàn về tri thức luận mà đem học thuyết của Nho
gia vào chính trị, ông chỉ thu hẹp vào việc dùng người, gạt bỏ những vấn đề
về đạo đức, luân lí. Ở đây danh là lời nói và hình là việc thực hiện. Chẳng hạn
như một người hứa đến thăm ta, lời hứa đó là "Danh" và hành động tới thăm
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
12
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
là "Hình" hay "Thực" vậy. Nếu người đó đến thăm thực thì chứng tỏ danh và
hình (hay danh và thực) hợp nhau gọi là chính danh, ngược lại danh và thực
nếu không hợp nhau, tức là chỉ có danh mà không có hình hay không có thực
nghĩa là không chính danh, từ đó sẽ căn cứ thưởng phạt một cách nghiêm
minh. Nếu pháp luật là danh thì sự việc là hình, sự việc hợp pháp luật thì danh
và thực hợp nhau. Nếu quan vị là danh thì chức vụ là hình, chức vụ không
hợp với quan vị thì danh và hình không hợp nhau. Thuật phải nắm được cái
cốt yếu là lấy danh làm đầu, danh chính thì vật định, danh lệch thì vật đổi.
Vua nắm lấy danh còn bề tôi làm ra hình. Hàn Phi cho quy tắc hình và danh
hợp nhau là quan trọng nhất trong việc trị quan lại, nếu không theo thì sao có
thể phân biệt được kẻ hay người dở, người giỏi kẻ gian, khó thưởng phạt
đúng được, như vậy nước khó mà trị được.
Ngoài các yếu tố "Pháp", "Thế", "Thuật", tư tưởng Pháp gia còn coi
trọng việc xây dựng quân đội hùng mạnh đủ sức đè bẹp và thôn tính các nước
khác. Pháp gia cũng rất chú trọng phát triển nông nghiệp, tích trữ lương thực
và của cải làm cho đời sống của xã hội no đủ.
Như vậy, tư tưởng pháp trị đã hình thành khá sớm trong lịch sử tư
tưởng Trung Quốc cổ đại. Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của
Trung Quốc lúc bấy giờ đòi hỏi tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình
độ mới trong đó tư tưởng về "Thế", "Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn
thiện vừa thống nhất với nhau trong một học thuyết duy nhất. Hàn Phi đã
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử đó. Tư tưởng chủ đạo của Pháp gia là
muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật làm trọng và nếu dùng pháp trị thì
xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đông dân bao nhiêu thì vẫn "trị quốc
bình thiên hạ" được. Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được Tần Thủy
Hoàng vận dụng, kết quả đã đưa nước Tần đến thành công trong việc thống
nhất được đất nước Trung Quốc sau những năm dài chiến tranh khốc liệt.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
13
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
II) So sánh tư tưởng Nho gia và tư tưởng Pháp gia
1) Bản tính con người là thiện hay ác?
Pháp gia cho rằng bản chất của con người vốn dĩ là tà ác, luôn tranh
giành, xâu xé lẫn nhau về lợi ích, cho nên những lời ca ngợi sự tin tưởng giữa
con người với con người đều là giả dối, ngây thơ, không đáng tin cậy.
Nho gia lại cho rằng bản chất con người là thiện, vì khi sinh ra đã có
đủ nhân, lễ, nghĩa, trí. Do có nhân nên ai cũng có lòng trắc ẩn, do có nghĩa
nên ai cũng có lòng u tố, do có lễ nên ai cũng có lòng cung kính, do có trí nên
ai cũng biết lẽ thị phi.
2) Đức trị hay pháp trị?
Ðối với Khổng Tử, lễ của thời sơ Chu là cơ sở cho quan điểm của ngài
về đạo đức và xã hội. Nỗ lực giáo dục đạo đức phối hợp với quá trình tu
dưỡng đức Nhân của con người có khả năng đưa tới việc lập thành đức hạnh
(đạo nghĩa).
Hoàn toàn đi ngược lại ba lập trường trên, các Pháp gia - đứng đầu là
Hàn Phi - buông bỏ toàn bộ nỗ lực tu dưỡng đạo đức. Họ lập luận rằng nền
tảng độc nhất của một xã hội tốt đẹp chính là sự cai trị bằng luật pháp, và
rằng không cần phải phát triển đạo đức bản thân, dân chúng vẫn hoàn toàn có
khả năng tuân giữ luật lệ đã được thiết lập.
3) Bàn về thiên tử
Nho gia coi vua là con trời, nhận sứ mạng của trời để cai trị dân mà ý
dân là ý trời nên đòi hỏi vua phải có đạo đức. Vua phải giữ đạo làm vua thì bề
tôi mới vẹn đạo làm tôi. Khổng tử và Mạnh Tử luôn thẳng thừng lên án, chê
bai những ông vua không có đạo đức. Đối với Nho gia, vua có “hiền” thì mới
có tư cách cai trị muôn dân.
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
14
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Pháp gia thì ngược lại, họ cho rằng vua muốn trị quốc an dân thì phải
nắm vững “ Pháp”, “Thế”, “Thuật”. Pháp gia không cần biết mệnh trời,
không đề cập đến ý dân, họ không cần vua hiền vẫn có cách thực hiện chính
sách an dân. Ngày xưa, vua Nghiêu phải mất một năm để sửa một tật cho dân.
Như vậy phải mất ba năm để vua sửa được ba tật của dân. Nhưng vấn đề là,
phải mất bao lâu để có một vị vua hiền như vua Nghiêu? Ngày nay, chỉ cần
dùng pháp luật thì bất cứ vua nào cũng có thể bắt dân “sửa tật” chỉ trong một
ngày.
4) Cai trị xã hội
Pháp gia chủ trương dùng sự trừng phạt hà khắc để cải tạo con người.
Nho gia cho rằng nên dùng tình cảm đạo đức để cảm hóa con người.
Pháp gia cho rằng chỉ có pháp luật mới ổn định được xã hội. Nho gia
thì định ra các mối quan hệ (vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, ) để
“trị loạn”.
Pháp gia coi mọi tầng lớp xã hội đều bình đẳng trước pháp luật “ Pháp
bất vi thân”. Nho gia lại chia xã hội ra thành nhiều thành phần (quân
tử, trượng phu, tiểu nhân) và chủ trương phân biệt đẳng cấp.
III) Kết luận
1) Nhận xét
Tuy Nho gia và Pháp gia khác nhau, thậm chí xung khắc nhau cả về tư
tưởng lẫn chủ trương hiện thực, nhưng nhìn chung các triết gia của cả hai
trường phái đều nhằm đến một một đích chung là “trị loạn”.
Khổng tử cho rằng loạn là do con người trong xã hội không được “đặt”
đúng vị trí mà của nó. Vì vậy ông chủ trương dùng “đức trị” để giáo hóa con
người “trở về khuôn phép”, khi ấy cái loạn ắc sẽ tự tan biến.
Hàn Phi Tử cho rằng loạn là do bản chất con người là ác và không thể
giáo dục được. Vì vậy ông chủ trương dùng “pháp trị” để cưỡng chế con
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
15
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
người không làm điều xấu. Khi tính ác trong con người vẫn còn tồn tại nhưng
nó không thể bộc lộ ra thành cái xấu thì thiên hạ sẽ không còn loạn.
1) Áp dụng đúng đắn Đức trị và Pháp trị
Cái lợi của quản lý bằng Đức trị chính là cái mà Pháp trị thiếu và
ngược lại. Pháp trị dựa vào sự răn đe, luôn luôn có hiệu quả tức thời, còn Đức
trị dựa vào giáo dục, dựa vào tư tưởng để giải quyết vấn đề, như vậy sẽ có
hiệu quả chậm hơn. Nhất là việc hình thành đạo đức, thành nếp sống, xây
dựng quan niệm giá trị chung thì rất mất thời gian, không thể ngay lập tức
thực hiện được. Do vậy, dùng Đức trị để ngăn cấm điều ác, giảm sự lây lan thì
tỏ ra lực bất tòng tâm. Đặc biệt là khi quản lý xuất hiện hỗn loạn, đòi hỏi phải
dẹp loạn nhanh chóng để lập lại trật tự, kỷ cương, làm cho việc cai trị từ chỗ
không có nền nếp chuyển biến thành có nền nếp thì Đức trị tỏ ra mềm yếu,
đuối sức, không mang lại tác dụng. Tuy vậy, sau khi một tư tưởng, một quan
niệm giá trị đạo đức được mọi người tiếp nhận thì thời gian phát huy tác dụng
của nó là tương đối dài. Về điểm này quản lý bằng Pháp trị không thể nào so
sánh được. Do vậy, có thể nói rằng Pháp trị theo đuổi hiệu quả trong thời gian
ngắn, còn Đức trị thì theo đuổi hiệu quả thời gian dài. Pháp trị là quản lý tính
chiến thuật còn Đức trị là quản lý tính chiến lược.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Triết học – Đại cương về lịch sử Triết học (TS. Bùi Văn Mưa)
2. Tư tưởng trị nước của Pháp gia và vai trò của nó trong lịch sử
(Nguyễn Thị Kim Bình)
3. Giáo trình triết học Mac-Lênin
(GS, TS. Nguyễn Ngọc Long - GS, TS. Nguyễn Hữu Vui)
4. />5. Hàn Phi Tử (Phan Ngọc dịch)
6. />GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
16
Sự tương đồng giữa Nho gia và Pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thanh Tuấn
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ
1
17